Trong những năm gần đây, quán triệt chủ trương của Nghị quyết Trung ương 5 khóa XI của Đảng, Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành các Nghị quyết thực hiện thí điểm không tổ
Trang 1Thực trạng tổ chức, hoạt động của Hội đồng nhân dân tại………”
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chuyên đề báo cáo thực tập “ Thực trạng tổ chức, hoạt động của Hội đồng nhân dân……….”, ngoài sự nổ lực của bản thân, em xin chân thành cảm ơn đến thầy cô Trường Đại học Vinh đã tận tình chỉ bảo và truyền đạt kiến thức cho chúng em trong suốt các năm học qua Dưới sự chỉ bảo tận tình của quý thầy cô đã giúp chúng em có được một nền tảng kiến thức và có được hành trang để vững bước trên con đường tương lai Đặc biệt là cô giáo Hồ Thị Nga, đã hết lòng trực tiếp hướng dẫn, quan tâm và dạy dỗ, truyền đạt nhiều kinh nghiệm cũng như cho em nhiều ý kiến, kiến thức quý báu trong suốt quá trình chuẩn bị, thực hiện và hoàn thành bài báo cáo thực tập này
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc đến Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội phường Quỳnh Thiện, ông Nguyễn Bá Tiến-người trực tiếp hướng dẫn em trong đợt thực tập này để em học hỏi được nhiều thêm kiến thức, kỹ năng và tích lũy kinh nghiệm cho bản thân
Với kiến thức còn hạn hẹp, khả năng áp dụng kiến thức vào thực tiễn chưa được tốt Do đó trong quá trình xây dựng bài báo cáo thực tập không tránh khỏi những sai sót và những hạn chế Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô để em hoàn chỉnh kiến thức của mình
Em xin chân thành cảm ơn !
A MỞ ĐẦU
Trang 21 Lý do chọn đề tài:
Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở ta nước ta hiện nay, vấn đề kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước là một yêu cầu khách quan, mục đích đặt ra là làm cho các cơ quan Nhà nước ở Trung ương cũng như ở địa phương thực hiện đúng và đầy đủ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình theo quy định của Hiến pháp và Pháp luật
Hơn nửa thế kỷ qua, bộ máy Nhà nước ta đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển Sau mỗi lần sửa đổi Hiến pháp, thể chế và tổ chức bộ máy nhà nước ta đã không ngừng được cải thiện Trong đó Hội đồng nhân dân các cấp đã được đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, khẳng định vị thế là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, góp phần không nhỏ vào sự nghiệp bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân Từ năm 2009 đến nay, theo đề nghị của Chính phủ, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X, Quốc hội khóa XII có chủ trương cho triển khai thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, huyện, phường trên
10 tỉnh thành Sau hơn 3 năm thực hiện, có nhiều ý kiến đánh giá khác nhau, tuy nhiên đó mới chỉ là đánh giá thí điểm trên một số địa phương, không thể phủ nhận vai trò của Hội đồng nhân dân phường
Từ trước đến nay qua thực tiễn hoạt động, vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân trong hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước ta ngày càng được khẳng định Tuy nhiên, trong thời gian những năm gần đây thì hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp đã thể hiện nhiều bất cập, hạn chế trong tổ chức và hoạt động, chưa đáp ứng với yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội Chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân chưa phản ánh rõ nét qua các kỳ họp, năng lực, trình độ và nhận thức của đại biểu Hội đồng nhân dân chưa xứng tầm với yêu cầu đòi hỏi của nền kinh
tế thị trường và nguyện vọng của cử tri và chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đặt ra, trong đó có HĐND cấp xã - do cử tri tri trong xã bầu ra, nơi gần gũi nhân
dân nhất như lời chủ tịch Hồ Chí Minh nói “Cấp xã là cấp gần gũi nhân dân nhất, là nền tảng của hành chính Cấp xã làm được việc thì mọi việc đều xong xuôi”.
