Tuy nhiên, hiện nay theo Vũ Mạnh Hải và Nguyễn Văn Dũng 2002 Viện Nghiên cứu Rau quả đã thu thập và mô tả 33 giống vải được trồng ở các vùng khác nhau trong đó có nhiều giống có triển vọ
Trang 1Theo Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến (1978), [Phân loại thực vật bậc cao, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội], Menzen (2002)[Tr.8-13 The Lychee crop in Asia and the Pacific, FAO.] và Hoàng Thị Sản (2003) thì họ
Bồ hòn có 150 chi với trên 2000 loài phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới đặc biệt là ở Châu Á và Châu Mỹ Ở Việt Nam họ Bồ hòn được biết đến với 25 chi và trên 70 loài phân bố trên khắp đất nước, nhiều loài điển hình cho rừng thứ sinh ẩm nhiệt đới trong đó có một số cây cho quả ăn ngon như vải, nhãn, chôm chôm,…
Về đặc điểm phân loại cây vải là cây gỗ nhỡ, thường xanh lá kép lông chim, hoa nhỏ không có cánh hoa, bầu có ngăn, vỏ quả mỏng màu đỏ hồng hay
đỏ nâu mặt ngoài sần sùi có hạt, ăn hơi chua hay ngọt
2 Nguồn gốc và phân bố
Theo FAO (1989) theo tài liệu này viết về cây vải đã ghi lại thời gian vào năm 100 trước công nguyên Hoàng Đế Hán Vũ đã đem vải vào miền Nam Trung Quốc và Bắc Inđônêxia Cuối thế kỷ 17, cây từ trung Quốc đầu tiên được đưa vào Mianma cuối thế kỷ 18 được đưa sang Ấn Độ (Singh và Singh, 1954), năm 1775 đưa sang quần đảo Tây Ấn, năm 1854 đưa sang Austraylia (Queen và Auco 1962) năm 1870 đưa sang Nam Phi (Marlen, 1957) năm 1872 đưa sang Hawai (Gvove, 1952) năm 1886 đưa vào Florida của Mỹ (Barley, 1916)…
Theo Trần Thế Tục (2004) nguồn gốc cây vải có ở giữa miền Nam Trung Quốc và Miền Bắc Việt Nam và bán đảo Malai Hiện nay ở núi Tạ Hải Sơn tỉnh Quảng Đông, núi Hồ Lĩnh, Kim Cổ Lĩnh (đảo Hải Nam) ở vùng phía Nam của Xisuang Bana (Vân Nam) còn những cánh rừng có nhiều cây vải dại mọc Theo nhiều tài liệu của Trung Quốc cho biết có rất nhiều nơi ở miền nam Trung Quốc
Trang 2có cây vải dại như các tỉnh Quảng Đông, Vân Nam, đảo Hải Nam… và theo điều tra của các nhà khoa học Trung Quốc, đã điều tra thực địa và từ góc độ lịch
sử hình thái và đặc trưng quần lạc sinh thái đã kết luận đảo Hải Nam có cây vải dại, ngoài ra ở Hoa Châu, Liêm Giang, Dương Xuân và trên sáu ngọn núi lớn ở huyện giáp ranh huyện Bác Bạch và huyện Hồ Bắc của tỉnh Quảng Tây đều có cây vải dại chứng tỏ cây vải có nguồn gốc từ Trung Quốc
Ở nước ta, cây vải được trồng từ cách đây khoảng 2000 năm và phân bố
từ 18 - 190
Vĩ Bác trở ra nhưng chủ yếu vần là vùng đồng bằng Sông Hồng, trung du miền núi phía Bắc và một phần khu 4 cũ Theo các tài liệu lịch sử thì cách đây 10 thế kỷ dưới thời Bắc thuốc vải là một trong những cống vật hằng năm mà Đại Việt phải mang cống nộp cho Trung Hoa Cây vải dại cũng đã được tìm thấy ở vườn quốc gia Ba Vì, Hà Tây và nhiều nơi khác Từ đó, miền Bắc Việt Nam cũng được coi là nguồn gốc của cây vải
Ngày nay, cây vải được trồng ở trên 20 nước trên thế giới nhưng chủ yếu phân bố ở vùng Đông Nam Á ở Châu Á: Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam, Mianma, Lào, Campuchia, Malaisia, Philippin, Inđônêxia, Srilanca, Nhật Bản, Ixrael
