1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đất dốc phương thức canh tác hiệu quả và bền vững

17 1,9K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 57,8 KB
File đính kèm Đất dốc phương thức canh tác.rar (55 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đất dốc chiếm khoảng 75% diện tích đất tự nhiên của nước ta, nơi môi trường kém bền vững để mở rộng diện tích canh tác. Do tỷ lệ tăng dân số cao, nên nhu cầu về lương thực ngày càng lớn, buộc người dân phải đẩy mạnh nhịp độ sử dụng đất. Phương thức du canh có thời gian bỏ hóa dài không còn phù hợp, được thay bởi du canh với thời gian bỏ hóa ngắn, tiến đến triệt tiêu bỏ hóa. Tốc độ xoay vòng đất sử dụng nhanh, kết hợp với tập quán canh tác quảng canh dẫn đến 5,5 triệu ha đất bị thoái hóa nghiêm trọng do xói mòn, rửa trôi; đất canh tác ngày càng bị thu hẹp. Hậu quả là đói, nghèo vẫn theo đuổi người dân vùng cao. Để đáp ứng nhu cầu lương thực, đặc biệt đối với cộng đồng các dân tộc vùng cao không còn cách nào khác là phải bảo vệ đất, lựa chọn cơ cấu cây trồng và phương pháp canh tác thích ứng; phù hợp với trình độ, khả năng của người dân; vừa bảo vệ được độ phì để sản xuất bền vững, vừa tăng thu nhập đang được đặt ra một cách cấp thiết.

Trang 1

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP VIỆT NAM

BÁO CÁO CHUYÊN ĐÊ

“Đất dốc, phương thức canh tác hiệu quả và bền vững

trong bối cảnh biến đổi khí hậu”

Người thực hiện:

Lớp : LH 21A1.1

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐÊ

Đất dốc chiếm khoảng 75% diện tích đất tự nhiên của nước ta, nơi môi trường kém bền vững để mở rộng diện tích canh tác Do tỷ lệ tăng dân số cao, nên nhu cầu về lương thực ngày càng lớn, buộc người dân phải đẩy mạnh nhịp độ sử dụng đất Phương thức du canh có thời gian bỏ hóa dài không còn phù hợp, được thay bởi du canh với thời gian bỏ hóa ngắn, tiến đến triệt tiêu bỏ hóa Tốc độ xoay vòng đất sử dụng nhanh, kết hợp với tập quán canh tác quảng canh dẫn đến 5,5 triệu ha đất bị thoái hóa nghiêm trọng do xói mòn, rửa trôi; đất canh tác ngày càng

bị thu hẹp Hậu quả là đói, nghèo vẫn theo đuổi người dân vùng cao Để đáp ứng nhu cầu lương thực, đặc biệt đối với cộng đồng các dân tộc vùng cao không còn cách nào khác là phải bảo vệ đất, lựa chọn cơ cấu cây trồng và phương pháp canh tác thích ứng; phù hợp với trình độ, khả năng của người dân; vừa bảo vệ được độ phì để sản xuất bền vững, vừa tăng thu nhập đang được đặt ra một cách cấp thiết

Nhà nước và các tổ chức quốc tế đã quan tâm đầu tư giúp đỡ phát triển nông nghiệp và nông thôn miền núi nhưng sự chuyển biến còn chậm Công cuộc xóa đói giảm nghèo cho nông dân miền núi vẫn còn là thách thức lớn đối với toàn Đảng và toàn dân ta

Để có cách nhìn đầy đủ hơn trong quản lý, sử dụng đất dốc và giúp nông dân nắm vững một số kỹ thuật nông nghiệp sinh thái trong canh tác trên đất dốc bền vững, tôi tóm lược những khó khăn, hạn chế cũng như những tiềm năng, thuận lợi của đất dốc và giới thiệu một số kỹ thuật canh tác đất dốc bền vững cũng như những quan điểm, định hướng về sử dụng phương thức tiếp cận nông nghiệp sinh thái trong nghiên cứu, quản lý và sử dụng đất dốc bền vững ở miền núi Việt Nam

Trang 3

NỘI DUNG

I THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ TIÊM NĂNG CỦA PHƯƠNG THỨC CANH TÁC TRÊN ĐẤT DỐC HIỆN NAY

Phương thức canh tác trên đất dốc có những đặc thù riêng, khác hẳn với các vùng đồng bằng và duyên hải Mặc dù trong mấy thập kỷ qua, Đảng và Nhà nước ta đã và đang có những chủ trương, chính sách tích cực và những chương trình, dự án đặc biệt tập trung cho phát triển kinh tế, xã hội vùng đồi núi, song

để thay đổi và xây dựng một phương thức canh tác mới cho một vùng đất dốc với người dân phần lớn là các đồng bào dân tộc thiểu số có những tập tục, ngôn ngữ, trình độ khác nhau quả không dễ dàng Một phương thức canh tác phải được hình thành và tồn tại dựa trên một điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu), tập quán sản xuất, kiến thức bản địa, khả năng đầu tư cho sản xuất, khả năng và mục đích tiêu thụ sản phẩm Phương thức canh tác cũng sẽ quyết định tính bền vững của nền sản xuất: bền vững về môi trường, về kinh tế và về xã hội Hiện tại, có thể nói phương thức canh tác trên đất dốc của các vùng đồi núi nước ta đã có những thay đổi tiến bộ khả quan, song chưa đáp ứng được với tiêu chí và nội dung của sản xuất nông nghiệp hiệu quả, bền vững Nhiều vùng

đất dốc vẫn còn tồn tại phương thức canh tác đặc thù cũ Đó là sản xuất quy mô

nhỏ, manh mún, kỹ thuật đơn giản, chủ yếu dựa vào tự nhiên và tập quán, kiến thức bản địa, mang tính tự túc, tự cấp, năng suất lao động, nông sản thấp, bấp bênh.

Đất đồi núi dốc có diện tích lớn, song điều kiện canh tác khó khăn (xa khu dân cư, dốc, khó sử dụng công cụ sản xuất hiện đại, khó vận chuyển vật tư

và sản phẩm)

Để canh tác đất dốc lâu bền và có hiệu quả (năng suất ổn định) thì phải đầu tư các kỹ thuật thiết kế ruộng nương chống xói mòn, rửa trôi, xây dựng hệ thống thủy lợi cấp để cấp nước cho cây trồng Thực tế cho thấy sản xuất nông nghiệp đòi hỏi công lao động rất lớn, kỹ thuật thiết kế đồng ruộng phức tạp, đầu

tư công trình tốn kém mà tự người dân không làm được, bắt buộc phải có sự trợ giúp của Nhà nước

Trang 4

Các loại cây trồng lâu năm và cây hàng năm phụ thuộc chủ yếu vào nước trời/mùa mưa, dẫn đến khó khăn trong tăng vụ, phát triển các cây ngắn ngày có nhu cầu nước thường xuyên Để nâng cao năng suất của cây trồng, cần bảo vệ tài nguyên nước đầu nguồn và đầu tư các công trình thủy lợi tưới tiêu hiệu quả

Vùng đồi núi đất dốc là chủ yếu, song vẫn có những diện tích hạn hẹp đất thung lũng, bãi bồi, chân đồi thoải, ít dốc, khá bằng phẳng, dồi dào nguồn nước Bà con các dân tộc miền núi có truyền thống trồng lúa nước ruộng bậc thang, có kiến thức bản địa sản xuất lúa nước, phát triển chăn nuôi gia đình, vườn cây ăn quả và những vạt đất trồng rau Tuy nhiên, phương thức canh tác

ở vùng này thể hiện manh mún, sản xuất nhỏ, mang tính tự túc, tự cấp rõ rệt Các hoạt động sản xuất trên đất dốc thường dùng lao động đơn giản, bằng sức lao động của con người là chính (lao động cơ bắp) và phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên (thời tiết, đất, nước ), vì vậy năng suất lao động thấp, năng suất cây trồng cũng thấp, bấp bênh, kiến thức và kinh nghiệm sản xuất mang tính truyền thống dân gian gọi là kiến thức bản địa lưu truyền qua các thế hệ bằng thực tiễn sản xuất thích hợp với tập tục canh tác và lối sống của từng dân tộc trên các vùng đất dốc khác nhau Vì vậy, canh tác đất dốc đã trải qua một phương thức sản xuất du canh du cư kéo dài, một loại hình sản xuất kém bền vững và để lại hậu quả đất bị suy thoái nghiêm trọng không còn khả năng sản xuất nông nghiệp thậm chí cũng không có khả năng phục hồi thảm thực vật theo quy luật tự nhiên (vì vậy đã hình thành hàng triệu ha đất trồng đồi núi trọc, đất xói mòn trơ sỏi đá) Phương thức sản xuất này không chỉ đe dọa nghiêm trọng vấn đề an toàn lương thực vùng đồi núi mà còn phá hủy môi trường sản xuất (đất và sinh vật), gia tăng các hậu quả của thiên tai như lũ lụt, hạn hán kéo dài

