1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

sáng kiến kinh nghiệm một số giải pháp giúp học sinh lớp năm học tốt phân môn luyện từ và câu phần “mở rộng vốn từ

28 375 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 529,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

sống và vốn kiến thức về từ ngữ đã làm cho học sinh lúng túng khi nói, viết về một chủ điểm, một chủ đề hoặc lời văn khô khan, không gợi cảm,… Ở phân môn Luyện từ và câu lớp Năm, các em

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

***

Ở Tiểu học, môn học nào cũng có vai trò quan trọng nhằm giúp học sinh hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về Đức, Trí, Thể, Mỹ và các kỹ năng cơ bản khác để học sinh tiếp tục học lên bậc cao hơn Trong đó môn Tiếng Việt là môn nền tảng để các em học tốt những môn còn lại Tiếng Việt vừa là một môn khoa học, vừa là công cụ, phương tiện giúp học sinh lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo và phát triển tư duy

Nhiệm vụ vô cùng quan trọng của môn Tiếng Việt là cung cấp cho học sinh bốn kĩ năng: “Nghe, nói, đọc, viết” Những kĩ năng đó được hình thành tích hợp qua nhiều phân môn như: Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn Mỗi phân môn lại có một vai trò riêng, trong đó "Luyện từ và câu" là một trong những phân môn có ý nghĩa to lớn trong chương trình Tiểu học Nó giúp học sinh mở rộng, hệ thống hoá vốn

từ và trang bị cho các em một số hiểu biết sơ giản về từ và câu Tạo cho học sinh thói quen dùng từ đúng, nói - viết thành câu, có ý thức sử dụng tiếng Việt văn hoá trong giao tiếp, rèn luyện phát triển tư duy, bồi dưỡng tình cảm tốt đẹp cho học sinh Từ đó sẽ giúp các em làm giàu vốn từ, tích luỹ cho mình những kiến thức cần thiết, tạo điều kiện để các em học tốt các phân môn khác trong môn Tiếng Việt, đồng thời học tốt các môn học khác như: Toán, Tự nhiên-xã hội, Âm nhạc, Mĩ thuật Nó còn khơi dậy trong tâm hồn các em lòng yêu quý sự phong phú của tiếng Việt, có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Đến cuối bậc Tiểu học, cơ bản học sinh đã dần hoàn thiện bốn kĩ năng (đọc, viết, nghe, nói) thông qua môn Tiếng Việt Tuy nhiên sự hạn hẹp vốn

Trang 2

sống và vốn kiến thức về từ ngữ đã làm cho học sinh lúng túng khi nói, viết

về một chủ điểm, một chủ đề hoặc lời văn khô khan, không gợi cảm,…

Ở phân môn Luyện từ và câu lớp Năm, các em được học rất nhiều nội dung như: Mở rộng vốn từ theo chủ điểm; học kiến thức về nghĩa của từ; các biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa; biết cách sử dụng đại từ, quan hệ

từ Nắm được câu ghép, biết cách đặt câu ghép; biết cách liên kết các câu,

… Trong đó phần mở rộng vốn từ các em được học là 19/70 tiết trong cả năm học, chiếm thời lượng: 27,1%

Do thấy được tầm quan trọng của phân môn Luyện từ và câu nên tôi

đã tích cực tìm hiểu, nghiên cứu, học hỏi ở đồng nghiệp, trên mạng, ở sách báo kết hợp vận dụng những kinh nghiệm mà bản thân tích lũy được qua một số năm giảng dạy để giúp học sinh học tốt phân môn Luyện từ và câu phần Mở rộng vốn từ của lớp tôi từng chủ nhiệm

Qua thời gian tìm hiểu, tôi thấy cũng có rất nhiều đồng nghiệp quan tâm đến việc học Luyện từ và câu của học sinh Tuy nhiên, ở phần “Mở rộng vốn từ” thì các thầy cô chỉ nói lướt qua chứ chưa đặt nặng vấn đề Do đặc thù của lớp, nên tôi đã tìm hiểu và nghiên cứu kĩ phần “Mở rộng vốn từ” để tìm những giải pháp thích hợp nhằm giúp học sinh lớp mình học tốt phân môn Luyện từ và câu từ đó để học tốt phân môn Tập làm văn cùng những môn học khác

Trong năm học 2015 – 2016, tôi tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu, vận dụng và thấy kết quả học phân môn Luyện từ và câu phần “Mở rộng vốn từ” nói riêng, môn Tiếng Việt nói chung của học sinh lớp tôi tiến bộ rõ Để chia sẻ, tôi xin được trình bày những kinh nghiệm nhỏ mà bản thân đã áp

dụng thông qua đề tài: “Một số giải pháp giúp học sinh lớp Năm học tốt

phân môn Luyện từ và câu phần “Mở rộng vốn từ”.

Trang 3

PHẦN 1 THỰC TRẠNG ĐỀ TÀI

Trường Tiểu học Kiến Bình nằm trên địa bàn xã Kiến Bình của huyện Tân Thạnh Đa số học sinh là con em gia đình làm nghề nông nhưng nhìn chung phụ huynh ngày nay rất quan tâm và tạo điều kiện tốt cho con em trong quá trình học tập Đây cũng là thuận lợi lớn trong công tác giảng dạy của bản thân

Nhưng qua quá trình giảng dạy, điều khiến tôi quan tâm nhất là trong lớp còn nhiều em có vốn từ rất nghèo nàn, lời nói nhiều khi không rõ ý, các

em đôi khi muốn diễn đạt điều gì đó nhưng không tìm được từ phù hợp hoặc dùng từ thiếu chính xác, … Điều đó đã làm ảnh hưởng đến quá trình học tập như không tìm được từ phù hợp theo yêu cầu bài học Dùng từ đặt câu thì tương tự nhau, không có từ mới, thiếu sáng tạo từ,… Dẫn đến bị hạn chế nhiều khi làm văn như: lời văn khô, cứng, thiếu sự mềm mại, trau chuốt, câu văn lủng củng, lặp từ, không biết dùng từ thay thế để câu văn, lời văn bớt nhàm chán Ngoài ra vốn từ ít, nghèo nàn cũng ảnh hưởng đến chất lượng giờ học, các em thường thụ động, ít phát biểu như: Thúy An,

Trang 4

Thùy Trang, Nguyễn Minh Thuận, Dương Văn Tài, Minh Lợi,… Từ đó làm cho sự giao tiếp giữa học sinh với thầy cô cũng có phần hạn chế Các

em thường chỉ trả lời các câu hỏi của thầy cô bằng một từ: “có” hoặc

“không” hay đơn giản chỉ “gật đầu”, “lắc đầu” hoặc có em trình bày nửa chừng một vấn đề rồi “gãi đầu” đứng im

Từ thực trạng trên, tôi đã tiến hành tìm hiểu và nhận thấy bởi một số

nguyên nhân sau:

- Luyện từ và câu là một phân môn tương đối khô khan dễ làm học sinh nhàm chán khi học

- Phương pháp dạy của giáo viên chưa linh hoạt, chưa phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh và chưa kích thích học sinh hứng thú trong giờ học

- Điều kiện giảng dạy của giáo viên còn hạn chế, thường dạy suông, không có tranh ảnh, đồ dùng để phục vụ bài dạy

- Một số bài có nội dung trừu tượng, không gần gũi quen thuộc

- ……

Qua các năm giảng dạy, trong những tuần đầu năm học, tôi đã theo dõi tình trạng học phân môn Luyện từ và câu và kết quả thi của phân môn Tập làm văn, như sau:

Năm

học

làm văn

Tập làm văn Đầu năm Cuối HKI Cuối HKII Cuối

HKI

Cuối HKII Tích

cực độngThụ Tích cực độngThụ Tích cực độngThụ TB trở lên TB trở lên 2014-

Trang 5

Từ bảng thống kê trên cho thấy thái độ học tập của học sinh ở phân môn Luyện từ và câu chưa cao, từ đó làm ảnh hưởng đến chất lượng của những môn học khác trong đó có phân môn Tập làm văn Tôi luôn suy nghĩ: “Làm thế nào để các em có thái độ học tập tốt, phát huy được tính tích cực, mở rộng và khai thác thêm vốn từ để các em học tốt hơn phân môn Luyện từ và câu nói riêng, môn Tiếng Việt nói chung cũng như tạo sự mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp cho mỗi học sinh lớp mình chủ nhiệm ?”Nhằm giúp học sinh lớp tôi khắc phục tình trạng trên, tôi đã vận dụng những kinh nghiệm giảng dạy của bản thân, tìm hiểu thêm ở sách báo, trên mạng, qua trao đổi, dự giờ các anh chị đồng nghiệp vào lớp tôi chủ nhiệm năm nay và tôi thấy thái độ cũng như sức học của lớp tiến bộ nhiều Sau đây tôi xin trình bày những kinh nghiệm nhỏ đó trong phần “Giải pháp” của đề tài này.