Ở Châu Phi: Nam Phi, Morithiuyt, Madagatca, Rênyniong, Gabông, Cônggô…
Ở Châu Mỹ: Hoa Kỳ, Hondurat, Panama, Cuba, Trinidat, Pôctoorico, Brazil…
Ở Châu Đại Dương: Autraylia, Newzilan,…
Ở Việt Nam, đã hình thành một số vùng trồng cây vải tập trung như Lục Ngạn (Bắc Giang), Thanh Hà (Hải Dương), Đông Triều (Quảng Ninh), Đồng Hỷ
- Phú Lương (Thái Nguyên), Đình Lập - Hữu Lũng (Lạng Sơn), Chương Mỹ (Hà Tây), Phù Yên - Bắc Yên (Sơn La), Phú Thọ Ngoài ra còn một số địa phương ở Tây Nguyên như Đăk Nông, Đăk Lắk, Kontum…
3 Các giống vải chủ yếu ở Việt Nam và trên thế giới
Ở Việt Nam sự phân chia các giống vải còn mang tính chất tương đối, xét theo phẩm chất quả, có các nhóm: vải chua, vải nhỡ, vải thiều; xét theo thời gian thu hoạch, có các nhóm vải: vải chín sơm, chính vụ và vải chín muộn
- Nhóm vải chua: (hay còn gọi là tu hú) cây cao lớn, lá to, phiến lá mỏng Khi ra hoa, chùm hoa vải từ cuống đến nụ hoa đêu phủ một lớp lông đen Quả
Trang 3thường chín vào cuối tháng 4 và đầu tháng 5 Khi chín vỏ quả màu đỏ tươi, trọng lượng quả 30 - 50g, vỏ dày, hạt to, cùi mỏng và rất chua, tỷ lệ cùi chiếm
60 - 65% trọng lượng quả Ở nước ta hiện còn ở các tỉnh trung du và miền núi như Phú Thọ, Hà Tây, Tuyên Quang, Quảng Ninh…
- Nhóm vải nhỡ: cây to trung bình, tán cây thường to 5 - 7m, dạng trứng,
lá thường to, cây sinh trưởng khỏe, chùm hoa không có lông đen, nhưng hoa mọc thưa hơn vải chua, quả chín muộn hơn nhóm vải chua nhưng sớm hơn nhóm vải thiều Quả có trọng lượng trung bình từ 28 - 34g
- Nhóm vải thiều: cây có tán hình mâm xôi cao từ 10 - 15m, lá nhỏ, phiến
lá dày bóng, khả năng chịu hạn tốt, phù hợp với đất có độ pH 5 - 6, khi ra hoa chùm hoa không phủ lớp lông đên mà có màu trắng vàng, chín chính vụ (tháng 6) Trọng lượng quả trung bình 18 - 25g, vỏ quả mỏng, hạt nhỏ, dày cùi, tỷ lệ ăn được 70 - 80% cùi thơm và ngọt hơn 2 nhóm vải trên
Quả vải thiều gốc
- Quả tròn, hạt nhỏ cùi dày, gai nhỏ
- Ăn ngon, ngọt và thơm
Ngoài ra còn có một số giống có thể được biết đến với vài tên khác nhau theo cách gọi của từng địa phương Tuy nhiên, hiện nay theo Vũ Mạnh Hải và Nguyễn Văn Dũng (2002) Viện Nghiên cứu Rau quả đã thu thập và mô tả 33 giống vải được trồng ở các vùng khác nhau trong đó có nhiều giống có triển vọng đã và đang được phát triển ngoài sản xuất như giống Hùng Long, Yên Hưng, Yên Phú,…
Có thể kể đến một số giống vải:
Trang 43.1 Vải thiều Thanh Hà:
Cây sinh trưởng tốt, lá mầu xanh đậm Quả hình cầu,
khi chín mầu đỏ tươi, gai thưa, ngắn Trọng lượng quả trung
bình 20,7g (45 - 55 quả/kg), tỷ lệ phần ăn được trung bình 75%, độ Brix 18 - 21% Ðây là giống chín chính vụ, thời gian cho thu hoạch 5/6 - 25/6
3.2 Vải Hùng Long:
Cây sinh trưởng rất tốt, lá hình lòng máng phẳng, xanh đậm Quả hình tròn hơi dài, khi chín có màu đỏ sẫm, gai thưa, nổi Trọng lượng quả trung bình 23,5g (40 - 45 quả/kg), tỷ lệ phần ăn được 72,0% , độ Brix 17 - 20% Ðây là giống chín sớm, thời gian cho thu hoạch 10/5 - 20/5
3.3 Vải Lai Bình Khê :
