1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

sáng kiến kinh nghiệm một số giải pháp giúp học sinh học tốt dạng giải toán chuyển động đều ở lớp 5

19 502 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 173,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

hỏi, tìm tòi những phương pháp truyền tải kiến thức đến học sinh một cách nhẹ nhàng mà hiệu quả nhất, đồng thời có thể phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong

Trang 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Phước Vĩnh Đông, ngày 06 tháng 4 năm 2016

ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Tên đề tài: Một số giải pháp giúp học sinh học tốt

dạng giải toán chuyển động đều ở lớp 5”

- Ông (bà): Võ Thị Phương Diễm

- Năm sinh: 1987

- Nơi thường trú: Tổ 8 – ấp I – xã Phước Vĩnh Tây – huyện Cần Giuộc – tỉnh Long An

- Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Phước Vĩnh Đông

- Chức vụ: Tổ trưởng tổ chuyên môn 5

- Nhiệm vụ được phân công: Giáo viên dạy lớp 5A1

1 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:

Trong hệ thống giáo dục quốc dân, Tiểu học là bậc học nền tảng Mỗi môn học ở Tiểu học đều góp phần không nhỏ vào việc hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu về nhân cách con người Việt Nam Trong đó, môn Toán giữ vị trí rất quan trọng trong thực tiễn cuộc sống Đó là công cụ cần thiết để học các môn học khác, để nhận thức thế giới xung quanh, để hoạt động có hiệu quả trong mọi lĩnh vực Nó phát triển tư duy, trí tuệ, rèn tính suy luận, khoa học, toàn diện, chính xác, góp phần bước đầu hình thành phương pháp học tập và làm việc có kế hoạch, khoa học, góp phần giáo dục tính nhẫn nại, ý chí vượt khó khăn cho bản thân người học

Từ vị trí và nhiệm vụ vô cùng quan trọng của môn Toán, vấn đề đặt ra cho người thầy là làm thế nào để giờ dạy – học Toán có hiệu quả cao, học sinh phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong việc chiếm lĩnh kiến thức toán học Là một giáo viên Tiểu học, tôi cũng luôn cố gắng học

Trang 2

hỏi, tìm tòi những phương pháp truyền tải kiến thức đến học sinh một cách nhẹ nhàng mà hiệu quả nhất, đồng thời có thể phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong việc chiếm lĩnh tri thức toán học, để mọi học sinh nhất là những học sinh tiếp thu bài chậm đều nắm và làm được bài tập

Đặc biệt là khi giảng dạy về phần giải toán chuyển động đều Đây là một trong những nội dung mới, khó, rất phức tạp, phong phú, đa dạng và có nhiều kiến thức áp dụng vào thực tế cuộc sống Nhưng thời lượng dành cho loại toán này nói chung là ít: 3 tiết bài mới, 3 tiết luyện tập sau mỗi bài mới,

3 tiết luyện tập chung Sau đó, phần ôn tập cuối năm, một số tiết có bài toán

về chuyển động đều đan xen với các nội dung ôn tập khác Với nội dung khó, đa dạng và phức tạp như loại toán chuyển động đều mà thời lượng dành cho ít như vậy nên học sinh không được củng cố và rèn luyện kĩ năng nhiều chắc chắn không tránh khỏi những vướng mắc, sai lầm khi làm bài

* Trong hơn bốn năm giảng dạy ở lớp 5, tôi nhận thấy khi học về phần giải toán chuyển động đều học sinh thường bộc lộ một số hạn chế sau:

a) Trình độ học sinh không đồng đều, nhất là kĩ năng giải toán, khả năng tư duy, suy luận của một số học sinh còn rất hạn chế

b) Không đọc kĩ đề bài, thiếu sự suy nghĩ cặn kẽ về dữ kiện, điều kiện đưa ra trong bài toán

Ví dụ: Quãng đường AB dài 25km Trên đường đi từ A đến B, một người đi bộ 5km rồi tiếp tục đi ô tô trong nửa giờ thì đến B Tính vận tốc của ô tô (Bài tập 3/140 SGK Toán 5)

Gần 1/3 số học sinh tìm vận tốc bằng phép tính: v = 25 : 0,5 = 50 (km/giờ) Còn đa số học sinh đều nhận ra được:

- Quãng đường người đó đi được bằng ô tô là: 25 – 5 = 20 (km)

- Vận tốc của ô tô là: 20 : 0,5 = 40 (km/giờ)

c) Chưa nắm rõ ý nghĩa vật lí của các đại lượng một cách trọn vẹn Cho nên khi giải các bài toán về chuyển động đều các em còn lúng túng ở khâu chọn phép tính giải, chọn đơn vị đo

Ví dụ: Một ô tô đi được quãng đường 135km hết 3 giờ Một xe máy cũng đi quãng đường đó hết 4 giờ 30 phút Hỏi mỗi giờ ô tô đi nhiều hơn xe máy bao nhiêu km? (Bài tập 1/144 SGK Toán 5)

Thật ra, đây chỉ là bài toán yêu cầu học sinh so sánh vận tốc của hai xe nhưng rất ít và hầu như không học sinh nào nhận ra dù đây là bài toán nằm ở tiết Luyện tập chung

Trang 3

d) Tiếp thu bài một cách máy móc, chỉ làm theo mẫu chứ chưa tự suy nghĩ để tìm cách giải, chưa chú ý đến đơn vị đo của các đại lượng

Ví dụ: Một con ốc sên bò với vận tốc 12 cm/phút Hỏi con ốc sên đó

bò được quãng đường 1,08m trong thời gian bao lâu?(Bài tập 2/143 SGK

Toán 5)

Nhiều học sinh đều làm phép tính giải là 1,08 : 12 = 0,09 (phút) nếu không được giáo viên nhắc nhở, gợi ý trước

e) Còn nhầm lẫn công thức tính các đại lượng vận tốc, quãng đường, thời gian

f) Vốn ngôn ngữ, khả năng diễn đạt còn hạn chế nên nhiều lời giải

và phép tính giải chưa khớp với nhau

g) Học sinh chưa được rèn luyện giải theo dạng bài nên khả năng nhận dạng và vận dụng phương pháp giải cho từng dạng bài chưa có, dẫn đến học sinh lúng túng khi gặp loại toán này

* Từ thực tế trên, trong năm học 2015 – 2016 này, tôi đã chọn và áp

dụng giải pháp sư phạm: ”Một số giải pháp giúp học sinh học tốt dạng giải toán chuyển động đều ở lớp 5”.

2 MỤC TIÊU DỰ KIẾN CẦN ĐẠT ĐƯỢC:

* Khi nghiên cứu nội dung này, tôi mong muốn giúp:

- Học sinh cải thiện tình trạng trên và học tốt hơn phần giải toán chuyển động đều Cụ thể là:

+ Phải nhớ và nắm được cách giải từng dạng toán ở dạng tường minh nhất

+ Phải nắm được các thao tác, từ đó có thể vận dụng một cách linh hoạt vào việc giải những bài toán có chất lượng phức tạp hơn

- Phát huy khả năng tư duy linh hoạt và óc sáng tạo của học sinh

- Bồi dưỡng cho học sinh lòng say mê học Toán

- Bản thân nâng cao chất lượng dạy – học mảng kiến thức này

- Khẳng định lại tính hiệu quả và tính khả thi của giải pháp mà cách đây hai năm tôi đã áp dụng có hiệu quả ở lớp mình phụ trách

3 GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:

Sau đây là một số giải pháp mà tôi đã thực hiện để giúp học sinh học tốt phần giải toán chuyển động đều:

3.1 Giúp học sinh nắm được các kiến thức có liên quan:

Trang 4

Đây là một giải pháp mới mà tôi vừa bổ sung và áp dụng trong năm học này Để thực hiện tốt việc giải toán về chuyển động đều, học sinh cần nắm và vận dụng thành thạo các kiến thức sau:

a Chuyển đổi các đơn vị đo độ dài:

- Học sinh phải ghi nhớ được thứ tự, mối quan hệ giữa các đơn vị đo

độ dài liền kề trong bảng:

km

(ki-lô-mét)

hm

(héc-tô-mét)

dam (đề-ca-mét)

m (mét)

dm (đề-xi-mét)

cm ( xăng-ti-mét)

mm ( mi-li-mét)

