1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

LUẬT THƠ ĐƯỜNG ( HỘI NGƯỜI THÍCH THƠ VĂN )

10 544 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 152,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu từ thứ nhì thanh trắc thì bài thơ thể trắc Thí dụ : Thơ ngũ ngôn Tứ bề cảnh vắng teo Thểbằng Vằng vặc bóng thuyền quyên Thể Trắc Thơ thất ngôn: Tiếng gà văng vẳng gáy trên mom T

Trang 1

LUẬT THƠ ĐƯỜNG

( trích giáo trình “ Trình thơ ca Việt Nam” của giáo sư Hà Minh Trí XB-1971)

HỆ THỐNG NGANG GỌI LÀ LUẬT :

Hệ thống thanh Bằng, Trắc cân xứng được thính từ câu Đầu ở từ thứ Nhì Nếu từ thứ nhì thanh bằng thì bài thơ thuộc thể bằng Nếu từ thứ nhì thanh trắc thì bài thơ thể trắc Thí dụ : Thơ ngũ ngôn Tứ bề cảnh vắng teo ( Thểbằng)

Vằng vặc bóng thuyền quyên ( Thể Trắc)

Thơ thất ngôn: Tiếng gà văng vẳng gáy trên mom ( Thể Bằng)

Tạo hóa gây chi cảnh hí trường ( thể trắc)

HỆ THỐNG DỌC GỌI LÀ NIÊM :

Các câu thơ dính với nhau theo một hệ thống dọc gọi là NIÊM Niêm có nghĩa là câu trên dính với câu dưới Bằng niêm với bằng, trắc niêm với trắc theo một hệ thống quy định tính từ thứ Nhì của các câu như sau :

Từ thứ Nhì của câu thứ Nhất niêm với từ thứ nhì của câu Tám

Từ thứ Nhì của câu Hai niêm với từ thứ nhì của câu Ba

Từ thứ Nhì của câu Bốn niêm với từ thứ nhì của câu Năm

Từ thứ Nhì của câu Sáu niêm với từ thứ nhì của câu Bảy

Tóm lại là Nhất-Bát, Nhị-Tam, Tứ -Ngũ, Lục- Thất.

Cách gieo vần : Thơ Đường dùng vần Bằng và gieo Một vần( Độc Vận)

Thông thường thì Thơ Tứ tuyệt( Bốn câu) thì có 03 vần ( Trong truyện Kiều “ Vạch

da cây vịnh bốn câu ba vần.Thơ Bát cú (Tám câu) có 05 vần Trừ biệt lệ

Có những biêt lệ:

a) Biệt lệ về Luật Bằng, Trắc gọi là Bất luận.

-Trong thơ Ngũ ngôn ( mỗi câu 5 chữ) thì ‘ Nhất Tam bất luận Nhị, Tứ, Ngũ phân minh” Nghĩa là Chữ thứ Nhất, Ba không câu nệ bằng trắc Còn chứ thứ Nhì, Tư, Năm phải theo đúng luật

- Trong thơ bát cú (Mỗi câu 8 chữ) thì “Nhất, Tam, Ngũ bất luận Nhị, Tứ, Lục phân minh” Nghĩa là các chứ thứ nhất, ba, năm không câu nệ Còn các chữ thứ hai, Từ, Sáu phải theo đúng luật.

Lưu í : Tránh khổ độc nghĩa là khi dùng biệt lệ mà câu thơ khó đọc, đọc không trơn, không thuận tai Muốn tránh điều này thường ta lấy Bằng thay cho Trắc thì không Khổ độc và ngược lại.

b) Chiết vận Là biệt lệ về trốn vận :

Theo luật thì bài Tứ tuyệt phải có 03 vần, Bát cú có 05 vần nhưng cũng có lúc bài Tứ tuyệt chỉ có 02 vần, bài Bát cú chỉ có 04 vần, 16 câu chỉ có 8 vần ( 2 bài bát cú ghép lại)