Trang 6

PHẦN II GIẢI PHÁP

***

1) Làm tốt khâu chuẩn bị của giáo viên

Để học sinh thấy phân môn Luyện từ và câu không phải là phân môn khô khan, khó học như các em từng nghĩ, trước khi dạy, tôi thường nghiên cứu kĩ bài, xem bài dạy đó cần những hình ảnh minh họa nào, cần những

đồ dùng gì để các em quan sát, áp dụng phương pháp dạy nào thu hút, các bài tập thì dạy như thế nào để phát huy tính tích cực, phát huy vốn từ cho học sinh ?… Từ đó tôi chuẩn bị phương tiện (giấy, bút, …), đồ dùng, tranh ảnh, phương pháp dạy để phục vụ cho giờ học nhằm giúp các em hứng thú hơn, nhớ lâu, nhớ kĩ hơn về từ mà các em vừa biết, kích thích các em phát triển thêm vốn từ và làm giàu vốn từ cho bản thân … (Những đồ dùng dạy học tôi mượn ở thư viện, tự làm hoặc sưu tầm ở trên mạng internet)

Ví dụ: Khi dạy bài Mở rộng vốn từ: Hòa bình (Tuần 5), ở bài tập 3:

“Em hãy viết một đoạn văn từ 5 đến 7 câu miêu tả cảnh thanh bình của một miền quê hoặc thành phố mà em biết”

Với yêu cầu trên, nếu giải thích cho học sinh hiểu thế nào là cảnh thanh bình của một miền quê hoặc thành phố thì các em cũng khó cảm thụ hết điều giáo viên truyền đạt Tôi nghĩ: “Trăm nghe không bằng mắt thấy”,

để giúp các em có cảm nhận tốt hơn về cảnh thanh bình trên quê hương Việt Nam, tôi cho các em quan sát một số hình ảnh sưu tầm về làng quê, thành phố Qua hình ảnh quan sát được và kết hợp với vốn sống, vốn hiểu biết của mình đã giúp các em có thêm kiến thức, làm nảy sinh trong các em những từ ngữ tốt đẹp khi miêu tả cảnh thanh bình của quê hương, lời văn không còn khô khan, cứng ngắc

Trang 7

để đặt câu sao cho hay, cho phù hợp cũng như giúp các em cảm thụ tốt hơn khi học Tập đọc, học Lịch sử, khi đọc một tác phẩm văn học,…

Ví dụ: Một số từ cần giải thích như:

Trang 8

-Thân hữu: bè bạn thân thuộc (Bài Mở rộng vốn từ: Hữu nghị - Hợp tác - Tuần 6)

-Hệ sinh thái: gồm các sinh vật (động vật, thực vật, vi sinh vật) sinh sống trong một môi trường nhất định (Bài Mở rộng vốn từ: Bảo vệ môi trường- Tuần 12)

-Ăn vã: chỉ ăn thức ăn, không ăn với cơm (Bài Tổng kết vốn từ - Tuần 16)

-Đất thó: đất sét (Chính tả: Ai là thủy tổ loài người ? – Tuần 25)

-Nhiễu điều: Nhiễu là một loại vải dệt từ tơ tằm Nhiễu điều là tấm nhiễu màu đỏ (Bài Mở rộng vốn từ: Truyền thống - Tuần 27)

-Thẩm quyền: quyền xem xét để kết luận và định đoạt một vấn đề theo pháp luật (Bài Mở rộng vốn từ: Quyền và bổn phận - Tuần 34)

Nhờ làm tốt khâu chuẩn bị mà học sinh lớp tôi không còn thấy phân môn Luyện từ và câu là một phân môn khô khan lại còn khó học nữa

2) Giúp học sinh phát triển vốn từ qua dạng “Tìm từ đồng nghĩa”

Một số bài tập của phần Mở rộng vốn từ ở lớp Năm là tìm những từ đồng nghĩa với một từ cho trước (thường là từ Hán Việt) như: tìm từ đồng nghĩa với từ “Tổ quốc”, “ hòa bình”, “bảo vệ”, “nhân hậu”,… và những từ cần tìm thường cũng có nguồn gốc Hán Việt, cho nên đó cũng là điều tương đối khó cho học sinh Trước tiên tôi củng cố lại cho học sinh nắm:

Từ đồng nghĩa là các từ khác nhau về mặt ngữ âm nhưng giống nhau về mặt ý nghĩa Có những từ đồng nghĩa hoàn toàn (có thể thay thế cho nhau khi nói hoặc viết); có những từ đồng nghĩa không hoàn toàn Để giúp các

em phát huy, mở rộng vốn từ theo như yêu cầu bài tập, tôi đã từng bước thực hiện như sau:

a) Tìm từ đồng nghĩa hoàn toàn.

Ví dụ 1: Ở bài Mở rộng vốn từ: Tổ quốc –Tiếng Việt 5-tập 1- Tuần 2

Trang 9

Qua bài tập 1, các em đã nắm được một số từ đồng nghĩa hoàn toàn với từ “Tổ quốc” là: nước nhà, non sông, đất nước, quê hương

Nhưng ở bài tập 2 -Tiếng Việt 5-tập 1-Tuần 2: Yêu cầu tìm thêm những từ đồng nghĩa với từ “Tổ quốc” thì đa số các em chưa tìm được Tôi

đã giúp các em phát hiện một số từ mới thông qua thực hành làm các bài tập sau:

*Tìm từ đồng nghĩa với từ Tổ quốc trong các câu sau:

a) Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp

hèn (quốc gia)

b) Nam quốc sơn hà Nam đế cư,

Tiệt nhiên phân định tại Thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư (sơn hà)

c) Chẳng những mưu kế kì diệu

Cũng là chưa thấy xưa nay

Xã tắc từ đây vững bền

Giang sơn từ đây đổi mới (xã tắc, giang sơn)

Sau đó yêu cầu các em nêu lại những từ đồng nghĩa với từ Tổ quốc

Các em nêu được: nước nhà, non sông, đất nước, quê hương, quốc gia, sơn

hà, xã tắc, giang sơn,…

b.Tìm các từ đồng nghĩa với một từ cho trước (có thể là đồng nghĩa

hoàn toàn hoặc không hoàn toàn)

Tiếng Việt của ta vô cùng phong phú, từ một từ này có thể có thêm vài

từ khác đồng nghĩa

Ví dụ 1: Bài Mở rộng vốn từ: Trẻ em (Tiếng Việt 5-Tập 2-Tuần 33)

Ở bài tập 2: Tìm các từ đồng nghĩa với “trẻ em” Đặt câu với một từ

mà em tìm được

Trang 10

Theo yêu cầu của bài tập, các em đã tìm được một số từ đồng nghĩa

với từ trẻ em như sau: thiếu nhi, con nít, trẻ thơ, nhi đồng, nhóc con, nhãi

ranh, trẻ ranh, trẻ con, trẻ nhỏ, con trẻ, …

Sau đó cho học sinh thực hiện chọn một từ và đặt câu Căn cứ vào câu các em vừa đặt, tôi giáo dục các em: Mặc dù là từ đồng nghĩa nhưng chúng

có các sắc thái khác nhau, có từ mang sắc thái coi trọng, có từ mang sắc thái coi thường, có từ không có sắc thái coi trọng hay coi thường Khi dùng

từ phải hết sức cẩn thận Rồi cho lớp thảo luận nhóm đôi tìm xem từng từ ngữ trên mang sắc thái nào Kết quả thảo luận như sau:

-Từ mang sắc thái coi trọng: trẻ thơ, trẻ em, thiếu nhi, nhi đồng

-Từ mang sắc thái coi thường: nhãi ranh, trẻ ranh, con nít, nhóc con.-Từ không có sắc thái coi trọng hay coi thường: trẻ con, trẻ nhỏ, con trẻ

Ngoài ra, để phát triển thêm cho học sinh về vốn từ đồng nghĩa, tôi còn cho các em thực hiện thêm như sau:

Trang 11

thêm cách lựa chọn và sử dụng từ sao cho phù hợp với từng hoàn cảnh, từng đối tượng cụ thể.

Ví dụ: Khi dùng các từ “cho, biếu, tặng”, các em cần lưu ý đến sắc thái của từ:

-cho: biểu hiện thái độ bình thường

-biếu: biểu hiện thái độ kính trọng

-tặng: biểu hiện thái độ thân mật

c Tìm các từ đồng nghĩa với một từ cho trước nhưng những từ

-Từ đồng nghĩa với từ “bảo vệ” là từ “ không phá hoại”

-Từ đồng nghĩa với từ “hữu ích” là từ “ không vô dụng”

-Từ đồng nghĩa với từ “đoàn kết” là từ “ không chia rẽ”

-Từ dùng để khen hình dáng; sự tài giỏi hay đức tính tốt của một

người thì có thể dùng từ: “Không ai đẹp bằng”; “không ai giỏi bằng”;

“không ai tốt bằng”.

- Từ dùng để ca ngợi quê hương, đất nước: “Không nơi nào bằng”;

“Không nơi đâu đẹp bằng”; “Không nơi nào hơn”.

Với hình thức mở rộng vốn từ như trên đã góp phần làm tăng thêm vốn từ cho học sinh Nhờ vậy mà nâng cao chất lượng về dùng từ đặt câu cũng như tiến bộ rất rõ khi các em học phân môn Tập làm văn và không khí lớp học cũng sôi nổi hơn trước

Trang 12

3) Giúp học sinh phát triển vốn từ xuất phát từ “từ gốc”

Trong Tiếng việt của ta, một số từ thường xuất phát từ từ gốc, bằng

phương pháp ghép từ sẽ cho ra các từ mới hoặc là một số từ có chung nhóm nghĩa và thường là những từ Hán Việt Để tìm được những từ như thế thì cũng là một thử thách lớn đối với học sinh, vì khi thực hành thì các em chỉ tìm được vài từ đơn giản Để giúp các em phát hiện thêm một số từ mới theo yêu cầu bài học, tôi đã thực hiện như sau:

a Phát triển vốn từ bằng phương pháp ghép từ.

Ví dụ 1: Bài tập 3-Tiếng Việt 5-tập 1-Trang 18:

-Trong từ Tổ quốc, tiếng quốc có nghĩa là nước Em hãy tìm thêm những từ chứa tiếng quốc

Nói chung các em chỉ tìm được một số từ đơn giản, gần gũi như: quốc

ca, quốc tế, quốc kì

Nhằm phát huy tính tích cực trong học tập cho mỗi học sinh, cũng như giúp các em nắm và biết thêm nghĩa một số từ, tôi đã gợi ý bằng cách dùng:

“Câu hỏi dạng giải nghĩa”; sử dụng phiếu bài tập, trò chơi thi điền từ,…cụ thể như sau:

a) Dùng câu hỏi dạng giải nghĩa:

Ví dụ:

- Huy hiệu tượng trưng cho một nước được gọi là gì ? (quốc huy)

(Cho học sinh xem hình quốc huy của việt Nam: )

- Tiếng nói chung của cả nước được gọi là gì ? (quốc ngữ)

- Chính sách quan trọng của nhà nước được gọi là gì ? (quốc sách)

- Vua một nước được gọi là gì ? (quốc vương)

b) Sử dụng phiếu bài tập:

Trang 13

*Điền và ghép từ có tiếng quốc vào chỗ trống cho đúng nghĩa:

-Ngày lễ chính thức, lớn nhất của một nước là ngày ……… (quốc khánh)

-Tang chung của một nước được gọi là ………(quốc tang)-Những việc về giữ gìn chủ quyền, an ninh và phòng thủ đất nước gọi

là …………(quốc phòng)

-Danh dự của một nước được gọi là ………(quốc thể) Với cách hướng dẫn như trên đã giúp học sinh biết và mở rộng thêm một số từ ngữ về chủ đề Tổ quốc

Trò chơi học tập làm thay đổi hình thức hoạt động của học sinh, tạo ra bầu không khí dễ chịu thoải mái trong giờ học, giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách tự giác tích cực Giúp học sinh rèn luyện củng cố kiến thức đồng thời phát triển vốn kinh nghiệm được tích luỹ qua hoạt động chơi Chính vì điều đó, tôi đã vận dụng tổ chức trò chơi trong một số bài tập như sau:

Trang 14

Ví dụ 1: Bài tập 3b-Tiếng Việt 5-tập 1- Tuần 3: Tìm từ bắt đầu bằng

tiếng đồng (có nghĩa là cùng) ở vị trí đầu mỗi câu và điền vào ô trống các

câu sau: (Mỗi ô trống là một chữ cái)

……….tiến bước trước sau nhịp nhàng

Ngày đăng: 11/08/2016, 21:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w