1km

= 10hm

1hm

= 10dam

= 0,1km

1dam

= 10m

=0,1hm

1m

= 10dm

= 0,1dam

1dm

= 10cm

= 0,1m

1cm

= 10mm

= 0,1dm

1mm

= 0,1cm

- Khi chuyển đổi các đơn vị đo độ dài, giáo viên cần lưu ý học sinh: + Chữ số hàng đơn vị chính là số đo của đơn vị mà đề bài cho đi kèm + Luôn đặt dấu phẩy vào bên phải số đo của đơn vị cần đổi

+ Hai đơn vị đo độ dài liền kề hơn kém nhau 10 lần (tức là mỗi lần chỉ dịch sang đơn vị tiếp liền 1 chữ số)

b Chuyển đổi các đơn vị đo thời gian:

- Học sinh cũng phải nhớ được mối quan hệ giữa các đơn vị đo thời gian thông dụng:

1 thế kỉ = 100 năm

1 năm = 12 tháng

1 năm = 365 ngày

1 năm nhuận = 366 ngày

1 tuần lễ = 7 ngày

1 ngày = 24 giờ

1 giờ = 60 phút

1 phút = 60 giây

- Khi chuyển đổi các đơn vị đo thời gian, cần lưu ý học sinh:

+ Khi đổi từ đơn vị lớn sang đơn vị bé, ta thực hiện phép tính nhân còn ngược lại thì thực hiện phép tính chia

+ Xác định đúng mối quan hệ giữa 2 đơn vị cần đổi để lựa chọn thừa số hoặc số chia thích hợp

c Cách thực hiện 4 phép tính cộng, trừ, nhân, chia với cả số tự nhiên, phân số và số thập phân.

* Qua thực tế giảng dạy mảng kiến thức giải toán chuyển động đều trong nhiều năm, tôi thấy: có những trường hợp học sinh hiểu, nhận dạng được dạng bài, thực hiện các bước giải hoàn toàn phù hợp, logic nhưng do trong quá trình tính toán hoặc đổi đơn vị đo có sai sót dẫn đến kết quả toàn bài sai Điều đó cho thấy việc ôn tập và thường xuyên củng cố các kiến thức có liên quan ở trên là rất cần thiết Bên cạnh những bài tập củng cố, tôi còn linh hoạt tổ chức một số trò

Trang 5

chơi học tập đơn giản như “Tìm nhà cho thỏ”, “Gà mẹ tìm con”, “Đoàn kết”,

“Tìm kho báu”, … để lôi cuốn học sinh hứng thú tham gia vào bài.

3.2 Giúp học sinh nắm vững các ý nghĩa vật lí, công thức tính từng đại lượng liên quan:

Để làm được điều này thì ngay trên lớp, khi dạy bài mới, tôi đã chú trọng giúp học sinh hiểu rõ bản chất, ý nghĩa vật lí hoặc hình thành những biểu tượng đơn giản về từng loại đại lượng; hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu kiến thức mới dựa trên vốn kinh nghiệm của các em thông qua những gợi ý, rồi tôi mới chốt kiến thức

- Vận tốc của một chuyển động cho biết mức độ chuyển động nhanh hay

chậm của chuyển động đó trong một đơn vị thời gian

Ví dụ: Vận tốc của ô tô là 42,5 km/giờ nghĩa là trung bình mỗi giờ ô tô đi

được 42,5km Và giáo viên phải giúp học sinh hiểu được theo chiều ngược lại

rằng nếu đề bài hỏi: “Trung bình mỗi giờ ô tô đi được bao nhiêu km?” thì tức là hỏi vận tốc của ô tô

- Muốn tính vận tốc ta lấy quãng đường chia cho thời gian đi (v = s : t)

- Giáo viên cần phải nhấn mạnh với học sinh:

+ Cần sử dụng thời gian đi quãng đường đó vì một số trường hợp đề bài không cho thời gian đi mà cho thời điểm đến và thời điểm khởi hành thì bắt buộc học sinh phải tìm thời gian đi trước khi tính vận tốc.

+ Đơn vị của vận tốc phụ thuộc vào đơn vị của quãng đường và thời gian.