Cây sinh trưởng rất tốt, lá mầu xanh tối Quả hình trứng, khi chính có mầu
đỏ sẫm, vỏ mỏng, gai thưa, ngắn Trọng lượng quả trung bình 33,5g (28 - 35quả/kg), tỷ lệ phần ăn được 71,5%, độ Brix 17 - 20% Ðây là giống vải chín sớm, thời gian cho thu hoạch 5/5 - 15/5
3.4 Vải lai Yên Hưng :
Cây sinh trưởng khỏe, mầu xanh hơi vàng Quả hình tim, khi chín mầu đỏ vàng, gai thưa Trọng lượng quả trung bình 30,1g (30- 35quả/kg), tỷ lệ phần ăn được 73,2%, độ Brix 18 - 20% Ðây là giống chín sớm, thời gian cho thu hoạch 10/5 - 20/5
Các giống vải trên thế giới thì hiện tại Trung Quốc là nước có số lượng giống vải nhiều nhất Tuy vậy trong số hơn 200 giống vải được trồng ở Trung Quốc chỉ có khoảng 15 giống là có khả năng sản xuất theo hướng hàng hoá, ở mỗi vùng sinh thái có một số giống chủ lực
Ở Ấn Độ có khoảng 50 giống vải được trồng ở các bang khác nhau Ở Bang Bihat nơi có diện tích vải lớn nhất của Ấn Độ có những giống quan trọng
là Shahi, Kasba, China, Deshi, Purbi… Giống được trồng phổ biến ở Uttar Pradesh là Dehra Dun Những giống cho năng suất và phẩm chất tốt ở Ấn Độ là West Bengal, Bombai, Elaichi, China, Bedana
Ở Austraylia, những vùng trồng vải tập trung nằm theo dải bờ biển từ Cairrus, Atherton Tablelands Ingham, Mackay, Bundaberg đến Coffs Harbuor
Trang 5với các giống vải chính là Fay Zee Siu, Taiso, Bengal… (G.W Vallance, 1986), S.K.Mitra Ở bảng trên là các giống vải chính được trồng trên thế giới
Bảng 1 Giống vải chính của một số nước trên thế giới
TT Tên nước Các giống vải chính
1 Ấn Độ Shahi, Rose Seented, calcuttia, bedana, longia, china
2 Úc Fay Zee Siu, taiso, bengal, waichee, kwaimay pink, salathiel
3 Đài Loan Haakyip, shakeng
4 Nam Phi Taiso, bengal
6 Thái Lan Taiso, waichee, baidum, chacapat, Kom
7 Trung Quốc Fay Zee Siu, bahlwp, no mai chee, Souey Tung, Taiso, Brewster
Nguồn: Menzel (1995,2002)
4 Đặc điểm sinh lý dinh dưỡng của cây vải
4.1 Đặc điểm sinh trưởng phát triển của cây vải
Thời kỳ kiến thiết cơ bản bắt đầu từ sau khi trồng bằng cành chiết hay cây ghép đến khi cây đạt 3 tuổi Trong thời kỳ này cây vải phát triển hệ thống rễ, thân, cành, hình thành tán cây Thời gian đầu cây phát triển chậm Trong thời kỳ này đường kính thân, số cành và tán cây vải tăng dần hàng năm Một năm cây vải cho ra từ 4 đến 5 đợt lá non (lộc) mà sau đó có thể phát triển thành cành vào các tháng: 2 - 3, 4 - 5, 6 - 7, 8 - 9 và nếu thời tiết ấm cả vào các tháng 10 - 11
Thời kỳ kinh doanh của cây vải được bắt đầu từ năm thứ 4 sau trồng Ở thời kỳ này một năm cây vải cho 2 - 3 đợt lộc, trong đó: đợt lộc xuân vào khoảng tháng 2, đợt lộc sau thu hoạch quả vào khoảng tháng 6 - 7 và đợt lộc thu vào khoảng tháng 9 - 10 Cây vải không ra hoa trên cành 1 năm, nên đợt lộc thu
sẽ tạo ra các cành thu cho hoa và quả vào năm sau rất có ý nghĩa cho năng suất vải vào vụ tới
Tháng 10 - 11 là giai đoạn ủ mầm hoa nên cần dinh dưỡng, nhưng cần lưu
ý giảm lượng đạm sử dụng Từ tháng 2 - 6 là thời kỳ cây ra hoa kết quả, nếu quả nhiều thì không ra lá cần được cung cấp nhiều dinh dưỡng đặc biệt là đạm và kali để nuôi quả
Trang 6Đọt lá trên đó chùm hoa đã nảy sinh gọi là đọt mẹ, đọt mẹ càng già (ra vào tháng 6 - 7) càng có khả năng sinh ra nhiều chùm hoa khoẻ, thuần hoá cho nhiều quả hơn Khi cây vải thụ phấn xong, hạt phát triển trước, khoảng 3 - 4 tuần trước khi quả chín, hạt ngừng phát triển, cùi phát triển nhanh, giai đoạn này cây cần nhiều nước và dinh dưỡng, đặc biệt là N, K, Ca
Thời kỳ kinh doanh cây vải cho năng suất và nhu cầu dinh dưỡng tăng dần trong khoảng 10 năm (từ năm thứ 4 đến năm thứ 14 sau trồng), từ năm thứ
15 sau trồng cây vải thường mới cho năng suất ổn định
Ở thời kỳ già (cỗi), một năm cây chỉ ra 2 đợt lộc vào các tháng 2 và tháng
9, cây có năng suất quả giảm dần, cùng với hiện tượng chết cành Nhu cầu dinh dưỡng của cây cũng giảm so với thời kỳ kinh doanh
4.2 Đặc điểm hệ rễ của cây vải
Cây vải có bộ rễ rất khoẻ bao gồm rễ phát triển theo chiều đứng và rễ phát triển ngang
Đại bộ phận hệ rễ của cây vải tập trung ở tầng đất 0 - 60cm, dù rễ có thể lan xa gấp 1,5 - 2 lần so với hình chiếu của tán cây và có thể ăn sâu tới 1,6m Tuy nhiên phần lớn rễ tơ - là các rễ hút thức ăn tập trung ở độ sâu 0 - 40cm với phạm vi chiều rộng trong và ngoài hình chiếu mép tán cây 10 - 50cm
Bộ rễ cây vải hoạt động mạnh vào 3 thời kỳ: thời kỳ 1 - từ sau ra hoa rộ đến giữa tháng 6 - là thời kỳ bộ rễ hoạt động mạnh nhất với nhiều rễ nhất; thời
kỳ thứ 2 - từ sau thu hoạch quả (giữa tháng 8), lượng rễ ít; thời kỳ thứ 3 - trước
và sau phân hoá mầm hoa (vào trung tuần tháng 10), trong điều kiện mùa đông, nhiệt độ đất giảm dần, lại khô hạn nên rễ hoạt động chậm dần hoặc ngừng hẳn
4.3 Nhu cầu dinh dưỡng của cây vải
Nghiên cứu về dinh dưỡng của cây vải còn ít, thông qua các tài liệu hiện
có thể thấy cây vải cần nhiều kali và đạm, rồi đến lân Ở thời kỳ cây con cây cần nhiều đạm và lân còn ở giai đoạn kinh doanh của cây vải cần nhiều kali nhất rồi đến đạm và lân
Trang 7Bảng 2: Tỷ lệ các chất dinh dưỡng cây vải hút vào trong lá và quả
Đạm có tác dụng rất lớn trong việc phát triển lá, thân, cành và tạo tán của cây vải nên có vai trò quyết định đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây Đạm còn có tác dụng lớn đến việc ra hoa, đậu quả, số lượng và trọng lượng quả nên có tác dụng quyết định đối với năng suất quả vải Đạm là yếu tố dinh dưỡng rất quan trọng ở thời kỳ cây con - kiến thiết cơ bản của cây vải Ở thời kỳ kinh doanh của cây vải, đạm ngoài tác dụng lớn đến sự phát triển cành, lá và tạo tán của cây còn có ảnh hưởng quyết định đến năng suất và phẩm chất quả
Trong một nhiệm kỳ kinh tế, nhu cầu đạm của cây vải tăng dần hàng năm, tăng mạnh ở thời kỳ đầu kinh doanh và đạt cực đại ở thời kỳ cây có năng suất ổn định, rồi giảm dần ở thời kỳ cây già cỗi Trong một năm nhu cầu đạm của cây vải cao sau khi thu hoạch để phục hồi và phát triển cành thu cho việc ra quả ở năm sau (tháng 7 - 8) rồi giảm mạnh khi chuẩn bị phân hoá mầm hoa (tháng 12)
và lại tăng mạnh vào đầu xuân (tháng 2 - 3) khi cây phát triển cành xuân và ra hoa đậu quả, rồi lại giảm dần cho đến trước thu hoạch quả