Trốn vần thực hiện ở 2 câu đầu của bài Tứ tuyệt hay Bát cú Muốn vậy 2 câu này phải phải “ Song phong” nghĩa là chưa phải chính đối ( Câu trên câu dưới đối nhau cả về

âm thanh, từ loại, ý nghĩa) mà là “ Bàng đối” ( chỉ đối nhau về thanh còn ý thì không đối nhau, chỉ là tiếp nối nhau mà thôi)

ví dụ :

Giỏi thay Trần Bình Trọng Lờ đờ mắt trắng đời không bạn

Dòng dõi Lệ Đại Hành Lận đận lầu xanh tuổi đã già

Trang 2

BẢNG LẬP THÀNH NIÊM LUẬT CÁC THỂ BÁT CÚ VÀ LỆ CHỨNG I-Thế Trắc Ngũ ngôn bát cú :

Chữ thứ 1 2 3 4 5

Câu thứ I-Đề T T T B B(Vần hoặc trốn vần)

II B B T T B Vần Niêm

III thực B B B T T

IV đối T T T B BVần niêm

V Luận T T B B T

VI đối B B T T BVần niêm

VII Kết B B B T T

VIII T T T B B vần

Lệ chứng Vằng vặc bóng thuyền quyên

Mây quang gió bốn bên

Nề cho trời đất trắng Quét sạch núi sông đen

Có khuyết nhưng tròn mãi Tuổi già vẫn trẻ lên

Mảnh gương chung thế giới

Soi rõ mặt hay hèn ( Khuyết danh)

II- Thể bằng Ngũ ngôn bát cú

Chữ thứ 1 2 3 4 5

Câu thứ I Đề B B T T B Vần hoặc trốn vần

II T T T B B vần niêm

III Thực T T B B T

IV đối B B T T B vần niêm

V Luận B B B T T

VI đố i T T T B B vần niêm

VII Kết T T B B T

VIII B B T T B vần

Lệ chứng : Giỏi thay Trần Bình Trọng

Dòng giỏi Lê Đại Hành

Đánh giặc dư tài mạnh

Thờ vua một tuyết trinh

Bắc vương sống mà nhục

Nam quỷ thác cũng vinh

Cứng cõi lời trung liệt

Nghìn thu tỏ đại danh

Từ thứ hai cầu đầu thanh bằng nên bài này thuộc thể bằng Trốn vận nên 2 câu đầu Song phong

Trang 3

III- Thể trắc thất ngôn bát cú :

Chữ thứ 1 2 3 4 5 6 7

Câu thứ I đề T T B B T T B vần hoặc trốn vần

II B B T T T B B vần niêm

III thực B B T T B B T

IV đối T T B B T T B vần niêm

V luận T T B B B T T

VI đối B B T T T B Bvần niêm

VII Kết B B T T B B T

VIII T T B B T T B vần

Lệ chứng : Qua Đèo Ngang

Bước tới đèo Ngang bóng xế tà

Cỏ cây chen lá đá chen hoa

Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc

Thương nhà mỏi miệng cái đa đa

Dừng chân ngắm cảnh trời non nước

Bà huyên Thanh quan Nguyễn Thị Hinh

Đây là bài thơ kiểu mẫu về thơ Đường thất ngôn bát cú Toàn bài cơ bản theo đúng niêm luật Chỉ

có 2 từ « Cỏ » « chen » ở câu 2 là vận dụng biệt lệ « Nhất tam ngũ bất luận »nhưng lại đúng với luật « cân xứng thanh » Đây là bài thơ cách luật hoàn chính Niêm luật gần như tuyệt đối Hai cặp thực luận đối nhau chan chát lại còn chơi chữ Quốc ;nước với Gia : nhà .

III- Thể Bằng thất ngôn bát cú :

Chữ thứ 1 2 3 4 5 6 7

Câu thứ I đề B B T T T B B vần hoặc trốn vần

II T T B B T T B vần niêm

III thực T T B B B T T

IV đối B B T T T B B vần niêm

V luận B B T T B B T

VI đối T T B B T T B vần niêm

VII Kết T T B B B T T

VIII B B T T T B B vần

Lệ chứng 1 Ao thu Nguyễn Khuyến

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẻo te Sóng biếc theo làn hơi gợn tí

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo Tầng mây lơ lững trời xanh ngắt Ngõ trúc quanh co khách vắng teo Tựa gối ôm cần lâu chẳng được

Cá đâu đớp động dưới chân bèo

Bài thơ thể bằng khá kiểu mẫu Có 03 từ theo biệt lệ đó là :Từ”lá” chữ đầu cấu IV Từ” Lơ” chữ thứ 3 câu V Từ “Cá “ chữ đầu câu VIII Bài này kém bài Qua đèo Ngang ở chỗ có hơn 1 từ bất luận và trong 03 biệt lệ có một từ không ứng dụng cân đối thanh

Trang 4

Lệ chứng 2 : Tự thán ( khuyết danh )

Lờ đờ mặt nước trời không bạn ( Trốn vận)

Lận đận đầu xanh tuổi đã già ( vần, song phong)

Sống nổi không chìm nên mến nước Người tan muốn hợp phải lo nhà ( vần) Rạp tuồng vân cẩu còn đông khách Góc túi càn khôn chứa đủ ta ( vần) Hơn kém cõi đời vinh với nhục

Nhục vinh rồi cũng hóa ra ma ( vần ) Bài này trốn vận nên có thêm một cặp câu bàng đối ở 2 câu đề Có 6 từ biệt lệ là Từ » rạp, Vân” câu V, “ hơn, cõi” câu VII, “ nhục, rồi” câu VIII.

Cấu trúc và cốt cách :

56 từ trong bài thơ là 56 hòn ngọc có thể tỏa sáng ban đêm Không thừa từ, thừa ý, phải hoàn chính, không lạm dụng biệt lệ Những từ trong câu theo chiều ngang phải gắn với triển khai các từ trong bài theo chiều dọc.

Bố cục :

a)Đề : Hai câu đầu bài gồm thừa đề và phá đề Tức là mở đề, hé mở vấn đề người ta

dự đoán sự việc sẽ tiếp diễn.

b) Thực : Hai câu 3,4 đối nhau( chính đối) là câu lĩnh đề, triển khai ý tứ của thừa đề như tả cảnh, tả việc, tả ý cũng có khi cắt nghĩa sự việc chuẩn bị cho câu luận, cũng có khi đã ngầm ý luận.

c) Luận : Câu 5,6, chính đối, có chức năng bình luận, nhận định tổng hợp Thông thường là triển khai ý của 2 câu thực.

d) Kết : Hai câu cuối.Khép lại vấn đề nhưng không khép kín mà gợi cho người đọc bâng khuâng luyến tiếc.

Tóm lại trong 56 từ phải là lời hay, ý đẹp chứa đựng 56 ý khác nhau Cố gắng tránh dùng các hư từ ( thì, là…) Phải làm cho các từ tự gắn kết ý với nhau không cần phải

có hư từ đưa đẩy.

Trong thơ Đường chữ Hán phải tránh 8 bệnh nhưng thơ Đường chữ quốc ngữ thì cần tránh 3 bệnh là Điệp vần, Phong yêu, Hạc tất Cụ thể :

Điệp vần : Là trùng vần Ví dụ bài “Thăng Long thành hoài cổ” của bà huyện Thanh Quan có 2 vần “trường” Bài “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến có 2 vân “ teo” là điệp vần điệp thanh nhưng về ý thì các từ này là đồng âm khác nghĩa nên cũng chấp nhận được.

Phong yêu : Là eo lưng ong nghĩa là điệp thanh ở các từ giữa một câu Bệnh này với thơ chữ Hán thể hiện khác còn thơ chữ quốc ngữ trong câu thất ngôn thể hiện ở chỗ điệp thanh từ thứ 2, thứ 6 và thứ 4 thứ 7 trong câu.

Ví dụ : Ngắm cảnh non sông thỏa tấc lòng ( Phong cảng Vạn kiếp)

Hạc tất : Câu thơ bị ngắt 3 vế như gối hạc.

Ví dụ : Kẻ vọng trần/ thêm nặng/ gánh tình ( Phan Huy Ích, Tiễn quan trấn thủ)

Gối hạc và sử dụng biệt lệ" Nhất tam ngũ…" sẽ sinh khổ độc tức là đọc trúc trắc.

Muốn tránh khổ độc cần tuân thủ luật "Cân xứng âm thanh Tức là điều hoà giữa thanh bằng và trắc, khi phạm một thanh bằng chỗ này thì bù lại một thanh trắc chỗ kia

Trang 5

Có 2 trường hợp điều hoà âm thanh :

*Trong 1 câu thơ điều hoà từ trước và sau cho cân xứng âm thanh :

Ví dụ Nước non nghìn dặm đôi hàng lệ ( Chu Mạnh Trinh- Kiều gặp nạn)Từ Nước đáng lẽ thanh Bằng thì lại Trắc nên từ Nghìn đáng ra là Trắc phải đổi sang Bằng.

Tường nọ nhặt khoan vang tiếng cuốc (Vịnh cảnh hè- Hồng Đức quốc âm thi tập)

Chữ Tường đáng lẽ Trắc đổi thành Bằng nên từ Nhặt đáng lẽ Bằng phải đổi thành Trắc.

• Trong cặp đối, những từ đối ở câu trên và câu dưới phải cân xứng

Ví dụ : Dẫy hoa trước mặt gương lồng bóng

Ngàn liễu giong cương song gợn tình

Từ Dẫy đáng lẽ Bằng đổi thành Trắc nên từ Ngàn đáng lẽ Trắc phải đổi ra Bằng

Tuy dùng biệt lệ nhưng đúng luật " Cân xứng âm thanh nên câu thơ không khổ độc.

Thí dụ khác : Thăng Long thành hoài cổ Bà huyện Thanh Quan

Tạo hoá gây chi cảnh hí trường

Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Ngõ cũ lâu đài bóng tịch dương

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt

Nước còn chau mặt với tang thương

Nghìn năm gương cũ soi kim cổ

Cảnh đấy người đây luống đoạn trường

THƠ TỨ TUYỆT

Đây là thể thơ 4 câu, câu 5, hoặc 6 hoặc 7 chữ Có người cho rằng bài thơ Tứ tuyệt là bài bát cú được ngắt ra làm hai Cũng có người cho rằng thơ Tứ tuyệt có trước thơ Đường, thơ Thất ngôn bát cú là phát triển từ thơ Tứ tuyệt mà ra.

Các dạng thơ tứ tuyệt :

a- Ba vần, 2 câu dưới đối nhau : Xuân

Khí trời ấm áp đậm hơi sương

Thấp thoáng lâu đài vẻ áo vàng

Rèm liễu líu lo oanh hót gió

Dậu hoa phấp phới bướm châm hương ( Khuyết danh)

b- Hai vần, 4 câu thành 2 cặp đối

Khi tàu cập bến ( Phan Thanh Giản)

Gió đưa hương liễu cành cành nguyệt

Cụm toả ngô đồng lá lá sương

Thuyền mọn năm canh người Bãi Hán

Dịch đài một tiếng khách Tầm Dương

c- Hai vần, hai hai câu đầu đối nhau, hai câu sau không đối :

Ví dụ : Đời người ( khuyết danh)

Người hết danh không hết Tội gì lo tính quẩn

Đời còn việc vẫn còn Lập những cuộc con con.

Trang 6

d) Ba vần cả 4 câu không đối :

Ví dụ Trời nói ( Nguyễn Khuyến)

Cao cao muôn trượng ấy là tao

Dẫu pháo thăng thiên chẳng tới nào

Nhắn nhủ dưới trần cho chúng biết

Tháng ba tháng tám tớ mưa rào.

đ) Một số dạng khác phóng khoáng hơn, lời, ý chẳng những không cần thiết phải đối nhau, âm vần cũng không nhất thiết phải theo đúng luật mà bài thơ vẫn đảm bảo lời hay ý đẹp không khổ độc.

Một số bài điển hình như :

1- Xem vườn sau lúc trời mưa 2- Gửi tình nhân Vịnh cảnh non nước

Nguyễn Gia Thiều Nguyễn Gia Thiều Trương thị Quỳnh Như

Lởm chởm vài hàng tỏi Khạc chẳng cho ra nuốt chẳng vào Non nước xinh xinh cảnh nước non

Lơ thơ mấy khóm gừng Miếng tình nghẹ mãi biết làm sao Bên dòng bích thủy đá chon von

Vẻ chi tèo teo cảnh Muốn kêu một tiếng cho to lắm Như cô thiếu nữ nghiêng soi bóng

Thế mà cũng tang thương Rằng ối ai ôi ! Nó thế nào Mỉm miệng cười tươi nét thắm son

( Ba vần không đối) ( Ba vần không đối)

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng thơ Tuyệt cú để làm thơ cách mạng Thơ có

tứ mới nhưng vẫn giữ phong cách cổ thi.

Ví dụ * Cảnh khuya * Pắc Bó hùng vĩ

Tiếng suối trong như tiếng hát xa Non xa xa nước xa xa

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa Nào phải xênh xang mới gọi là

Cảnh khua như vẻ người không ngủ Đây suối Lê Nin kìa núi Mác

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà Hai tay xây dựng một sơn hà

Bài thứ nhất thể trắc, bài thứ hai thể bằng, đều 3 vần, dùng vần Xa , không đối Bài thứ hai, câu mở phá cách theo thơ Lục ngôn nhưng vẫn đúng dạng Tuyệt cú.

CÁC THỂ THƠ ĐẶC BIÊT

1- Song điệp : Trong một câu thường có 2 từ trùng điệp.

VD1- Nguyệt hoa (khuyết danh) VD2 Dại khôn( Nguyễn Bính Khiêm)

Hoa là quốc sắc Nguyệt là Hằng Nga Làm người có Dại mới nên Khôn

Nguyệt tỏ Hoa thơm khéo gọi là Chớ Dại ngu si chớ quá Khô

Hoa ngó Nguyệt tròn Hoa chúm chím Khôn được ích mình đừng để Dại

Nguyệt nhìn Hoa nở Nguyệt lân la Dại thì giữ phận chớ tranh Khôn

Chiều xuân bóng ngả Hoa chào Nguyệt Khôn mà hiểm độc là Khôn Dại

Đêm tới sương đầm Nguyệt ghẹo Hoa Daị vốn hiền lành ấy Dại Khôn

Đất có Hoa thơm trời có Nguyệt Chớ cậy rằng Khôn khinh kẻ Dại

Nguyệt Hoa Hoa nguyệt mặc tình ta Gặp thời Dại cũng hóa nên Khôn

2- Triệt hạ : Mỗi câu đều có chấm lửng có vẻ chưa dứt nhưng ý nghĩa vẫn rõ ràng

hoặc để người đọc tự hiểu.

Trang 7

VD 1: Chợt thấy (Khuyết danh) TD2: Vịnh cô gái kén chồng( Khuyết danh) Thác bức rèm châu chợt thấy mà Thấy gái hồng nhan bổng chốc mà Chẳng hay người ngọc có hay đà Hỏi thăm cô ấy chửa hay đà

Nét thu gợn sóng hình như thể Hình dung yểu điệu in như thể

Cung nguyệt quang mây chắc ngỡ là Diện mạo phương phi cứ ngữ là

Khuôn khổ ra chiều người ở chốn Ăn mặc ra tuồng người ở chốn

Nết na xem phải thói con nhà Nói năng như thể tựa con nhà

Dở dang nhắn gửi xin thời hãy Ước gì ta được mà ta để

Tình ngắn tình dài chút nữa ta Ta để mà ta để dể ta

bài giống nhau

Ví dụ : Buổi sáng ( khuyết danh) Khóc ông phủ Vĩnh Tường

(khuyết danh) ( Hồ Xuân Hương)

Tai nghe gà gáy tẻ tè te Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ơi! Bóng ác vừa lên hé hẻ hè Cái nợ ba sinh đã trả rồi

Non một chồng cao von vót vót Chôn chặt văn chương ba thước đất

Hoa năm sắc nở lỏe loè loe Tung xa hồ thỉ bốn phương trời

Chim tìm bầu bạn kia kìa kỉa Cán cân tạo hoá rơi đâu mất

Ong nghĩa vua tôi nhé nhẻ nhè Miệng túi càn khôn thắt lại rồi

Danh lợi mặc người ti tí tị Hăm bảy tháng trời đà mấy chốc

Ngủ trưa chửa dậy khoẻ khỏe khoe Trăm năm ông phủ Vĩnh tường ơi!

5- Yết vận : Tứ tuyệt nhưng câu sau cùng chỉ có một từ :

VD- Anh nghiện rượu ( Phạm Thái)

Sống ở dương gian đánh chén chè

Thác về âm phủ cắp kè kè

Diêm vương phán hỏi rằng chi đó

Be

6- Hồi văn : Thơ đọc xuôi, đọc ngược vẫn thuận vần và có nghĩa Gọi là thuận

nghịch độc

TD 1- Xuân hứng ( khuyết danh)

Đọc xuôi Hán Đọc ngược Việt

Thi đàn tế liễu lộng hoa hài Ai quen thuộc nấy có tình ư

Khách bộ tuỳ sương ấn bich đài Đêm tỉnh đầu am cỏ phất phơ

Kì cục đã thanh phong giáp trận Mai ép mùi hoa lừng ánh tuyết

Tửu hồ khuynh bạch tuyết hoà bôi Trúc lồng hương nguyệt thấu rèm thưa

Sơ liêm hiếu nguyệt hương lung trúc Bôi hoà tuyết bạch nghiêng hồ rượu Tuyết án lăng hoa vị tuyết mai Trận giáp phong thanh đánh cuộc cờ Phi phất thảo am đầu lĩnh điếm Rêu bước in sương theo bước khánh

U tình cố nãi thuộc quyên ai Hài hoa lỏng lẻo tới đàn thơ

Trang 8

TD 2- Đêm trăng gợn sóng ( khuyết danh)

* Đọc xuôi tiếng Việt * Ngược tiếng Việt,Dưới lên, phải sang

Chèo thuyền sóng vỗ nước trăng pha Xa lờ nước gợn dấu tơ duyên

Hẹn ước tìm thơ khách bước qua Lẳng lặng người thơ đuổi sóng chen Viền thẳm núi xa sao loé sáng Ca khúc gợi tình nguồn nhớ phả

Nhuộm mờ sông biếc sóng buông xa Nhịp dòng theo mộng ánh lòng xuyên Xuyên lòng áng mộng theo dòng nhịp Xa buông sóng biếc sông mờ nhuộm

Phả nhớ nguồn tình gợi khúc ca Sáng loé sao xa núi thẳm viền

Chen sóng đuổi thơ người lẳng lặng Qua bước khách thơ tìm ước hẹn

Duyên tơ dấu gợn nước lờ xa Pha trăng sóng vỗ nước thuyền chèo

VD 3 Bài thơ có 8 cách đọc : Cảnh xuân ( khuyết danh)

* Đọc xuôi * Dưới lên, phải sang

Ta mến cánh xuân ánh sáng ngời Cười mỉm mắt ai bóng thướt tha

Thú vui thơ rượu chén đầy vơi Bổng trầm đàn hát tiếng ngân xa

Hoa cài dậu trúc cành xanh biếc Người đông bến đợi thuyền xuôi ngược

Lá quyện hương xuân sắc thắm tươi Sóng lặng sông chờ khách lại qua

Qua lại khách chờ sông lặng sóng Tươi thắm sắc xuân hương quyện lá

Ngược xuôi thuyền đợi bến đông người Biếc xanh cành trúc giậu cài hoa

Xa ngân tiếng hát đàn trầm bổng Vui đầy chén rượu thơ vui thú

Tha thướt bóng ai mắt mỉm cười Ngời sáng ánh xuân cảnh mến ta.