- Quãng đường là phần không gian tương đối ngắn được xác định giữa hai

điểm

Ví dụ: Quãng đường AB dài 45km hay hai thành phố A và B cách nhau 180km, …

- Muốn tính quãng đường ta lấy vận tốc nhân với thời gian đi (s = v x t)

- Cũng giống như vận tốc, giáo viên cần lưu ý học sinh sử dụng thời gian

đi để tính quãng đường

- Thời gian đi: là khoảng thời gian trong đó diễn ra một chuyển động đều từ

lúc bắt đầu đến lúc kết thúc chuyển động

- Muốn tính thời gian đi ta lấy quãng đường chia cho vận tốc (t = s : v)

- Thời điểm khởi hành: là lúc bắt đầu xảy ra một chuyển động đều.

- Thời điểm đến: là lúc kết thúc một chuyển động đều.

Trang 6

- Muốn tính thời gian đi ta lấy thời điểm đến trừ thời điểm khởi hành.

học sinh:

- Nếu quãng đường là km, thời gian đi là giờ thì vận tốc là km/giờ.

- Nếu quãng đường là m, thời gian đi là phút (hoặc giây) thì vận tốc là

m/phút (hoặc m/giây).

- Với cùng một vận tốc thì quãng đường tỉ lệ thuận với thời gian đi.

- Trong cùng một thời gian đi thì quãng đường tỉ lệ thuận với vận tốc.

- Trên cùng một quãng đường thì vận tốc và thời gian đi là hai đại lượng

tỉ lệ nghịch

3.3 Hình thành thói quen giải toán tích cực cho học sinh trong các giờ học toán:

Trong quá trình hệ thống hóa các bài toán chuyển động đều, tôi thấy để đi được đến bước dùng công thức cơ bản để tìm đáp số của bài toán, học sinh phải phân tích, suy luận từ những dữ kiện của bài toán, vận dụng những kiến thức có sẵn, tháo gỡ mâu thuẫn và các tình huống đặt ra trong bài toán để cuối cùng đưa bài toán về dạng cơ bản, điển hình Ở mỗi bài lại có các bước phân tích, tìm tòi lời giải khác nhau Điều này đòi hỏi mỗi học sinh phải có khả năng phân tích, suy luận, xử lí linh hoạt, chính xác các dữ kiện, tình huống bài toán đưa ra Do đó, việc hình thành cho học sinh thói quen giải toán tích cực sẽ giúp học sinh lựa chọn được lời giải, phép tính giải đúng, không giải toán một cách máy móc, rập khuôn

Để thực hiện điều này, tôi đã tiến hành theo 5 bước:

 Bước 1: Đọc kĩ đề toán:

Giáo viên đọc kĩ đề trước lớp; học sinh đọc thầm lại đề bài để nắm được nội dung, ý nghĩa của bài toán Từ đó, rèn cho học sinh thói quen chưa hiểu đề toán thì chưa tìm được cách giải

 Bước 2: Hướng dẫn học sinh tóm tắt đề toán:

Có 3 dạng tóm tắt: + Tóm tắt bằng lời

+ Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng

+ Tóm tắt bằng sơ đồ cây

Ở lớp, tôi thường hướng dẫn học sinh tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng đối với nội dung giải toán chuyển động đều vì nó giúp học sinh dễ hình dung và nắm bắt nội dung bài toán hơn

 Bước 3: Hướng dẫn học sinh tìm cách giải:

Trang 7

Dựa vào tóm tắt, tôi đã giúp học sinh thiết lập mối quan hệ giữa cái đã cho

và cái phải tìm bằng những câu hỏi gợi mở: Muốn trả lời câu hỏi của bài toán thì cần biết những gì? Cần phải làm những phép tính gì? Trong những điều ấy, cái

gì đã biết, cái gì chưa biết? Muốn tìm cái chưa biết ấy thì lại phải biết cái gì? …,

cứ như thế đi dần đến những điều đã cho trong đề toán Từ những định hướng trên, học sinh sẽ suy luận, tính toán để tìm ra con đường đi từ những điều đã cho đến đáp số của bài toán

Lưu ý:Việc giáo viên hướng dẫn học sinh tìm cách giải cho các bài toán

là vô cùng quan trọng Vì nó không chỉ dạy học sinh nắm phương pháp giải, giúp học sinh tích cực tìm tòi, khám phá ra cách giải cho các bài toán, mà mục đích

quan trọng nhất là dạy học sinh cách học Cho nên cần phải xác định giáo viên chỉ là người tổ chức hướng dẫn, định hướng, gợi mở cho học sinh chứ tuyệt đối

không được làm thay học sinh.

