1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Tiểu luận: Tìm hiểu cây vải ppt

27 2,3K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu cây vải
Thể loại Tiểu luận
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, hiện nay theo Vũ Mạnh Hải và Nguyễn Văn Dũng 2002 Viện Nghiên cứu Rau quả đã thu thập và mô tả 33 giống vải được trồng ở các vùng khác nhau trong đó có nhiều giống có triển vọ

Trang 2

MỤC LỤC

Tran g I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÂY VẢI 4

1 Cây vải: 4

2 Nguồn gốc và phân bố 4

3 Các giống vải chủ yếu ở Việt Nam và trên thế giới 5

3.1 Vải thiều Thanh Hà: 7

3.2 Vải Hùng Long: 7

3.3 Vải Lai Bình Khê : 7

3.4 Vải lai Yên Hưng : 7

4 Đặc điểm sinh lý dinh dưỡng của cây vải 8

4.1 Đặc điểm sinh trưởng phát triển của cây vải 8

4.2 Đặc điểm hệ rễ của cây vải 9

4.3 Nhu cầu dinh dưỡng của cây vải 9

4.3.1 Nhu cầu dinh dưỡng đạm 10

4.3.2 Nhu cầu về dinh dưỡng lân 10

4.3.3 Nhu cầu dinh dưỡng kali 11

4.3.4 Nhu cầu về các yếu tố dinh dưỡng khác 12

II CÁC YÊU CẦU VỀ SINH THÁI CỦA CÂY VẢI 12

1 Yêu cầu về nhiệt độ 12

2 Yêu cầu về lượng mưa và độ ẩm 13

3 Yêu cầu về ánh sáng 14

4 Yêu cầu về đất đai 15

III CÁCH TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CHO VẢI 16

1 Chọn và chuẩn bị đất trồng 16

1.1 Chọn đất : 16

1.2 Chuẩn bị đất trồng : 16

2 Chuẩn bị cây giống 16

3 Kỹ thuật trồng và chăm sóc vải 16

3.1 Thời vụ trồng: 16

3.2 Khoảng cách trồng: 17

3.3 Cách trồng: 17

4 Bón phân cho cây vải 17

4.1 Tình hình sử dụng phân bón cho cây vải 17

Trang 3

4.2 Các loại phân bón truyền thống 18

4.3 Các loại phân bón mới 18

4.4 Các chế phẩm Fito tăng năng suất cây trồng và Phân phức hợp HCVS Fitohoocmon 19

4.4.1 Chế phẩm Fito tăng năng suất cây trồng 19

4.4.2 Phân phức hợp HCVS Fitohoocmon 22

* Thành phần chủ yếu của phân phức hợp HCVS Fitohoocmon 22

- Phân mùn hữu cơ cao cấp: phân gia súc, gia cầm, than bùn và các phế phụ phẩm nông nghiệp 22

- Phân đa lượng: đạm, lân và kali 22

- Phân trung lượng: Canxi, magie, lưu huỳnh, … 22

4.5 Phương pháp bón phân cho vải 23

4.6 Quy trình bón phân Hữu cơ vi sinh Fito - Việt Séc cho cây Vải Thiều - huyện Thanh Hà: cây có tuổi từ 10 - 14 24

4.6.1 Thúc lộc thu: 24

4.6.2 Thúc ra hoa: 24

4.6.3 Thúc quả non lần 1: 24

4.6.4 Thúc quả non lần 2: 24

4.7 lượng phân PHHCVS Fito - Việt Séc bón cho vải ở các lứa tuổi: 24

Bảng 5 Lượng phân bón cho vải theo các lứa tuổi cây 25

5 Cắt tỉa tạo tán: 25

6 Sâu bệnh chính và biện pháp phòng trừ 25

6.1 Bọ xít : 25

6.2 Sâu đục thân cành : 25

6.3 Rệp hại hoa, quả non : 26

IV THU HOẠCH VẢI 27

Trang 4

Theo Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến (1978), [Phân loại thực vật bậc cao, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội], Menzen (2002)[Tr.8-13 The Lychee crop in Asia and the Pacific, FAO.] và Hoàng Thị Sản (2003) thì họ

Bồ hòn có 150 chi với trên 2000 loài phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới đặc biệt là ở Châu Á và Châu Mỹ Ở Việt Nam họ Bồ hòn được biết đến với 25 chi và trên 70 loài phân bố trên khắp đất nước, nhiều loài điển hình cho rừng thứ sinh ẩm nhiệt đới trong đó có một số cây cho quả ăn ngon như vải, nhãn, chôm chôm,…

Về đặc điểm phân loại cây vải là cây gỗ nhỡ, thường xanh lá kép lông chim, hoa nhỏ không có cánh hoa, bầu có ngăn, vỏ quả mỏng màu đỏ hồng hay

đỏ nâu mặt ngoài sần sùi có hạt, ăn hơi chua hay ngọt

2 Nguồn gốc và phân bố

Theo FAO (1989) theo tài liệu này viết về cây vải đã ghi lại thời gian vào năm 100 trước công nguyên Hoàng Đế Hán Vũ đã đem vải vào miền Nam Trung Quốc và Bắc Inđônêxia Cuối thế kỷ 17, cây từ trung Quốc đầu tiên được đưa vào Mianma cuối thế kỷ 18 được đưa sang Ấn Độ (Singh và Singh, 1954), năm 1775 đưa sang quần đảo Tây Ấn, năm 1854 đưa sang Austraylia (Queen và Auco 1962) năm 1870 đưa sang Nam Phi (Marlen, 1957) năm 1872 đưa sang Hawai (Gvove, 1952) năm 1886 đưa vào Florida của Mỹ (Barley, 1916)…

Theo Trần Thế Tục (2004) nguồn gốc cây vải có ở giữa miền Nam Trung Quốc và Miền Bắc Việt Nam và bán đảo Malai Hiện nay ở núi Tạ Hải Sơn tỉnh

Trang 5

Quảng Đông, núi Hồ Lĩnh, Kim Cổ Lĩnh (đảo Hải Nam) ở vùng phía Nam của Xisuang Bana (Vân Nam) còn những cánh rừng có nhiều cây vải dại mọc Theo nhiều tài liệu của Trung Quốc cho biết có rất nhiều nơi ở miền nam Trung Quốc

có cây vải dại như các tỉnh Quảng Đông, Vân Nam, đảo Hải Nam… và theo điều tra của các nhà khoa học Trung Quốc, đã điều tra thực địa và từ góc độ lịch

sử hình thái và đặc trưng quần lạc sinh thái đã kết luận đảo Hải Nam có cây vải dại, ngoài ra ở Hoa Châu, Liêm Giang, Dương Xuân và trên sáu ngọn núi lớn ở huyện giáp ranh huyện Bác Bạch và huyện Hồ Bắc của tỉnh Quảng Tây đều có cây vải dại chứng tỏ cây vải có nguồn gốc từ Trung Quốc

Ở nước ta, cây vải được trồng từ cách đây khoảng 2000 năm và phân bố

từ 18 - 190 Vĩ Bác trở ra nhưng chủ yếu vần là vùng đồng bằng Sông Hồng, trung du miền núi phía Bắc và một phần khu 4 cũ Theo các tài liệu lịch sử thì cách đây 10 thế kỷ dưới thời Bắc thuốc vải là một trong những cống vật hằng năm mà Đại Việt phải mang cống nộp cho Trung Hoa Cây vải dại cũng đã được tìm thấy ở vườn quốc gia Ba Vì, Hà Tây và nhiều nơi khác Từ đó, miền Bắc Việt Nam cũng được coi là nguồn gốc của cây vải

Ngày nay, cây vải được trồng ở trên 20 nước trên thế giới nhưng chủ yếu phân bố ở vùng Đông Nam Á ở Châu Á: Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam, Mianma, Lào, Campuchia, Malaisia, Philippin, Inđônêxia, Srilanca, Nhật Bản, Ixrael

Ở Châu Phi: Nam Phi, Morithiuyt, Madagatca, Rênyniong, Gabông, Cônggô…

Ở Châu Mỹ: Hoa Kỳ, Hondurat, Panama, Cuba, Trinidat, Pôctoorico, Brazil…

Ở Châu Đại Dương: Autraylia, Newzilan,…

Ở Việt Nam, đã hình thành một số vùng trồng cây vải tập trung như Lục Ngạn (Bắc Giang), Thanh Hà (Hải Dương), Đông Triều (Quảng Ninh), Đồng Hỷ

- Phú Lương (Thái Nguyên), Đình Lập - Hữu Lũng (Lạng Sơn), Chương Mỹ (Hà Tây), Phù Yên - Bắc Yên (Sơn La), Phú Thọ Ngoài ra còn một số địa phương ở Tây Nguyên như Đăk Nông, Đăk Lắk, Kontum…

3 Các giống vải chủ yếu ở Việt Nam và trên thế giới

Trang 6

Ở Việt Nam sự phân chia các giống vải còn mang tính chất tương đối, xét theo phẩm chất quả, có các nhóm: vải chua, vải nhỡ, vải thiều; xét theo thời gian thu hoạch, có các nhóm vải: vải chín sơm, chính vụ và vải chín muộn.

- Nhóm vải chua: (hay còn gọi là tu hú) cây cao lớn, lá to, phiến lá mỏng Khi ra hoa, chùm hoa vải từ cuống đến nụ hoa đêu phủ một lớp lông đen Quả thường chín vào cuối tháng 4 và đầu tháng 5 Khi chín vỏ quả màu đỏ tươi, trọng lượng quả 30 - 50g, vỏ dày, hạt to, cùi mỏng và rất chua, tỷ lệ cùi chiếm

60 - 65% trọng lượng quả Ở nước ta hiện còn ở các tỉnh trung du và miền núi như Phú Thọ, Hà Tây, Tuyên Quang, Quảng Ninh…

- Nhóm vải nhỡ: cây to trung bình, tán cây thường to 5 - 7m, dạng trứng,

lá thường to, cây sinh trưởng khỏe, chùm hoa không có lông đen, nhưng hoa mọc thưa hơn vải chua, quả chín muộn hơn nhóm vải chua nhưng sớm hơn nhóm vải thiều Quả có trọng lượng trung bình từ 28 - 34g

- Nhóm vải thiều: cây có tán hình mâm xôi cao từ 10 - 15m, lá nhỏ, phiến

lá dày bóng, khả năng chịu hạn tốt, phù hợp với đất có độ pH 5 - 6, khi ra hoa chùm hoa không phủ lớp lông đên mà có màu trắng vàng, chín chính vụ (tháng 6) Trọng lượng quả trung bình 18 - 25g, vỏ quả mỏng, hạt nhỏ, dày cùi, tỷ lệ ăn được 70 - 80% cùi thơm và ngọt hơn 2 nhóm vải trên

Quả vải thiều gốc

- Quả tròn, hạt nhỏ cùi dày, gai nhỏ

- Ăn ngon, ngọt và thơm

Ngoài ra còn có một số giống có thể được biết đến với vài tên khác nhau theo cách gọi của từng địa phương Tuy nhiên, hiện nay theo Vũ Mạnh Hải và Nguyễn Văn Dũng (2002) Viện Nghiên cứu Rau quả đã thu thập và mô tả 33 giống vải được trồng ở các vùng khác nhau trong đó có nhiều giống có triển vọng đã và đang được phát triển ngoài sản xuất như giống Hùng Long, Yên Hưng, Yên Phú,…

Có thể kể đến một số giống vải:

Trang 7

3.1 Vải thiều Thanh Hà:

Cây sinh trưởng tốt, lá mầu xanh đậm Quả hình cầu,

khi chín mầu đỏ tươi, gai thưa, ngắn Trọng lượng quả trung

bình 20,7g (45 - 55 quả/kg), tỷ lệ phần ăn được trung bình 75%, độ Brix 18 - 21% Ðây là giống chín chính vụ, thời gian cho thu hoạch 5/6 - 25/6

3.2 Vải Hùng Long:

Cây sinh trưởng rất tốt, lá hình lòng máng phẳng, xanh đậm Quả hình tròn hơi dài, khi chín có màu đỏ sẫm, gai thưa, nổi Trọng lượng quả trung bình 23,5g (40 - 45 quả/kg), tỷ lệ phần ăn được 72,0% , độ Brix 17 - 20% Ðây là giống chín sớm, thời gian cho thu hoạch 10/5 - 20/5

3.3 Vải Lai Bình Khê :

Cây sinh trưởng rất tốt, lá mầu xanh tối Quả hình trứng, khi chính có mầu

đỏ sẫm, vỏ mỏng, gai thưa, ngắn Trọng lượng quả trung bình 33,5g (28 - 35quả/kg), tỷ lệ phần ăn được 71,5%, độ Brix 17 - 20% Ðây là giống vải chín sớm, thời gian cho thu hoạch 5/5 - 15/5

3.4 Vải lai Yên Hưng :

Cây sinh trưởng khỏe, mầu xanh hơi vàng Quả hình tim, khi chín mầu đỏ vàng, gai thưa Trọng lượng quả trung bình 30,1g (30- 35quả/kg), tỷ lệ phần ăn được 73,2%, độ Brix 18 - 20% Ðây là giống chín sớm, thời gian cho thu hoạch 10/5 - 20/5

Các giống vải trên thế giới thì hiện tại Trung Quốc là nước có số lượng giống vải nhiều nhất Tuy vậy trong số hơn 200 giống vải được trồng ở Trung Quốc chỉ có khoảng 15 giống là có khả năng sản xuất theo hướng hàng hoá, ở mỗi vùng sinh thái có một số giống chủ lực

Ở Ấn Độ có khoảng 50 giống vải được trồng ở các bang khác nhau Ở Bang Bihat nơi có diện tích vải lớn nhất của Ấn Độ có những giống quan trọng

là Shahi, Kasba, China, Deshi, Purbi… Giống được trồng phổ biến ở Uttar Pradesh là Dehra Dun Những giống cho năng suất và phẩm chất tốt ở Ấn Độ là West Bengal, Bombai, Elaichi, China, Bedana

Ở Austraylia, những vùng trồng vải tập trung nằm theo dải bờ biển từ Cairrus, Atherton Tablelands Ingham, Mackay, Bundaberg đến Coffs Harbuor

Trang 8

với các giống vải chính là Fay Zee Siu, Taiso, Bengal… (G.W Vallance, 1986), S.K.Mitra Ở bảng trên là các giống vải chính được trồng trên thế giới.

Bảng 1 Giống vải chính của một số nước trên thế giới

TT Tên nước Các giống vải chính

1 Ấn Độ Shahi, Rose Seented, calcuttia, bedana, longia, china

2 Úc Fay Zee Siu, taiso, bengal, waichee, kwaimay pink, salathiel

3 Đài Loan Haakyip, shakeng

4 Nam Phi Taiso, bengal

5 Mỹ Taiso, Kaimana

6 Thái Lan Taiso, waichee, baidum, chacapat, Kom

7 Trung Quốc Fay Zee Siu, bahlwp, no mai chee, Souey Tung, Taiso, Brewster

Nguồn: Menzel (1995,2002)

4 Đặc điểm sinh lý dinh dưỡng của cây vải

4.1 Đặc điểm sinh trưởng phát triển của cây vải

Thời kỳ kiến thiết cơ bản bắt đầu từ sau khi trồng bằng cành chiết hay cây ghép đến khi cây đạt 3 tuổi Trong thời kỳ này cây vải phát triển hệ thống rễ, thân, cành, hình thành tán cây Thời gian đầu cây phát triển chậm Trong thời kỳ này đường kính thân, số cành và tán cây vải tăng dần hàng năm Một năm cây vải cho ra từ 4 đến 5 đợt lá non (lộc) mà sau đó có thể phát triển thành cành vào các tháng: 2 - 3, 4 - 5, 6 - 7, 8 - 9 và nếu thời tiết ấm cả vào các tháng 10 - 11

Thời kỳ kinh doanh của cây vải được bắt đầu từ năm thứ 4 sau trồng Ở thời kỳ này một năm cây vải cho 2 - 3 đợt lộc, trong đó: đợt lộc xuân vào khoảng tháng 2, đợt lộc sau thu hoạch quả vào khoảng tháng 6 - 7 và đợt lộc thu vào khoảng tháng 9 - 10 Cây vải không ra hoa trên cành 1 năm, nên đợt lộc thu

sẽ tạo ra các cành thu cho hoa và quả vào năm sau rất có ý nghĩa cho năng suất vải vào vụ tới

Tháng 10 - 11 là giai đoạn ủ mầm hoa nên cần dinh dưỡng, nhưng cần lưu

ý giảm lượng đạm sử dụng Từ tháng 2 - 6 là thời kỳ cây ra hoa kết quả, nếu quả nhiều thì không ra lá cần được cung cấp nhiều dinh dưỡng đặc biệt là đạm và kali để nuôi quả

Đọt lá trên đó chùm hoa đã nảy sinh gọi là đọt mẹ, đọt mẹ càng già (ra vào tháng 6 - 7) càng có khả năng sinh ra nhiều chùm hoa khoẻ, thuần hoá cho nhiều quả hơn Khi cây vải thụ phấn xong, hạt phát triển trước, khoảng 3 - 4

Trang 9

tuần trước khi quả chín, hạt ngừng phát triển, cùi phát triển nhanh, giai đoạn này cây cần nhiều nước và dinh dưỡng, đặc biệt là N, K, Ca.

Thời kỳ kinh doanh cây vải cho năng suất và nhu cầu dinh dưỡng tăng dần trong khoảng 10 năm (từ năm thứ 4 đến năm thứ 14 sau trồng), từ năm thứ

15 sau trồng cây vải thường mới cho năng suất ổn định

Ở thời kỳ già (cỗi), một năm cây chỉ ra 2 đợt lộc vào các tháng 2 và tháng

9, cây có năng suất quả giảm dần, cùng với hiện tượng chết cành Nhu cầu dinh dưỡng của cây cũng giảm so với thời kỳ kinh doanh

4.2 Đặc điểm hệ rễ của cây vải

Cây vải có bộ rễ rất khoẻ bao gồm rễ phát triển theo chiều đứng và rễ phát triển ngang

Đại bộ phận hệ rễ của cây vải tập trung ở tầng đất 0 - 60cm, dù rễ có thể lan xa gấp 1,5 - 2 lần so với hình chiếu của tán cây và có thể ăn sâu tới 1,6m Tuy nhiên phần lớn rễ tơ - là các rễ hút thức ăn tập trung ở độ sâu 0 - 40cm với phạm vi chiều rộng trong và ngoài hình chiếu mép tán cây 10 - 50cm

Bộ rễ cây vải hoạt động mạnh vào 3 thời kỳ: thời kỳ 1 - từ sau ra hoa rộ đến giữa tháng 6 - là thời kỳ bộ rễ hoạt động mạnh nhất với nhiều rễ nhất; thời

kỳ thứ 2 - từ sau thu hoạch quả (giữa tháng 8), lượng rễ ít; thời kỳ thứ 3 - trước

và sau phân hoá mầm hoa (vào trung tuần tháng 10), trong điều kiện mùa đông, nhiệt độ đất giảm dần, lại khô hạn nên rễ hoạt động chậm dần hoặc ngừng hẳn

4.3 Nhu cầu dinh dưỡng của cây vải

Nghiên cứu về dinh dưỡng của cây vải còn ít, thông qua các tài liệu hiện

có thể thấy cây vải cần nhiều kali và đạm, rồi đến lân Ở thời kỳ cây con cây cần nhiều đạm và lân còn ở giai đoạn kinh doanh của cây vải cần nhiều kali nhất rồi đến đạm và lân

Trang 10

Bảng 2: Tỷ lệ các chất dinh dưỡng cây vải hút vào trong lá và quả

Tỷ lệ cây hút các chất dinh

dưỡng N P2O5 K2O CaO MgOTrong lá 7,8 1,0 4,6 2,3 2,5Trong quả 1,6 1,9 5,3 1,3 1,0

Nguồn: Trần Thế tục, 1997 4.3.1 Nhu cầu dinh dưỡng đạm

Đạm có tác dụng rất lớn trong việc phát triển lá, thân, cành và tạo tán của cây vải nên có vai trò quyết định đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây Đạm còn có tác dụng lớn đến việc ra hoa, đậu quả, số lượng và trọng lượng quả nên có tác dụng quyết định đối với năng suất quả vải Đạm là yếu tố dinh dưỡng rất quan trọng ở thời kỳ cây con - kiến thiết cơ bản của cây vải Ở thời kỳ kinh doanh của cây vải, đạm ngoài tác dụng lớn đến sự phát triển cành, lá và tạo tán của cây còn có ảnh hưởng quyết định đến năng suất và phẩm chất quả

Trong một nhiệm kỳ kinh tế, nhu cầu đạm của cây vải tăng dần hàng năm, tăng mạnh ở thời kỳ đầu kinh doanh và đạt cực đại ở thời kỳ cây có năng suất ổn định, rồi giảm dần ở thời kỳ cây già cỗi Trong một năm nhu cầu đạm của cây vải cao sau khi thu hoạch để phục hồi và phát triển cành thu cho việc ra quả ở năm sau (tháng 7 - 8) rồi giảm mạnh khi chuẩn bị phân hoá mầm hoa (tháng 12)

và lại tăng mạnh vào đầu xuân (tháng 2 - 3) khi cây phát triển cành xuân và ra hoa đậu quả, rồi lại giảm dần cho đến trước thu hoạch quả

4.3.2 Nhu cầu về dinh dưỡng lân

Lân có tác dụng lớn đối với sự phát triển của hệ rễ và khả năng hấp thu dinh dưỡng của cây vải, vì vậy có ảnh hưởng rõ đến sinh trưởng và phát triển của cây Lân thúc đẩy quá trình phân hoá mầm hoa, hình thành quả, sự thành thục của quả và hạt nên có tác dụng nâng cao năng suất và sớm cho thu hoạch quả Lân cũng ảnh hưởng rõ tới phẩm chất của quả vải Lân còng làm tăng khả năng chống hạn chống rét và chống chịu sâu bệnh hại cho cây vải

Cây vải thiếu lân có lá tối màu, thiếu nhiều thì ở ngọn lá và mép lá có màu vàng nâu cục bộ và lan dần ra đến gần gân chính Thiếu lân không chỉ ảnh hưởng xấu đến khả năng hút dinh dưỡng, sinh trưởng và phát triển của cây vải

mà còn ảnh hưởng xấu đến việc ra hoa, đậu quả, năng suất và chất lượng quả

Trang 11

Nhưng khi vải được cung cấp quá thừa lân làm cho hàm lượng N và K trong cây giảm có thể ảnh hưởng xấu tời cây.

Trong một nhiệm kỳ kinh tế, nhu cầu lân của cây vải tăng dần hàng năm, đặc biệt cần thiết ở thời kỳ kiến thiết cơ bản Trong một năm nhu cầu lân của cây vải cao vào thời kỳ từ sau khi thu hoạch để phục hồi và phát triển cành thu cho việc ra quả ở năm sau và chuẩn bị phân hoá mầm hoa (từ tháng 7 - 8 đến tháng 12) rồi giảm dần cho đến trước thu hoạch quả

4.3.3 Nhu cầu dinh dưỡng kali

Kali là yếu tố dinh dưỡng mà cây vài hút nhiều nhất Kali có tác dụng quan trọng trong việc tổng hợp các chất gluxit, giúp cho cấu tạo các mô cứng cáp, vận chuyển các sản phẩm quang hợp đến các cơ quan dự trữ của cây được thuận lợi Vì vậy kali còn có tác dụng làm tăng độ ngọt và các phẩm chất quả, tăng khả năng cất giữ, tăng khả năng bảo vệ của vỏ quả Kali làm tăng khả năng chịu hạn, chịu lạnh, chịu nóng, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, giúp cho quả nhanh lớn và chóng thành thục