* Đọc xuôi như cách đàu nhưng * Đọc ngược phải sang trái, từ dưới lên

mỗi câu bỏ 2 từ đầu mỗi câu lại bỏ 2 từ cuối

Cảnh xuân ánh sáng ngời Mắt ai bóng thướt tha

Thơ rượu chén đầy vơi Đàn hát tiếng ngân xa

Giậu trúc cành xanh biếc Bến đợi thuyền xuôi ngược

Hương xuân sắc thắm tươi Sông chờ khách lại qua

Khách chờ sông lặng sóng Sắc xuân hương quyện lá

Thuyền đợi bến đông người Cành trúc giậu cài hoa

Tiếng hát đàn trầm bổng Chén rượu thơ vui thú

Bóng ai mắt mỉm cười Ánh xuân cảnh mến ta

*Đọc ngược phải sang trái, dưới lên * Đọc xuôi, mỗi câu bỏ 3 từ cuối

mỗi câu bỏ 3 từ đầu.

Cười mỉm mắt ai Ta mến cảnh xuân

Bổng trầm đàn hát Thú vui thơ rượu

Người đông bến đợi Hoa cài giậu trúc

Sóng lặng sông chờ Lá quyện hương xuân

Tươi thắm sắc xuân Qua lại khách chờ

Biếc xanh cành trúc Ngược xuôi thuyền đợi

Vơi đầy chén rượu Xa ngân tiếng hát

Ngời sáng ánh xuân Tha thướt bóng ai

Trang 9

* Đọc xuôi mỗi câu bỏ 4 từ đầu * Đọc ngược dưới lên, phải sang mỗi cấu bỏ 4 từ cuổi

Ánh sáng ngời Bóng thướt tha

Chén đầy vơi Tiếng ngân xa

Cành xanh biếc Thuyền xuôi ngược

Sắc thắm tươi Khách lại qua

Bến đông người Hương quyện lá

Đàn trầm bổng Giậu cài hoa

Mắt mỉm cười Cảnh mến ta

Bài này chép thêm trong báo NGhệ An số cuối tuần 5844 ngày 17-4-2002 do Trần Hương sưu tầm

7- Liên hoàn và ô thước kiều :

- Liên hoàn là trong hai hay nhiều bài thơ, câu cuối cùng của bài trên được lặp lại làm câu đầu của bài dưới.

- Ô thước kiều là cầu đầu bài dưới không lặp lại hoàn toàn câu cuối của bài trên mà chỉ lặp lại môth số từ

Ví dụ Tùng ( Nguyễn Trãi)

1- Thu đến cây nào chẳng lạ lùng 2- Đống lương tài có mấy bằng mày

Một mình lạt thuở ba đông Cả nhà đòi phen chống khoẻ thay

Lâm tuyền ai rặng già làm khách Cội rế bền đời chẳng động

Tài đống lương cao ắt đủ dùng Tuyết sương thấy đã động nhiều ngày

3- Tuyết sương thấy đã động nhiều ngày

Có thuốc trường sinh càng khoẻ thay Bài 1-2 là ô thước kiều

Hổ phách phục linh nhìn mấy biết Bài 2-3 là liên hoàn

Dành còn để trợ dân cày

8- Lục ngôn phong yêu: là mỗi câu có 6 chữ.

Ví dụ : 1- Đề bức trướng thuỷ mạc ( Phạm Mai) 2- Chùa Non Nước ( Hồng Đức)

Cỏ cây một khe nước chảy Nơi gọi Bồng nơi gọi Ngược

Non xanh nghìn dặm bóng chênh Hai bên góp làm non nước

Muốn gọi thuyền chênh trở lại Sóng trục lớp sau lớp trước

Thân này xuất xứ chưa thành Khách danh lợi buồm ngược xuôi

(bài 1-2 là Lục ngôn bát cú) Vẳng nghe trên gác boong boong

Lẩn thẩn trước chùa liền bước.

3- Thuật hứng ( Nguyễn Trãi)

Đến trường đào mận ngạt chăng thông Mai chẳng bẻ thương cành ngọc

Quê cũ ưa làm chúa cúc thông Trúc chặt vụn tiếc chiếu rồng Lục ngôn, đối

Sầu nặng thiếu lăng biên đá bạc Bui một tấc lòng ưu ái cũ

Hứng nhiều Bắc Hải chén chưa thông Đêm ngày cuồn cuộn nước triều dâng

bài 3 là thất ngôn bát cú nhưng có lục ngôn xen vào, Những câu 6 vẫn đúng niêm luật thơ Đường

9- Tập Danh : Mỗi câu nêu tên một loài vật hoặc

Trang 10

Song the mơ ước bấy lâu xa

Khế thoát duyên may cũng mặn mà

Trông chẳng thấy chua trinh quấn quýt

Gẫm nghe lời ngọt bước cần cà *

Chát lòng vội vả sao cho đáng

Đắng chuyện dây dưa chút gọi là

Lạ dạ chưa cam đường cội rễ

Vườn hồng cay nỗi khách lân la.

* Cần cà tiếng miền Trung, Nam đồng nghĩa với gầm ghè

Mỗi câu một loại quả : Mơ , khế, quýt, vả,dưa, cam, hồng

VD 2 : Rắn đầu biếng học ( Lê Quý Đôn)

Chẳng phải liu điu cũng giống nhà

Rắn đầu biếng học lẽ không tha

Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ

Nay thét mai gầm rát cổ cha

Ráo mép chỉ quen lời lếu láo

Lằn lưng chẳng khỏi vệt dăm ba

Từ nay trâu mộng chăm nghề học

Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia

(Mỗi câu thơ có tên một loài rắn)

10- Xướng hoạ : Làm một bài thơ khác theo đúng vần của bài ra (Xướng) đã gieo

( Họa) để đáp lại ý trong bài Xướng hoặc là đồng ý, tán rộng ra hoặc là phản đối,

Ví dụ Xướng : Tôn phu nhân quy Hán Hoạ

Của Tôn Thọ Tường của Phan Văn Trị

Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng Cài trâm xốc áo vẹn câu tòng

Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông Ngả mặt trời chiều biệt cõi Đông

Lìa Ngô bịn rịn chòm mây bạc Ngút toả trời Ngô in sắc trắng

Về Hán trau tria mảnh má hồng Duyên về đất Thục đượm màu hồng

Son phấn thà cam dày gió bụi Hai vai tơ tóc bền trời đất

Đá vàng chi để thẹn non sông Một gánh cương thường nặng núi sông

Ai về nhắn với Chu Công Cẩn Anh hỡi Tôn quyền anh có biết

Thà mất lòng anh được bụng chồng Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng

Bài hoạ của Phan văn Trị một sĩ phu yêu nước phản lại bài xướng ngầm phê phán thái độ đầu hàng giặc Pháp của Tôn Thọ Tường

11- Liên ngâm: Nhiều người làm, mỗi người một câu góp lại thành bài thơ.

Ngày đăng: 15/08/2016, 14:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG LẬP THÀNH NIÊM LUẬT CÁC THỂ BÁT CÚ VÀ LỆ CHỨNG I-Thế Trắc Ngũ ngôn bát cú : - LUẬT THƠ ĐƯỜNG ( HỘI NGƯỜI THÍCH THƠ VĂN )
h ế Trắc Ngũ ngôn bát cú : (Trang 2)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w