4.3.2 Nhu cầu về dinh dưỡng lân
Lân có tác dụng lớn đối với sự phát triển của hệ rễ và khả năng hấp thu dinh dưỡng của cây vải, vì vậy có ảnh hưởng rõ đến sinh trưởng và phát triển của cây Lân thúc đẩy quá trình phân hoá mầm hoa, hình thành quả, sự thành thục của quả và hạt nên có tác dụng nâng cao năng suất và sớm cho thu hoạch quả Lân cũng ảnh hưởng rõ tới phẩm chất của quả vải Lân còng làm tăng khả năng chống hạn chống rét và chống chịu sâu bệnh hại cho cây vải
Cây vải thiếu lân có lá tối màu, thiếu nhiều thì ở ngọn lá và mép lá có màu vàng nâu cục bộ và lan dần ra đến gần gân chính Thiếu lân không chỉ ảnh hưởng xấu đến khả năng hút dinh dưỡng, sinh trưởng và phát triển của cây vải
mà còn ảnh hưởng xấu đến việc ra hoa, đậu quả, năng suất và chất lượng quả
Trang 8Nhưng khi vải được cung cấp quá thừa lân làm cho hàm lượng N và K trong cây giảm có thể ảnh hưởng xấu tời cây
Trong một nhiệm kỳ kinh tế, nhu cầu lân của cây vải tăng dần hàng năm, đặc biệt cần thiết ở thời kỳ kiến thiết cơ bản Trong một năm nhu cầu lân của cây vải cao vào thời kỳ từ sau khi thu hoạch để phục hồi và phát triển cành thu cho việc ra quả ở năm sau và chuẩn bị phân hoá mầm hoa (từ tháng 7 - 8 đến tháng 12) rồi giảm dần cho đến trước thu hoạch quả
4.3.3 Nhu cầu dinh dưỡng kali
Kali là yếu tố dinh dưỡng mà cây vài hút nhiều nhất Kali có tác dụng quan trọng trong việc tổng hợp các chất gluxit, giúp cho cấu tạo các mô cứng cáp, vận chuyển các sản phẩm quang hợp đến các cơ quan dự trữ của cây được thuận lợi Vì vậy kali còn có tác dụng làm tăng độ ngọt và các phẩm chất quả, tăng khả năng cất giữ, tăng khả năng bảo vệ của vỏ quả Kali làm tăng khả năng chịu hạn, chịu lạnh, chịu nóng, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, giúp cho quả nhanh lớn và chóng thành thục
Thiếu kali màu sắc lá hơi nhạt, ở ngọn lá có hiện tượng trắng màu tro, khô; mép lá có màu nâu gụ lan dần xuống tận gốc lá Thiếu kali có ảnh hưởng xấu đến không chỉ sinh trưởng phát triển mà còn có ảnh hưởng xấu rõ tới năng suất và chất lượng quả của cây vải
Nhu cầu kali theo nhiệm kỳ kinh tế của cây vải cũng tăng hàng năm tương
tự như đối với đạm Nhu cầu kali hàng năm của cây vải tăng dần từ sau thu hoach quả và đạt cao nhất ở thời kỳ cây ra hoa rồi giảm dần từ khi đậu quả cho đến lúc thu hoạch
Hàm lượng kali trong lá cao thời gian chín của cây vải có tương quan thuận với năng suất vải cao
Trang 94.3.4 Nhu cầu về các yếu tố dinh dưỡng khác
- Cây vải có nhu cầu khá cao về MgO và CaO
Mg cần thiết cho quá trình quang hợp thuận lợi ở cây, tạo khả năng chịu hạn tốt hơn cho cây vải, đồng thời có tác dụng làm tăng độ ngọt cho quả vải
Ca có tác dụng lớn trong việc hấp thu dinh dưỡng của cây vải do có tác dụng tốt đến phát triển hệ thống rễ bên và lông hút của cây, nhất là trong điều kiện đất trồng vải trên đất chua Ca còn có tác dụng giúp cây vải có khả năng chịu úng tạm thời, có ảnh hưởng tốt đến việc tích luỹ chất gluxit vào quả Vì vậy
Ca có ảnh hưởng đáng kể đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng vải
- Có ý kiến cho rằng Clo cũng là yếu tố dinh dưỡng có nhu cầu khá rõ đối với cây vải nên dùng một lượng nhất định bón cho vải sẽ mang lại hiệu quả tích cực (Trần Thế Tục, 1997)
- Theo một số nhà khoa học khác như Phạm Văn Côn [(2005) Các biện pháp điều khiển sinh trưởng và phát triển, ra hoa, kết quả cây ăn trái, Nxb Nông nghiệp]; Phạm Minh Cương [(1988), Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố dinh dưỡng và chất điều hoà sinh trưởng đến năng suất, chất lượng của 2 giống vải thiều Thanh Hà và Phú Hộ trên đất đồi Vĩnh Phú và Hà Bắc, Luận văn Tiến
sỹ Nông nghiệp, Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam;và cộng sự (2005), "Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật tăng năng suất vải", Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Nxb Lao động xã hội] và Nguyễn Văn Dũng (2005), ["Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất điều tiết sinh trưởng và dinh dưỡng qua lá đến khả năng ra hoa, đậu quả, năng suất phẩm chất vải chín sớm", Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, số đặc san, Nxb Nông nghiệp trang 81 - 84]…thì Bo, Zn, GA3, IAA có tác dụng làm tăng tỷ lệ đậu quả, tăng trọng lượng quả và hàm lượng vitamin C trong quả
II CÁC YÊU CẦU VỀ SINH THÁI CỦA CÂY VẢI
1 Yêu cầu về nhiệt độ
Đối với cây vải thì nhiệt độ là một trong những nhân tố chủ quan tác động đến sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây vải Nhiệt độ bình quân năm thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của cây vải từ 21 - 260
C thì có phản ứng tốt Giống chín sớm là ở 40C, giống chín muộng là ở 00C thì ngừng
Trang 10sinh trưởng sinh dưỡng Khi nhiệt độ từ 8 - 100C thì khôi phục sinh trưởng, nhiệt
độ từ 10 - 120C cây sinh trưởng chậm, nhiệt độ trên 210C cây sinh trưởng tốt, ở nhiệt độ 23 - 260C là thời kỳ cây sinh trưởng mạnh nhất Khi nhiệt độ giảm xuống 00C thì cây chưa bị rét gây hại, ở nhiệt độ -20C bắt đầu tổn hại đến vải, rét càng kéo dài ở nhiệt độ thấp thì thời gian cây vải bị hại càng nghiêm trọng
Ảnh hưởng của nhiệt độ vào mùa đông liên quan chặt chẽ tới quá trình phân hoá mầm hoa của vải Theo Bành Kính Ba, nghiên cứu trên các giống vải cho thấy thời gian nhiệt độ từ 00
C - 100C thuận lợi cho chùm hoa phân nhánh và phân hoá mầm hoa Ở điều kiện từ 11 - 190C cành hoa và lá đều có thể phát triển sớm trở thành các chùm hoa có giá trị về kinh tế
Thể nguyên thuỷ của hoa vải là mầm hỗn hợp có hoa có lá, nhiệt độ cao ức chế sự hình thành các cơ quan hoa mà thiên về sinh trưởng sinh dưỡng, thúc đẩy sự sinh trưởng của lá Trái lại, nhiệt độ thấp thúc đẩy sự phân hoá cành hoa nhỏ và cơ quan hoa, ức chế sự phát dục của nguyên thuỷ của lá, thiên hướng về sinh thực
Nhiệt độ cũng ảnh hưởng tới tỷ lệ đực cái của hoa vải Ở Trung Quốc qua phân tích liên tục từ năm 1978 - 1985 về quan hệ giữ nhiệt độ bình quân ngày của tháng 1 - 2 và tỷ lệ phần trăm hoa cái trong năm đã phát hiện giữa chúng có mối tương quan nghịch R = - 0,86 có nghĩa là nhiệt độ còn ảnh hưởng đến thời