Thiếu kali màu sắc lá hơi nhạt, ở ngọn lá có hiện tượng trắng màu tro, khô; mép lá có màu nâu gụ lan dần xuống tận gốc lá Thiếu kali có ảnh hưởng xấu đến không chỉ sinh trưởng phát triển mà còn có ảnh hưởng xấu rõ tới năng suất và chất lượng quả của cây vải

Nhu cầu kali theo nhiệm kỳ kinh tế của cây vải cũng tăng hàng năm tương

tự như đối với đạm Nhu cầu kali hàng năm của cây vải tăng dần từ sau thu hoach quả và đạt cao nhất ở thời kỳ cây ra hoa rồi giảm dần từ khi đậu quả cho đến lúc thu hoạch

Hàm lượng kali trong lá cao thời gian chín của cây vải có tương quan thuận với năng suất vải cao

Trang 12

4.3.4 Nhu cầu về các yếu tố dinh dưỡng khác

- Cây vải có nhu cầu khá cao về MgO và CaO

Mg cần thiết cho quá trình quang hợp thuận lợi ở cây, tạo khả năng chịu hạn tốt hơn cho cây vải, đồng thời có tác dụng làm tăng độ ngọt cho quả vải

Ca có tác dụng lớn trong việc hấp thu dinh dưỡng của cây vải do có tác dụng tốt đến phát triển hệ thống rễ bên và lông hút của cây, nhất là trong điều kiện đất trồng vải trên đất chua Ca còn có tác dụng giúp cây vải có khả năng chịu úng tạm thời, có ảnh hưởng tốt đến việc tích luỹ chất gluxit vào quả Vì vậy

Ca có ảnh hưởng đáng kể đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng vải

- Có ý kiến cho rằng Clo cũng là yếu tố dinh dưỡng có nhu cầu khá rõ đối với cây vải nên dùng một lượng nhất định bón cho vải sẽ mang lại hiệu quả tích cực (Trần Thế Tục, 1997)

- Theo một số nhà khoa học khác như Phạm Văn Côn [(2005) Các biện pháp điều khiển sinh trưởng và phát triển, ra hoa, kết quả cây ăn trái, Nxb Nông nghiệp]; Phạm Minh Cương [(1988), Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố dinh dưỡng và chất điều hoà sinh trưởng đến năng suất, chất lượng của 2 giống vải thiều Thanh Hà và Phú Hộ trên đất đồi Vĩnh Phú và Hà Bắc, Luận văn Tiến

sỹ Nông nghiệp, Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam;và cộng sự (2005), "Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật tăng năng suất vải", Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Nxb Lao động xã hội] và Nguyễn Văn Dũng (2005), ["Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất điều tiết sinh trưởng và dinh dưỡng qua lá đến khả năng ra hoa, đậu quả, năng suất phẩm chất vải chín sớm", Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, số đặc san, Nxb Nông nghiệp trang 81 - 84]…thì Bo, Zn, GA3, IAA có tác dụng làm tăng tỷ lệ đậu quả, tăng trọng lượng quả và hàm lượng vitamin C trong quả

II CÁC YÊU CẦU VỀ SINH THÁI CỦA CÂY VẢI

1 Yêu cầu về nhiệt độ

Đối với cây vải thì nhiệt độ là một trong những nhân tố chủ quan tác động đến sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây vải Nhiệt độ bình quân năm thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của cây vải từ 21 - 260C thì có phản ứng tốt Giống chín sớm là ở 40C, giống chín muộng là ở 00C thì ngừng

Trang 13

sinh trưởng sinh dưỡng Khi nhiệt độ từ 8 - 100C thì khôi phục sinh trưởng, nhiệt

độ từ 10 - 120C cây sinh trưởng chậm, nhiệt độ trên 210C cây sinh trưởng tốt, ở nhiệt độ 23 - 260C là thời kỳ cây sinh trưởng mạnh nhất Khi nhiệt độ giảm xuống 00C thì cây chưa bị rét gây hại, ở nhiệt độ -20C bắt đầu tổn hại đến vải, rét càng kéo dài ở nhiệt độ thấp thì thời gian cây vải bị hại càng nghiêm trọng

Ảnh hưởng của nhiệt độ vào mùa đông liên quan chặt chẽ tới quá trình phân hoá mầm hoa của vải Theo Bành Kính Ba, nghiên cứu trên các giống vải cho thấy thời gian nhiệt độ từ 00C - 100C thuận lợi cho chùm hoa phân nhánh và phân hoá mầm hoa Ở điều kiện từ 11 - 190C cành hoa và lá đều có thể phát triển sớm trở thành các chùm hoa có giá trị về kinh tế

Thể nguyên thuỷ của hoa vải là mầm hỗn hợp có hoa có lá, nhiệt độ cao ức chế sự hình thành các cơ quan hoa mà thiên về sinh trưởng sinh dưỡng, thúc đẩy sự sinh trưởng của lá Trái lại, nhiệt độ thấp thúc đẩy sự phân hoá cành hoa nhỏ và cơ quan hoa, ức chế sự phát dục của nguyên thuỷ của lá, thiên hướng về sinh thực

Nhiệt độ cũng ảnh hưởng tới tỷ lệ đực cái của hoa vải Ở Trung Quốc qua phân tích liên tục từ năm 1978 - 1985 về quan hệ giữ nhiệt độ bình quân ngày của tháng 1 - 2 và tỷ lệ phần trăm hoa cái trong năm đã phát hiện giữa chúng có mối tương quan nghịch R = - 0,86 có nghĩa là nhiệt độ còn ảnh hưởng đến thời

kỳ nở hoa và sự phát triển của quả Nhiệt độ bình quân hữu hiệ càng cao thì quả sinh trưởng phát triển càng nhanh, ngược lại nhiệt độ bình quân hữu hiệu càng thấp thì sinh trưởng của quả càng chậm

Nhiệt độ là một trong những nhân tố khí hậu chính khó điều khiển được

nó quyết định diện tích trồng trọt và ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất cây trồng Cây vải thuộc nhóm cây ăn quả Á nhiệt đới nên yêu cầu về nhiệt độ khá khắt khe… Theo nghiên cứu của trường đại học Hoa Nam (Trung Quốc): ở thời kỳ hình thành chồi hoa tháng 11, 12 gặp troèi lạnh và khô, đọt hoa ra tốt Ngược lại nếu trời nóng và ẩm thì ra đọt lá, vào tháng 1,2 khi nở hoa đậu quả nếu thời tiết tốt, không có gió Bắc mưa phùn kéo dài thì thụ phân thuận lợi, đậu quả nhiều

2 Yêu cầu về lượng mưa và độ ẩm

Cây vải có nguồn gốc ở các vùng có lượng mưa hàng năm là 1.250 - 1.700mm, độ ẩm không khí là 75 - 85 % nên nó chịu được độ ẩm không khí

Ngày đăng: 19/01/2014, 19:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Tỷ lệ các chất dinh dưỡng cây vải hút vào trong lá và quả - Tài liệu Tiểu luận: Tìm hiểu cây vải ppt
Bảng 2 Tỷ lệ các chất dinh dưỡng cây vải hút vào trong lá và quả (Trang 10)
Bảng 4. Thời gian và số lần bón phân cho vải - Tài liệu Tiểu luận: Tìm hiểu cây vải ppt
Bảng 4. Thời gian và số lần bón phân cho vải (Trang 23)
Bảng 5. Lượng phân bón cho vải theo các lứa tuổi cây - Tài liệu Tiểu luận: Tìm hiểu cây vải ppt
Bảng 5. Lượng phân bón cho vải theo các lứa tuổi cây (Trang 25)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w