Sơ đồ trên trình bày tổng quan về quá trình đánh giá chương trình đào tạo chứ không phải là đề xuất đối với đánh giá. Cụ thể, để tiến hành đánh giá chương trình đào tạo thì bước đầu tiên phải lập được kế hoạch đánh giá chương trình đào tạo. Kế hoạch này sẽ thể hiện rõ mục đích đánh giá, phạm vi đánh giá, các thành phần tham dự, tiến trình thực hiện công việc đánh giá, … Sau khi kế hoạch đánh giá chương trình đào tạo đã được thông qua sẽ tiến hành thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu sau đó đưa ra kết luận. Nhưng bản chất của đánh giá không dừng lại ở việc chỉ đưa ra kết luận xem mặt nào của chương trình tào tạo đã thực hiện tốt, mặt nào còn chưa tốt, chưa làm được mà quan trọng là phải đưa ra được những đề xuất để khắc phục những điểm tồn tại đồng thời phát huy những đã thực hiện tốt để từ đó xây dựng, cải tiến chương trình đào tạo ngày càng tốt hơn. Như vậy, có thể khẳng định rằng quy trình trên là quy trình đánh giá để đề xuất cải thiện chương trình đào tạo – đó là một quy trình cải tiến liên tục chứ không phải là quy trình đề xuất đối với đánh giá.
Trang 1NHÓM 2
LỚP NVSP – TỐI 357
Giảng viên : Tiến sĩ Hồ Văn Liên
HỌC PHẦN : Phát triển chương trình và tổ chức quá trình đào tạo Chủ đề 4 : ĐÁNH GIÁ CHƯƠNG TRÌNH
Danh sách thành viên nhóm :
2. Giang Chí Hào
3. Nguyễn Thị Mai Hoa
5. Phạm Thị Huế
6. Nguyễn Hải Hưng
7. Trần Thị Hoa
8. Nguyễn Tất Tiến
10. Phạm Đức Hoan
-Phần 1.
Trả lời câu hỏi của lớp
Câu 1: Các bước trong quy trình đánh giá chung để đề xuất cải thiện chương trình hay đề
xuất đối với đánh giá? Quy trình đánh giá này có nằm trong quy trình đánh giá tổng thể không?
Trang 2Trả lời:
Lập kế hoạch đánh giá chương trình Thu thập và xử lý dữ liệu Phân tích dữ liệu Đưa ra kết luận và xây dựng những đề xuất về chương trình đào tạo Trao đổi các kết luận và đề xuất với những người phù hợp Tham gia thực hiện các đề xuất
Sơ đồ: Quy trình đánh giá chung
Sơ đồ trên trình bày tổng quan về quá trình đánh giá chương trình đào tạo chứ không phải
là đề xuất đối với đánh giá Cụ thể, để tiến hành đánh giá chương trình đào tạo thì bước đầu tiên phải lập được kế hoạch đánh giá chương trình đào tạo Kế hoạch này sẽ thể hiện
rõ mục đích đánh giá, phạm vi đánh giá, các thành phần tham dự, tiến trình thực hiện công việc đánh giá, … Sau khi kế hoạch đánh giá chương trình đào tạo đã được thông qua sẽ tiến hành thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu sau đó đưa ra kết luận Nhưng bản chất của đánh giá không dừng lại ở việc chỉ đưa ra kết luận xem mặt nào của chương trình tào tạo đã thực hiện tốt, mặt nào còn chưa tốt, chưa làm được mà quan trọng là phải đưa ra được những đề xuất để khắc phục những điểm tồn tại đồng thời phát huy những đã thực hiện tốt để từ đó xây dựng, cải tiến chương trình đào tạo ngày càng tốt hơn Như vậy, có thể khẳng định rằng quy trình trên là quy trình đánh giá để đề xuất cải thiện chương trình đào tạo – đó là một quy trình cải tiến liên tục chứ không phải là quy trình đề xuất đối với đánh giá
Trang 3Quy trình đánh giá này không nằm trong quy trình đánh giá tổng thể hay nói cách khác hai quy trình này là khác nhau Nhưng do có sự nhầm lẫn trong việc dùng từ của Nhóm trình bày nên đã dẫn đến hiểu sai “Quy trình đánh giá tổng thể chương trình học” (Slide 16) phải được sửa thành “Quy trình phát triển chương trình học” mới đúng Trong quy trình này, thì đánh giá được xem là một bước, một khâu của quy trình phát triển chương trình học Và cũng giống như các bước khác, đánh giá cũng có quy trình thực hiện riêng Như vậy, không thể đồng nhất quy trình đánh giá chung về chương trình học với quy trình phát triển chương trình học được, hay nói cách khác hai quy trình này khác nhau
Sơ đồ: Quy trình phát triển chương trình học
Câu 2: Mục đích của đánh giá ngoài và tự đánh giá có khác nhau không?