Với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về thực trạng tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân nói chung cũng như Hội đồng nhân dân cấp xã nói riêng qua
đó đưa ra một số giải pháp hy vọng có thể góp một phần vào công cuộc đổi mới, hoàn thiện bộ máy cơ quan quyền lực mà Nhà nước ta đang đặt ra trong giai
đoạn hiện nay, nên tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Thực trạng tổ chức và hoạt
Trang 3động của Hội đồng nhân dân phường Quỳnh Thiện, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An” để nghiên cứu
2 Mục đích
Đề tài có mục đính nghiên cứu một cách hệ thống tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã, tìm ra những bất cập trong hệ thống pháp luật về hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã và những vướng mắc trong thực tiễn hoạt động của Hội đồng nhân dân phường Quỳnh Thiện, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An; Trên cơ sở đó đề xuất những kiến nghị giải pháp nhằm đổi mới tổ chức
và nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã ở Việt Nam nói chung và Hội đồng nhân dân phường Quỳnh Thiện-Thị xã Hoàng Mai nói riêng
Để đạt được mục đích nêu trên, nhiệm vụ của đề tài là làm rõ những vấn
đề lý luận về hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã Phân tích được những quy luật của pháp luật hiện hành về hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã và thực trạng hoạt động của Hội đồng nhân dân phường Quỳnh Thiện
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Với đề tài này, đi sâu nghiên cứu về hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp
xã, thực trạng hoạt động của Hội đồng nhân dân phường Quỳnh Thiện và đưa ra những giải pháp nâng cao hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã, Hội đồng nhân dân phường Quỳnh Thiện
Nghiên cứu nội dung của đề tài trên cơ sở các văn bản pháp luật; các Nghị quyết Hội đồng nhân dân; các báo cáo liên quan đến hoạt động của Hội đồng nhân dân phường Quỳnh Thiện… trong gần nửa đầu nhiệm kỳ 2011- 2016, đặc biệt là trong năm 2012
4 Kết cấu của khóa luận.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận gồm 3 chương
Chương 1: Một số lý luận về hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xãChương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã và thực tiễn thực hiện ở Phường Quỳnh Thiện, Thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân phường Quỳnh Thiện
B NỘI DUNG
Trang 4Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ
1.1 Khái quát về Hội đồng nhân dân cấp xã
1.1.1 Khái niệm Hội đồng nhân dân cấp xã
Nghiên cứu thực tế tổ chức chính quyền địa phương của các nước trên thế giới và trong lịch sử nước ta cho thấy, các nước đều phân chia quốc gia theo các đơn vị hành chính lãnh thổ để từ đó xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương V.I Lênin đã chỉ rõ: Đặc trưng đầu tiên của Nhà nước là phân chia công dân của Quốc gia theo đơn vị lãnh thổ Việc phân chia đó còn phụ thuộc vào cấu trúc nhà nước, các yếu tố cộng đồng dân cư, địa lý, văn hóa, kinh tế … về bản chất, việc phân chia các đơn vị hành chính không chỉ mang ý nghĩa hành chính-quản lý mà còn để thực hiện quản lý nhà nước một cách hệ thống trên toàn lãnh thổ quốc gia
Với cấu trúc nhà nước đơn nhất của nước ta hiện nay, chính quyền địa phương được chia thành ba cấp theo đơn vị hành chính lãnh thổ đó là:
- Chính quyền cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi là chính quyền cấp tỉnh;.
- Chính quyền cấp huyện, quận và thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi chung là chính quyền cấp huyện);
- Chính quyền xã, phường, thị trấn (gọi chung là chính quyền cấp xã)
Việc phân chia như vậy là cơ sở cho việc tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương thực hiện quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực đời sống xã hội
ở mỗi cấp; có ý nghĩa cho việc thực hiện các quyền công dân cả về vật chất và
tinh thần (quyền bầu cử, ứng cử, tham gia xây dựng và quản lý Nhà nước …) và
khai thác tốt những lợi thế của mỗi cấp chính quyền địa phương theo những đặc điểm vốn có
Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật hiện hành, có thể xác định chính quyền tại mỗi cấp hành chính lãnh thổ bao gồm: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Việc phân cấp giữa các cơ quan chính quyền địa phương phải đảm bảo sự phù hợp về chức năng, nhiệm vụ, khả năng của từng cấp, đảm bảo sự tập trung dân chủ, thống nhất quyền lực Nhà nước
Có thể nói rằng, Hội đồng nhân dân các cấp nói chung, Hội đồng nhân dân cấp xã nói riêng là cơ quan có vai trò rất lớn trong việc thực hiện quyền lực Nhà
Trang 5nước ở địa phương; là cơ quan dân cử, đại diện cho nhân dân thực thi quyền làm chủ của mình.
Tại Điều 119 Hiến pháp 1992 và Điều 1 luật tổ chức Hội đồng nhân dân
và Ủy ban nhân dân năm 2003 có quy định rõ: “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan quyền lực nhà nước cấp trên”.
