76.BÀI 13 góc nhìn: Người được đào tạo như là một "sản phẩm” của trường ĐH, học giả Havey 1995 đã hệ thống đến thành năm quan điểm về chất lượng, trong đó có nhiều quan điểm mà chúng ta
Trang 174.BÀI 13
Về quy mơ và
chất lượng GDĐH Việt Nam
[ “Tuổi trẻ Chủ nhật ”, 2002]
Hiện nay cĩ một số ý kiến cho rằng, chất lượng giáo duc đại học (GDDH) dang xuống cấp, đo vậy cân "hạn chế việc mở rộng quy mơ
để củng cố chất lượng Cĩ»thể nĩi: Nhu cầu, do đĩ là quy mơ, và sự hạn chế kinh phí, do đĩ là việc “giảm sút chất lượng”, là hai vấn đề lớn của GDĐH ngày nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam Tuy
nhiên, cĩ phải “hạn chế việc mở rộng quy mơ để củng cố chất
lượng” là một định hướng cĩ tính giải pháp chiến lược ?
Như cầu và quy mơ của GDĐH
Ngày nay ạ cũng hiểu, GDĐH phục vụ tốt cho phát triển kinh tế,
phát triển xã hội nĩi chung cũng như cho sự phát triển của mỗi con
người nĩi riêng Trên phương diện kinh tế quốc gia, kinh nghiệm cho thấy, GDĐH phải chuyển sang nền GDĐH đại chẳng với tỷ lệ
sinh viên (SV) trong độ tuổi trên 15% là bước đi tất yếu để quá độ
từ một nền kinh tế nơng nghiệp sang một nền kinh tế cơng nghiệp
Và, GDĐH phải chuyển sang nên GDĐH phổ cập (universal) với
tỷ lệ SV trong độ tuổi trên 50% cũng là bước đi tất yếu để nền
kinh tế chuyển sang nền kinh tế tri thức và xã hội thơng tin Trên phương diện xã hội và cá nhận từng con người, “Phát triển con người ngày nay được hiểu là “Mở rong’ kha năng và sự lựa chọn
của họ”; : con người khơng chỉ là “phương tiện” (Means) mà cịn là
“mục 'đích tự thân” (Ends) của sự phát triển Vì vậy, đi học cịn lä
để thoả min hiểu biết và là quyền của con người
Từ đĩ, nhu cầu u GDĐH bùng nổ Ngay trong thời kỳ khủng hoảng
dầu mỏ và tỷ lệ thất nghiệp cao ở những năm 80 của thế kỷ trước,
nhiều nước phương Tây đã dự báo quy mơ GDĐH sẽ giảm đi,
"
Trang 2VỀ QUY MÔ VÀ CHẤT LƯỢNG 75
nhưng thực tế sau đó quy mô GDĐH vẫn tiếp tục tăng và thậm chí
còn tăng nhanh hơn ở những năm 70, vượt qua mọi dự kiến của
các nhà chiến lược Ở các nước trong vùng trước đây, khi tỷ lệ SV trong độ tuổi còn thấp (dưới 10%), để thực hiện công nghiệp hóa,
họ đã có tốc độ tăng SY trung bình hàng năm rất cao: thời kỳ 1970-1980 là 20% ở Hành Quốc và Malaysia, thời kỳ 1980-1990 là 14,8% ở Hàn Quốc, 13,3% ở Malaysia và 12, 4% ở Singapore Ở Trung Quốc mấy năm qua, có năm tốc độ tăng SV đến: 50% Nhĩn chung, tốc độ tăng tỷ lệ SV thường lớn hơn tốc độ tăng GDP
Ở, nước tạ cũng có hiện tượng bằng, nổ SĨ số trong 10 năm qua với tac dg ting binh quan khoảng 18% năm Đây là một điều tất yếu Tất yếu là do, ngoài những nguyên nhân chung như đã nói ở trên, GDDH Việt Nam đã bị hạn chế trong suốt gần 30 năm chiến tránh Tuy vậy, tỷ lệ SV trong độ tuổi hiện nay ở nước ta cũng: chỉ khoảng 9% vé mat phát triển kinh tế, để có thể có một nên kinh
