Thực trạng công tác đăng ký hộ tịch tại xã ……….LỜI NÓI ĐẦU Hộ tịch là tình trạng nhân thân của một người kể từ khi sinh ra vànhững biến động trong cả cuộc đời cho đến khi chết đi như: Sự
Trang 1Thực trạng công tác đăng ký hộ tịch tại xã ……….
LỜI NÓI ĐẦU
Hộ tịch là tình trạng nhân thân của một người kể từ khi sinh ra vànhững biến động trong cả cuộc đời cho đến khi chết đi như: Sự kiện sinh, tử,kết hôn, ly hôn, giám hộ, nuôi con nuôi, thay đổi, cải chính họ tên, quốc tịch,xác định dân tộc và các sự kiện khác theo quy định của pháp luật về hộ tịch.Tình trạng này phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận hoặc ghinhận
Quản lý hộ tịch là một trong những nội dung quản lý xã hội của Nhànước, thông qua đăng ký hộ tịch để Nhà nước kiểm soát được thân trạng củatừng công dân, đồng thời công dân thực hiện quyền được đăng ký hộ tịch củamỗi cá nhân được pháp luật công nhận
Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận cáctình trạng nêu trên và ghi vào sổ hộ tịch Qua việc quản lý và đăng ký hộ tịch,Nhà nước nắm được sự biến động về dân số, góp phần cho hoạch định chínhsách phát triển Kinh tế, Văn hóa xã hội, Quốc phòng và An ninh
Hiện nay, với khoảng gần 90 triệu dân, mỗi năm nước ta có hàng trămnghìn cặp có nhu cầu đăng ký kết hôn, hàng triệu cháu bé ra đời có nhu cầuđăng ký khai sinh và hàng chục vạn người chết cần phải được đăng ký khai tử
…
Cùng với việc mở cửa, hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế thị trường và
sự phát triển xã hội nói chung, việc kết hôn, nuôi con nuôi và ly hôn có yếu tốnước ngoài có xu hướng gia tăng
Thực trạng nói trên cho thấy nhu cầu đăng ký và quản lý các việc như
ly hôn, kết hôn, khai sinh, nuôi con nuôi, giám hộ, nhận cha, mẹ, con, thayđổi, cải chính hộ tịch ở Việt Nam rất lớn và có xu hướng tăng lên Để quản lý
và điều chỉnh vấn đề này, Nhà nước cần phải xây dựng được hành lang pháp
lý đầy đủ, thống nhất, đồng bộ và hiệu quả
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau và đặc biệt là nguyên nhânpháp lý việc đăng ký những sự kiện hộ tịch nói trên ở nước ta còn đạt ở mứcthấp Điều này đã dẫn tới những khó khăn lớn trong việc quản lý xã hội vàgây ra những hậu quả nghiêm trọng trong đời sống của không ít công dân
Trang 2Để nghiên cứu pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch em xin lựa chọn
Chuyên đề : “Thực trạng công tác đăng ký hộ tịch tại xã Ban Công, huyện
Bá Thước, tỉnh Thanh Hoá” để làm Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Kết cấu của Chuyên đề: ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo, Chuyên đề gồm ba chương:
Chương I: Chế độ pháp lý về đăng ký hộ tịch
Chương II: Thực tiễn thực hiện chế độ pháp lý về đăng ký và quản
lý hộ tịch tại xã Ban Công, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa.
Chương III: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiêu quả công tác đăng ký và quản lý hộ tịch xã Ban Công, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa
CHƯƠNG I:
CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ ĐĂNG KÝ VÀ QUẢN LÝ HỘ TỊCH
1.1 Khái quát chung về đăng ký và quản lý hộ tịch
1.1.1 Khái niệm hộ tịch
Theo quan niệm truyền thống: Hộ tịch là những sự kiện quan trọng gắn
liền với con người kể từ khi sinh ra đến khi mất đi và các mối quan hệ phátsinh xung quanh những sự kiện đó trong đời sống dân sự như: Sinh, kết hôn,tử… hay còn gọi là việc giám hộ mà Nhà nước cần quản lý Việc hộ bao gồm:sinh, tử, giá thú, con nuôi và một số sự kiện khác như thay đổi, cải chính sựkiện đó
Theo quan niệm hiện tại: Do sự phát triển của xã hội, các quan hệ về
nhân thân và gia đình giữa con người với con người ngày càng phức tạp, mởrộng nhiều mối quan hệ, do vậy Nhà nước muốn quản lý xã hội có trật tự, nềnếp cũng cần phải ghi nhận những sự kiện khác để quản lý như: nhận cha, mẹ,con nuôi; người giám hộ; thay đổi cải chính các sự kiện hộ tịch; ghi chú cácthay đổi về hộ tịch
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 1 Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày
27/05/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch: “Hộ tịch là những
sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của mỗi người từ khi sinh ra đến khi chết”.
Các sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của mỗi người từ khisinh ra đến khi chết đi được thể hiện cụ thể:
Trang 3- Sinh, kết hôn, tử, nuôi con nuôi, giám hộ, nhận cha, mẹ, con; thay đổi
họ tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm, sinh; xác định lại dân tộc; đăng ký khaisinh; khai tử quá hạn; đăng ký lại các việc sinh tử, kết hôn, nhận nuôi connuôi
- Ly hôn, xác định cha mẹ con; thay đổi quốc tịch, hủy hôn nhận tráipháp luật, xác định lại giới tính, xác định lại dân tộc, hoặc những sự kiện khác
do pháp luật quy định
1.1.2 Đặc điểm về hộ tịch
Thứ nhất, Hộ tịch là một giá trị nhân thân, gắn chặt với cá nhân con
người, bởi vì mỗi người chỉ có một thời điểm sinh, một thời điểm chết Cácdấu hiệu về cha đẻ, mẹ đẻ, dân tộc, giới tính là những dấu hiệu giúp người taphân biệt từng cá nhân con người
Do đó, đây là các giá trị nhân thân gắn với một con người cụ thể từ khisinh ra đến khi chết
Thứ hai, Hộ tịch là những giá trị, về nguyên tắc không thể chuyển đổi
cho người khác vì nó gắn liền với nhân thân mỗi con người Cho nên, việcthực hiện các sự kiện hộ tịch phải do trực tiếp cá nhân người đó thực hiện, trừtrường hợp pháp luật có quy định khác (như khai sinh có thể do bố, mẹ điđăng ký khai sinh; khai tử do người thân của người chết đi đăng ký khai tử)
Thứ ba, Hộ tịch là những giá trị nhân thân không thể định giá thành
tiền Do đó, hộ tịch không phải là một loại hàng hóa có thể trao đổi
1.2 Pháp luật điều chỉnh việc đăng ký và quản lý hộ tịch
1.2.1 Quá trình phát triển của pháp luật điều chỉnh việc đăng ký và quản lý hộ tịch
Đăng ký và quản lý hộ tịch có ý nghĩa quan trọng để Nhà nước thựchiện quản lý dân cư và quản lý các mặt Kinh tế - xã hội, Quốc phòng - an ninhđồng thời tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước công nhận và bảo hộ các quyền nhânthân phi tài sản và quyền nhân thân gắn liền với tài sản của cá nhân
Ở nước ta, việc đăng ký và quản lý hộ tịch có lịch sử lâu đời từ thờiphong kiến nhà Trần và các triều đại phong kiến tiếp theo Tuy nhiên, việcquản lý hộ tịch được thực hiện một cách đầy đủ, khoa học chỉ được bắt đầu từthời kỳ Pháp thuộc
Trang 4Điểm nổi bật trong hệ thống đăng ký và quản lý hộ tịch của thời kỳPháp thuộc là có một đội ngũ hương chức chuyên làm công tác hộ tịch, gọi là
Hộ lại Hộ lại là người nắm giữ sổ sách hộ tịch và trực tiếp đăng ký các việc
hộ tịch trong địa bàn cấp xã do mình phụ trách Vì việc quản lý hộ tịch đòi hỏiphải nắm rất kỹ từng người dân, từng gia đình nên chức danh Hộ lại được bổnhiệm suốt đời (trừ khi bị truất chức do vi phạm), thậm chí được khuyếnkhích “Cha truyền con nối”
Điểm nổi bật thứ hai trong quản lý hộ tịch thời Pháp thuộc là có hệthống sổ sách hộ tịch (gọi là “Sổ bộ”) đầy đủ, khoa học và được bảo quản rấtcẩn thận Hiện nay, một số sổ sách hộ tịch thời Pháp thuộc vẫn còn được lưugiữ tại các thành phố như: Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, CầnThơ
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, công tác đăng ký và quản lý hộtịch vẫn được Nhà nước ta tiếp tục duy trì và phát triển Theo tinh thần củasắc Lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì các thể lệđăng ký hộ tịch đã được quy định trong Bộ Dân Luật giản yếu được áp dụng ởNam kỳ, Hoàng Việt Bộ Luật được áp dụng ở Trung kỳ và Dân Luật Bắc Kỳvẫn được tiếp tục áp dụng
Tại sắc Lệnh số 59/SL đã giao quyền thực thi các giấy tờ hộ tịch cho
Ủy ban nhân dân cấp xã mà trước đây là do các Lý trưởng các Làng vàTrưởng khu phố ở Thành thị đảm nhiệm Riêng ở Thành thị việc thực thi của
Ủy ban các phố phải có thêm dấu của Ủy ban nhân dân cấp Thị xã, khu Phốchứng nhận
Ngày 08/5/1956, Thủ tướng Chính phủ Ban hành Nghị định số764/TTg kèm theo Bản Điều lệ hộ tịch Ngày 16/01/1961, Hội đồng Chínhphủ Ban hành Nghị định số 04/CP, kèm theo Bản Điều lệ đăng ký hộ tịch mớithay thế Bản Điều lệ được Ban hành kèm theo Nghị định số 764/TTg Theoquy định tại hai bản Điều lệ nói trên, thì Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) là Cơquan được Hội đồng Chính phủ giao nhiệm vụ thống nhất chỉ đạo, tổ chứcquản lý hộ tịch, việc đăng ký hộ tịch do Uỷ ban hành chính xã, Thị trấn, Thị
xã, khu Phố phụ trách
Từ năm 1987, nhiệm vụ quản lý Nhà nước về hộ tịch được chuyển giao
từ Bộ Nội vụ sang Bộ Tư pháp và Ủy ban nhân dân các cấp trên cơ sở Nghị
Trang 5định số 219/HĐBT ngày 20/11/1987 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chínhphủ); từ thời điểm này, Bộ Tư pháp được giao nhiệm vụ thống nhất quản lýNhà nước về hộ tịch trên phạm vi cả nước.
Đăng ký hộ tịch từ năm 1998 đến nay: Thực tiễn công tác quản lý hộtịch cho thấy: Bản Điều lệ hộ tịch năm 1961 không còn đáp ứng được yêu cầuquản lý Nhà nước cũng như yêu cầu về đăng ký hộ tịch Do đó, ngày10/10/1998, Chính phủ đã Ban hành Nghị định 83/1998/NĐ-CP về đăng ký
hộ tịch Đây là lần đầu tiên Nhà nước ta Ban hành một văn bản Quy phạmpháp luật đầy đủ và chi tiết nhất, quy định về nguyên tắc, nội dung, trình tựđăng ký hộ tịch Tiếp theo đó là các văn bản sửa đổi, bổ sung như: Nghị định
số 158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 5 năm 2005 của Chính phủ về đăng ký vàquản lý hộ tịch; Nghị định số 06/2012/NĐ-CP ngày 02 tháng 02 năm 2012của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về hộ tịch, hônnhân gia đình và chứng thực
1.3 Chế độ pháp lý về đăng ký hộ tịch ở Việt Nam hiện nay
1.3.1 Đăng ký hộ tịch
1.3.1.1 Đăng ký kết hôn
Quyền kết hôn là một trong những quyền đầu tiên trong lĩnh vực hônnhân và gia đình của mỗi con người Từ đó, phát sinh những quan hệ pháp lýgiữa vợ, chồng, cha, mẹ, con, giữa ông, bà nội, ngoại và cháu, giữa anh, chị,
em và những người có quan hệ họ hàng, nghĩa dưỡng…
* Thẩm quyền đăng ký kết hôn
- Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ thựchiện việc đăng ký kết hôn
- Trong trường hợp cả hai bên nam, nữ là công dân Việt Nam đangtrong thời hạn công tác, học tập, lao động ở nước ngoài về nước đăng ký kếthôn, đã cắt hộ khẩu thường trú ở trong nước, thì việc đăng ký kết hôn đượcthực hiện tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú trước khi xuất cảnh của mộttrong hai bên nam, nữ
- Trong trường hợp cả hai bên nam, nữ không còn cha mẹ thì việc đăng
ký kết hôn được thực hiện tại UBND cấp xã nơi đương sự có hộ khẩu thườngtrú trước khi xuất cảnh
* Thủ tục đăng ký kết hôn
Trang 6- Điều 18 Nghị định 158/2005/NĐ-CP quy định: “Khi đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định) và xuất trình Giấy chứng minh nhân dân”.
Trong trường hợp một người cư trú tại xã, phường, thị trấn này, nhưngđăng ký kết hôn tại xã, phường, thị trấn khác, thì phải có xác nhận tình trạnghôn nhân của Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú về tình trạng hôn nhân củangười đó
Đối với người đang trong thời hạn công tác, học tập, lao động ở nướcngoài về nước đăng ký kết hôn, thì phải có xác nhận của Cơ quan Ngoại giao,Lãnh sự Việt Nam tại nước sở tại về tình trạng hôn nhân của người đó
Đối với cán bộ, chiến sĩ đang công tác trong lực lượng vũ trang, thì Thủtrưởng đơn vị của người đó xác nhận tình trạng hôn nhân
Việc xác nhận tình trạng hôn nhân nói trên có thể xác nhận trực tiếpvào Tờ khai đăng ký kết hôn hoặc bằng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhântheo quy định tại Chương V của Nghị định 158/2005/NĐ-CP
Việc xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị 6 tháng, kể từ ngày xácnhận
- Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấyhai bên nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân vàgia đình, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã đăng ký kết hôn cho hai bên nam, nữ.Trong trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêmkhông quá 5 ngày
- Khi đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ phải có mặt Đại diện Uỷ bannhân dân cấp xã yêu cầu hai bên cho biết ý muốn tự nguyện kết hôn, nếu haibên đồng ý kết hôn, thì cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký kết hôn vàGiấy chứng nhận kết hôn
- Hai bên nam, nữ ký vào Giấy chứng nhận kết hôn và Sổ đăng ký kếthôn, Chủ tịch (hoặc Phó Chủ tịch) Uỷ ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho mỗibên vợ, chồng một bản chính Giấy chứng nhận kết hôn, giải thích cho hai bên
về quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng theo quy định của Luật hôn nhân và giađình Bản sao Giấy chứng nhận kết hôn được cấp theo yêu cầu của vợ, chồng
* Việc từ chối đăng ký kết hôn
Trang 7UBND cấp xã có quyền từ chối đăng ký kết hôn nếu việc kết hônkhông đáp ứng đầy đủ các yêu cầu do pháp luật Hôn nhân và gia đình quyđịnh.
1.3.1.2 Đăng ký khai sinh
Đăng ký khai sinh là biện pháp đầu tiên của quản lý hành chính Nhànước trong lĩnh vực đăng ký quản lý hộ tịch
Thông qua quản lý hành chính trong lĩnh vực đăng ký khai sinh đã giúpcho Nhà nước theo dõi được sự biến động tự nhiên của dân số, từ đó, đề racác chính sách phát triển Kinh tế - xã hội trên phạm vi cả nước cũng nhưtrong từng địa phương; mặt khác đăng ký khai sinh một cách đầy đủ, chínhxác là bảo vệ quyền của trẻ em được đăng ký khai sinh ngay từ khi sinh ratheo quy định của pháp luật và phù hợp với thông lệ Quốc tế
* Thẩm quyền đăng ký khai sinh
Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Uỷ ban nhân dâncấp xã), nơi cư trú của người mẹ thực hiện việc đăng ký khai sinh cho trẻ em;nếu không xác định được nơi cư trú của người mẹ, thì Uỷ ban nhân dân cấp
xã, nơi cư trú của người cha thực hiện việc đăng ký khai sinh
Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú của người mẹ vàngười cha, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi trẻ em đang sinh sống trên thực tếthực hiện việc đăng ký khai sinh
Việc đăng ký khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi được thực hiện tại Uỷ bannhân dân cấp xã, nơi cư trú của người đang tạm thời nuôi dưỡng hoặc nơi cótrụ sở của tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ em đó
* Thời hạn đi khai sinh
Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày sinh con, cha, mẹ có trách nhiệm đikhai sinh cho con; nếu cha, mẹ không thể đi khai sinh, thì ông, bà hoặc nhữngngười thân thích khác đi khai sinh cho trẻ em
* Thủ tục đăng ký khai sinh
- Người đi đăng ký khai sinh phải nộp Giấy chứng sinh (theo mẫu quyđịnh) và xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn của cha, mẹ trẻ em (nếu cha, mẹcủa trẻ em có đăng ký kết hôn)
Giấy chứng sinh do cơ sở y tế, nơi trẻ em sinh ra cấp; nếu trẻ em sinh rangoài cơ sở y tế, thì Giấy chứng sinh được thay bằng văn bản xác nhận của
Trang 8người làm chứng Trong trường hợp không có người làm chứng, thì người đikhai sinh phải làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực.
Trong trường hợp cán bộ Tư pháp hộ tịch biết rõ về quan hệ hôn nhâncủa cha mẹ trẻ em, thì không bắt buộc phải xuất trình Giấy chứng nhận kếthôn
- Sau khi kiểm tra các giấy tờ hợp lệ, cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào Sổđăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp
xã ký và cấp cho người đi khai sinh một bản chính Giấy khai sinh Bản saoGiấy khai sinh được cấp theo yêu cầu của người đi khai sinh
- Trong trường hợp khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu không xácđịnh được người cha, thì phần ghi về người cha trong Sổ đăng ký khai sinh vàGiấy khai sinh để trống Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh có người nhậncon, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng kýkhai sinh
* Thẩm quyền, thủ tục đăng ký khai sinh quá hạn
Những trường hợp sinh chưa được đăng ký trong thời hạn theo đúngquy định của pháp luật (60 ngày) thì phải đăng ký theo thủ tục quá hạn Người
có trách nhiệm đi đăng ký khai sinh mà không theo đúng thời hạn đã quy định
mà không có lý do chính đáng sẽ bị xử phạt hành chính chính theo quy địnhcủa pháp luật
- Thẩm quyền đăng ký khai sinh, khai tử quá hạn:
Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi có thẩm quyền đăng ký khai sinh ban đầuthực hiện việc đăng ký khai sinh quá hạn
Trong trường hợp người đã thành niên đăng ký khai sinh quá hạn chomình, thì có thể đăng ký tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi có thẩm quyền đăng
ký khai sinh ban đầu hoặc tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi người đó cư trú
- Thủ tục đăng ký khai sinh, khai tử quá hạn:
Người đi đăng ký khai sinh, khai tử quá hạn phải nộp các giấy tờ theoquy định như trường hợp đăng ký khai sinh lần đầu tiên
Sau khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ, cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào sổ đăng
ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã
ký và cấp cho người đi đăng ký một bản chính Giấy khai sinh Trong cột ghi
Trang 9chú của Sổ đăng ký khai sinh phải ghi rõ “Đăng ký quá hạn” Trường hợp cầnphải xác minh, thì thời hạn xác minh không quá 5 ngày.
Khi đăng ký khai sinh quá hạn cho người đã có hồ sơ, giấy tờ cá nhânnhư:
Sổ hộ khẩu, Giấy chứng minh nhân dân, Học bạ, Bằng tốt nghiệp, Lýlịch cán bộ, Lý lịch Đảng viên, mà trong các hồ sơ, giấy tờ đó đã có sự thốngnhất về họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán,thì đăng ký đúng theo nội dung đó Trường hợp họ, tên, chữ đệm; ngày,tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán trong các hồ sơ, giấy tờ nói trêncủa người đó không thống nhất thì đăng ký theo hồ sơ, giấy tờ được lập đầutiên Trong trường hợp địa danh đã có thay đổi, thì phần khai về quê quánđược ghi theo địa danh hiện tại
* Thẩm quyền, thủ tục đăng ký lại khai sinh
- Những trường hợp sinh trước đây đã được đăng ký nhưng sổ hộ tịch
và bản chính giấy tờ hộ tịch đã bị mất hoặc hư hỏng không sử dụng được, thìđược đăng ký lại để tạo điều kiện cho đương sự khi có nhu cầu sử dụng Giấykhai sinh và đáp ứng yêu cầu quản lý của Nhà nước
- Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi đương sự cư trú hoặc nơi đã đăng kýviệc sinh trước đây thực hiện việc đăng ký lại
- Khi đăng ký lại việc sinh nếu người đi đăng ký lại xuất trình bản saogiấy tờ đã cấp hợp lệ trước đây, thì nội dung khai sinh được ghi theo nội dungcủa bản sao giấy tờ hộ tịch đó
Trường hợp đăng ký lại việc sinh cho người không có bản sao Giấykhai sinh đã cấp trước đây, nhưng đã có hồ sơ, giấy tờ cá nhân như: Sổ hộkhẩu, Giấy chứng minh nhân dân, Học bạ, Bằng tốt nghiệp, Lý lịch cán bộ,
Lý lịch Đảng viên, mà trong các hồ sơ giấy tờ đó đã có sự thống nhất về họ,tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán, thì đăng kýđúng theo nội dung đó Trường hợp họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh;dân tộc; quốc tịch; quê quán trong các hồ sơ, giấy tờ nói trên của người đókhông thống nhất thì đăng ký theo hồ sơ, giấy tờ được lập đầu tiên Trongtrường hợp địa danh đã có thay đổi, thì phần khai về quê quán được ghi theođịa danh hiện tại
1.3.1.3 Đăng ký việc nuôi con nuôi
Trang 10Nuôi con nuôi là một việc làm nhân đạo mang tính xã hội cao, mụcđích của việc đăng ký nhận nuôi con nuôi là nhằm đem lại lợi ích tốt nhất, tìmmái ấm gia đình cho trẻ em khi trẻ em đó không nhận được sự chăm sóc, nuôidưỡng từ cha mẹ, họ hàng hay người thân thích Việc nuôi con nuôi nhằm gắn
bó tình cảm giữa người nuôi và con nuôi trong quan hệ cha, mẹ và con cái,bảo đảm quyền được chăm sóc, nuôi dạy cho người con nuôi chưa thành niên.Việc nuôi con nuôi chỉ có giá trị pháp lý khi đã được đăng ký lại tại cơ quanNhà nước có thẩm quyền, mọi hình thức nuôi con nuôi trên thực tế khôngđược pháp luật công nhận
* Thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi
- Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người nhận con nuôi thực hiệnđăng ký việc nuôi con nuôi
- Trong trường hợp trẻ bị bỏ rơi được nhận làm con nuôi, thì Uỷ bannhân dân cấp xã, nơi lập biên bản xác nhận tình trạng trẻ bị bỏ rơi đăng kýviệc nuôi con nuôi; nếu trẻ em đó đã được đưa vào cơ sở nuôi dưỡng, thì Uỷban nhân dân cấp xã, nơi có trụ sở của cơ sở nuôi dưỡng đăng ký việc nuôicon nuôi
* Hồ sơ đăng ký việc nuôi con nuôi
Hồ sơ đăng ký việc nuôi con nuôi gồm có:
- Giấy thoả thuận về việc cho và nhận con nuôi (theo mẫu quy định)
- Bản sao Giấy khai sinh của người được nhận làm con nuôi
* Quyền từ chối đăng ký nuôi con nuôi
Trong trường hợp nhận thấy việc đăng ký nuôi con nuôi không đáp ứng
đủ các điều kiện theo quy định của Luật hôn nhân, gia đình thì UBND cấp xã
từ chối việc đăng ký nuôi con nuôi Việc từ chối phải ghi rõ bằng văn bản,trong đó nêu rõ lý do từ chối và gửi cho các đương sự
* Chấm dứt việc nuôi con nuôi
Trong trường hợp muốn chấm dứt việc nuôi con nuôi, thì phải làm thủtục chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật, không được tự ýchấm dứt việc nuôi con nuôi hoặc giao con nuôi cho người khác
Sau khi quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lựcpháp luật, thì UBND xã nơi đã đăng ký việc nuôi con nuôi phải ghi vào sốđăng ký việc nuôi con nuôi
Trang 111.3.1.4 Đăng ký giám hộ
Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người giám hộ hoặc nơi có trụ
sở của cơ quan, tổ chức đảm nhận giám hộ thực hiện đăng ký việc giám hộ
Thủ tục đăng ký, chấm dứt việc giám hộ được quy định tại Điều 30 vàĐiều 31 Nghị định 158/2005/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộtịch, nội dung cụ thể như sau:
Người được cử làm giám hộ phải nộp tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi
cư trú của mình giấy cử giám hộ do người cử giám hộ lập Trong thời hạn 5ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu việc giám hộ đủ điều kiện theoquy định của pháp luật, thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi người giám hộ cư trúđăng ký việc giám hộ
Trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêmkhông quá 5 ngày Khi đăng ký việc giám hộ, người cử giám hộ và ngườiđược cử làm giám hộ phải có mặt tại nơi đăng ký Quyết định công nhận việcgiám hộ sẽ được cấp cho người giám hộ và người cử giám hộ mỗi bên mộtbản chính
Trong trường hợp người được giám hộ có tài sản riêng, thì người cửgiám hộ phải lập danh mục tài sản và ghi rõ tình trạng của tài sản đó, có chữ
ký của người cử giám hộ và người được cử làm giám hộ Danh mục tài sảnđược lập thành 3 bản, một bản lưu tại UBND cấp xã, nơi đăng ký việc giám
hộ, một bản giao cho người giám hộ, một bản giao cho người cử giám hộ
Để chấm dứt việc giám hộ, người yêu cầu chấm dứt việc giám hộ phảinộp Tờ khai, Quyết định công nhận việc giám hộ đã được cấp trước đây vàxuất trình các giấy tờ cần thiết để chứng minh đủ điều kiện chấm dứt việcgiám hộ theo quy định của Bộ Luật dân sự Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngàynhận đủ các giấy tờ hợp lệ, nếu yêu cầu chấm dứt việc giám hộ là phù hợp vớiquy định của pháp luật và không có tranh chấp thì Ủy ban nhân dân cấp xã sẽcấp cho người yêu cầu chấm dứt giám hộ một bản chính Quyết định côngnhận chấm dứt việc giám hộ
Trong trường hợp người được giám hộ có tài sản riêng, đã được lậpthành danh mục khi đăng ký giám hộ, thì người yêu cầu chấm dứt việc giám
hộ phải nộp danh mục tài sản đó và danh mục tài sản hiện tại của người đượcgiám hộ
Trang 121.3.1.5 Đăng ký nhận cha, mẹ con
Đăng ký nhận cha, mẹ, con là cơ sở phát sinh quyền và nghĩa vụ cụ thểgiữa cha,mẹ,con, quyền thừa kế Pháp luật hộ tịch quy định việc đăng ký nhậncha,mẹ,con trên nguyên tắc nhận cha,mẹ,con là tự nguyện, không có tranhchấp
Đăng ký nhận cha, mẹ, con chỉ được thực hiện trong trường hợp ngườixin nhận và người được nhận là cha, mẹ, con phải còn sống vào thời điểmđăng ký
* Thẩm quyền đăng ký
Mục 6 Chương II, Nghị định 158/2005/NĐ-CP quy định về thẩm quyền
và thủ tục đăng ký việc nhận cha, mẹ, con như sau:
Việc nhận cha, mẹ, con theo quy định tại mục này được thực hiện, nếubên nhận, bên được nhận là cha, mẹ, con còn sống vào thời điểm đăng kýnhận cha, mẹ, con và việc nhận cha, mẹ, con là tự nguyện và không có tranhchấp
Người con đã thành niên hoặc người giám hộ của người chưa thànhniên hoặc đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự cũng được làmthủ tục nhận cha, mẹ theo quy định tại Mục này, trong trường hợp cha, mẹ đãchết; nếu việc nhận cha, mẹ là tự nguyện và không có tranh chấp
Điều 33 quy định thẩm quyền đăng ký việc nhận cha, mẹ, con: Ủy bannhân dân cấp xã, nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận là cha, mẹ,con thực hiện việc đăng ký việc cha, mẹ, con
* Thủ tục đăng ký việc nhận cha, mẹ con
Người nhận cha, mẹ, con phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định) Trongtrường hợp cha hoặc mẹ nhận con chưa thành niên, thì phải có sự đồng ý củangười hiện đang là mẹ hoặc cha, trừ trường hợp người đó đã chết, mất tích,mất năng lực hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự
Kèm theo Tờ khai phải xuất trình các giấy tờ sau đây:
- Giấy khai sinh (bản chính hoặc bản sao) của người con;
- Các giấy tờ, đồ vật hoặc các chứng cứ khác để chứng minh quan hệcha, mẹ, con (nếu có)
Trang 13Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấyviệc nhận cha, mẹ, con là đúng sự thật và không có tranh chấp, thì Ủy bannhân dân cấp xã đăng ký việc nhận cha, mẹ, con.
Trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêmkhông quá 5 ngày
Khi đăng ký việc nhận cha, mẹ, con, các bên cha, mẹ, con phải có mặt,trừ trường hợp người được nhận là cha hoặc mẹ đã chết Cán bộ Tư pháp hộtịch ghi vào Sổ đăng ký việc nhận cha, mẹ, con và Quyết định công nhận việcnhận cha, mẹ, con Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho mỗi bênmột bản chính Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con Bản sao Quyếtđịnh được cấp theo yêu cầu của các bên
1.3.1.6 Đăng ký khai tử
Đăng ký khai tử là một trong những lĩnh vực quản lý của Nhà nước ta
về đăng ký hộ tịch nhằm theo dõi sự biến động tự nhiên dân số Đăng ký khai
tử là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận sự kiện chết của mộtngười và ghi vào Sổ đăng ký khai tử Trên cơ sở đó, chấm dứt quan hệ củangười đó đối với gia đình, xã hội đồng thời phát sinh quyền và nghĩa vụ củathân nhân người chết
Mục đích của việc đăng ký khai tử là nhằm giúp Nhà nước theo dõi sựbiến động tự nhiên về dân số, tạo cơ sở xây dựng, phát triển Kinh tế - vănhoá, xã hội, Quốc phòng, an ninh và các chính sách dân số, kế hoạch hoá giađình
* Thẩm quyền đăng ký khai tử
- Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú cuối cùng của người chết thựchiện việc đăng ký khai tử
- Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú cuối cùng củangười chết, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi người đó chết thực hiện việc đăng
ký khai tử
* Thời hạn đi khai tử và trách nhiệm khai tử
- Thời hạn đi khai tử là 15 ngày, kể từ ngày chết
- Thân nhân của người chết có trách nhiệm đi khai tử; nếu người chếtkhông có thân nhân, thì chủ nhà hoặc người có trách nhiệm của cơ quan, đơn
vị, tổ chức, nơi người đó cư trú hoặc công tác trước khi chết đi khai tử
Trang 14* Thủ tục đăng ký khai tử
- Người đi khai tử phải nộp Giấy báo tử hoặc giấy tờ thay cho Giấy báo
tử theo quy định tại Điều 22 của Nghị định này
- Sau khi kiểm tra các giấy tờ hợp lệ, cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào Sổđăng ký khai tử và Giấy chứng tử, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ký và cấpcho người đi khai tử một bản chính Giấy chứng tử Bản sao Giấy chứng tử
được cấp theo yêu cầu của người đi khai tử.
* Thẩm quyền, thủ tục đăng ký khai tử quá hạn
- Thẩm quyền đăng ký khai sinh, khai tử quá hạn:
Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi có thẩm quyền đăng ký khai tử theo quyđịnh của Nghị định 158/2005/NĐ-CP thực hiện việc đăng ký khai tử quá hạn
- Thủ tục đăng ký khai sinh, khai tử quá hạn:
Người đi đăng ký khai tử quá hạn phải nộp các giấy tờ theo quy định Sau khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ, cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào sổ đăng
ký khai tử và bản chính Giấy chứng tử Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ký
và cấp cho người đi đăng ký một bản chính Giấy chứng tử
Trong cột ghi chú của Sổ đăng ký khai tử phải ghi rõ “Đăng ký quáhạn” Trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn xác minh không quá 5 ngày
* Thẩm quyền, thủ tục đăng ký lại việc tử
- Thẩm quyền đăng ký lại việc tử:
Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi đương sự cư trú hoặc nơi đã đăng ký việcsinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi trước đây thực hiện việc đăng ký lại
- Thủ tục đăng ký lại việc tử:
Người có yêu cầu đăng ký lại việc tử phải nộp Tờ khai (theo mẫu quyđịnh)
Trong trường hợp đăng ký lại tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, không phảinơi đương sự đã đăng ký hộ tịch trước đây, thì Tờ khai phải có xác nhận của
Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi đã đăng ký hộ tịch về việc đã đăng ký; trừtrường hợp đương sự xuất trình được bản sao giấy tờ hộ tịch đã cấp hợp lệtrước đây
Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, cán bộ Tưpháp hộ tịch ghi vào sổ hộ tịch theo từng loại việc và bản chính Giấy khaisinh, Giấy chứng tử, Giấy chứng nhận kết hôn hoặc Quyết định công nhận
Trang 15việc nuôi con nuôi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho người điđăng ký một bản chính giấy tờ hộ tịch theo từng loại việc
Các giấy tờ hộ tịch cũ liên quan đến sự kiện hộ tịch đăng ký lại (nếucó) được thu hồi và lưu hồ sơ Trong cột ghi chú của sổ hộ tịch và dưới tiêu
đề của bản chính giấy tờ hộ tịch phải ghi rõ “Đăng ký lại” Trường hợp cầnphải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá 5 ngày
1.3.1.7 Đăng ký việc thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính
Mọi cá nhân đều có quyền thay đổi họ tên, cải chính ngày, tháng, nămsinh, xác định lại dân tộc theo đúng quy định của pháp luật về hộ tịch
Việc thay đổi họ, tên không làm thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụdân sự được xác lập theo họ, tên
Việc cải chính hộ tịch đặc biệt là cải chính ngày, tháng, năm sinh chỉtuân theo nguyên tắc tôn trọng sự thật khách quan mà trước đây vì một lý donào đăng ký không đúng; và chỉ được thực hiện trong những trường hợp có
đủ cơ sở để xác định rằng khi đăng ký khai sinh có sự sai xót do ghi chép củacán bộ Tư pháp - hộ tịch hoặc do sự khai báo nhầm lẫn
Việc xác định lại dân tộc cho mỗi cá nhân thể hiện việc tôn trọng quyềnnhân thân của mỗi cá nhân đối với thành phần dân tộc và là sự tôn trọngquyền bình đẳng dân tộc, bản sắc văn hóa, truyền thống của dân tộc với tưcách là cộng đồng
Mục 7 Chương II, Nghị định 158/2005/NĐ-CP quy định về thẩm quyền
và thủ tục thay đổi cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giớitính, bổ sung hộ tịch, điều chỉnh hộ tịch như sau:
* Thẩm quyền đăng ký
Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đã đăng ký khai sinh trước đây có thẩmquyền giải quyết việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho người dưới 14 tuổi và bổsung hộ tịch cho mọi trường hợp, không phân biệt độ tuổi
Ủy ban nhân dân cấp huyện, mà trong địa hạt của huyện đó đương sự
đã đăng ký khai sinh trước đây, có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi, cảichính hộ tịch cho người từ đủ 14 tuổi trở lên và xác định lại dân tộc, xác địnhlại giới tính, bổ sung hộ tịch, điều chỉnh hộ tịch cho mọi trường hợp, khôngphân biệt độ tuổi
Trang 16* Thủ tục đăng ký
Người yêu cầu thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác địnhlại giới tính, bổ sung hộ tịch phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định), xuất trìnhbản chính Giấy khai sinh của người cần thay đổi, cải chính hộ tịch, xác địnhlại dân tộc, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch và các giấy tờ liên quan đểlàm căn cứ cho việc thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác địnhlại giới tính, bổ sung hộ tịch
Đối với trường hợp xác định lại giới tính, thì văn bản kết luận của tổchức y tế đã tiến hành can thiệp để xác định lại giới tính là căn cứ cho việcxác định lại giới tính
Việc thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giớitính, bổ sung hộ tịch cho người chưa thành niên hoặc người mất năng lựchành vi dân sự được thực hiện theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc người giám hộ
Đối với việc thay đổi họ, tên cho người từ đủ 9 tuổi trở lên và xác địnhlại dân tộc cho người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi trở lên, thì phải có sựđồng ý của người đó
Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu việc thayđổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính có đủ điềukiện theo quy định của pháp luật, thì cán bộ Tư pháp - hộ tịch hoặc cán bộ Tưpháp của Phòng Tư pháp huyện ghi vào Sổ đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch
và Quyết định cho phép thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xácđịnh lại giới tính Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Chủ tịch Ủy bannhân dân cấp huyện ký và cấp cho đương sự một bản chính Quyết định chophép thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính.Bản sao Quyết định được cấp theo yêu cầu của đương sự
Trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêmkhông quá 5 ngày
Nội dung và căn cứ thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xácđịnh lại giới tính phải được ghi chú vào cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh
và mặt sau của bản chính Giấy khai sinh
Việc bổ sung hộ tịch được giải quyết ngay sau khi nhận đủ giấy tờ hợp
lệ Nội dung bổ sung được ghi trực tiếp vào những cột, mục tương ứng trong
Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh Cán bộ Tư pháp hộ tịch