Trên cơ sở quy định chung về Hội đồng nhân dân, có thể hiểu khái niệm theo hướng: Hội đồng nhân dân cấp xã là cơ quan quyền lực Nhà nước ở cấp xã, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do chính nhân dân cấp xã bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân và cơ quan quyền lực Nhà nước cấp trên
Như vậy, Hội đồng nhân dân cấp xã là cơ quan đại diện cho ý chí và quyền lực của nhân dân địa phương và nhân dân địa phương trực tiếp hoặc gián tiếp thành lập; cùng với Hội đồng nhân dân các cấp và Quốc hội hợp thành hệ thống
cơ quan quyền lực Nhà nước và là gốc của chính quyền nhân dân, các cơ quan Nhà nước khác tại địa phương
Trong những năm gần đây, quán triệt chủ trương của Nghị quyết Trung ương 5 (khóa XI) của Đảng, Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành các Nghị quyết thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường tại 62 huyện, 32 quận và 483 phường của 10 tỉnh thành phố trực thuộc trung ương là Lào Cai, Vĩnh Phúc, Hải phòng, Nam Định, Quảng Trị, Đà Nẵng, Phú Yên, Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu, Kiên Giang; Tòa Án nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính ban hành các thông tư hướng dẫn thực hiện Sau 3 năm tổ chức triển khai thực hiện, đánh giá một cách tổng quát cho thấy, thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường bước đầu đã đạt được những mục tiêu, yêu cầu đề ra, thể hiện qua sự thay đổi về cơ chế quản lý, điều hành trong hệ thống hành chính nhà nước UBND quận, huyện theo chức năng, quyền hạn sẽ chỉ đạo trực tiếp và chủ động quyết định những vấn đề phát sinh theo thẩm quyền kịp thời mà không phải thông qua kỳ họp HĐND một năm hai kỳ Do đó, việc điều hành dự toán cũng như các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội, củng cố quốc phòng an ninh năng động, linh hoạt hơn, giảm được thủ tục hành chính
Bên cạnh đó, biên chế và kinh phí hoạt động của HĐND ở hai cấp quận, huyện và phường được tinh giảm và đặc biệt là tiết kiệm chi ngân sách cho các khoản phụ cấp cho đại biểu HĐND quận, huyện, phường và các khoản kinh phí đặc thù khác
Trang 6Tuy nhiên trong quá trình thực hiện, cũng gặp nhiều khó khăn, vướng mắc như: việc thí điểm không tổ chức thực hiện HĐND huyện, quận, phường còn đòi hỏi vai trò, trách nhiệm của UBND quận, huyện, phường cao hơn, nếu năng lực điều hành của UBND quận, huyện, phường hạn chế thì trong giải quyết các công việc sẽ ảnh hưởng, việc giám sát sự điều hành của UBND và thực hiện nhiệm vụ
ở cơ sở sẽ khó khăn hơn (trước đây do HĐND quận, huyện, phường thực hiện)
Việc Đảng và Nhà nước tổ chức thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân phường ở một số địa phương đã cho thấy những nỗ lực trong việc thực hiện cải cách bộ máy nhà nước Tuy nhiên, việc không tổ chức Hội đồng nhân dân phường chỉ mới tổ chức thực hiện thí điểm ở một số địa phương và xét trong cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước ta hiện nay, không thể phủ nhận vị trí, tính chất và chức năng của Hội đồng nhân dân phường
1.1.2 Vị trí, tính chất và chức năng của Hội đồng nhân dân cấp xã.
- Vị trị của Hội đồng nhân dân cấp xã.
Hội đồng nhân dân các cấp nói chung, Hội đồng nhân dân cấp xã nói riêng
ở nước ta là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu, miễn nhiệm và bãi nhiệm theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín; chịu trách nhiệm trước nhân dân và cơ quan Nhà nước cấp trên Khác với Quốc hội là cơ quan thay mặt toàn thể nhân dân cả nước, sử dụng quyền lực Nhà nước trên phạm vi toàn quốc, Hội đồng nhân dân thay mặt nhân dân địa phương
sử dụng quyền lực Nhà nước trong phạm vi địa phương mình
Hội đồng nhân dân cấp xã trong Nhà nước ta là tổ chức chính quyền gần dân nhất nên hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng, yêu cầu và cả những bức xúc của nhân dân, nắm vững tình hình thực tế của địa phương; quyết định mọi công việc sát hợp với nguyện vọng của nhân dân địa phương Hội đồng nhân dân cấp xã còn là một tổ chức có tính chất quần chúng, bao gồm các đại biểu mọi tầng lớp nhân dân, các dân tộc, tôn giáo, những công nhân, nông dân, trí thức ưu tú cùng nhau bàn bạc giải quyết các công việc của địa phương
Như vậy, Hội đồng nhân dân cấp xã là một tổ chức vừa có tính chất chính quyền, vừa có tính chất quần chúng, là trường học quản lý Nhà nước, quản lý xã hội ở địa phương
- Tính chất của Hội đồng nhân dân cấp xã.
+ Là cơ quan đại diện tại địa phương
Hội đồng nhân dân cấp xã là cơ quan do nhân dân địa phương bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng trực tiếp và bỏ phiếu kín; là đại diện tiêu biểu cho tiếng nói của tầng lớp nhân dân trong xã Với đặc thù này Hội đồng nhân dân
Trang 7cấp xã với tư cách tập thể và từng cá nhân đại biểu có trực tiếp trước cử tri bầu ra mình Biểu hiện của trách nhiệm này trước hết là vai trò đại diện của Hội đồng nhân dân và các đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã.
+ Là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương
Đây là tổ chức chính quyền gần dân nhất, nên nắm rõ tình hình của địa phương cũng như tâm tư, nguyện vọng của nhân dân Do đó, bằng chức năng, nhiệm vụ của mình Hội đồng nhân dân có những quyết định, chỉ đạo kịp thời
- Chức năng của Hội đồng nhân dân cấp xã.
Theo Điều 1 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm
2003 có quy định về chức năng của Hội đồng nhân dân, trên cơ sở những quy định đó, Hội đồng nhân dân cấp xã có các chức năng sau:
Thứ nhất, Hội đồng nhân dân cấp xã quyết định những chủ trương, biện
pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng-an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với Nhà nước
Thứ hai, Hội đồng nhân dân cấp xã thực hiện quyền giám sát đối với hoạt
động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã, giám sát trên địa bàn việc tuân theo pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức
xã hội, công dân địa phương …
Thứ ba, Ngoài hai chức năng được quy định cụ thể trong Luật thì Hội
đồng nhân dân cấp xã còn có chức năng đảm bảo việc thực hiện các quy định và quyết định của cơ quan Nhà nước cấp trên và của Trung ương ở địa phương
Các chức năng của Hội đồng nhân dân cấp xã đã được Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cụ thể hóa thành các nhiệm vụ và quyền hạn
1.1.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân cấp xã (phường).
Theo Điều 3 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm
2003 thì Hội đồng nhân dân các cấp nói chung, Hội đồng nhân cân cấp xã (phường) nói riêng thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của mình theo Hiến pháp, Pháp luật và các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường pháp chế Xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa và chống các biểu hiện tiêu cực của cán bộ-công chức trong bộ máy chính quyền địa phương Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân cấp xã (phường) đã được quy định từ Điều 29 đến Điều 35 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 trên các lĩnh vực, cụ thể:
- Trong lĩnh vực kinh tế:
Trang 8+ Quyết định biện pháp thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm; kế hoạch sử dụng lao động công ích hàng năm; biện pháp thực hiện chương trình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, khuyến công và chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cây trồng, vật nuôi theo quy hoạch chung;
+ Quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách địa phương và phân bổ dự toán ngân sách; phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương; các chủ trương, biện pháp để triển khai thực hiện ngân sách và điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật; giám sát việc thực hiện ngân sách đã được Hội đồng nhân dân quyết định;
+ Quyết định biện pháp quản lý và sử dụng hợp lý, có hiệu quả quỹ đất được để lại nhằm phục vụ các nhu cầu công ích của địa phương;
+ Quyết định biện pháp xây dựng và phát triển hợp tác xã;
+ Quyết định biện pháp quản lý, sử dụng và bảo vệ nguồn nước, các công trình thuỷ lợi theo phân cấp của cấp trên; biện pháp phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, bão lụt, bảo vệ rừng, tu bổ và bảo vệ đê điều ở xã;
+ Quyết định biện pháp thực hiện xây dựng, tu sửa đường giao thông, cầu, cống trong xã và các cơ sở hạ tầng khác ở địa phương;
+ Quyết định biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng, chống buôn lậu và gian lận thương mại
- Trong lĩnh vực giáo dục, y tế, xã hội và đời sống, văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, bảo vệ tài nguyên, môi trường
+ Quyết định biện pháp bảo đảm các điều kiện cần thiết để trẻ em vào học tiểu học đúng độ tuổi, hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục tiểu học; tổ chức các trường mầm non; thực hiện bổ túc văn hoá;
+ Quyết định biện pháp giáo dục, chăm sóc thanh niên, thiếu niên, nhi đồng; xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, giáo dục truyền thống đạo đức tốt đẹp; giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc; ngăn chặn việc truyền bá văn hoá phẩm phản động, đồi trụy, bài trừ mê tín, hủ tục, phòng, chống các tệ nạn xã hội ở địa phương;
+ Quyết định biện pháp phát triển hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao; hướng dẫn tổ chức các lễ hội cổ truyền, bảo vệ và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hoá và danh lam thắng cảnh ở địa phương theo quy định của pháp luật;
+ Quyết định việc xây dựng, tu sửa trường lớp, công trình văn hoá thuộc phường quản lý;
Trang 9+ Quyết định biện pháp bảo đảm giữ gìn vệ sinh, xử lý rác thải, phòng, chống dịch bệnh, biện pháp bảo vệ môi trường trong phạm vi quản lý; biện pháp thực hiện chương trình y tế cơ sở, chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình;
+ Quyết định biện pháp thực hiện chính sách, chế độ đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, những người và gia đình có công với nước, thực hiện công tác cứu trợ xã hội và vận động nhân dân giúp đỡ gia đình khó khăn, người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa; biện pháp thực hiện xoá đói, giảm nghèo
- Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội:
+ Quyết định biện pháp bảo đảm thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự; xây dựng lực lượng dân quân, tự vệ và quốc phòng toàn dân; thực hiện nhiệm vụ hậu cần tại chỗ; thực hiện chính sách hậu phương quân đội và chính sách đối với các lực lượng vũ trang nhân dân ở địa phương;
+Quyết định biện pháp bảo đảm giữ gìn an ninh, trật tự công cộng, an toàn
xã hội; phòng, chống cháy, nổ; đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác trên địa bàn
- Trong việc thực hiện chính sách tôn giáo:
Quyết định biện pháp thực hiện chính sách tôn giáo, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân địa phương theo quy định của pháp luật
- Trong lĩnh vực thi hành pháp luật:
+ Quyết định biện pháp bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của mình ở địa phương;
+ Quyết định biện pháp bảo hộ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân;
+ Quyết định biện pháp bảo vệ tài sản, lợi ích của Nhà nước; bảo hộ tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân ở địa phương;
+ Quyết định biện pháp bảo đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân theo quy định của pháp luật
- Trong việc xây dựng chính quyền địa phương, Hội đồng nhân dân cấp xã thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
+ Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch và thành viên khác của Uỷ ban nhân dân phường; bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân và chấp nhận việc đại biểu Hội đồng nhân dân xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu theo quy định của pháp luật;
+ Lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân phường bầu;
Trang 10+ Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định, chỉ thị trái pháp luật của Uỷ ban nhân dân phường;
+ Thông qua đề án thành lập mới, nhập, chia và điều chỉnh địa giới hành chính ở địa phương để đề nghị cấp trên xem xét, quyết định
- Đồng thời, đối với Hội đồng nhân dân phường thực hiện những nhiệm
vụ, quyền hạn sau đây:
+ Quyết định biện pháp thực hiện thống nhất kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội và quy hoạch đô thị; thực hiện nhiệm vụ giải phóng mặt bằng; bảo đảm trật tự giao thông đô thị, trật tự xây dựng trên địa bàn phường;
+ Quyết định biện pháp xây dựng nếp sống văn minh đô thị; biện pháp phòng, chống cháy, nổ, giữ gìn vệ sinh; bảo vệ môi trường, trật tự công cộng và cảnh quan đô thị trong phạm vi quản lý;
+ Quyết định biện pháp quản lý dân cư và tổ chức đời sống nhân dân trên địa bàn phường
1.2 Nguyên tắc hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã
Nguyên tắc hoạt động của bộ máy Nhà nước là phương phướng mang tính chỉ đạo trong quá trình hoạt động được xác định trong Hiến pháp và Pháp luật Những nguyên tắc đó là: Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc tập trung dân chủ; nguyên tắc Đảng lãnh đạo; nguyên tắc đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân; nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc
Hội đồng nhân dân cấp xã là một cơ quan trong bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, do vậy hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã cũng phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản nêu trên
1.3 Các hình thức hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã
Hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã được đánh giá trên các mặt hoạt động chủ yếu sau:
1.3.1 Các kỳ họp của Hội đồng nhân dân cấp xã.
Kỳ họp Hội đồng nhân dân cấp xã là một trong những hoạt động chủ yếu của Hội đồng nhân dân cấp xã Thông qua kỳ họp, ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương được chuyển thành Nghị quyết của cơ quan quyền lực Nhà nước
ở địa phương Kỳ họp Hội đồng nhân dân là hình thức hoạt động quan trọng nhất của Hội đồng nhân dân cấp xã Tính đặc biệt quan trọng này thể hiện ở chỗ Hội đồng nhân dân làm việc tập trung và có hiệu quả nhất trong các kỳ họp của mình Tại các kỳ họp, Hội đồng nhân dân cấp xã thảo luận dân chủ và quyết định theo
đa số các công việc quan trọng thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình; bầu ra Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp Các quyết định của
Trang 11Hội đồng nhân dân được thể hiện dưới dạng Nghị quyết, các Nghị quyết này phải được ban hành theo trình tự, thủ tục nhất định.
1.3.2 Hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã (phường)
Trong các hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã thì hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân cũng giữ một vị trí quan trọng Đây là hình thức hoạt động có tác dụng lớn đến hiệu quả hoạt động chung của cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã do Hội đồng nhân dân xã bầu ra
Hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã thể hiện qua những quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thường trực Hội đồng nhân dân, cụ thể:
- Triệu tập và chủ tọa các kỳ họp của Hội đồng nhân dân; phối hợp với Ủy ban nhân dân trong việc chuẩn bị kỳ họp của Hội đồng nhân dân xã
- Đôn đốc, kiểm tra Ủy ban nhân dân phường, các ngành ở địa phương thực hiện các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân
- Giám sát việc thi hành pháp luật tại xã
- Xem xét kết quả giám sát của Hội đồng, giữ mối liên hệ với các đại biểu hội đồng nhân dân, tổng hợp các chất vấn của đại biểu Hội đồng để báo cáo Hội đồng nhân dân
- Tiếp dân, đôn đốc, kiểm tra và xem xét tình hình giải quyết các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân; Tổng hợp ý kiến, nguyện vọng của nhân dân để báo cáo tại kỳ họp của Hội đồng nhân dân
- Báo cáo về hoạt động của Hội đồng nhân dân xã lên Hội đồng nhân dân
và Ủy ban nhân dân cấp trên
- Giữ mối liên hệ và phối hợp công tác với Ban thường trực Ủy ban Mặt trận tổ quốc xã, mỗi năm 2 lần thông báo cho Ban thường trực Ủy ban Mặt trận
tổ quốc Việt Nam xã về hoạt động của Hội đồng nhân dân…
- Trình Hội đồng nhân dân bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu theo đề nghị của ít nhất 1/3 trên tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân
- Hàng tháng tổ chức họp giao ban thường trực Hội đồng nhân dân xã nhằm kiểm điểm việc thực hiện nhiệm vụ, các nghị quyết của Hội đồng nhân dân, các quyết định của chính Thường trực Hội đồng nhân dân và đề ra nhiệm vụ tháng sau
1.3.4 Hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã.
Trang 12Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân trong xã, gương mẫu chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật và tham gia vào việc quản lý nhà nước.
- Hoạt động của các đại biểu hội đồng nhân dân cấp xã góp phần quan trọng vào việc xây dựng và thực hiện các chủ trương công tác của Hội đồng nhân dân xã Số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã được bầu theo số dân Theo quy định chung, số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân ở cấp xã từ 25-35 đại biểu, hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân tập trung trên hai mặt:
Một là, Hoạt động của đại biểu tại kỳ họp và trong các cơ quan của Hội
đồng nhân dân cấp xã
Đại biểu hội đồng nhân dân cấp xã có nhiệm vụ tham gia đầy đủ các kỳ họp của Hội đồng nhân dân, sinh hoạt của tổ đại biểu, hoàn thành nhiệm vụ được giao Trong kỳ họp, đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền đề nghị ghi vào chương trình nghị sự những vấn đề mà đại biểu xét thấy cần thiết để Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét và quyết định, thảo luận, phát biểu ở tổ và tại hội trường; biểu quyết các nghị quyết và kết luận tại kỳ họp; chất vấn chủ tịch và các thành viên của Ủy ban nhân dân, các ngành chuyên môn
Hai là, hoạt động của đại biểu tại đơn vị bầu cử
Đại biểu phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, lấy ý kiến của cử tri về những vấn đề sẽ bàn trong kỳ họp Hội đồng nhân dân cấp xã
và báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và Hội đồng nhân dân cùng cấp
Hoạt động của đại biểu tại đơn vị bầu cử không chỉ mang tính riêng lẻ mà còn là hình thức tập thể, các đại biểu của Hội đồng nhân dân được bầu ra ở một hay nhiều đơn vị đơn vị lập thành tổ đại biểu Tổ đại biểu là hình thức sinh hoạt tập thể của đại biểu để nghiên cứu tài liệu chuẩn bị đóng góp ý kiến cho kỳ họp Trong kỳ họp tổ đại biểu thảo luận và đóng góp ý kiến về các vấn đề thuộc chương trình nghị sự của các kỳ họp Hội đồng nhân dân cấp xã
Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã có thể xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu
vì lý do sức khỏe hoặc vì lý do khác Việc chấp nhận đại biểu xin thôi làm nhiệm
vụ do Hội đồng nhân dân cùng cấp xét và quyết định Đại biểu Hội đồng nhân dân không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân thì tùy mức độ sai phạm
mà bị Hội đồng nhân dân hoặc cử tri bãi nhiệm Thường trực Hội đồng nhân dân
và Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định việc đưa ra Hội đồng nhân dân hoặc đưa ra cử tri bãi nhiệm đại biểu theo đề nghị của Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam cùng cấp
Trang 13Như vậy, Hội đồng nhân dân cấp xã là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, cơ quan đại diện của nhân dân địa phương, thực hiện quyền hạn, nhiệm
vụ của mình trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội Hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã được đảm bảo thực hiện bởi hoạt động của kỳ họp Hội đồng nhân dân cấp xã, hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, và các đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã
Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN Ở PHƯỜNG QUỲNH THIỆN, THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ
AN
2.1 Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã.
Điều 8 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003
quy định: “Hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân được đảm bảo bằng hiệu quả của các kỳ họp Hội đồng nhân dân, hiệu quả hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, các ban Hội đồng nhân dân và của các đại biểu Hội đồng nhân dân”.
2.1.1 Kỳ họp Hội đồng nhân dân cấp xã.
Theo Điều 48 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm
2003 và Điều 6 Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân năm 2005, Hội đồng nhân dân cấp xã mỗi năm họp 2 kỳ Ngoài những kỳ họp thường lệ, Hội đồng nhân dân cấp xã tổ chức các kỳ họp bất thường theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp hoặc ít nhất 1/3 tổng số đại biểu yêu cầu
Theo Điều 49, Điều 51 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, Điều 7, Điều 12 Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân năm
2005 quy định về kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân; theo đó kỳ họp thứ
nhất của Hội đồng nhân dân cấp xã khóa mới “được tiến hành chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân” … Trong kỳ họp đầu tiên
của mỗi khóa Hội đồng nhân dân cấp xã chủ yếu là công tác tổ chức, xây dựng
bộ máy Nhà nước tại địa phương
Như vậy, theo những quy định hiện hành thì kỳ họp thứ nhất Hội đồng nhân dân cấp huyện chiếm vị trí quan trọng vì nó liên quan đến việc kiện toàn tổ
Trang 14chức, bộ máy nhà nước ở địa phương; tiến hành thẩm tra tư cách đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã, bầu ra cơ cấu tổ chức Hội đồng nhân dân cấp xã, UBND cùng cấp …
Kỳ họp thường lệ và kỳ họp cuối nhiệm kỳ Hội đồng nhân dân cấp xã tuân theo những quy định tại Điều 15 Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân năm 2005: Tại kỳ họp thường lệ, Hội đồng nhân dân cấp xã sẽ quyết định kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội; quyết định những vấn đề liên quan đến ngân sách địa phương; những vấn đề khác thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình; nghe vãem xét báo cáo công tác, kết quả hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân,
UBND; xem xét việc trả lời chất vấn.“Kỳ họp cuối nhiệm kỳ được tiến hành chậm nhất là 30 ngày trước ngày bầu cử Hội đồng nhân dân khóa mới Tại kỳ họp này, ngoài những nội dung của kỳ họp thường lệ, Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân báo cáo kiểm điểm nhiệm kỳ hoạt động của mình”.
Theo những quy định của pháp luật hiện hành về kỳ họp Hội đồng nhân dân cấp xã, là cơ quan thay mặt cho toàn thể nhân dân địa phương nói lên những mong muốn nguyện vọng của nhân dân trong quản lý Nhà nước Theo phương diện khách quan, mỗi năm Hội đồng nhân dân cấp xã họp 2 kỳ là không đủ để giải quyết những mong muốn, nguyện vọng của nhân dân Thời gian giữa mỗi kỳ họp cách nhau quá lâu nên vấn đề bức xúc mà nhân dân phản ánh sẽ không được giải quyết kịp thời
Cũng theo quy định của Quy chế, Hội đồng nhân dân cấp xã có thể tổ chức
kỳ họp bất thường nhưng lại không quy định những trường hợp như thế nào thì
tổ chức họp bất thường Việc quy định cụ thể vấn đề này là quan trọng, bởi quy định rõ thì Hội đồng nhân dân cấp xã mới có thể tiến hành triển khai cuộc họp bất thường để kịp thời giải quyết những vấn đề phát sinh và việc triệu tập cuộc họp mới có thể diễn ra thuận lợi
2.1.2 Hoạt động của thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã.
Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tổ chức các hoạt động Hội đồng nhân dân cấp xã, chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cùng cấp Các thành viên thường trực cấp xã chịu trách nhiệm tập thể về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã, chịu trách nhiệm cá nhân trước thường trực Hội đồng nhân dân về nhiệm vụ, quyền hạn được thường trực Hội đồng nhân dân phân công
Trang 15Hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã thể hiện trên các nội dung sau:
- Triệu tập, chủ tọa kỳ họp của Hội đồng nhân dân cấp xã.
Theo quy định thì Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cùng cấp trong việc chuẩn bị cho kỳ họp Hội đồng nhân dân cấp xã; triệu tập và chủ tọa các kỳ họp thường lệ, kỳ họp bất thường
của Hội đồng nhân dân cùng cấp (Điều53 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003) Điều 19, Điều 20 Quy chế hoạt động của Hội đồng
nhân dân năm 2005 cũng quy định cụ thể hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân trong việc chuẩn bị, triệu tập và chủ tọa kỳ họp Hội đồng nhân dân Theo đó, hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã gồm: Chủ trì phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã dự kiến chương trình, nội dung kỳ họp, quyết định triệu tập
kỳ họp; tổng hợp ý kiến chất vấn …; khi chủ tọa phiên họp, Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã điều khiển phiên họp, chỉ đạo việc tổng hợp ý kiến, tiếp thu ý kiến thảo luận …
Hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã chủ yếu là tại các kỳ họp, do đó việc chuẩn bị chu đáo các nội dung, chương trình, các báo cáo, dự thảo các văn bản của Hội đồng nhân dân cấp xã như Nghị quyết, đề án … là rất quan trọng Nếu làm tốt khâu chuẩn bị, kỳ họp sẽ được tiến hành khoa học, trôi chảy, chất lượng và hiệu quả … Còn ngược lại, sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã, vì vậy hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân là rất quan trọng
- Kiểm tra, đôn đốc Ủy ban nhân dân trong việc thực hiện Nghị quyết Hội đồng nhân dân.
Điều 21 Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân năm 2005 có quy định
về hoạt động kiểm tra, đôn đốc Ủy ban nhân dân trong việc thực hiện Nghị quyết Hội đồng nhân dân các cấp, vậy có thể nói đây là một trong những hoạt động khá quan trọng của Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã Bởi vì, Hội đồng nhân dân cấp xã thường lệ chỉ họp 2 kỳ trong một năm, hoạt động giám sát việc thực hiện Nghị quyết Hội đồng nhân dân cấp xã củng không thể duy trì thường xuyên được mà chủ yếu tập trung tại kỳ họp
- Giữ mối liên hệ với đại biểu, tổ đại biểu Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân.
Theo quy định tại Điều 23 Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân năm
2005, trong hoạt động giữ mối liên hệ với đại biểu, tổ đại biểu, Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã thực hiện đôn đốc việc tiếp xúc cử tri, thu thập ý kiến, phối
Trang 16hợp với các ngành, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam cùng cấp để tổng hợp ý kiến; tổ chức để đại biểu nghiên cứu các quy định của pháp luật về những vấn đề liên quan …
- Hoạt động tiếp dân, tiếp nhận, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra và xem xét tình hình giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân.
Theo quy định tại Điều 61 Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân năm
2005, ngoài hoạt động giám sát, công tác phối hợp chuẩn bị các kỳ họp của Hội đồng nhân dân cấp xã, Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã phải tiếp nhận ý kiến, kiến nghị, đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của Công dân và chuyển cho các cơ quan hữu quan để giải quyết, đồng thời có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc, xem xét tình hình giải quyết đơn thư và báo cáo kết quả giải quyết cho công dân
và Hội đồng nhân dân cấp xã Với hoạt động này của Thường trực Hội đồng nhân dân đã góp phần tích cực trong việc giám sát tình hình giải quyết đơn thư của công dân từ phía cơ quan, hạn chế tình trạng trì trệ, chậm trễ, thậm chí kéo dài thời hạn giải quyết đơn từ phía các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giải quyết
Như vậy, Quy định của pháp luật nêu trên về hoạt động của Thường trực Hội đồng cấp xã là cụ thể, chi tiết và cần thiết, tạo hành lang pháp lý thuận lợi để hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã thực sự đạt hiệu quả và có ý nghĩa
Song bên cạnh đó, khi xét đến cơ cấu tổ chức của Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã vẫn còn có những điểm bất cập, hạn chế Hiện nay cơ cấu Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã không thống nhất với nhiệm vụ được giao Thường trực Hội đồng nhân dân không phải là một cơ quan có tính tổ chức
mà chỉ có tư cách cá nhân của chủ tịch, phó chủ tịch Hội đồng nhân dân Việc bố trí nhân sự Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã cũng thiếu sự thống nhất,chủ tịch là kiêm nhiệm Việc bố trí như thế tất yếu dẫn tới hệ quả là hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã kém hiệu quả
- Hoạt động thẩm định báo cáo, Nghị quyết.
Khác với hoạt động của Hội đồng nhân dân Tỉnh, huyện … Hoạt động thẩm định báo cáo, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã không có các Ban Hội đồng nhân dân nên thực hiện theo Điều 36 Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân năm 2005, Thường trực Hội đồng nhân dân có thể cử thành viên tham gia thực hiện hoạt động thẩm tra dự thảo Nghị quyết, báo cáo, đề án liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của mình
2.1.3 Hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã.
Trang 17Điều 4 và Điều 5, Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân năm 2005 quy định về tổ chức và hoạt động của tổ đại biểu, trong đó quy định trách nhiệm
cụ thể của Thường trực, Tổ trưởng, đại biểu, cách thức hoạt động của tổ và mối
liên hệ giữa tổ đại biểu với Thường trực Hội đồng nhân dân các cấp: “Các đại biểu Hội đồng nhân dân được bầu ở một hoặc nhiều đơn vị bầu cử hợp thành tổ đại biểu Hội đồng nhân dân, số lượng đai biểu Hội đồng nhân dân, Tổ trưởng và
tổ phó của tổ đại biểu Hội đồng nhân dân do Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định …; Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân họp ít nhất một quý một lần để bàn kế hoạch công tác, phân công đại biểu tiếp dân … Thành viên tổ đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm tham dự đầy đủ các cuộc họp của tổ đại biểu, trong trường hợp không thể tham dự được thì phải báo cáo với tổ trưởng tổ đại biểu.
Như vậy, với những quy định của pháp luật hiện hành có thể thấy Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân không quy định về hoạt động của
Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân; Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân năm
2005 tuy có 2 điều quy định trách nhiệm của Tổ trưởng, tổ phó và các đại biểu, nhưng thiếu chế tài đối với những trường hợp thực hiện không nghiêm túc Mặt khác các thành viên của tổ đại biểu Hội đồng nhân dân đều hoạt động kiêm nhiệm, tính chất công việc, vị trí công tác không được quy định cụ thể, dẫn đến việc thực hiện các hoạt động theo quy định của pháp luật của các đại biểu không được thực hiện hiệu quả
Chương 5 Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân năm 2005 có quy định cụ thể về hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân trong việc tiếp xúc cử tri và tiếp công dân
Thông qua hoạt động tiếp xúc cử tri trước kỳ họp Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân thông báo về dự kiến chương trình, nội dung, thời gian
kỳ họp và những vấn đề cần phải xin ý kiến của cử tri có liên quan đến nội dung
kỳ họp Trên cơ sở đó, đại biểu nắm được tâm tư, nguyện vọng của nhân dân cũng như tình hình thực tế ở địa phương có liên quan đến kỳ họp Sau mỗi kỳ họp, đại biểu Hội đồng nhân dân phải tiếp xúc với cử tri thông qua hội nghị cử tri
để báo cáo về kết quả kỳ họp Hội đồng nhân dân cũng như kết quả hoạt động của đại biểu, tổ đại biểu Hội đồng nhân dân Thông qua đó, đại biểu phổ biến, tuyên truyền về các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân để cử tri nắm bắt được ý nghĩa, nội dung những văn bản pháp luật mà Hội đồng nhân dân thông qua để tự giác thực hiện có hiệu quả