kỳ nở hoa và sự phát triển của quả Nhiệt độ bình quân hữu hiệ càng cao thì quả sinh trưởng phát triển càng nhanh, ngược lại nhiệt độ bình quân hữu hiệu càng thấp thì sinh trưởng của quả càng chậm
Nhiệt độ là một trong những nhân tố khí hậu chính khó điều khiển được
nó quyết định diện tích trồng trọt và ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất cây trồng Cây vải thuộc nhóm cây ăn quả Á nhiệt đới nên yêu cầu về nhiệt độ khá khắt khe… Theo nghiên cứu của trường đại học Hoa Nam (Trung Quốc): ở thời kỳ hình thành chồi hoa tháng 11, 12 gặp troèi lạnh và khô, đọt hoa ra tốt Ngược lại nếu trời nóng và ẩm thì ra đọt lá, vào tháng 1,2 khi nở hoa đậu quả nếu thời tiết tốt, không có gió Bắc mưa phùn kéo dài thì thụ phân thuận lợi, đậu quả nhiều
2 Yêu cầu về lượng mưa và độ ẩm
Cây vải có nguồn gốc ở các vùng có lượng mưa hàng năm là 1.250 - 1.700mm, độ ẩm không khí là 75 - 85 % nên nó chịu được độ ẩm không khí
Trang 11cao ở thời kỳ sinh trưởng thân lá Trong những tháng mưa nhiều, bộ lá cây vẫn xanh tốt Vải kém chịu úng hơn các cây ăn quả khác như nhãn, xoài,… nhưng có khả năng chịu hạn tốt hơn Tháng 11 - 12 cây vải cần có thời tiết khô và lạnh để phân hoá mầm hoa
Những tháng vào mùa hè và mùa thu là thời gian cây vải sinh trưởng mạnh yêu cầu lượng lúa lớn Những tháng mùa đông, mưa nhiều, vải dễ phát lộc đông, không thuận lợi cho phân hoá mầm hoa theo tác giả Ngô Tố Phần và Nghê Diệu Nguyên, nhân tố mưa ảnh hưởng đến hoa vải chủ yếu trong giai đoạn phân hoá trục chùm hoa, thời ky phân hoá hoa, đủ nước thì tổng số hoa/chùm và số hoa đực/chùm giảm nhưng số hoa cái không bị ảnh hưởng nhiều nên tỷ lệ hoa cái tăng Mưa nhiều trong thời gian hoa đang nở dẫn đến làm thối hoa, tỷ lệ đậu quả rất thấp có thể dẫn đến mất mùa Phấn hoa ngâm trong nước nửa giờ có một
số bộ phận bắt đầu nảy mầm, 1 - 1,5 giờ phần lớn nảy mầm, sau 2 giờ cơ bản ngừng nảy mầm Nếu ngâm phấn hoa trong nước nửa giờ, màng ngoài của 70%
số hạt phấn bắt đầu trương lên, khoảng 1 giờ, đầu trên ống phấn hoa bị vỡ ra, nguyên sinh chất chảy ra ngoài và ngừng sinh trưởng
Ở các tỉnh phía Bắc nước ta năm 2005 nhiệt độ những tháng cuối năm rất thuận lợi cho phân hoá mầm hoa, chùm hoa to, hoa nở nhiều nhưng khi hoa nở, gặp mưa dầm kéo dài nhiều ngày làm tỷ lệ đậu quả thấp do đó năng suất giảm sụt đặc biệt là giống vải thiều
3 Yêu cầu về ánh sáng
Cây vải yêu cầu đầy đủ ánh sáng Tổng số giờ chiếu sáng thích hợp cho vải cả năm 1800 - 2000 giờ Ánh sáng đầy đủ làm tăng khả năng đồng hoá của cây, xúc tiến quá trình phân hoá mầm hoa làm tăng màu sắc của vỏ quả và làm tăng phẩm chất của quả Nếu không đủ ánh sáng hoặc trồng quá dày, quá trình quang hợp bị hạn chế thì sự ra hoa đậu quả sẽ khó khăn Nếu khi ra hoa gặp nhiệt độ quá cao không khí quá khô cường độ ánh sáng mạnh, lượng nước bốc hơi lớn sẽ làm cho chỉ nhị héo, nồng độ dịch ở đầu nhuỵ quá cao không lợi cho thụ phấn, thụ tinh, thời tiết thuận lợi cho việc ra hoa, thụ phấn thụ tinh là trong thời kỳ ra hoa có nhiều ngày nắng ráo, sau đó lại có mưa rào rồi trời lại quang
Trang 12Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng thời tiết, khí hậu tháng riêng có tương quan chặt chẽ với năng suất vải trong tháng 1 nếu nhiệt độ thấp (11 - 150C), trời quang từ 15 - 22 ngày trở lên, thời gian chiếu sáng 117giờ/tháng, số ngày mưa ít (ít hơn 10 ngày) lượng mưa ít (dưới 50mm) độ ẩm không khí thấp (< 73%) thì năm đó được mùa Ngược lại thì mất mùa vải
4 Yêu cầu về đất đai
Theo một số tác giả thì cây vải có tính thích nghi cao với điều kiện đất đai, có thể trồng vải trên nhiều loại đất
- Đất bãi ven sông là loại đất phù sa có lý hoá tính thích hợp với vải, độ
ẩm tốt, nên ở đây cây vải sinhtrưởng phát triển tốt, sản lượng cao, chất lượng tốt
vì vậy ở ven sông Hồng, sông Đáy, sông Lô có nhiều vườn vải
- Đất đồi dốc, sa thạch hoặc phiến thạch ở các tỉnh trung du miền núi: Đặc điểm chung là đất nghèo dinh dương, nhưng thoát nước tốt, tầng canh tác thường bị thiếu nước, về mùa khô, cây vải trồng trên đất đồi không cao lớn như vùng đất phù
sa ven sông và đồng bằng song cây vẫn xanh tốt và cho năng suất cao
- Đối với đất có mạch nước ngầm gần với mặt đất thì ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây vải muốn có năng suất ở vùng này thì trước khi trồng phải lên líp và vượt đất cao lên thì cây vải vẫn sinh trưởng và cho năng suất cao
Độ pH thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của cây vải là 5,5 - 6,5
Mức độ thích nghi của cây vải thiều đối với các loại đất được thể hiện ở bảng
Bảng 3 Mức dộ thích nghi của cây vải thiều đối với đất đai
Trang 13+ Fs: Đất đỏ vàng trên phiến thạch sét
+ Fp: Đất nâu vàng trên phù sa cổ + Pa: Đất đỏ vàng trên đá macma axit
III CÁCH TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CHO VẢI
1 Chọn và chuẩn bị đất trồng
1.1 Chọn đất :
Vải thích hợp trồng trên đất phù xa ven sông hay đất có tầng dày, độ phì cao, giữ ẩm và thoát nước tốt ở những vùng đất xấu phải có chế độ chăm sóc thích hợp nhưng độ dốc phải dưới 20%, pH KCL 5,5 - 6,5
1.2 Chuẩn bị đất trồng :
- Phát quang, dọn sạch cây, san phẳng hoặc cày bừa một lần, nhặt sạch cỏ dại Vùng đất dốc phải thiết kế làm bậc thang theo đường đồng mức, mỗi bậc thang rộng 1,5 - 2,0m, sâu 0,8 - 1,0m; Líp rộng 7 - 12m Thiết kế lô, thửa, đường
đi, hệ thống tưới tiêu và trồng cây chắn gió ở những vườn có diện tích rộng 1 - 3
ha trở lên
- Ðào hố kích thước : Dài x rộng x sâu : là 08m x 0,8m x 0,6m cho vùng đồng bằng và 1m x 1m x 0,8m cho vùng đồi Bón lót : 30 - 50kg phân chuồng hoai mục : 0,7 - 1,0Kg Supe lân; 0,5 - 1Kg vôi bột cho một hố Công việc đào
hố, bón lót, lấp hố làm trước khi trồng ít nhất 1 tháng
2 Chuẩn bị cây giống
Phải chọn cây giống đúng giống quy định Với các giống chín sớm phải
có đường kính gốc là : 1 - 1,5cm ; đường kính cành ghép : 0,7cm, chiều dài cành ghép trên 40cm Với các giống chính vụ, các chỉ tiêu tương ứng là : 0,8 - 1cm, 0,5 - 0,7cm và 30 - 40cm Cây Cây giống phải có 2 -3 cành cấp 1 trở lên và không được nhiễm các loại sâu bệnh hại nguy hiểm
3 Kỹ thuật trồng và chăm sóc vải
3.1 Thời vụ trồng:
- Vụ Xuân : tháng 2 - 3, và đầu tháng 4
- Vụ Thu : tháng 8; 9; 10