Hiệp hội tổ chức công nghiệp phi chính phủ có liên quan về vấn đề sở hữu trí tệ ước tính trên cơ sở thực tiễn và số liệu thống kê trong vi phạm bản quyền rằng sản phẩm làm giả và bất hợp
Trang 1VIETNAM NATIONAL UNIVERSITY
HO CHI MINH CITY UNIVERSITY OF TECHNOLOGY
FACULTY OF COMPUTER SCIENCE AND ENGINEERING
FINAL REPORT
Đề Tài Môn h
Software Engineering
VIETNAM NATIONAL UNIVERSITY – HO CHI MINH CITY
HO CHI MINH CITY UNIVERSITY OF TECHNOLOGY
FACULTY OF COMPUTER SCIENCE AND ENGINEERING
FINAL REPORT
Tài: Software Piracy in Viet Nam Môn học: Công nghệ phần mềm
GVHD: Ngô Nguyễn Nhật Minh Thành viên nhóm B3H:
1) Nguyễn Chí Hải 2) Ngô Minh Huy 3) Nguyễn Thanh Hùng 4) Huỳnh Quốc Bảo 5) Lê Anh Duy
HO CHI MINH CITY FACULTY OF COMPUTER SCIENCE AND ENGINEERING
Software Piracy in Viet Nam
Trang 3Lời giới thiệu:
Chúng ta đang sống thời đại của kinh tế thị trường, với lưu lượng hàng hóa đang tải trọng trên thị trường rất lớn với nhịp độ phát triển kinh tế toàn cầu nói chung và với ViệtNam nói riêng.Nhiều sản phẩm đã được tạo ra với bao công sức về trí tuệ & kinh tế nhưng mặc trái của những sản phẩm như thế là những đối tượng đã trục lợi bằng cách sao chép hay sử dụng sản phẩm mả chưa được sự chấp thuận của những người tạo ra chúng Nhưng song song đó vẫn có những cá nhân tổ chức vì muốn thu lợi nhuận cao nhất cho riêng mình nên đã sử dụng trái phép tài nguyên của người khác, dẫn đến việc vi phạm bản quyền như hiện nay.Vậy câu hỏi đặt ra là việc bảo vệ quyền lợi của
người lao động ngày nay được quan tâm với mức như thế nào? Đó là một câu hỏi lớn cần được giải quyết song hành với sự phát triển của xã hội
Vì vậy, đề tài về vi phạm bản quyền đã được chúng em chọn Để chúng
em góp phần làm sáng tỏ những thực trạng của vi phạm bản quyền với
nguyên nhân vì đâu? Và những đề xuất được chúng em đưa ra để hạn chế và khắc phục những hiện trạng hiện nay như thế nào?
Nội dung tìm hiểu đề tài:
I.Thế nào là vi phạm bản quyền
II Nguyên nhân dẫn đến vi phạm bản quyền
i) Xét góc độ về luật
ii) Xét góc độ về kinh tế
iii) Xét góc độ về văn hóa, xã hội và con người
III Cách khắc phục
i) Về luật
ii) Về công nghệ
iii) Ý thức con người
I Thế nào là vi phạm bản quyền.
Trang 4Khái niệm : Vi phạm bản quyền là sao chép lại tác phẩm của người khác
mà không xin phép, thậm chí công bố công trình đó là của mình sáng tạo
ra
Cuối tháng 4, Liên minh Phần mềm doanh nghiệp (BSA) và hãng nghiên
cứu thị trường IDC đã tọa đàm về tình hình vi phạm bản quyền tại Việt Nam năm 2009
Theo đó, các đơn vị này cho rằng tỷ lệ vi phạm ở Việt Nam vẫn giữ mức
85% (bằng với năm 2007 và 2008) Đây là bản thống kê chi tiết
II Nguyên nhân dẫn đến vi phạm bản quyền
Nguyên nhân chính của sự không tôn trọng có nhiều và đa dạng, từ lòng
tham, hoàn cảnh bắt buộc, thiếu hiểu biết và có ý đồ vi phạm bất lương
đến cả lổi vô hình Mức độ cũng rất khác nhau từ việc sao chép 1 tác phẩm được bảo hộ tại nhà riêng đến 1 doanh nghiệp phạm tội có quy mô thương mại lớn, chế tạo hàng trăm nghìn bản sao bất hợp pháp
“Sở hữu trí tuệ - Kamil Idris,chương 9: Thực thi quyền sở hữu trí
tuệ,trang 300”
Trang 5Software Engineering
Xét gốc độ về luật:
Như chúng ta đã thấy luật pháp Việt Nam về vi phạm bản quyền vẫn còn quá lỏng lẻo Không có những chế tài nhất định về những hành vi vi phạm bản quyền, đó cũng là 1 trong những nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm bản quyền như hiện nay Các nhà chức trách không hoàn toàn quan tâm lắm về 2 chữ gọi là “bản quyền” mà các cá nhân tổ chức đã và đang sử dụng
Luật chưa mạch lạc & thiếu sự chặt chẽ:
Ví dụ: Một tác phẩm sẽ không bị xem là vi phạm bản quyền nếu nó là sự
tổng hợp có tính sáng tạo riêng từ nhiều hệ thống tác phẩm khác về ý (ý văn, ý nhạc, ý tưởng) Tuy nhiên, để kết luận rằng một tác phẩm là không hay có vi phạm bản quyền, trường hợp này, thường rất phức tạp và đôi khi phải có sự can thiệp của các luật sư và toà án
Sự liên kết của luật trong nước và quốc tế chưa rõ ràng:
Ví dụ: Sử dụng lại ý tưởng đã được công bố là sáng chế và bằng sáng chế
nguyên thủy vẫn còn đang trong vòng hiệu lực của luật pháp Ở đây cần lưu ý, một bằng sáng chế tại một quốc gia hay địa phương này, sẽ khó có thể dùng để chứng minh rằng: một ứng dụng nào đó (dựa trên sáng chế đó) tại một quốc gia khác là vi phạm bản quyền, trừ khi bằng sáng chế đó có sự công nhận của quốc tế
Sự thi hành luật còn lỏng lẻo & thời gian lại kéo dài:
Ví dụ: Nếu đăng ký nhãn hiệu hàng hóa sẽ được giải quyết trong vòng sáu
tháng Đăng ký kiểu dáng công nghiệp mất chín tháng và đăng ký sáng chế, giải pháp hữu ích mất 12 tháng
Xét về góc độ kinh tế:
Kinh tế quá khó khăn cũng mà mầm mống của hành vi vi phạm pháp luật, lúc đầu có thể là "làm liều" cho qua lúc khó khăn Sau đó, có thể dẫn tới các hành vi vi phạm pháp luật mag tính nguy hiểm cho xã hội cao hơn
Ví dụ: Đơn cử có thể thấy để trang bị một hệ điều hành Windows
Xpcùng với bộ Office cũng từ 300 – 500 USD Đó là chưa kể hàng loạt
Trang 6các phần mềm tiện ích từ điển, virus, bộ gõ, nén và các phần mềm chuyên dụng như Cad, Photoshop
chúng ta còn nghèo nên "ăn gian" một chút cũng là có thể chấp nhận được, miễn là Microsoft vẫn “chấp nhận được” như lâu nay
Hiệp hội tổ chức công nghiệp phi chính phủ có liên quan về vấn
đề sở hữu trí tệ ước tính trên cơ sở thực tiễn và số liệu thống kê trong
vi phạm bản quyền rằng sản phẩm làm giả và bất hợp pháp chiếm 5% -7% giá trị thương mại toàn cầu, trong đó điển hình là các phần mềm máy tính
Trong báo báo về nạn chiếm đoạt phần mềm toàn cầu của liên minh phần mềm thương mại BSA và Hiệp Hội công nghiệp phần mềm và thông tin SIIA đưa ra tỉ lệ chiếm đoạt ứng dụng phần mềm dùng cho máy tính cá nhân là 36% (49% năm 1994,theo tính toán 1999 ngành công nghiệp mất 12 tỉ USD.)
Ở Việt Nam với tỉ lệ là 85%,thiệt hại 257trUSD(2009)
Giá trị của những sản phẩm trí tuệ có đầu tư ban đầu cao nên giá trị tạo ra cũng có giá thành cao:
Ví dụ: Nhìn chung, mọi nghiên cứu và sáng tạo của con người đều
hướng vào việc phục vụ đời sống và hoạt động sản xuất kinh doanh Trong nhiều trường hợp, những ý tưởng này, sau những nỗ lực nghiên cứu nhất định, thường chuyển hóa thành các sản phẩm ứng dụng, hay cao hơn nữa trở thành các giải pháp công nghệ ứng dụng nhằm tạo ra các sản phẩm Ngoài chức năng lưu thông và tiêu dùng, các sản phẩm này còn mang ý nghĩa truyền đạt thông tin về sự hiện hữu của sản phẩm cũng như chất lượng và kiểu dáng của chúng và qua đó thuyết phục khách hàng mua hàng hóa Do đó, có thể nói những ý tưởng này luôn thể hiện tính mới mẻ và khác biệt, hàm chứa một lượng thông tin có giá trị kinh tế
Người tiêu dung có thu nhập & kinh tế thấp:
Đất nước ta là đất nước đang trên đà hội nhập và đang phát triển với mức thu nhập bình quân đầu người còn thấp(2010 ước khoảng
Trang 7Software Engineering
1.200 USD/người)( http://dantri.com.vn) Nhưng đơn thuần version Home and Student với các ứng dụng Word 2010, Excel 2010,
PowerPoint 2010, OneNote 2010 và các ứng dụng văn phòng trực tuyến
sẽ được bán với giá 149 USD.Vậy câu hỏi đặt ra là sinh viên Việt Nam
& những nhân viên văn phòng với mức lương 150 USD hang tháng có mạnh dạng bỏ tiền túi để sử dụng những sản phẩm phần mềm bản
quyền.Trong khi đó với chiếc máy tính cần phải có nhiều ứng dụng như vậy thì cần đến cả ngàn đô để trang bị mọi thứ điều bản quyền thì chi phí cả năm lương cua nhân viên.Nên tâm lí nảy sinh do vấn đề kinh tế
là để phù hợp với giá trị công việc & những giá trị của những sản phẩm bản quyền thì sẽ chọn giải pháp tối ưu nhất dù biết những hành động của chính bản thân mình là vi phạm pháp luật nhưng biết rằng vấn đề thi hành luật của nhà nước chưa chặt chẽ nên cảm thấy mình vẫn an toàn nên những động thái đó trở thành thói quen
Xét góc độ về văn hóa, xã hội và con người:
Nếu chúng ta sống trong một xã hội lành mạnh, có giáo dục
tốt,nền văn hóa tốt và quan trọng hơn thế nữa là ý thức của mỗi con người cao thì tình trạng dẫn đến vi phạm bản quyền như hiện nay sẽ giảm đi rất đáng kể Vì có thể nói con người là yếu tố hàng đầu dẫn đến hành vi vi phạm bản quyền
Ví dụ: Một công ty A hoạt động kinh doanh về máy tính và các
loại phần mềm Mặc dù công ty đó có hiểu biết về luật nhưng công ty vẫn cố tình vi phạm (như in ấn lậu, sao chép các tác quyền mà không qua đăng ký, kiểm duyệt…)
Một số vấn đề liên quan:
Sử dụng phần mềm mã nguồn mở:
Trang 8Tuy nhiên, một lĩnh vực mà BSA và IDC không hề tính đến là tỷ lệ sử dụng phần mềm mã nguồn mở Đây là điều mà các chuyên gia cho rằng không hợp lý, nhất là khi xu thế chuyển dịch phần mềm bản quyền sang phần mềm nguồn mở và các dịch vụ phần mềm trên mạng phát triển mạnh ở Việt Nam
Đơn cử như Ngân hàng SacomBank năm 2009 đã cài 4.000 máy với phần mềm mã nguồn mở Vì các nhà khảo sát cho rằng Việt Nam sử dụng phần mềm mã nguồn mở thì họ cho đó là vi phạm bản quyền, vậy theo ước tính như vậy là nước ta đã 100% vi phạm bản quyền, như thực
tế như vậy là không đúng Sử dụng phần mềm mã nguồn mở không phải là hành vi vi phạm bản quyền Và nước ta hiện nay đang có su hướng là khuyến khích các doanh nghiệp, công nhân, viên chức và giới học sinh, sinh sử dụng phần mềm mã nguồn mở để hạn chế về “phần mềm bản quyền”
III Cách khắc phục:
Xét về luật:
Năm 2009, tỷ lệ vi phạm bản quyền phần mềm tại Việt Nam có xu hướng giảm Đồng thời, Việt Nam cũng là quốc gia có tỷ lệ vi phạm giảm đáng kể nhất trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương Tuy
nhiên, thiệt hại do vi phạm bản quyền gây ra lại có xu hướng gia tăng, với số tiền thiệt hại ước tính có thể lên tới 200 triệu USD và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của ngành công nghiệp phần mềm trong nước Vì thế, năm 2010, cơ quan thanh tra bản quyền phần mềm sẽ xử lý vi phạm mạnh tay hơn và mở rộng đối tượng đến cả các doanh nghiệp 100% vốn trong nước, có quy mô nhỏ
Ví dụ :
Tiếp tục chiến dịch Thanh tra bản quyền phần mềm trong năm 2010, ngày 25/3/2010, Đoàn thanh tra liên ngành bao gồm Thanh tra Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch và Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (Bộ Công an) đã tiến hành thanh tra Công ty cổ phần Nam Hà Việt - một công ty cổ phần 100% của Việt Nam có địa chỉ tại khu CN Tân Bình, TP HCM, chuyên kinh doanh nguyên vật liệu, vật tư, phụ tùng sắt thép, có trụ sở tại khu CN Tân Bình
Trang 9Software Engineering
Đoàn Thanh tra liên ngành đã kiểm tra 50 máy tính sử dụng cho hoạt động kinh doanh của công ty và phát hiện hầu hết các phần mềm cài đặt đều không có bản quyền.Ông Đinh Duy Hưng - trợ lý Giám đốc đã ký vào Biên bản thanh tra thừa nhận hành vi sao chép, cài đặt các phần mềm trên chưa được sự đồng ý của chủ sở hữu là vi phạm pháp luật và
dỡ bỏ toàn bộ các phần mềm không có bản quyền
Biện pháp ngăn chặn:
Trong vài năm trở lại đây, Hiệp hội Doanh nghiệp Phần mềm (BSA) và Hiệp hội Công nghiệp Phần mềm và Thông tin (SIIA) đã phối hợp các cơ quan luật pháp tại nhiều quốc gia mở những cuộc chiến chồng lại việc sử dụng lậu phần mềm thương mại
Nhiều đối tượng phát tán hoặc mua bán lậu bản quyền phần mềm đã bị bắt giữ Trường hợp của Gregory William Fair tại Mỹ là điển hình khi người này bán lậu các phiên bản trong bộ phần mềm của Adobe trên eBay suốt từ năm
2001 đến năm 2007, thu lợi hơn 1,4 triệu USD 41 tháng tù giam và 743.000 USD tiền phạt chi trả cho hãng Adobe Systems là phán quyết của tòa án dành cho Gregory
Trong năm 2009, Hiệp hội Công nghiệp Phần mềm và Thông tin đã chi hơn 127.000 USD chi phí thưởng cho các nguồn tin cung cấp những nguồn vi phạm bản quyền phần mềm và nội dung số
Đây là số tiền cao nhất kể từ khi chương trình phần thưởng chống sử dụng phần mềm trái phép được khởi xướng từ năm 2003
Vi phạm hành chánh:
Trang 10Theo điều 211: của luật sở hữu trí tuệ quy định các hành vi xâm phạm
sao đây bị xử phạt hành chánh:
1 Các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ sau đây bị xử phạt hành chính:
a) Thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây thiệt hại cho người tiêu
dùng hoặc cho xã hội;
b) Không chấm dứt hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ mặc dù
đã được chủ
thể quyền sở hữu trí tuệ thông báo bằng văn bản yêu cầu chấm dứt hành vi đó;
c) Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán hàng hoá giả mạo về
sở hữu trí
tuệ theo quy định tại Điều 213 của Luật này hoặc giao cho người khác thực hiện hành
vi này;
d) Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán vật mang nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn
địa lý trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được
bảo hộ hoặc giao cho người khác thực hiện hành vi này
2 Chính phủ quy định cụ thể về hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
bị xửphạt hành chính, hình thức, mức phạt và thủ tục xử phạt các hành
vi đó
3 Tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh về
sở hữu trítuệ thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về cạnh tranh
Điều 214: Các hình thức xử phạt hành chính và biện pháp khắc phục
hậuquả
1 Tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ quy định
Trang 11Software Engineering
tại khoản 1 Điều 211 của Luật này bị buộc phải chấm dứt hành vi xâm phạm và bị ápdụng một trong các hình thức xử phạt chính sau đây:
a) Cảnh cáo;
b) Phạt tiền
2 Tuỳ theo tính chất, mức độ xâm phạm, tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền sởhữu trí tuệ còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:
a) Tịch thu hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ, nguyên liệu, vật liệu, phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ;
b) Đình chỉ có thời hạn hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực đã xảy
ra vi phạm
3 Ngoài các hình thức xử phạt quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ còn có thể bị áp dụng một hoặc các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:
a) Buộc tiêu huỷ hoặc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích
thương mại đối với hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ, nguyên liệu, vật liệu và phương
tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ
với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở
hữu trí tuệ;
b) Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam đối với hàng hoá quá cảnh xâm phạm
quyền sở hữu trí tuệ hoặc buộc tái xuất đối với hàng hoá giả mạo về
sở hữu trí tuệ,
phương tiện, nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu được sử dụng chủ yếu
để sản xuất, kinh
doanh hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ sau khi đã loại bỏ các yếu
tố vi phạm trên
Trang 12hàng hoá.
4 Mức tiền phạt quy định tại điểm b khoản 1 Điều này được ấn định ít nhấtbằng giá trị hàng hoá vi phạm đã phát hiện được và nhiều nhất không vượt quá năm lần giá trị hàng hoá vi phạm đã phát hiện
được.Chính phủ quy định cụ thể cách xác định giá trị hàng hóa vi
phạm
Điều 215 Các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính
1 Trong các trường hợp sau đây, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan có
thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính quy định tại
khoản 2 Điều này:
a) Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có nguy cơ gây ra thiệt hại nghiêm
trọng cho người tiêu dùng hoặc cho xã hội;
b) Tang vật vi phạm có nguy cơ bị tẩu tán hoặc cá nhân, tổ chức vi phạm có biểu
hiện trốn tránh trách nhiệm;
c) Nhằm bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính
2 Biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính được áp dụng theo thủ tục hành chính đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bao gồm:
a) Tạm giữ người
b) Tạm giữ hàng hoá, tang vật, phương tiện vi phạm
c) Khám người
d) Khám phương tiện vận tải, đồ vật; khám nơi cất giấu hàng hoá, tang vật,
phương tiện vi phạm về sở hữu trí tuệ
e) Các biện pháp ngăn chặn hành chính khác theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
Vi phạm bản quyền phần mềm có thể bị xử lý hình sự: