1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TL môn quan ly tai chinh cong

14 357 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 138,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận môn quản lý tài chính công. Trường học viện hành chính miền trung. Dù là công khai hay ngấm ngầm thì cũng đã có không ít những vụ phá sản tầm cỡ quốc gia diễn ra trong suốt thời kỳ thế giới lâm vào khủng hoảng kinh tế. Có rất nhiều lý do dẫn tới cuộc khủng hoảng toàn cầu này nhưng trong đó phải kể đến tình trạng nợ công tràn lan ở nhiều nước. Nợ công khó kiểm soát ở nhiều quốc gia chính là nguyên nhân khiến nền kinh tế phục hồi rất chậm chạp, mong manh và đứng trước nguy cơ tiếp tục khủng hoảng. Bất kể từ nước giàu có nhất thế giới như Mỹ, hay Nhật Bản cho tới những quốc gia phát triển ở châu Âu như Đức, Pháp, Hy Lạp, Tây Ban Nha,… hay Trung Quốc “chủ nợ lớn nhất của Mỹ và các quốc gia”, tất cả các “đại gia” này đều đang mắc một khoản nợ công không hề nhỏ. Việt Nam trong nền kinh tế thị trường và hội nhập cũng không tránh khỏi tình trạng trên. Trong khi tích lũy từ nội bộ nền kinh tế thông qua chi tiêu để dành của quốc gia liên tục giảm thì nợ công liên tục tăng, nguồn để đầu tư tăng và ngân sách lại ngày càng trở nên thâm hụt. Và đáng lo ngại hơn cả là vay nợ nhưng làm ăn kém hiệu quả và khả năng trả nợ ngày càng khó khăn hơn. Điều đó càng khiến nợ công ở Việt Nam tăng cao và tiến tới mức nguy hiểm. Nợ công đang làm nóng nghị trường Quốc hội, mà trong đó gây tranh cãi nhiều nhất là quy mô, tính an toàn và tài trợ nợ công. Vì vậy em quyết định chọn đề tài “Nợ công Việt Nam hiện nay, thực trạng và giải pháp” để chúng ta phần nào hiểu rõ hơn thực trạng nợ Chính phủ Việt Nam những năm qua. Bên cạnh đó là một số đề xuất giúp chúng ta thoát khỏi tình trạng này.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Dù là công khai hay ngấm ngầm thì cũng đã có không ít những vụ phá sản tầm cỡ quốc gia diễn ra trong suốt thời kỳ thế giới lâm vào khủng hoảng kinh tế

Có rất nhiều lý do dẫn tới cuộc khủng hoảng toàn cầu này nhưng trong đó phải

kể đến tình trạng nợ công tràn lan ở nhiều nước Nợ công khó kiểm soát ở nhiều quốc gia chính là nguyên nhân khiến nền kinh tế phục hồi rất chậm chạp, mong manh và đứng trước nguy cơ tiếp tục khủng hoảng Bất kể từ nước giàu có nhất thế giới như Mỹ, hay Nhật Bản cho tới những quốc gia phát triển ở châu Âu như Đức, Pháp, Hy Lạp, Tây Ban Nha,… hay Trung Quốc “chủ nợ lớn nhất của Mỹ

và các quốc gia”, tất cả các “đại gia” này đều đang mắc một khoản nợ công không hề nhỏ

Việt Nam trong nền kinh tế thị trường và hội nhập cũng không tránh khỏi tình trạng trên Trong khi tích lũy từ nội bộ nền kinh tế thông qua chi tiêu để dành của quốc gia liên tục giảm thì nợ công liên tục tăng, nguồn để đầu tư tăng

và ngân sách lại ngày càng trở nên thâm hụt Và đáng lo ngại hơn cả là vay nợ nhưng làm ăn kém hiệu quả và khả năng trả nợ ngày càng khó khăn hơn Điều

đó càng khiến nợ công ở Việt Nam tăng cao và tiến tới mức nguy hiểm Nợ công đang làm nóng nghị trường Quốc hội, mà trong đó gây tranh cãi nhiều nhất là

quy mô, tính an toàn và tài trợ nợ công Vì vậy em quyết định chọn đề tài “Nợ công Việt Nam hiện nay, thực trạng và giải pháp” để chúng ta phần nào hiểu

rõ hơn thực trạng nợ Chính phủ Việt Nam những năm qua Bên cạnh đó là một

số đề xuất giúp chúng ta thoát khỏi tình trạng này

Trang 2

PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ NỢ CÔNG 1.1 Khái niệm

Nợ Chính phủ (hay còn gọi là nợ công hay nợ quốc gia) là tổng giá trị các khoản tiền mà chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương tới địa phương đi vay.Việc đi vay này là nhằm tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách Nhà nước

và thường được đo lường bằng phần trăm so với tổng sản phẩm quốc nội GDP

1.2.Phân loại

- Theo nguồn gốc:

+ Nợ trong nước: Là các khoản vay từ người cho vay trong nước

+ Nợ nước ngoài: Là các khoản vay từ người cho vay nước ngoài

- Theo thời hạn khoản nợ:

+ Nợ ngắn hạn: Là các khoản nợ có kì hạn dưới 1 năm

+ Nợ trung hạn: Là các khoản nợ có kì hạn từ 1 năm đến 10 năm

+ Nợ dài hạn: Là các khoản nợ có kì hạn trên 10 năm

1.3.Các hình thức vay nợ của Chính phủ

- Phát hành trái phiếu Chính phủ:

Trái phiếu phát hành bằng nội tệ được coi là không có rủi ro tíndụng vì Chính phủ có thể tăng thuế thậm chí in thêm tiền để thanh toán cả gốclẫn lãi khi đáo hạn

Trái phiếu phát hành bằng ngoại tệ có rủi ro tín dụng cao hơnvì Chính phủ

có thể không đủ ngoại tệ để thanh toán và ngoài ra còn có rủi ro vềtỷ giá hối đoái khi đến thời hạn thanh toán

- Vay trực tiếp:

Vay tiền trực tiếp từ các ngân hàng thương mại hay các thể chếsiêu quốc gia như Quỹ tiền tệ quốc tế IMF, …

Hình thức này có độ tin cậy tín dụng thấp do đó khả năng vaynợ bằng hình thức phát hành trái phiếu không cao

1.4.Tính nợ Chính phủ

Trang 3

Nợ Chính phủ thường được tính toán đo lường bằng phần trăm so với GDP Nợ thường được tính tại từng thời kỳ, giai đoạn Khi tính toán nợ Chính phủ ta thường hay vấp phải một số vấn đề sau:

- Lạm phát:

Thâm hụt ngân sách thường không điều chỉnh ảnh hưởng của lạm phát trong tính toán, vì trong chi tiêu Chính phủ các khoản trả lãi vay theo lãi suất danh nghĩa trong khi đáng lẽ nên tính theo lãi suất thực tế ( Lãi suất danh nghĩa bằng lãi suất thực tế cộng tỷ lệ lạm phát) Trong những thời kỳ lạm phát cao vànợ Chính phủ lớn thì ảnh hưởng của lạm phát là rất lớn tới nợ công

- Tài sản đầu tư:

Các nhà kinh tế cho rằng nên trừ tổng tài sản của tài sản Chính phủ trong tính toán nợ Chính phủ Tuy nhiên, tính toán theo cách này sẽ gặp phải vấn đề những gì nên coi là tài sản của Chính phủ và tính toán giá trị của chúng như thếnào

- Các khoản nợ tiềm tàng (Nợ ngầm)

Các khoản chi trả trợ cấp cho hưu trí, bảo hiểm xã hội, … hay các khoản Chính phủ đứng ra bảo đảm cho các khoản vay mà trong tương lai không có khả năng thanh toán cũng cần được tính vào nợ Chính phủ, bởi lẽ rốt cuộc đó cũng

là tiền do Chính phủ phải chi ra

1.5.Tác động của nợ Chính phủ

- Tính trung lập của nợ Chính phủ:

Quan điểm truyền thống cho rằng cắt giảm thuế được bù đắp bằng nợ Chính phủ kích thích tiêu dùng và làm giảm tiết kiệm quốc dân Sự gia tăng tiêu dùng làm tăng giảm) và thu nhập quốc dân thấp hơn trong dài hạn

Quan điểm Barro-Ricardo lại cho rằng biện pháp cắt giảm thuế được bù đắp bằng nợ Chính phủ không kích thích chi tiêu cả trong ngắn hạn vì các cá nhân dự tính rằng, hiện giờ chính phủ giảm thuế và phát hành trái phiếu bù đắp thâm hụt, thì đến một thời điểm trong tương lai chính phủ sẽ lại tăng thuế để có tiền trả nợ hoặc in tiền để trả nợ (mà hậu quả là lạm phát tăng tốc) Do đó, người

Trang 4

ta tiết kiệm hiện tại để có tiền đóng thuế trong tương lai hoặc mua hàng hóa và dịch vụ sẽ lên giá Hai quan điểm nói trên tuy khác nhau nhưng cùng xuất phát

từ hành vi của người tiêu dùng và do vậy khi áp dụng cần nghiên cứu hành vi của người tiêu dùng

- Về hiệu suất của tác động nợ Chính phủ tới sự tăng trưởng của nền kinh tế:

Trong những năm gần đây, hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng trong dài hạn một khoản nợ Chính phủ lớn làm cho sự tăng trưởng của sản lượng tiềm năng chậm lại

Trang 5

PHẦN 2: THỰC TRẠNG NỢ CÔNG TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Thực trạng nợ công tại Việt Nam

2.1.1 Tình hình nợ công Việt Nam giai đoạn 2008-2010:

Tại Việt Nam, tình trạng nợ công liên tục tăng làm cho yêu cầu nâng cao chất lượng quản lý nợ công của Việt Nam cũng trở nên cấp thiết TheoWorld Factbook nợ công của Việt Nam năm 2008 là khoảng 38% GDP, nhưng đến năm 2009 đã tăng nhanh lên mức 52,3% GDP Còn theo Bộ Tài chính thì

nợ công tại Việt Nam năm 2009 chỉ ở mức 39% GDP Và trong năm 2010 thì

nợ công đã lên tới 56,7% GDP Ủy ban Pháp luật Quốc hội công bố khoản nợ công tại Việt Nam vào khoảng 42% GDP Trong khi đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội lại đưa ra kết luận rằng nợ Chính phủ đang tăng cao: từ 33,8% GDP năm 2007 lên 36,2% GDP năm 2008, 41,9% năm 2009 và lên 44,6% năm 2010, kèm theo đó là lời cảnh báo nợ Chính phủ đã tăng sát mức trần cho phép.Với cách tính nợ công của Tổ chức Thương mại và Phát triển Liên hợp quốc (UNCTAD) được nhiều nước trên thế giới sử dụng thì nợ công còn bao gồm cả

nợ của doanh nghiệp nhà nước theo cơ chế tự vay tự trả, nợ của công ty cổ phần tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp của Nhà nước, quỹ bảo hiểm xã hội mà Nhà nước sử dụng để mua trái phiếu hay đầu tư vào các công trình kinh tế trọng điểm quốc gia Mà theo vậy thì nợ công của Việt Nam phải lên tới trên 72% GDP, bởi đến hết năm 2008, tổng dư nợ của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đã là 20% GDP, chưa kể đó là những con số thống kê chưa đầy đủ, rõ ràng Minh chứng điển hình là trường hợp Vinashin có tổng số dư nợ thực tế lên tới 120.000

tỷ đồng chứ không phải 86.000 tỷ như đã báo cáo Theo số liệu của Tạp chí kinh

tế The Economist thì tổng nợ công của Việt Nam lúc đó là 50,935 tỷUSD, tương đương 51,6% GDP

Như vậy là chỉ riêng việc tính toán nợ công cũng đã gây ra những bất cập Điều đó cho thấy sự thiếu thống nhất trong đánh giá, thống kê và thiếu chặt chẽ, liên kết giữa các cơ quan quản lý vấn đề này Tuy mỗi con số phản ánh một cái

Trang 6

nhìn khác nhau về một vấn đề được xem là “sức khỏe của một nền kinh tế” nhưng nó đều cho thấy rằng quy mô nợ công tại Việt Nam đang ngày càng lớn

Theo The Economist Intelligence Unit, nợ công của Việt Nam năm 2001 mới là 11,5 tỷ USD, tương đương 36% GDP, bình quân mỗi người gánh số * Đại học Ngoại thương nợ công xấp xỉ 144 USD Nhưng tính đến hết năm 2010,

nợ công đã tăng lên 55,2 tỷ USD, tương đương 54,3% GDP Như vậy, trong vòng 10 năm từ 2001 đến nay, quy mô nợ công đã tăng gấp gần 5 lần với tốc độ tăng trưởng nợ trên 15% mỗi năm (Biểu đồ 1)

Biểu đồ 1: Tình hình nợ công và nợ nước ngoài của Việt Nam năm 2001-2010

Nguồn: The Economist Intelligence Uni

2.1.2 Tình hình nợ công Việt Nam giai đoạn 2010 đến nay:

Trang 7

Số liệu này cho thấy nợ công của Việt Nam hiện đang gia tăng khá nhanh Sau 2 năm con số nợ công của Việt Nam đã tăng 16,1 tỉ USD Nếu tính mốc từ năm 2010, sau 6 năm, con số nợ công của Việt Nam đã tăng thêm 49,4 tỉ USD

từ 45,39 tỉ USD (năm 2010)

Theo đồng hồ nợ công thế giới, tốc độ gia tăng nợ công thời điểm 18.3.2016 đạt 9,3%, thấp hơn tốc độ gia tăng của năm 2015 và các năm về trước

Trước đó, tại Báo cáo đánh giá bổ sung tình hình thực hiện Ngân sách Nhà nước năm 2015 tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Bộ Tài chính cho biết, tính đến ngày 31.12.2015, số nợ công của Việt Nam đã ở mức 62,2% Trong đó,

nợ Chính phủ ở mức 50,3% (vượt giới hạn cho phép là 0,3% GDP), nợ nước ngoài của quốc gia ở mức 43,1% GDP, nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ

ở mức 16,0% tổng thu ngân sách nhà nước

Vào tháng 7 năm ngoái, Ngân hàng Thế giới (WB) lại đưa ra con số nợ công của Việt Nam năm 2014 đã là 110 tỉ USD (tương đương khoảng 2,35 triệu

tỉ đồng) Tức mỗi người dân Việt Nam gánh khoảng 1.200 USD/người Trong

đó, nợ của Chính phủ dành cho các mục đích đầu tư từ các tổ chức quốc tế, các chính phủ là 79,6%; nợ của các doanh nghiệp, tập đoàn Nhà nước (do Chính phủ bảo lãnh) khoảng 19% và nợ của chính quyền địa phương là 1,4%

2.2 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng nợ công hiện nay ở Việt Nam

Nợ công hiện nay ở Việt Nam có thể xuất phát từ một số nguyên nhân chủ yếu sau đây:

- Nguồn thu giảm sút là một nguyên nhân dẫn tới tình trạng thâm hụt ngân sách và gia tăng nợ công Trốn thuế và hoạt động kinh tế ngầm ở Việt Nam

là nhân tố làm giảm nguồn thu ngân sách Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), kinh tế không chính thức ở Việt Nam ở mức 15,6% GDP so với 13,1% GDP của Trung Quốc và Singapore; 11,3% GDP của Nhật Bản Hệ thống thuế với nhiều mức thuế cao và bộ luật phức tạp cùng với sự điều tiết dư thừa và thiếu hiệu quả của cơ quan quản lý là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trốn thuế

Trang 8

và kinh tế ngầm phát triển ở Việt Nam Việt Nam là một trong những nước có tỷlệ tham nhũng cao Không chỉ có công nhân viên chức không chịu nộp thuế,

mà việc nhận tiền hối lộ còn khá phổ biến từ Trung ương đến địa phương

- Do sự tiếp cận dễ dãi với nguồn vốn đầu tư nước ngoài và việc sử dụng nguồn vốn không hiệu quả: Chính phủ gia tăng huy động vốn trong từ bên ngoài như vay nước ngoài, phát hành trái phiếu chính phủ… Việc chính phủ đã chi tiêu quá tay (phần lớn cho cơ sở hạ tầng) mà hầu như không quan tâm đến các

kế hoạch trả nợ dẫn đến mức nợ ngày càng tăng

- Khi nhắc đến nợ công, người ta còn phải tính đến các khoản do chính quyền địa phương hoặc doanh nghiệp đi vay dưới sự bảo lãnh của Chính phủ Theo ước tính, khoản vay của doanh nghiệp hiện chiếm khoảng 10% tổng dư nợ công và là khoản đáng lo ngại nhất bởi phần lớn là vay với kỳ hạn ngắn Trong trường hợp doanh nghiệp mất khả năng trả nợ, Chính phủ đương nhiên sẽ phải gánh trách nhiệm với tư cách là người bảo lãnh Như vậy thì nợ công sẽ tăng lên

- Mức lãi suất cao khiến việc vay mới và tài trợ nợ công trở nên đắt đỏ hơn, do vậy ảnh hưởng tới tính bền vững của nợ công Một bằng chứng cụ thể là ngay cả khi mới sớm thoát khỏi suy giảm kinh tế thì chỉ số CPI và lãi suất ở Việt Nam đã tăng nhanh trở lại, cao hơn nhiều so với hầu hết các nền kinh tế trong khu vực Hệ quả là khi Chính phủ đi vay bằng cách phát hành trái phiếutrong nước, lợi suất phải trả đã lên tới 11-12% Tương tự như vậy, khi Chính phủ phát hành trái phiếu quốc tế, phải trả cũng cao hơn so với các đối thủ cạnh tranh (như Indonesia và Philippines) do mức độ rủi ro cao hơn

- Một nguyên nhân sâu xa hơn và cũng không kém phần quan trọng đó chính là hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam còn kém hiệu quả, nạn tham nhũng, quan liêu tràn lan…Về nguyên tắc, nợ công của Việt Nam bao gồm nợ của Chính phủ, của các chính quyền địa phương và phần vay của doanh nghiệp do Chính phủ bảo lãnh Tuy nhiên, nhiều chuyên gia khuyến cáo cần tính tới cả phần doanh nghiệp Nhà nước tự đi vay, vì suy cho cùng nếu

Trang 9

doanh nghiệp có vấn đề gì, Nhà nước với tư cách chủ sở hữu cũng sẽ phải đứng

ra xử lý thay, đơn cử như trường hợp của một tập đoàn kinh tế quy mô lớn như Vinashin chẳng hạn

- Việc tiếp tục áp dụng các biện pháp kích cầu, tăng trưởng còn chủ yếu dựa vào đầu tư, trong khi đó nhiều dự án đầu tư không hiệu quả, chậm tiến độ Điều này dẫn đến tỷ lệ bội chi ngân sách cao và Chính phủ phải vay nợ để bù đắp

- Tính bền vững của nợ công không chỉ phụ thuộc vào cán cân ngân sách

mà còn phụ thuộc vào một số nhân tố khác Đầu tiên là tốc độ tăngtrưởng GDP Tốc độ tăng GDP cao là điều kiện cần để tăng nguồn thu và đạt thặng dư ngân sách Tuy nhiên, nếu tăng trưởng GDP chỉ do tăng các yếu tố đầu vào vật chất (vốn và lao động) mà không tăng được năng suất thì chắc chắn đến một lúc nào

đó, tốc độ tăng trưởng sẽ giảm Có vẻ như điều này sẽ xảy ra choViệt Nam trong khoảng 7-10 năm tới, vì theo Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, trong những năm gần đây tốc độ tăng năng suất của Việt Nam khá thấp, và tăng trưởng GDP chủ yếu nhờ vào việc gia tăng lao động và vốn Theo dự báo của EIU, tốc độ tăng GDP trung bình hằng năm của Việt Nam sẽ giảm còn khoảng 5% sau năm 2020 và 3-4% sau năm 2030

- Khủng hoảng nợ công cũng đến do việc chính phủ không minh bạch các

số liệu, chính phủ cố gắng vẽ nên bức tranh sáng, màu hồng về tình trạng ngân sách về những chính sách sắp ban hành để khắc phục những khó khăn về ngân sách hay vấn đề kinh tế vĩ mô thì hiệu lực của những chính sách đó sẽ bị hạn chế nhiều

- Do tiết kiệm trong nước thấp dẫn đến việc vay nợ cho chi tiêu công cao dẫn đến nợ công ngày càng tăng cao Ngoài ra, hệ thống lương hưu cũng tạo nên những gánh nặng không nhỏ cho chi tiêu công Nếu so sánh giữa mức gia tăng

nợ công trong thời gian qua với tốc độ tăng trưởng GDP thì việc Việt Nam mang

nợ như hiện nay là không đáng Không thể lấy một số nước có tỷ lệ nợ so với

Trang 10

GDP tới 200% để biện minh bởi họ là những nền kinh tế phát triển, việc vay nợ được quản lý rất chặt và đầu tư hiệu quả Việt Nam thì chưa làm được điều này

PHẦN 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP

Như trên đã phân tích về lý luận và thực tiễn một số nền kinh tế lớn trên thế giới, khi xem xét, đánh giá nợ công không chỉ chú ý vào tỷ lệ nợ/GDP cao hay thấp mà quan trọng hơn là hiệu quả sử dụng vốn vay như thế nào, tức là quản lý nợ công có hiệu quả, phát huy được các tác động tích cực của nợ côngvà giảm bớt tác động tiêu cực của nó Hiệu quả sử dụng các khoản vay nợ phụ thuộc nhiều vào chính sách quản lý các khoản vay của ngân sách nhà nước Do tính chất khác biệt giữa nguồn vay và nguồn từ thuế và phí, việc quản lý một cách chặt chẽ đòi hỏi phải có các cơ chế quản lý riêng biệt đối với các khoản chi

từ nguồn vay nợ và các khoản chi thông thường (từ nguồn thu thuế và phí) Theo

đó, các khoản chi từ nguồn vay nợ đòi hỏi phải có các quy định quản lý chặt chẽ theo hiệu quả đầu ra, đảm bảo các tiêu chí về hoàn trả nợ (gốc và lãi), tiêu chí về tiến độ giải ngân và hiệu quả sử dụng vốn, tiêu chí về giảm thiểu rủi ro và các tiêu chí khác Những quy định này thường áp dụng với mức độ đòi hỏi thấp hơn, hoặc không áp dụng đối với các khoản chi tiêu ngân sách thông thường (được chi từ nguồn thu thuế và phí) Việc có những quy định về quản lý ngân sách riêng biệt đối với các khoản chi từ nguồn vay nợ được coi là một tiêu chí quan trọng trong việc đánh giá tính bền vững của nợ công nói riêng và ngân sách nhà nước nói chung Để nợ công được quản lý chặt chẽ từ khâu vay nợ, sử dụng và thanh toán nợ đến hạn, nâng cao hiệu quả sử dụng, giữ vững uy tín quốc gia trong thanh toán nợ, đảm bảo an ninh tài chính đối với các khoản nợ công, hạn chế rủi ro,cần thực hiện tốt một số nội dung như sau:

Một là, Chính phủ cần xây dựng kế hoạch chiến lược về vay nợ công trên

cơ sở và phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch thu, chi ngân sách nhà nước trong từng giai đoạn, thời kỳ Kế hoạch chiến lược về vay nợ công xác định rõ mục đích vay (vay nợ để tài trợ thâm hụt ngân sách,tái cơ cấu

nợ và cho vay lại hoặc vay để tài trợ cho các chương trình, dự án đầu tư quan

Ngày đăng: 02/08/2016, 13:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w