Hầu hết các loại cây trồng trên đất dốc không được quan tâm bón phân, tưới nước, bảo vệ độ phì của đất (tập quán trồng tỉa theo vụ mưa và trồng chay) Tập quán này cũng là nguyên nhân dẫn tới đất bị suy thoái nhanh do cây trồng hàng năm lấy chất dinh dưỡng của đất mà không được bổ sung tiếp Hơn nữa, năng suất cây trồng cũng rất thấp và giảm đi nhanh chóng Ở những đất mới khai hoang, năng suất lúa nương có thể đạt 2-2,5 tấn/ha, nhưng chỉ sau 3

Trang 5

vụ chỉ còn hơn 1 tấn/ha, thậm chí đến vụ thứ 4 là không cho thu hoạch Tập quán canh tác cạo sạch bề mặt đất dốc trước mùa tra tỉa hạt (rất phổ biến ở vùng đồi núi Tây Bắc) theo kinh nghiệm của người dân là để diệt cỏ, diệt mầm sâu bệnh cho cây trồng, song lại là một kiểu canh tác làm suy thoái đất nhanh chóng Nếu trời nắng nóng hạn kéo dài, nước trong đất sẽ bốc hơi mạnh, làm thiếu độ ẩm cho cây trồng, gây hiện tượng kết vón đất Nếu mưa đến sớm

và cường độ mạnh khi cây trồng còn nhỏ, non thì xảy ra xói mòn rửa trôi đất và nhiều khi trôi cả cây trồng

Điều kiện, cách thức và phương tiện thu hoạch, bảo quản nông sản của vùng đất dốc cũng còn khá đơn sơ và kém an toàn Do đường xa, phải leo dốc, sản xuất manh mún, đại bộ phận công việc thu hoạch là do sức người (đi bộ, đeo gùi) Dụng cụ và phương tiện thu hoạch cũng rất đơn sơ, không thuận lợi cho việc áp dụng cơ giới hóa Vì vậy năng suất lao động thấp, mất thời gian, công sức Nông sản được bảo quản tại nhà ở, phụ thuộc vào thời tiết, nên chất lượng thương phẩm kém, bấp bênh Năm nào mưa ẩm nhiều, nông sản bị thối mốc, năm nào nắng khô nhiều, sản phẩm thu hoạch xong, thị trường thu mua khó khăn thì lại không có chỗ bảo quản nông sản đúng quy cách, chất lượng bị giảm

Xói mòn và rửa trôi là những mối đe doạ thường xuyên đối với đất dốc và vùng nhiệt đới ẩm, gây nên sự mất dinh dưỡng và độ phì của lớp đất mặt, dẫn đến

sự axít hoá trong đất Những tác động này thậm chí còn trở nên tồi tệ hơn nếu như đất canh tác không có thảm thực vật che phủ hoặc là đất bị đốt cháy trước mùa mưa Ở Tây Bắc, lượng xói mòn trên đất canh tác nương rẫy, chịu ảnh hưởng khí hậu khắc nghiệt đã mất đi lượng đất khoảng 115,5 tấn/ha/năm (Hội khoa học đất Việt nam, 1967)

Do đất rừng bị phá và đốt để trồng cây hàng năm làm lương thực, đất dốc ở nhiều vùng ngày càng bị thoái hoá nghiêm trọng Có rất nhiều lý do dẫn đến những hạn chế và sự bất ổn định sản lượng trên đất dốc, nhưng nguyên nhân chủ yếu nhất vẫn là do thoái hoá đất nhanh cả về mặt sinh học, lý và hoá học

Trang 6

Việc giữ nước trên đất dốc là một vấn đề thực sự khó khăn nên việc canh tác phải phụ thuộc nhiều vào lượng mưa Luôn luôn có những đợt hạn hán nghiêm trọng vào mùa khô Hạn hán là khó khăn chính đối với đất dốc; nếu mưa chỉ đến muộn khoảng 1 tháng so với dự tính thì một vụ mùa thất bại là chắc chắn

Vùng núi có nhiều địa phương bị cách biệt khỏi các trung tâm phát triển, vì vậy mà cơ sở vật chất còn vô cùng thiếu thốn Chính vì điều này đã gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển kinh tế

Nhiều vùng đất dốc bị tách biệt khỏi thị trường do hệ thống giao thông vận tải còn thấp kém nên nhu cầu trao đổi hàng hoá của người dân bị hạn chế Điều này

đã làm chậm quá trình thay đổi cơ cấu cây trồng (từ việc du canh bằng cách đốt nương làm rẫy để trồng cây hàng năm đến việc trồng cây lâu năm có giá trị kinh tế cao) nhằm bảo vệ đất dốc khỏi bị xói mòn

Dân cư các vùng đất dốc chủ yếu là dân tộc thiểu số với tỷ lệ đói nghèo cao hơn, còn trình độ hiểu biết thì lại thấp hơn so với mức trung bình của cả nước Công việc chống xói mòn, bảo vệ nguồn nước và trồng cây cho hiệu quả kinh tế đòi hỏi sự đầu tư cao hơn và kỹ thuật canh tác cũng cao hơn Đây là một bất cập lớn giữa khai thác đất dốc và trình độ, năng lực của cư dân địa phương

Việc diện tích rừng bị giảm và các phương pháp canh tác lạc hậu đã để lại hậu quả là nhiều vùng đất rộng lớn đã trở thành đất trống đồi núi trọc Việc mất thảm thực vật rừng sẽ ảnh hưởng rất xấu đến môi trường sinh thái như hạn hán, lũ lụt và lũ quét ở vùng cao

Ở Việt Nam, đất dốc chiếm khoảng 74% đất tự nhiên Trong diện tích 9,4 triệu ha đất nông nghiệp chỉ có 4,06 triệu ha là đất lúa, còn trên 5 triệu ha chủ yếu

là đất dốc, trong đó đất nương rẫy trồng lúa khoảng 640 ngàn ha, diện tích còn lại

là đất rừng và đất chưa sử dụng Do hầu hết đất bằng đã được sử dụng khá triệt để, nên miền núi là nơi duy nhất còn tiềm năng mở rộng đất canh tác

Trang 7

Rừng không chỉ là nguồn lợi tự nhiên quý giá về kinh tế, mà còn có giá trị cao trong bảo vệ môi trường, lưu giữ nguồn nước, cung cấp điều hoà ôxy và cacbon Ở Việt Nam, rừng chỉ tồn tại ở vùng cao đất dốc

So với miền xuôi thì cơ cấu cây trồng ở miền núi đa dạng hơn nhiều Trong khi hầu hết đất bằng ở miền xuôi phải dành cho sản xuất lương thực thì miền núi là nơi có tiềm năng đất đai để trồng cây ăn quả, cây lương thực có giá trị cao, đó là chưa kể các loài rau quả ôn đới trồng trên các vùng núi cao

Muốn đưa chăn nuôi thành ngành sản xuất chính thì phải khai thác tiềm năng đất đai và cây thức ăn gia súc ở miền núi Nếu mở rộng chăn nuôi ở miền xuôi thì sẽ gặp trở ngại lớn về môi trường Hơn nữa đối với đại gia súc thì sẽ không có đủ đất để xây dựng chuồng trại, khu chăn thả và khu đồng cỏ Chỉ có miền núi mới đáp ứng được những yêu cầu này

Do có địa hình cao và nguồn nước dồi dào, miền núi là nơi có tiềm năng thuỷ điện rất lớn Các hồ chứa nước vừa phục vụ thuỷ điện vừa là nguồn nước tưới trong mùa khô và điều hoà lũ lụt trong mùa mưa Hiện nay, nguồn năng lượng điện của Việt Namchủ yếu dựa vào thuỷ điện

Tóm lại, tuy còn nhiều trở ngại, miền núi là nơi có nhiều tiềm năng cơ bản cho sự phát triển Vì vây, cần quan tâm nhiều để vừa thúc đẩy sản xuất, đáp ứng nhu cầu cuộc sống của nông dân vùng cao, vừa phải bảo vệ tài nguyên và môi trường vì sự tồn tại và phát triển lâu dài của cả dân tộc

II PHƯƠNG THỨC CANH TÁC ĐẤT DỐC HIỆU QUẢ VÀ BÊN VỮNG

Xây dựng phương thức canh tác đất dốc có hiệu quả và bền vững phải đứng trên những quan điểm sau:

Các biện pháp canh tác phải thích hợp với điều kiện tự nhiên và sinh thái vùng đồi núi: phát huy được tiềm năng vùng đất dốc: đất rộng, đa dạng sinh học; đồng thời khắc phục được những trở ngại khó khăn: địa hình cao, dốc, phụ thuộc vào nước trời, điều kiện, tập quán canh tác còn khó khăn, lạc hậu, đời sống

Trang 8

người dân nghèo nàn, dân trí thấp.

Kết hợp chặt chẽ giữa sản xuất và phục hồi, bảo vệ độ phì nhiêu của đất để bảo vệ một nền canh tác lâu bền (phối hợp các biện pháp canh tác hiệu quả: biện pháp công trình, biện pháp sinh học/hữu cơ, biện pháp thâm canh - giống, chế

độ phân bón, tưới tiêu)

Đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở (đường giao thông, công trình thủy lợi, nhà xưởng kho tàng, chế biến) để tổ chức sản xuất hàng hóa có giá trị nông sản và kinh tế cao vì đây là vùng đất thích hợp với các loại cây công nghiệp và cây ăn quả với quy mô lớn

Phát huy nguồn lực nội lực: đào tạo cán bộ quản lý và cán bộ kỹ thuật tại chỗ, nâng cao trình độ nhận thức của người dân để họ tự tiếp thu và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới, thay dần các tập tục sản xuất lạc hậu trong các hoạt động canh tác nhằm nâng cao năng suất cây trồng, năng suất lao động, tăng thu nhập, cải thiện đời sống

Các cơ quan Nhà nước, các dự án quốc gia và quốc tế chuyển giao tiến bộ

kỹ thuật mới về canh tác đất dốc hiệu quả thông qua các mô hình canh tác/sản xuất

Vậy tính hiệu quả và bền vững của phương thức sản xuất phải được thể hiện ở những nội dung chính sau:

Trên các vùng đất đồi gò bị suy thoái cần thiết phải xây dựng các mô hình canh tác hiệu quả và bền vững nhằm sử dụng đất hợp lý kết hợp với phục hồi và cải thiện độ phì của đất, đồng thời tăng được thu nhập thường xuyên cho người nông dân, tạo cảnh quan môi trường tự nhiên đa dạng, đẹp

Các mô hình canh tác có hiệu quả phải được áp dụng thích hợp trên từng loại đất, địa hình, tập quán canh tác và nhu cầu thị trường của từng khu vực đồi

gò khác nhau của tỉnh Tài liệu này giới thiệu ba loại mô hình canh tác có hiệu quả đã được thử nghiệm và ứng dụng thành công: Mô hình canh tác chuyên màu, cây công nghiệp ngắn và dài ngày, mô hình canh tác cây ăn quả xen các loại cây hoa màu ngắn ngày và mô hình canh tác nông lâm kết hợp Tính hiệu quả của các loại mô hình này được phân tích, đánh giá cả về hiệu quả môi trường, kinh tế và xã hội

Trang 9

Bằng cách này chúng ta dễ dàng đạt năng suất mong muốn với giá thành sản xuất hạ Điều này có thể đạt được qua áp dụng các kỹ thuật nông lâm kết hợp, xen canh, luân canh, gối vụ và trồng cây che phủ đất để tạo sinh khối tối đa cho bảo vệ

và cải tạo đất Khi có nhiều chất xanh làm thức ăn gia súc thì chăn nuôi phát triển

và thúc đẩy trồng trọt cũng như nghề rừng cùng phát triển theo hướng bền vững Việc này cũng tạo điều kiện phát triển nông nghiệp hữu cơ (còn gọi là nông nghiệp sinh thái)

Đây là biện pháp quan trọng nhất, đa dụng và là nền tảng cho mọi nỗ lực quản lý và sử dụng đất dốc bền vững theo hướng nông nghiệp sinh thái Có thể sử dụng nilon để che phủ cho đất dốc nhưng phải che theo luống ngang sườn dốc và rãnh giữa các luống phải được phủ bằng xác thực vật Phải tái sử dụng tốt nhất lượng chất hữu cơ sẵn có tức là không được đốt tàn dư thực vật như nông dân thường làm, trái lại phải sử dụng chúng làm vật liệu che phủ để bảo vệ và cải tạo đất

Đối với đất dốc, nếu làm đất càng kỹ mà không che phủ thì xói mòn sẽ xảy

ra rất mạnh và nhanh Có thể làm cho đất trở nên tơi xốp mà không cần phải cày bừa đất bằng các biện pháp cơ giới Đó là áp dụng các biện pháp thay thế nhờ hoạt động của sinh hoạt trong đất và bộ rễ khoẻ của một số loài cây có (gọi là cày bừa sinh học)

Luân canh, xen canh, gối vụ không chỉ tăng thu nhập mà còn tăng sinh khối nhờ sử dụng các loài cây ngắn ngày, mọc nhanh, đa chức năng, có bộ rễ phát triển khoẻ, sâu để khai thác dinh dưỡng trong lòng đất như "cây bơm dinh dưỡng" hoặc tăng dinh dưỡng đất nhờ cây họ đậu cố định đạm Ngoài ra cần xen canh các loài cây có bộ rễ phát triển nông và sâu để điều hoà dinh dưỡng và giữ độ tơi xốp của đất Luân canh còn có tác dụng chống tích tụ nguồn sâu bệnh gây hại cây trồng

Trên nhiều loại đất vùng nhiệt đới nóng ẩm do độ pH thấp dưới 5, có độc nhôm sắt, đất bị nén chặt nên rễ cây trồng không thể phát triển được Trong điều

Trang 10

kiện áp dụng biện pháp che phủ đất, rễ cây có thể khi thác dinh dưỡng dưới đất và

từ lớp che phủ thực vật Trên thực tế, rễ nhiều loại cây trồng có phần lớn miền hút nằm ngay sát lớp che phủ thậm chí trong lớp che phủ nếu độ ẩm được duy trì ở mức thích hợp Trong nhiều trường hợp, việc bón phân vào lớp che phủ còn hiệu quả hơn là bón vào đất

Thiết kế các kỹ thuật quản lý và sử dụng đất phải được thực hiện một cách

hệ thống và phải cân nhắc đầy đủ sự tương tác giữa các hợp phần trong hệ thống (trồng trọt, chăn nuôi, nghề rừng, con người, xã hội, văn hoá, truyền thống, tập tục, v.v )

Các kỹ thuật phải đáp ứng các yếu cầu sau:

Đa dạng, đơn giản, hiệu quả (rẻ tiền), ít đầu tư;

Hiệu quả nhanh, dễ nhận biết và dễ chấp nhận về nhiều mặt: kinh tế, xã hội, văn hoá và môi trường;

Lợi dụng tối đa các nguồn lợi sẵn có ở địa phương

Nếu thực hiện tốt các nguyên tắc nêu trên, chúng ta có khả năng sản xuất đủ lương thực và hoa màu đáp ứng nhu cầu cuộc sống trên những diện tích đất cố định

và sẽ không phải chặt đốt rừng để sản xuất Như vậy độ che phủ rừng sẽ tăng lên

và rừng sẽ bảo vệ con người khỏi thiên tai như lụt lội, hạn hán Rừng sẽ cung cấp cho ta nhiều sản phẩm có giá trị cao để cải thiện đời sống Chăn nuôi cũng phát triển và giúp nông dân làm giàu mà không phương hại đến sản xuất nông lâm nghiệp Chúng ta sẽ có những sản phẩm sạch để đảm bảo sức khoẻ mà không cần đầu tư cao, không phụ thuộc vào nguồn phân vô cơ Gánh nặng của phụ nữ sẽ được tháo gỡ vì không phải đi cắt cỏ chăn nuôi, không mất nhiều công làm cỏ và làm đất Cơ hội sẽ có nhiều hơn để phát triển các ngành nghề truyền thống và khôi phục các giá trị văn hoá của dân tộc thiểu số Tài nguyên thiên nhiên sẽ được sử dụng hợp lý và môi trường được bảo vệ Với cảnh quan đẹp, chúng ta có thể mở

Ngày đăng: 02/08/2016, 15:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w