tế công nghiệp vào năm: 2010 với tỷ lệ SV trong độ tuổi khoảng
15%, tốc độ tăng SV phải xấp xỉ 9% năm: Khi đó là lệ SV trên ]
Còn về mặt “phát triển con người ”, hạn chế quá mức việc mở rộng quy mô GDBN cũng có nghĩa là “ ‘han chế” việc nới rộng cái vòng
“thất cổ chai” trên con đường đi của tuổi trẻ từ GD tr ung học phổ thông (THPT) sang GD “sau THPT” (“Post Secondary Education”,
và thế gIỚI BỌI, chung là ĐH) Hiện nay, hàng năm Có lẽ chỉ có khoảng dưới 1/3 số học sinh tốt nghiệp THPT của Việt Nam được
tiếp tục học sau PTTH Vậy còn khoảng trên dưới 400.000 “cô Tú
cậu Tú” mới, không chút hành trang nghề nghiệp Sẽ bước vào đời
như thể nào? Xin nhắc lại, 400.000 là con số hàng năm Một phan
của con số š đó sẽ được tích lũy lại theo thời gian
Về chất lượng GDĐH
Khi GĐĐH bùng nổ, ở tất cả các nước cũng như ở Việt Nam đều
có vấn để về chất lượng Nhưng chưa tìm thấy tài liệu nào trên thế
giới nêu lên giải pháp chiến lược là hạn chế việc mở rộng quy mô
để củng cố chất lượng Tuy nhiên, trở ngại đầu tiên khi nói về chất
lương GDĐH là: nó chưa được đỉnh nghĩa môt cách rõ rằng Theo
Trang 376.BÀI 13
góc nhìn: Người được đào tạo như là một "sản phẩm” của trường
ĐH, học giả Havey (1995) đã hệ thống đến thành năm quan điểm
về chất lượng, trong đó có nhiều quan điểm mà chúng ta còn chưa quen như: "Giá trị để làm ra lợi ích” (Value for money), “Khả năng thay đổi từ trạng thấi này sang trạng thái khác”
(Transformation), v.v Thậm chí còn có quan điểm: Chất lượng là
“Giá trị bổ sung” (Value added), nghĩa là chất lượng đo bằng
“mức độ cải thiện năng lực, kỹ năng và chất lượng cuộc sống của người học” Trong thực tế người tạ thường phải phối hợp tất cả các quan điểm nói trên và tuỳ theo từng loại trường ĐH mà quan điểm này hay quan điểm khác được nhấn mạnh Quan điểm tương đối
phổ biến nhất và được chấp nhận nhiều nhất trong GDĐH ngày
nay là “Phù hợp với mục đích” (Fitness for Purpose)
Khi chuyển nền GDĐH từ "tỉnh hoa” sang “đại chúng” và nâng cao tỷ lệ SV trong độ tuổi, “chất lượng” bình quân của cả nền GDPH như-có giảm xuống là điểu đương nhiên Trước hết là ve
với số đông: tài năng, tư chất, chất lượng đào tạo ở THPT v.v
không còn giống như trước Ví dụ, trình độ trung bình của nhóm
chon 9% trong số thanh niên ở độ tuổi để vào ĐH như hiện nay
đương nhiên phải thấp hơn trình độ trung bình của nhóm chọn 2%
trước đây Hoặc trình độ trung bình của nhóm chọn 25% trong số
học sinh tốt nghiệp PTTH để vào ĐH như hiện này đương nhiên
phải thấp” hơi trình độ trung bình của nhóm chọn 5% trước đây (Kể cả phía: thay | gido gums vay) ‘6 Anh, khi GDDH chi chon 0,5% trong số người từ 18 tuổi trở lên, “chỉ số thông minh” IQs trung bình của nhóni SV này là xấp xÏ 150; nhưng khi GDĐH chọn đến