Trả lời:
Điều 2 của Thông tư số 38/2013/TT-BGDĐT ngày 29/11/2013, định nghĩa Tự đánh giá
và Đánh giá ngoài như sau:
• Tự đánh giá chương trình đào tạo là quá trình cơ sở giáo dục tự xem xét, nghiên cứu dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành để báo cáo về tình trạng chất lượng, hiệu quả hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, nhân lực, cơ sở vật chất và các vấn đề liên quan khác thuộc chương trình đào tạo để cơ sở giáo dục tiến hành điều chỉnh các nguồn lực và quá trình thực hiện nhằm đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục
• Đánh giá ngoài chương trình đào tạo là quá trình khảo sát, đánh giá của tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành để xác định mức độ chương trình đào tạo đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục
Điều 14 của Thông tư này quy định: Cơ sở giáo dục đăng ký đánh giá ngoài chương trình đào tạo với một tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo cấp phép Định kỳ 5 năm/lần hoặc theo yêu cầu của cơ quan quản lý về giáo dục, cơ sở
Trang 4giáo dục có trách nhiệm chuẩn bị báo cáo tự đánh giá và đăng ký đánh giá ngoài để được xem xét, công nhận chương trình đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục
Như vậy, có thể thấy mục đích của Tự đánh giá và Đánh giá ngoài là khác nhau, cụ thể:
hàng năm cơ sở giáo dục tự đánh giá để xem tình trạng chất lượng, hiệu quả hoạt động
đào tạo, nghiên cứu khoa học, nhân lực, cơ sở vật chất và các vấn đề liên quan khác thuộc chương trình đào tạo như thế nào?, những mặt nào đã thực hiện tốt?, những mặt nào chưa
được? để từ đó cơ sở giáo dục tiến hành điều chỉnh các nguồn lực và quá trình thực
hiện nhằm đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục Trong khi đó, định kỳ 5 năm/lần hoặc theo
yêu cầu của cơ quan quản lý về giáo dục, cơ sở giáo dục mới đăng ký đánh giá ngoài để
được xem xét, công nhận chương trình đào tạo của cơ sở giáo dục hiện tại có đạt được
tiêu chuẩn chất lượng giáo dục hay chưa? (Vì hàng năm cơ sở giáo dục tự đánh giá chất lượng chương trình đào tạo của mình nên có nhiều yếu tố cần xem xét như tính minh bạch, tính khách quan, …) Vậy, có thể kết luận rằng hai hình thức đánh giá này hoàn toàn khác nhau về mục đích đánh giá, ngoài ra còn khác nhau về quy trình đánh giá, thành phần tham gia đánh giá, chu kỳ đánh giá, …
Phần 2
BỔ SUNG PHÁT TRIỂN BÀI “ĐÁNH GIÁ CHƯƠNG TRÌNH” DỰA TRÊN CÁC HƯỚNG
TRIỂN KHAI MỚI CỦA THẦY I/ Phân biệt đánh giá trường học và đánh giá chương trình:
1/Đánh giá trường học:
Căn cứ Công văn số: 8987/BGDĐT-KTKĐCLGD và Điều 31 của quy định về quy trình
và chu kỳ kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Thông tư số: 42/2012/TT-BGDĐT ngày 23/11/2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định về 5 tiêu chuẩn, 36 tiêu chí và 108 chỉ số đánh giá chất lượng giáo dục và quy trình, chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục phổ thông;
Tiêu chuẩn 1: Tổ chức quản lý nhà trường Tiêu chuẩn 2: Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh
Tiêu chuẩn 3: Cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học
Tiêu chuẩn 4: Quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội
Tiêu chuẩn 5: Hoạt động giáo dục và kết quả giáo dục
Mười tiêu chuẩn giáo dục đại học (theo Qui định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo
dục trường đại học 65/2007/QĐ-BGDĐT)
1 Sứ mạng và mục tiêu của trường đại học
Trang 52 Tổ chức và quản lí
3 Chương trình giáo dục
4 Hoạt động đào tạo
5 Đội ngũ cán bộ quản lí, giảng viên và nhân viên
6 Người học
7 Nghiên cứu khoa học, ứng dụng, phát triển và chuyển giao công nghệ
8 Hoạt động hợp tác quốc tế
9 Thư viện, trang thiết bị học tập và cơ sở vật chất khác
10 Tài chính và quản lý tài chính
Ý nghĩa và mục đích tự đánh giá:
Là một khâu quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng và xây dựng văn hóa chất lượng bên trong nhà trường
Giúp nhà trường tự rà soát, xem xét, đánh giá thực trạng của mình, lập và triển khai các
kế hoạch hành động cải tiến và nâng cao chất lượng đào tạo, từ đó điều chỉnh mục tiêu cho giai đoạn tiếp theo theo hướng cao hơn
Là điều kiện cần thiết để nhà trường đăng ký đánh giá ngoài và công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng với một tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục
2/ Đánh giá chương trình:
Đánh giá chương trình đào tạo là một hoạt động quan trọng và thường xuyên trong các trường đại học Ở nhiều nước, đánh giá chương trình là một phần không thể thiếu trong quá trình kiểm định nhà trường và kiểm định chương trình đào tạo Thí dụ ở Mĩ hay Canada cùng với kiểm định chất lượng nhà trường, hầu hết các chương trình đào tạo đều được kiểm định để đảm bảo rằng nhà trường đã đào tạo nguồn nhân lực có các kiến thức,
kĩ năng và phẩm chất đạo đức đáp ứng chuẩn nghề nghiệp do các hiệp hội kiểm định nghề nghiệp đề ra và đáp ứng các yêu cầu của các ngành nghề trong xã hội Trong quá trình kiểm định chương trình thì các hoạt động và tiến trình đánh giá chương trình đóng vai trò quan trọng cung cấp các bằng chứng cần thiết cho việc kiểm định
3/ Kết luận :
Như vậy có thể thấy rằng đánh giá chương trình là một phần không thể thiếu trong quá trình kiểm định nhà trường , và không tách rời trong việc đánh giá chất lượng của một trường Đánh giá chương trình nhằm đảm bảo nhà trường “đã đào tạo nguồn nhân lực có các kiến thức, kĩ năng và phẩm chất đạo đức đáp ứng chuẩn nghề nghiệp do các hiệp hội kiểm định nghề nghiệp đề ra và đáp ứng các yêu cầu của các ngành nghề trong xã hội.”