 Bước 4: Học sinh viết bài giải:

Học sinh có thể trình bày từng phép tính riêng biệt hoặc trình bày dưới dạng biểu thức gồm vài phép tính

 Bước 5: Học sinh tự kiểm tra, đánh giá kết quả:

Khi giải xong, học sinh cần thử lại xem đáp số tìm được có phù hợp với điều kiện của bài toán không? Trong một số trường hợp, nên thử xem có cách giải khác gọn hơn, hay hơn không? Việc làm này sẽ giúp rèn cho học sinh tính cẩn thận, chu đáo, ý thức trách nhiệm trong công việc và phát huy được khả năng tư duy, sáng tạo của các em

3.4 Nhận dạng bài toán và vận dụng cách giải tương ứng:

Sau mỗi bài học, tôi đều củng cố bài bằng cách hướng dẫn các em sắp xếp các bài toán có cách giải tương tự nhau vào cùng một nhóm để các em dễ dàng thống kê và ôn tập

Phần giải toán chuyển động đều trong chương trình lớp 5 hiện nay có những dạng bài chủ yếu sau:

a) DẠNG 1: Chuyển động đều có một đối tượng chuyển động:

(Giải các bài toán liên quan đến tìm một trong ba đại lượng vận tốc, quãng

đường, thời gian khi biết 2 đại lượng còn lại của một chuyển động đều)

Ở dạng này có 2 mức độ:

Mức độ 1: Mức độ vận dụng công thức (Giải các bài toán đơn có 1 bước tính):

* Công thức vận dụng là: v = s : t ; s = v x t ; t = s : v

Trang 8

Ở dạng này, tôi đã dần hình thành kĩ năng giải toán cho học sinh qua thao tác hướng dẫn bằng những câu hỏi gợi mở:

- Đề bài cho biết gì, hỏi gì?

- Muốn tìm yếu tố đó ta làm thế nào?

- Đơn vị của yếu tố cần tìm là gì?

Ví dụ: Một ca nô đi với vận tốc 15,2 km/giờ Tính quãng đường đi được của ca nô trong 3 giờ (Bài tập 1/141 SGK Toán 5)

HS dễ dàng tìm được quãng đường bằng phép tính: 15,2 x 3 = 45,6 (km)

Ví dụ: Một người đi xe đạp trong 15 phút với vận tốc 12,6 km/giờ Tính quãng đường đi được của người đó (Bài tập 2/141 SGK Toán 5)

* Giáo viên hướng dẫn tóm tắt đề toán:

t = 15 phút

v = 12,6 km/giờ

- Đề bài cho biết gì, hỏi gì?

- Muốn tính quãng đường đi được của người đó ta làm thế nào?

- Nhìn vào đơn vị vận tốc, theo em, quãng đường và thời gian phải đo bằng đơn vị gì?

- Trước khi tính quãng đường ta phải làm gì?

Từ những định hướng đó, giúp hình thành cho học sinh kĩ năng giải toán cần thiết và cần chú ý đến đơn vị của các đại lượng

* Tìm đại lượng thời gian cũng có thể tiến hành tương tự

Mức độ 2 : Tìm một đại lượng có liên quan trước khi thực hiện

theo yêu cầu đề bài (Giải bài toán hợp có 2 bước tính):

Ở dạng này, đề bài thường cho thời điểm khởi hành, thời điểm đến, vận tốc (hoặc quãng đường) và yêu cầu tính quãng đường (hoặc vận tốc), học sinh chỉ

cần thực hiện theo 2 bước:

đó (lấy thời điểm đến trừ thời điểm khởi hành)

mức độ 1, dạng 1)

Ví dụ: Một ô tô đi từ A lúc 7 giờ 30 phút, đến B lúc 12 giờ 15 phút với vận

tốc 46 km/giờ Tính độ dài quãng đường AB (Bài tập 2/141 SGK Toán 5)

- Sau khi hướng dẫn tóm tắt bài toán:

s = ?km

Trang 9

t gặp nhau = ?giờ

180km

s = ?km

v = 46 km/giờ

- Học sinh sẽ giải được bài toán trên theo 2 bước như hướng dẫn:

Thời gian ô tô đi từ A đến B là:

12 giờ 15 phút - 7 giờ 30 phút = 4 giờ 45 phút = 4,75 giờ

Độ dài quãng đường AB là:

46 x 4,75 = 218,5 (km)

Đáp số: 218,5km

lúc:

Ví dụ: Quãng đường AB dài 180km Một ô tô đi từ A đến B với vận tốc 54km/giờ, cùng lúc đó một xe máy đi từ B đến A với vận tốc 36 km/giờ Hỏi kể từ lúc bắt đầu đi, sau mấy giờ ô tô gặp xe máy? (Bài tập 1(a)/144 SGK Toán 5)

* Giáo viên hướng dẫn tóm tắt:

v ô tô = 54 km/giờ v xe máy = 36 km/giờ

* Học sinh quan sát sơ đồ và trả lời câu hỏi:

+ Khoảng cách ban đầu giữa 2 xe khi chúng xuất phát cùng lúc là bao

nhiêu km? (180km)

+ Ôtô đi từ đâu đến đâu, với vận tốc là bao nhiêu km/giờ? (từ A đến B, với vận tốc 54km/giờ)

+ Xe máy đi từ đâu đến đâu, với vận tốc là bao nhiêu km/giờ? (từ B đến A, với vận tốc 36km/giờ)

+ Trên quãng đường AB có mấy xe cùng chuyển động và chuyển động như

thế nào? (có 2 xe xuất phát cùng lúc, ngược chiều nhau ).

+ Vận tốc của ô tô là 54km/giờ có nghĩa là gì? (nghĩa là trung bình mỗi giờ

ô tô đi được 54km).

+ Vận tốc của xe máy là 36 km/giờ có nghĩa là gì? (nghĩa là trung bình mỗi giờ xe máy đi được 36km)

Trang 10

+ Sau mỗi giờ, cả ô tô và xe máy đi được bao nhiêu km? (54 + 36 = 90 (km))

+ Tìm thời gian đi để hai xe gặp nhau, ta làm thế nào? (180 : 9 = 2 (giờ))

+ Học sinh trình bày bài giải hoàn chỉnh và kiểm tra đáp số

cùng lúc:

Ví dụ: “Một người đi xe đạp từ B đến C với vận tốc 12 km/giờ, cùng lúc đó

một người đi xe máy từ A cách B là 48km với vận tốc 36 km/giờ và đuổi theo xe đạp Hỏi kể từ lúc bắt đầu đi, sau mấy giờ xe máy đuổi kịp xe đạp?” (Bài tập

1(a)/145 SGK Toán 5)

* Giáo viên hướng dẫn tóm tắt:

* Học sinh nhìn vào sơ đồ và tìm cách giải:

- Khoảng cách ban đầu giữa hai xe khi chúng xuất phát cùng lúc là bao

nhiêu km? (48km)

- Người đi xe đạp đi từ đâu đến đâu, với vận tốc là bao nhiêu km/giờ? (từ B đến C, vận tốc là 12 km/giờ)

- Người đi xe máy đi từ đâu đến đâu, với vận tốc là bao nhiêu km/giờ? (từ

A đến C, vận tốc là 36 km/giờ).

- Trên quãng đường AC có mấy xe cùng chuyển động và chuyển động như

thế nào? (có 2 xe xuất phát cùng lúc, cùng chiều).

- Vận tốc của người đi xe đạp là 12 km/giờ có nghĩa là gì? (nghĩa là trung bình mỗi giờ người đi xe đạp đi được 12km).

- Vận tốc của người đi xe máy là 36 km/giờ có nghĩa là gì? (nghĩa là trung bình mỗi giờ người đi xe máy đi được 36km).

- Sau mỗi giờ, xe máy gần xe đạp bao nhiêu km? (36 – 12 = 24 (km))

- Tìm thời gian đi để xe máy đuổi kịp xe đạp, ta làm thế nào? (48 : 24 = 2 (giờ))

- Học sinh trình bày bài giải và kiểm tra đáp số

Tóm lại: Sau khi hướng dẫn ví dụ mẫu trong SGK (bài tập 1(a)/144

– dạng 2; bài tập 1(a)/145 – dạng 3), tôi đã hướng dẫn học sinh rút ra các bước để giải bài toán thuộc hai dạng này như sau:

Bước 1: Xác định các điều kiện cần thiết:

48km

t đuổi kịp = ?giờ

Ngày đăng: 11/08/2016, 21:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w