30% trong số người từ 18 tuổi trở lên, chỉ số IQs trung bình đã
giảm xuống cồn 115 (Tất nhiên; chỉ số IQs mới chỉ là một mặt của
vấn đề) Mặt khác, “chất lượng” của tầng SV piỏi nhất trong GDPH đại chúng lại cao hơn “chất lượng " của ting SV nay trong GDPH tỉnh hoa trước dây Sự thay đổi lã: “phổ chất lượng” ngày
nay rộng hơn và kéo dài hơn về phía dưới so với trước
Do đó, có lẽ không cần phải tránh né thực tiễn này, không cần
phải e dè nói: “Chất lượng GDĐH đang được nâng dần trên một số
»
Trang 4VỀ QUY MÔ VÀ CHẤT LƯỢNG 77
mặt”, nhưng cũng không thể nói: “Sự tụt hậu của hệ thống GDĐH
so với chính chúng ta trong những thập kỷ trước "
Củng cố chất lượng trong GDĐH đại chúng
Với nền GDĐH cho số đông, nhiều nước trên thế giới cũng đã từng lúng tứng trước vấn để chất lượng giảm thấp trong nhiều thập
kỷ Một số nước vẫn cứ muốn ĐH là “tinh hoa” như nhau và sứ
mệnh: của ĐH vẫn phải là kết hợp đào tạo chất lượng cao với
nghiên cứu khoa học như ĐH kiểu truyền thống trước đây Thực tế cho thấy, gần như không một nude nào thiết lập được một hệ thống nhự vậy, ngay cả khi có nguồn tài chính phong phú Có thể xem Pháp và Moroco những năm 60 là những điển hình sai lâm của xu thé nay
Với nền, GDDH cho so đông, con đường “củng cố chất lượng” thường được đi theo những hướng sau đây: Thứ nhất là thay đổi mục đích trong các chương trình của GDĐH Vấn để chất lượng và
số lượng phải gắn liền với mục đích của từng chương trình Thứ hai
là đa dạng hóa trình độ và chất lượng, thực hiện “phân tang” (Stratification) Nghia 14, mét hé thống GDĐH có cả chương trình
“hướng về nghiên cứu” (research-oriented) và nhiều chương trình
“hướng :về GD nghề nghiệp” (Vocational / Technical) ở nhiễu
mức trình độ Thứ ba là đa dạng hóa loại hình đào tạo, hình thức sở
hữu và đặc biệt là nguồn kinh phí đào tạo Như đã nói ở trên, cái gốc của vấn dé chat Jugng còn lã sự hạn chế kinh phí Đạ số doanh nghiệp Việt Nami con 'có hiệu quả kinh tế rất thấp Họ không thể trả cho công nhan 100 đồng thì có thể đóng góp cho Nhà nước 40 -
50 đồng như ở một số nha nước Châu Âu phúc lợi GDĐH Việt Nam do đó, có lẽ không thể chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước
để phát triển, cho dù tỷ lệ dành cho GD là 20%, 25% đi nữa Mặt
khác, cũng cần lưu ý là: trong GDĐH truyền thống, chí phí đào tạo thêm, bổ sung (MC ~ Marginal Cost) xấp xỉ chí phí đào tạo trung bình (AC - Average Cost) Nhung khi dao tao “dai tra”, chi phi
MC nhỏ hơn nhiều chi phí AC Vĩ vậy, kinh phí hay: nguồn tài chính bổ sung khi gia tăng số SV sẽ thấp hơn nhiều so với chỉ phí
trung bình
Trang 578.BÀI 13
GDĐH Việt Nam trong thập niên qua rõ ràng đã có sự giảm sút về
mặt “chất lượng” trung bình, cho dù chất lượng còn chưa được
định nghĩa một cách rõ ràng Su g gidm Sút này, ngoài “phần đương
nhiên” như đã nói ở trên, đáng tiếc một phần lại do những khuyết
điểm chủ quan không đáng có Có thể nếu lên một số ví dụ sau đây:
Chậm đổi mới chương trình đào tạo va dé một số chương trình có chất lượng đầu vào thấp vẫn học theo chường trình đảo tạo và nội dùng, môn học của trường ĐH kiểu truyền thống trước đây i vay, sinh ra vấn để “khong thich hợp”, do đó hiệu qua cũng như chất lượng 8 của dao tạo thấp
Đã buông lỏng một số mắng về quần nly GDPH trong một thời gian tương đối dài Ví dụ, mặc dù Bộ vẫn phân phối chỉ tiêu đảo tạo
nhưng đã để:mất: cân đối lớn trong hệ thống cả về ngành nghề,
vùng miễn, trình độ v.v
Chưa sớm cập nhật được những xu thế tiến bộ'về GDĐH Ví dụ
như chưa đưa được nội dung phat triển “năng lực xã hội ” (Social
Competence) vào nội dung đào fạo nhằm tạo ra “vốn xã hội” Đó
lầ nguồn nhân lực, mức độ đoàn kết xã hội và tính thần sẵn sàng
hành động vì những điều tốt đẹp Nội dung này sẽ làm “đối trọng ”
với sự tăng lên của chủ nghĩa “cái tôi” (“Me-first-Ltd”,
“Egotentric ¬ "
i
Tóm lại, cọn đường : củng cố ' chất lượng đào tạo GDĐH cho số
đông ngày nay chủ yếu là việc tổ chức “phân tầng” 'nền GDPH để
có một “phổ” về cấp độ chất lượng đi: kèm với các “chuẩn khơa học ” (Academic Standards) phù hợp với mục đích và thực hiện đa dạng hoá GDĐH Đây ( còn là su hợp lý nếu xét về phía cơ cấu nền kinh tế, ‘cd cau nguồn nhân lực cũng như mục đích tự thân cửa sự phát triển GDPH ‘Vay phải chăng, đổi mới quan niệm GDDH va cung € cách quản lý mới là g giải pháp chiến lược để vừa có thể củng
cố chất lượng vừa mở rộng quy mô một cách thích hợp nhằm phục
vự sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước và thỏa mãn nhu cầu học
tập t chính đáng c của a nhân din? =
Trang 64 ĐỀ NGHỊ VỀ TUYỂN SINH DH 79
5 Đề nghị
về tuyển sinh dai học:
[Tạp thí “Tia sáng ”,2002] ˆ
MỤC TIÊU - YÊU CẦU CỦA TSĐH VÀ CÔNG TÁC TSĐH
se Về phía quốc gia có thể có các mục tiêu - yêu cầu sau đây:
+ Thứ nhất, lựa chọn cho được những thí sinh có hăng ‘luc thich hop hon vào ĐH nhằm góp phần, “đầm bio chat lượng "` và hiệu
_ qua lẩu dài của nên 'GDĐH; - `
+ Tht hại, TSĐH phải, góp phan diễu chỉnh sự mất cân đối lớn , "hiện nay vé trinh độ, ngành nghề, vùng miền từ đó, mot mặt
=8 góp phan nắng cao hiệu quả của hệ thong GDPH, mặt khác góp phần làm giảm bớt mất công bằng xã hội;
+ Thứ ba, phải đảm bảo “ “sự công bằng ` về cơ may”; F
+ Thứ tư, đảm bảo an toàn và an ninh trong quá trình tổ 'chức TSĐH, hạn chế tiêu cực trong 5 TSĐH „,
+ Thứ năm, hạn chế những tốn kém không cần thiết hoặc vô ích
° về phía người dân, phía thí sinfi -có thể cỗ các mục tiêu; - yêu
+ Thứ nhất và trước hết là có được một chỗ ở DH ở đây cling
edn lưu ý là, nếu chỉ tiểu của Nhà nước lấy 25 % chẳng hạn thì , Cứ 100 thí sinh sẽ có 25 thi sinh đỗ, 75 thi sinh rớt không phụ
ˆ thuộc ve vào cách tổ chức hạy phương thức thị tuyển
+, Thứ, hai là chon được một ngành nghề mà Tình ưa thích và nghĩ rằng sẽ dễ xin được việc làm, có điểu kiện phát triển , sau khi tốt nghiệp
+ Thứ ba là được đối xử công bằng về cơ máy và thuận tiện trong
Trang 780.BÀI !4
Một số mục tiêu này, zùng các giải pháp để “kết nối” hai nhóm mục tiêu trên, thường “mâu thuẫn” nhau, ví dụ giữa việc chọn
được người có năng lực thích hợp hơn và công bằng xã hội, giữa
cân đối vùng miền và công bằng về cơ may
Nếu đối chiếu các mục tiêu - yêu cầu nói trên với thực trạng công
tác TSĐH vừa qua có thể rút ra một số nhận xét sau:
+ Việc tổ chức thi chung một để đã tạo thêm cữ sở cho v việc tổ chức thi an toàn, nâng cao chất lượng để thi, xây dựng được một
mặt bằng chung, thuận lợi cho việc thống kê đánh giá, đặc biệt
là thuận lợi cho việc chọn được thí sinh có năng lực thích hợp hơn vào PH
+ Tuy nhién việc giao chi: tiêu cho các trường ĐH theo con số tổng cộng cũng như việc quy ‹ định trước điểm ưu tiên ving mién (cộng
thêm Í điểm, 2 điểm) có lẽ không thể kiểm soát được các kết quả
và từ đó hong gop phan hiệu chỉnh được sự mất cân đối quá lớn hiện nay về cơ cấu của hệ thống và công bằng xa hội Đặc biệt việc "đưa ra tr ước các con số “Chon nguyén vong 1 nhiều nhất là
80%" (nghĩa la có thể chón 60%, 70% WWV ), đưa thêm nguyện
vọng bổ sung v.v tuy xuất phát từ ý tưởng tốt là để chọn người có
_ năng lực thích hợp hơn vào ĐH nhưng thiếu cơ sở khoa học và còn
"dẫn đến việc thiếu công bằng về cơ may, “Luật chơi được đưa ra sau khi đã xây ra cuộc chơi là có thể nảy, sinh tiều cực
+ Cách tuyển vừa qua cũng đã dẫn đến kết quả n mà ai cũng thấy, không ít thí sinh 12 điểm thì rớt mà 7-8 điểm lại đỗ Điều đó có
nghĩa, mục tiêu 11a quan trong nhưng không đạt được
+ Về mặt chỉ phí, vừa quả công SỨC của ‘ed quan 'Bộ GD&ĐT, của lãnh đạo | cic trường | ĐH, của thí siñh và của cả các phóng viên
"báo chí bd’ ra cho TSĐH là quá lớn Công sức này khó lòng mà tính được bằng tiễn bac Những 'có lẽ, nó lỡn hơn so với tất cả các con SỐ chỉ phí của những kỳ TSBH trước đây, nếu tính theo
“chỉ phí cơ hội”
5 ĐỀ NGHỊ VỀ TSĐH
Vừa qua, Bộ GD&ĐT đã đưa ra “Bản thăm dò ý kiến về TSĐH” Thiết nghĩ, bản thăm dò này đã đặt vấn để dựa trên phương thức
^"
Trang 85 ĐỂ NGHỊ VỀ TUYỂN SINH ĐH 8]
TSĐH năm 2002 và chỉ cải tiến kỹ thuật để phục vụ cho TSĐH năm 2003, chưa thấy những câu hỏi cơ bản như: Có nên thi “Trắc
nghiệm khách quan” hay không? Làm sao để góp phần giải quyết
bài toán cân đối hệ thống, sự công bằng về cơ may, v.v Hệ quả
của GDĐH thường có “độ trễ” khá dài Vì vậy, dưới đây, xin nêu
ra 5 đề nghị có tính cơ bản và dài hạn hơn
Đề nghị 1: TỔ chức thi-một đề chung theo phương pháp “trắc nghiệm khách quan” (TNKQ) ngay trong kỳ thi TSĐH năm 2003
Hiện nay ai cũng rõ, TNKQ có ứu điểm là: a) Chọn đúng hơn
những thí sinh có năng lực thích hợp; b) Bio đảm được tính khách quan như chính tên gọi của phương pháp, tạo thêm sự bình đẳng
về cơ may; và c) Giảm được chỉ phí thời gian, tiễn của của xã hội: Điều lo lắng về “yếu thế” của TNKQ là khó đánh g giá được kha
năng tư dủy, sáng tạo và diễn đạt Về hạn chế này, có thể cớ ba lý giải để chấp nhận: q) Gó thể chấp nhận được cho' nền GDPH đại trà, (2) Thực tế việc ra để, chim thi’ Viva qua cũng không đáp ứng
được mấy việc đơ đạc các kha năng này (Một số nghiên cứu cho
thấy, hệ số tương quan giữa kết quả của TSĐH và của học tập ở
ĐH rất thấp, như có thể bỏ qua được) và (3) Có thể khắc phục
bằng câu hỏi nhiều lựa chọn dạng “Lập luận đánh gid” (Critical
Reasoning) và một số câu “hỏi tự luận ở dạng xử lý phân tích” (Analytical writing Assessment)
Các nước xung quanh ta như Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, cũng đã tuyển sinh chủ yếu bằng TNKQ Chúng ta cũng đã thí điểm và cũng đã có những bước chuẩn bị từ 1996 Khó khăn chủ
yếu là ở việc ra để thi, chuẩn bị ngân hàng câu: hỏi Thiết nghĩ việc thi chung một đề và tổ chức thống nhất từ Bộ GD&ĐT đã tạo
được thuận lợi cơ bản cho việc: này Còn với thí sinh, có thể tổ chức luyện tap cho ho vé TNKQ trong ba bốn tuần ‘hoe tap là đủ Ngoài ra, khi đồ còn có thể tổ chức thi ở nhiều tr ung tâm hơn
Đề nghị 2: Bộ GD&ĐT giao chỉ tiêu cho các trường ĐH theo cả tổng số và :cả nhóm ngành, vùng miễn, đối tượng.' Giao việc xét
tuyển cho các trường ĐH.
Trang 982.BÀI 14
Chỉ có như vậy mới thực hiện được mục tiêu hiệu chỉnh cơ cấu của
hệ thống và bài toán công bằng xã hội, không thể dùng cách quy định trước điểm chênh lệch giữa các đối tượng và khu vực để giải quyết bài toán trên (còn có thể gây thêm sự mất cân đối)
Khi đó, các trường ĐH thông báo trước cho thi sinh số lượng định tuyển theo nhóm ngành, vũng miền, các nhóm đối tượng, khối thi tương ứng và những môn có nhấn hệ số, nếu có Sau khi có kết
quả th chung, các trường ĐH dựa vào thống kê của Bộ để ước
lượng “điểm :sàn” của trường mình theo từng nhóm chỉ tiêu
(khoảng 1,5 lần số-chỉ tiêu) và công bố,để thí sinh nộp đơn vào
theo nguyện vọng của mình (có thể có 2-3 nguyện vọng nhưng bị hạn chế bởi * "điểm Sản) = tr ường có thể tổ chức thêm một kỳ
này, Từ đó, -trường ] ;ĐH lựa chọn thí sinh theo thủ tục từ trên xuống
(mà, không phải „: 'Xét?) theo từng, nhóm chỉ tiêu ,Điểu này có
nghĩa, giao chỉ tiêu và tổ chức thi tuyển là việc của Bộ GD&DT,
còn việc tuyển chọn: cu thé là việc của các trường ĐH; Với thi sinh, nguyện vọng sẽ được xác định sau khi có kết quả thi -
Đề nghị 3: Tổ chức hai kỳ thì ĐH, mỗi kỳ dầu có cả 'tác khối
A, B, iC, Diva miột kỳ thi: bào cao dig va ir ung 'học chuyên nghiệp - ©
C6 lẽ không nên ngại Việc ‘thi sinh dự thi 2 3 lần (trước đây đến 5-7 lần lại là quá đáng) Thường thì một người cổ một năng khiếu hoặc một sở thích liên quan đến một khối thi: A hoặc B, ho§ẻ C,
hoặc D vä với mỗi hgười nến tạo cho hộ ít nhất là hai cơ hội, để tránh những trường hợp họ gặp phải bất trắc hoặc gặp phải một
ngày không máy mắn: Vả lại, đây cũng là điều kiện để cải thiện mục tiêu 1, chọn những người có năng lực thích hop hon vao ĐH NgôÀi ra, GBBH được hié ra GD sau trung hoc phổi thông
(THPT) VÀ nền 'GDPH Viet Nant, đã từng bước chuyển sang nền GDPH ‘ 'đại trà” nên tất yếu buộc phải tổ chức theo kiểu “phân lớp” (Stratification) Với cao đẳng và THCN, đương nhiên là nặng
về dạy nghề / kỹ thuật Năng lực yêu cầu và do đó thí sinh có năng
lực thích hợp ở đây có phần khác so với ở ĐH 4 năm (không giải quyết việc này qua việc bỏ bớt một số câu hỏi trong để thi chung
»
Trang 105 ĐỂ NGHỊ VỀ TUYỂN SINH ĐH, 83
hiện nay) Hơn nữa, đây cũng là để mở rộng thêm cơ hội dự tuyển cho thí sinh
Đề nghị 4: Nghiên cứu và chuẩn bi trong 2 3 năm n để sở dụng kết
quả kỳ thi tot † nghiệp PTTH vào TSDH geek
Việc này cần nghiên cứu thêm, nhưng có thể cho rằng đây lầu một giải pháp tương đối hợp lý Thỉ tốt nghiệp PTTH là cuộc “rắc nghiệm thành quả”, con TSDH là để chọn những người có khả năng | thích hợp hơn, có ít nhiều mau sic “trắc nghiệm năng lực”
Đề thi tốt nghiệp cần “chú, trọng hơn về “độ khó ó” thích hợp để đáp ứng yêu cầu đả tr ink độ, còn đề thi TSDH cần chú trọng, hơn “độ phân biệt” để thấy TỔ SỰ tương - phẩn kết quả giữa các nhóm thí sinh Tuy vậy, trong thực tế hiện nay sự khác nhau này gần như không, có Hẹn nữa có lẽ cả hai ky thi déu nên tổ chức co tinh chất quốc gia và theo phương thức TNKQ do Bộ GD&DT thống nhất tổ chức Vì vậy, có thể sử dụng kết quả kỳ thi tốt nghiệp PTTH dé thực hiện TSĐH nhằm giảm đi những “vất vả" không cần thiết, Việc này cũng sé tao được Sự chủ động hơn cho các trường ĐH, cho cả thí sinh khi ghỉ nguyện vọng và dễ giải quyết bài, toán cân đối cơ cấu ngành nghé,, :vùng miễn, trình độ và tạo thêm bình đẳng
VỀ CƠ may Tat nhiên việc ra đề thi càng khó hơn (câu hỏi thi phải
gom được hai yêu cầu trên)
Khi đó thủ tục tuyển chọn của các trường cũng giống như ở Đề nghị 2 nhưng không còn tuyển chon’ theo khối A,B, iC, D nữa mà các trường ĐH chỉ cần công bố trước số môn chọn vào trường mình trong số 6 môn thi tot nghiệp THPT Ngo ài ra, cần cổ những trung tâm khảo: thí để hàng n năm Có thể đổ chức thêm mot số đợt thi TNKQ một số môn học có yêu cầu để thí sinh cải thiện' điểm nhằm đủ quyền nộp đơn vio các trường ĐH sau đó (ở Mỹ có 4 ký thi tương tự hàng năm)
Đề nghị 5: Tổ chức xây Nhi đề án TSĐH theo kiểu “bài toán da tiêu chí” và có sự tham gia của cộng đồng "