Trang 6Trong đó thì việc đánh giá nhà trường được tiến hành theo tiêu chí tự đánh giá thực trạng của mình , tiến hành tự rà soát để vừa giúp tự mình nâng cao chất lượng đào tạo của trường thông qua các kế hoạch cải tiến ,và đồng thời cung cấp điều kiện cần thiết để nhà trường đăng ký đánh giá ngoài và công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng với một tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục
II/Mở mã ngành đào tạo trong trường đại học, cao đẳng
1. Văn bản pháp lý: Thông tư số 08/2011/TT-BGDĐT ngày 17/02/2011
2. Quy trình thực hiện
a. Điều kiện để mở ngành đào tạo
Tiêu chí Trình độ đại học Trình độ cao đẳng
Đội ngũ GV cơ hữu - Số lượng GV >= 70% khối
lượng chương trình đào tạo
- Ít nhất 1 GV có trình độ TS
và 3 GV có trình độ ThS đúng ngành đăng ký
Số lượng GV >= 70% khối lượng chương trình đào tạo
Ít nhất 4 GV có trình độ ThS đúng ngành đăng ký
Chương trình đào
tạo của ngành đăng
ký và đề cương chi
tiết các học
phần/môn học
- Có trong danh mục giáo dục đào tạo cấp IV trình độ đại học, cao đẳng
- Nếu không, phải trình bày luận cứ khoa học về ngành đào tạo mới đã được Hội đồng khoa học thông qua kèm theo chương trình đào tạo tham khảo của ít nhất 2 trường đại học đã được kiểm định ở nước ngoài
Có trong danh mục giáo dục đào tạo cấp IV trình độ đại học, cao đẳng
Nếu không, phải trình bày luận
cứ khoa học về ngành đào tạo mới đã được Hội đồng khoa học thông qua kèm theo chương trình đào tạo tham khảo của ít nhất 2 trường đại học hoặc cao đẳng đã được kiểm định ở nước ngoài
Cơ sở vật chất, trang thiết bị: Các phòng học, phòng thí nghiệm, thư viện, … đáp ứng yêu cầu giảng dạy của ngành đăng ký
Có quy chế tổ chức và hoạt động của nhà trường đảm bảo triển khai ngành đăng ký đào tạo
Không vi phạm các quy định hiện hành về tuyển sinh, tổ chức và quản lý đào tạo, … trong thời hạn 3 năm tính đến ngày nộp hồ sơ đăng ký mở ngành
Ngành đăng ký phù hợp với quy hoạch phát triển nguồn nhân lực của ngành, địa phương, vùng và quốc gia
b. Hồ sơ đăng ký mở ngành đào tạo trình độ đại học, trình độ cao đẳng (03 bộ)
Trang 7- Tờ trình đăng ký mở ngành đào tạo của cơ sở đào tạo
- Đề án đăng ký mở ngành đào tạo trình độ đại học, trình độ cao đẳng
- Biên bản thông qua đề án đăng ký mở ngành đào tạo trình độ đại học, trình độ cao đẳng của Hội đồng Khoa học và Đào tạo của cơ sở đào tạo
- Biên bản kiểm tra và xác nhận các điều kiện về đội ngũ GV cơ hữu, trang thiết bị, thư viện phục vụ đào tạo ngành đăng ký đào tạo của sở giáo dục và đào tạo địa phương
- Biên bản thẩm định chương trình đào tạo của Hội đồng thẩm định chương trình đào tạo của cơ sở đào tạo đối với trường hợp cơ sở đào tạo được phép tự thẩm định chương trình đào tạo hoặc của một cơ sở đào tạo do Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ định trong trường hợp cơ sở đào tạo không được phép tự thẩm định chương trình đào tạo
c. Quy trình xem xét mở ngành đào tạo trình độ đại học, trình độ cao đẳng
Sau khi thực hiện xong theo Sơ đồ: Quy trình xem xét mở ngành đào tạo trình độ đại
học, trình độ cao đẳng, cơ sở đào tạo (CSĐT) đăng ký mở ngành đào tạo trình độ đại
học, cao đẳng gửi Hồ sơ đến Bộ GD&ĐT Việc xem xét các hồ sơ này được thực hiện vào tháng 3, 6, 9 và 12 hàng năm
- Nếu hồ sơ đảm bảo các điều kiện và đạt yêu cầu, trong thời hạn 30 ngày làm việc
kể từ ngày mùng 1 các tháng trên, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ra quyết định mở ngành
- Nếu hồ sơ đảm bảo các điều kiện nhưng vẫn còn 1 số nội dung cần phải hoàn thiện, trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày mùng 1 các tháng trên, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT thông báo bằng văn bản cho CSĐT những nội dung cần hoàn thiện Trong thời hạn 15 làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đã hoàn thiện của CSĐT nếu đã đáp ứng được các yêu cầu thì Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ra quyết định
mở ngành
- Nếu hồ sơ chưa đáp ứng được các điều kiện, trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày mùng 1 các tháng trên, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT thông báo bằng văn bản kết quả thẩm định, tình trạng hồ sơ và đề nghị CSĐT tiếp tục chuẩn bị các điều kiện Trong trường hợp cần thiết, Bộ GD&ĐT sẽ tổ chức thanh tra, kiểm tra và thẩm định lại CSĐT
Trang 8Sơ đồ: Quy trình xem xét mở ngành đào tạo trình độ đại học, trình độ cao đẳng
Qui định điều kiện, hồ sơ, qui trình mở ngành đào tạo, đình chỉ tuyển sinh, thu hồi quyết định mở ngành đào tạo trình độ đại học, trình độ cao đẳng
1 Trình tự thực hiện
+ Cơ sở đào tạo gửi 03 bộ hồ sơ về Sở GD&ĐT nơi trường đặt trụ sở đề nghị kiểm tra thực tế và xác nhận các điều kiện về đội ngũ giảng viên, trang thiết bị phục
vụ đào tạo, thư viện của cơ sở đào tạo
2 Cách thức thực hiện + Trực tiếp tại trường đại học hay trường cao đẳng có
nhu cầu mở mã ngành đào tạo mới
3 Thành phần hồ sơ
Số lượng 03; bộ Hồ sơ gồm:
+ Tờ trình mở ngành đào tạo;
+ Đề án đăng ký mở ngành đào tạo trình độ đại học, cao đẳng;
+ Biên bản thông qua đề án mở ngành đào tạo của Hội đồng Khoa học và Đào tạo của cơ sở đào tạo
4 Thời hạn giải quyết + Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp
lệ
5 Đối tượng thực hiện thủ tục + Cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng
6 Cơ quan thực hiện thủ tục
+ Cơ quan có thẩm quyền quyết định: Bộ Giáo dục và Đào tạo;
+ Cơ quan trực tiếp thực hiện thủ tục hành chính: Phòng Giáo dục thường xuyên - Giáo dục chuyên nghiệp, Sở GDĐT
7 Kết quả thực hiện thủ tục + Biên bản kết luận đủ điều kiện mở mã ngành đào tạo
mới
8 Lệ phí + Có, chi trả theo qui định hiện hành
9 Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai + Mẫu biên bản Phụ lục vi;
+ Năng lực của cơ sở đào tạo theo Phụ lục iii
10 Yêu cầu, điều kiện thực hiện
+ Theo Điều 2 Điều kiện được xem xét để mở ngành đào tạo trình độ đại học và Theo Điều 3 Điều kiện được xem xét để mở ngành đào tạo trình độ cao đẳng
11 Căn cứ pháp lý của thủ tục
+ Thông tư số 08/2011/TT-BGDĐT ngày 17/02/2011
về Qui định điều kiện, hồ sơ, qui trình mở ngành đào tạo, đình chỉ tuyển sinh, thu hồi quyết định mở ngành đào tạo trình độ đại học, trình độ cao đẳng
III/ Định nghĩa, mục tiêu, phương pháp của Đánh giá định kỳ & Đánh giá tổng kết:
Trang 91.Đánh giá định kỳ:
a) Khái niệm:
-Đánh giá định kỳ được tiến hành nhiều lần trong chương trình học nhằm cung cấp những thông tin ngược, qua đó kịp thời điều chỉnh cách dạy và cách học, ghi nhận kết quả từng phần để tiếp tục thực hiện chương trình một cách vững chắc
-Là hoạt động nhằm giám sát, đánh giá kết quả học sau từng giai đoạn học tập và rèn luyện, từ
đó góp phần điều chỉnh việc thực hiện chương trình học hiện hành và tạo cơ sở thực tiễn cho việc phát triển chương trình học tiếp theo
b) Mục đích:
-Xem xét mức độ đạt chuẩn kiến thức, kỹ năng, năng lực của SV theo chương trình hiện hành đối với các môn được khảo sát tại thời điểm khảo sát và các nhân tố tác động đến kết quả học tập -Tạo cơ sở cho hoạch định chính sách phát triển chương trình học
c) Phương pháp:
Sau một thời kỳ theo chương trình học sẽ:
- Sử dụng hình thức bài kiểm tra viết
- Các câu hỏi kiểm tra sẽ kết hợp giữa hình thức trắc nghiệm và tự luận
2.Đánh giá tổng kết:
a) Khái niệm:
-Là đánh giá toàn diện một chương trình học bao gồm điều kiện thực hiện chương trình, nhu cầu khách hàng, quá trình, và kết quả giảng dạy
-Là phán đoán giá trị về thành quả cuối cùng của một chương trình học, nó cũng coi mục tiêu giáo dục được dự đoán trước làm tiêu chuẩn cơ bản, đánh giá mức độ đạt được mục tiêu của đối tượng đánh giá, tức là thành tựu hoặc thành tích cuối cùng
Nó vốn có tính chất kiểm nghiệm sự việc sau khi xảy ra, chỉ nhìn vào kết quả cuối cùng, không quan trọng đến việc kết quả này hình thành như thế nào
b) Mục đích:
- Cung cấp thông tin cho những người ra quyết định đánh giá giá trị của chương trình từ đó có thể đưa ra quyết định tiếp tục sử dụng, chấm dứt, mở rộng hay chấp nhận chương trình
- Tạo điều kiện cho việc trả lời câu hỏi liệu tổ chức nhà trường có đang thực sự thực hiện chương trình phù hợp nhằm mang lại những kết quả mong muốn không Kết quả là lợi ích đối với sinh viên thường thể hiện ở việc các em được nâng cao kiến thức, nhận thức, thái độ hoặc kỹ năng c) Phương pháp:
Trang 10-Được tiến hành bằng những kỳ thi nhằm đánh giá tổng quát kết quả học tập, đối chiếu với
những mục tiêu đã đề ra Ưu điểm của loại đánh giá này là dễ tiến hành, cũng khá khách quan,
mọi người dễ tin phục
2 Phân biệt Đánh giá định kỳ với Đánh giá tổng kết chương trình học:
Đánh giá định kỳ và Đánh giá tổng kết chương trình học không khác nhau về phương pháp luận
và logic cơ bản, cả hai đều được sử dụng để khảo sát giá trị của một đơn vị nào đó.Thông tin thu thập trong đánh giá đinh kỳ có thể được sử dụng trong đánh giá tổng kết.Tuy nhiên, cũng có
những điểm khác nhau:
Mục đích
đánh giá
- Không phải là chấm điểm hay cấp chứng chỉ
mà nhằm định hướng tập trung vào những nội
dung cần thiết để có thể làm chủ được kiến
thức
- Đánh giá/đo đếm được chất lượng chương
trình học tại một thời điểm trong quá trình diễn
ra chương trình nhằm mục đích báo cáo; trách
nghiệm giải trình
- Thúc đẩy, hỗ trợ sự tiến bộ, đổi mới chương
trình học theo từng giai đoạn
- Khái quát hơn, nhằm vào kết quả mà chương trình học đạt được sau toàn bộ khóa học, hoặc phần lớn khóa học
-Đánh giá chương trình học sau khi hoàn thành
- Thúc đẩy sự tiến bộ, đổi mới chương trình học mới được rút ra khi hoàn thành chương trình học cũ
Thời gian -Tiến hành trong quá trình diễn ra chương trình
học Các bài kiểm tra định kỳ được tiến hành
ngay sau khi SV được làm quen với một kĩ năng
hay một khái niệm mới, một phần của chương
trình học
-Một hoạt động sau chương trình học, đánh giá khả năng vận dụng hàng loạt các kĩ năng và các khái niệm, tính khái quát cao
Ví dụ
phương
pháp
- Sử dụng những phiếu đánh giá với SV;
- Học sinh tự đánh giá bản thân;
- Các chu kỳ đánh giá ngắn
- Các bài thi thành tích;
- Các bài thi cuối năm
Ví dụ phương pháp - Sử dụng những phiếu đánh giá với SV;
- Học sinh tự đánh giá bản thân;
- Các chu kỳ đánh giá ngắn - Các bài thi thành tích;
- Các bài thi cuối năm
3 Quy trình để thực hiện một đánh giá tổng kết hay một đánh giá định kỳ:
*Để thực hiện Đánh giá tổng quát chương trình học cần: