Với một nền kinh tế có 80% dân số sống bằng nghề nông, Việt Nam xác định mặt hàng xuất khẩu chủ lực là các sản phẩm nông nghiệp, các mặt hàng nông sản được xuất khẩu để đổi lấy ngoại tệ
Trang 1BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING
KHOA THƯƠNG MẠI
XUẤT KHẨU ĐẾN NĂM 2020
NGÀNH : QUẢN TRỊ KINH DOANH CHUYÊN NGÀNH: THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
ThS VĂN ĐỨC LONG
Trang 2Với một nền kinh tế có 80% dân số sống bằng nghề nông, Việt Nam xác định mặt hàng xuất khẩu chủ lực là các sản phẩm nông nghiệp, các mặt hàng nông sản được xuất khẩu để đổi lấy ngoại tệ tạo vốn đầu tư nhập khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ hiện đại phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước
Cho đến nay, không ai trong giới kinh doanh gia vị và nông sản trên
khắp thế giới không biết đến Hồ tiêu Việt Nam Người ta biết đến Hồ tiêu
Việt Nam như là một nhà sản xuất và xuất khẩu số 1 thế giới Ngành Hồ
tiêu Việt Nam đã thể hiện ưu thế của mình trong nhiều năm do chi phí nhân công thấp hơn so với các nước trồng tiêu khác Vì thế Hồ tiêu Việt Nam có lợi thế về giá trong cạnh tranh và nắm vị thế chủ đạo trong xuất khẩu
Nhiều năm qua, giá Hồ tiêu trong nước bán được giá tăng dần, tuy nhiên có thời điểm nào đó giá giảm, thậm chí giảm sâu, nhưng nhìn chung cả năm thì giá năm sau tăng hơn năm trước, Năm 2002 – 2005 bình quân: 1.383 USD/tấn, năm 2006 – 2011: 3.753 USD/tấn Riêng năm 2011 tăng vọt lên 5.852 USD/tấn và năm 2012 đạt mức kỷ lục 6.700 USD/tấn Kim ngạch xuất khẩu năm 2009 - 2012 theo đó là: 348 triệu USD; 421 triệu USD; 693 triệu USD và 800 triệu USD (chưa kể xuất tiểu ngạch) Việc giá tiêu tăng mạnh qua các năm nên người dân có xu hướng chặt bỏ một số cây trồng kém hiệu quả kinh tế, thậm chí phá rừng để lấy đất trồng tiêu với hy vọng
sẽ làm giàu từ cây tiêu Chính hoạt động xuất khẩu này đã tăng thêm công
ăn việc làm cho người dân và nguồn thu nhập cho quốc gia
Tuy nhiên Hồ tiêu Việt Nam xuất khẩu sang thị trường thế giới vẫn còn gặp phải nhiều vấn đề khó khăn như: Chưa có hệ thống phân phối phù hợp, chưa có thương hiệu quốc gia, chất lượng sản phẩm chưa đồng đều, tiêu chuẩn chế biến còn hạn chế Đề tài nêu lên được các nhân tố tác động đến chiến lược xuất khẩu Hồ tiêu Việt Nam sang thị trường Mỹ (“một thị trường khó tính”) Trong các nhân tố đó, nhân tố nào tác động sâu nhất mà
Trang 3các doanh nghiệp xuất khẩu Hồ tiêu hiện vẫn còn đang đối mặt sẽ được đem ra phân tích, thảo luận, cuối cùng là đề xuất giải pháp nhằm góp phần giúp các doanh nghiệp nhận ra chính vấn đề của mình nâng cao khả năng cạnh tranh, thu được lợi ích nhất định từ hoạt động xuất khẩu Hồ tiêu
Thông qua bài nghiên cứu này chúng tôi muốn tạo ra một thương hiệu quốc gia áp dụng chung cho toàn ngành Hồ tiêu ở Việt Nam và hệ thống phân phối Hồ tiêu sang thị trường Mỹ, để có thể góp phần thúc đẩy việc xuất khẩu Hồ tiêu của Việt Nam không chỉ qua thị trường Mỹ mà còn qua các thị trường tiềm năng khác
2 Mục đích nghiên cứu
Nhận thức được thực trạng xuất khẩu Hồ tiêu của Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề khó khăn cần được giải quyết Nên dựa trên những thông tin tìm hiểu được cũng như cơ sở học tập thì đề tài nghiên cứu được đưa ra
cơ bản nhằm giải quyết các mục tiêu:
Phân tích thực trạng sản xuất – kinh doanh, xuất khẩu Hồ tiêu của Việt Nam những năm qua
Tìm hiểu thị trường Mỹ về sản phẩm Hồ tiêu
Định hướng chiến lược xuất khẩu Hồ tiêu của Việt Nam sang thị trường
Mỹ đến năm 2020
Các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu Hồ tiêu Việt Nam vào thị trường Mỹ đến năm 2020
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hồ tiêu đen, Hồ tiêu trắng, các hộ dân trồng Hồ tiêu, các trung gian thu mua, cơ sở chế biến Hồ tiêu, các doanh nghiệp xuất khẩu
Phạm vi nghiên cứu: các hộ dân trồng tiêu chủ yếu ở Đông Nam
Bộ, các doanh nghiệp xuất khẩu tiêu ở thành phố Hồ Chí Minh
Thời gian nghiên cứu từ năm 2009 đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Thu thập thông tin thứ cấp thông qua sách, báo, internet, về Hồ tiêu, xuất khẩu Hồ tiêu, các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu Hồ tiêu
Phân tích các thông tin thứ cấp thu được nhằm giải quyết các vấn
đề trong bài nghiên cứu
Trang 4Thống kê, mô tả đưa ra các kết luận dựa trên số liệu, ước lượng các số liệu hiện tại và tương lai
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kiến nghị, kết luận, danh mục các tài liệu kham khảo
và phần phụ lục, đề tài nghiên cứu gồm 4 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về sản xuất – kinh doanh, xuất khẩu
Hồ tiêu Việt Nam
Chương 2: Thị trường Mỹ về Hồ tiêu
Chương 3: Thực trạng về sản xuất – kinh doanh, xuất khẩu Hồ tiêu Việt Nam sang thị trường Mỹ
Chương 4: Các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu Hồ tiêu Việt Nam vào thị trường Mỹ đến năm 2020
Trang 5CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ SẢN XUẤT – KINH DOANH, XUẤT KHẨU HỒ TIÊU Việt Nam
1.1 Xuất khẩu hàng hóa trong xu thế hội nhập toàn cầu
1.1.1 Khái niệm
Xuất khẩu là việc bán hàng hóa hoặc dịch vụ cho nước ngoài trên
cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán Trong đó hàng hóa hay dịch vụ có thể di chuyển qua biên giới hoặc không Xuất khẩu hàng hóa, theo Luật Thương Mại 2005, là việc hàng hóa được đưa ra khỏi Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật
Trong xu thế thế toàn cầu hoá, nền kinh tế thế giới bước vào thế
kỷ 21, thì việc chủ động tham gia hội nhập kinh tế và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế là vấn đề đang được Đảng và nhà nước hết sức quan tâm Với chủ chương mà Đảng và Nhà nước đề ra là: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế và chất lượng sức cạnh tranh” thì Việt Nam cần phải thực hiện những biện pháp hữu hiệu nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu, đặc biệt thực hiện những giải pháp mở rộng thị trường nước ngoài nhằm tăng cường xuất khẩu, góp phần thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế của cả nước Thương mại quốc tế đó là một mũi nhọn tiên phong không thể thiếu với bất kỳ một quốc gia nào đang
và đã đi trên con đường phát triển, đặc biệt là trong điều kiện hiện nay khi mà xu thế hội nhập toàn cầu diễn ra mạnh mẽ và đang là xu thế chung của nhân loại Đóng góp vào những thành công để có được một Việt Nam phát triển như ngày hôm nay, không thể không nói tới hoạt động xuất khẩu ở nước ta Vì xuất khẩu có vai trò to lớn trong công cuộc phát triển kinh tế ở nước ta, hiện nay chúng ta đã có nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong đó có xuất khẩu Hồ tiêu, một loại cây công nghiệp lâu năm Trong Đại hội Đảng IX thì Đảng và nhà nước ta vẫn ưu tiên hướng vào mục đích xuất khẩu, trong đó Hồ tiêu cũng được chú ý phát triển để phục vụ vào mục đích xuất khẩu, phục vụ quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nước ta
1.1.2 Các hình thức xuất khẩu chủ yếu của một công ty
Xuất khẩu trực tiếp: phương thức xuất khẩu trực tiếp trong thương mại quốc tế có thể được thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi trong đó người mua, người bán trực tiếp gặp mặt (hoặc thông qua thư từ, điện tín…) để
Trang 6bàn bạc và thỏa thuận với nhau về hàng hóa, giá cả, điều kiện giao dịch, phương thức thanh toán… mà không qua người trung gian Những nội dung này được thỏa thuận một cách tự nguyện, việc mua không nhất thiết gắn liền với việc bán
Hoạt động xuất khẩu trực tiếp có những ưu điểm:
Thông qua thảo luận trực tiếp dễ dàng dẫn đến thống nhất
Giảm được chí phí trung gian
Có điều kiện thâm nhập thị trường
Kịp thời tiếp thu ý kiến của khách hàng để khắc phục thiếu sót
Chủ động trong việc sản xuất, tiêu thụ hàng hóa
Tuy nhiên, trên thực tế phương thức này được sử dụng rất nhiều, đặc biệt là ở các nước kém phát triển, vì các lý do:
+ Người trung gian thường hiểu biết rõ thị trường kinh doanh còn các nhà kinh doanh thường rất thiếu thông tin trên thị trường nên người trung gian tìm được nhiều cơ hội kinh doanh thuận lợi hơn
+ Người trung gian có khả năng nhất định về vốn, nhân lực cho nên nhà xuất khẩu có thể khai thác để tiết kiệm phần nào chi phí trong quá trình vận tải
Xuất khẩu tại chỗ: Đây là hình thức mới và đang phổ biến rộng rãi Đặc điểm của hình thức này là hàng hoá không bắt buộc vượt qua biên giới quốc gia mới đến tay khách hàng Do vậy giảm được chi phí cũng như rủi ro trong quá trình vận chuyển và bảo quản hàng hoá Các thủ tục trong hình thức này cũng đơn giản hơn, trong nhiều trường hợp không nhất thiết phải có hợp đồng phụ trợ như: hợp đồng vận tải, bảo hiểm hàng hoá, thủ tục hải quan
Trang 7Gia công quốc tế: Gia công quốc tế là một hoạt động kinh doanh thương mại trong đó một bên (gọi là bên nhận gia công) nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác (gọi là bên đặt gia công) để chế biến thành ra thành phẩm giao lại cho bên đặt gia công và nhận thù lao (gọi là phí gia công) Như vậy, trong gia công quốc tế hoạt động xuất nhập khẩu gắn liền với hoạt động sản xuất
Gia công quốc tế ngày nay khá phổ biến trong buôn bán ngoại thương của nhiều nước Đối với bên đặt gia công, phương thức này giúp
họ lợi dụng được giá rẻ về nguyên liệu phụ và nhân công của nước nhận gia công Đối với bên nhận gia công, phương thức này giúp họ giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân lao động trong nước hoặc nhận được thiết bị hay công nghệ mới về nước mình, nhằm xây dựng một nền công nghiệp dân tộc Nhiều nước đang phát triển đã nhờ vận dụng phương thức gia công quốc tế mà có được một nền công nghiệp hiện đại, chẳng hạn như Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore
Tạm nhập, tái xuất: Mỗi nước có một định nghĩa riêng về tái xuất
Nhiều nước Tây Âu và Mỹ Latinh quan niệm tái xuất là xuất khẩu những hàng ngoại quốc từ kho hải quan, chưa qua chế biến ở nước mình Anh, Mỹ và một số nước khác lại coi đó là việc xuất khẩu những hàng hóa ngoại quốc chưa qua chế biến ở trong nước dù hàng đó đã qua lưu thông nội địa Như vậy, các nước đều thống nhất quan niệm tái xuất
là lại xuất khẩu trở ra nước ngoài những hàng hóa trước đây đã nhập khẩu, chưa qua chế biến ở nước tái xuất
Giao dịch tái xuất bao gồm nhập khẩu và xuất khẩu với mục đích thu về một số ngoại tệ lớn hơn vốn bỏ ra ban đầu Giao dịch này luôn luôn thu hút được ba nước: nước xuất khẩu, nước tái xuất và nước nhập khẩu Vì vậy người ta gọi giao dịch tái xuất là giao dịch ba bên hay giao dịch tam giác (triangular transaction)
Ưu điểm của hình thức này là doanh nghiệp có thể thu được lợi nhuận cao mà không cần phải tổ chức sản xuất, đầu tư vào nhà xưởng, thiết bị, khả năng thu hồi vốn cũng nhanh hơn
1.2 Tổng quan về sản xuất – kinh doanh Hồ tiêu Việt Nam
1.2.1 Khái niệm, phân loại, thành phần và công dụng Hồ tiêu
Khái niệm
Hồ tiêu còn gọi là cổ nguyệt, hắc cổ nguyệt, bạch cổ nguyệt (danh pháp khoa học: Piper nigrum) là một loài cây leo có hoa thuộc họ Hồ
Trang 8tiêu (Piperaceae), trồng chủ yếu để lấy quả và hạt, thường dùng làm gia
vị dưới dạng khô hoặc tươi
Hồ tiêu là một loại dây leo, thân dài, nhẵn không mang lông, bám vào các cây khác bằng rễ Thân mọc cuốn, mang lá mọc cách Có hai loại nhánh: một loại nhánh mang quả, và một loại nhánh dinh dưỡng, cả hai loại nhánh đều xuất phát từ kẽ lá Đối chiếu với lá là một cụm hoa hình đuôi sóc Khi chín rụng cả chùm Quả hình cầu nhỏ, chừng 20-30 quả trên một chùm, lúc đầu màu xanh lục, sau có màu vàng, khi chín có màu đỏ
Phân loại
Có 3 loại Hồ tiêu : Hồ tiêu trắng, Hồ tiêu đen và Hồ tiêu đỏ
Hồ tiêu được thu hoạch mỗi năm hai lần Muốn có Hồ tiêu đen,
người ta hái quả vào lúc xuất hiện một số quả đỏ hay vàng trên chùm, nghĩa là lúc quả còn xanh; những quả còn non quá chưa có sọ rất giòn, khi phơi dễ vỡ vụn, các quả khác khi phơi vỏ quả sẽ săn lại, ngả màu
đen Muốn có Hồ tiêu trắng (hay Hồ tiêu sọ), người ta hái quả lúc
chúng đã thật chín, sau đó bỏ vỏ Loại này có màu trắng ngà hay xám, ít nhăn nheo và ít thơm hơn (vì lớp vỏ chứa tinh dầu đã mất) nhưng cay hơn (vì quả đã chín)
Bên cạnh hai loại sản phẩm nói trên, tuy hiếm hơn, còn có Hồ
tiêu đỏ, là loại Hồ tiêu chín cây hoặc được thu hái khi rất già, ủ chín sau
đó được chế biến theo cách thức đặc biệt để giữ màu đỏ của vỏ Hồ tiêu
đỏ có màu đỏ thẫm hơi ngả đen, được sản xuất tại Ấn Độ và tại huyện Chư Sê và Bà Rịa – Vũng Tàu (Việt Nam) Giá trị xuất khẩu của tiêu đỏ sau khi chế biến cao hơn gấp 3 đến 4 lần so với hat tiêu đen
Thành phần và công dụng của Hồ tiêu
Thành phần
Hồ tiêu cũng rất giàu vitamin C, thậm chí còn nhiều hơn cả cà chua Một nửa cốc Hồ tiêu xanh, vàng hay đỏ sẽ cung cấp tới hơn 230%
nhu cầu canxi 1 ngày/1 người
Trong tiêu có 1,2-2% tinh dầu, 5-9% piperin và 6% chanvixin Piperin và chanvixin là 2 loại ankaloit có vị cay hắc làm cho tiêu có vị cay Trong tiêu còn có 8% chất béo, 36% tinh bột và 4%
2,2-tro
Công dụng
Thường dùng hạt tiêu đã rang chín, thơm cay làm gia vị Tiêu thơm, cay nồng và kích thích tiêu hoá, có tác dụng chữa một số bệnh như: giảm béo, trị mụn đầu đen
Trang 9Hạt tiêu cũng rất giàu chất chống oxy hóa, chẳng hạn như beta carotene, giúp tăng cường hệ miễn dịch và ngăn ngừa sự hủy hoại các tế bào, gây ra các căn bệnh ung thư và tim mạch
1.2.2 Đặc điểm sản xuất – kinh doanh Hồ tiêu Việt Nam
Đặc điểm về sản xuất Hồ tiêu
Sơ lược quá trình phát triển ngành hàng Hồ tiêu
Ở Việt Nam, cây tiêu mọc hoang được tìm thấy từ trước thế kỷ XVI, nhưng đến thế kỷ XVII mới được đưa vào trồng (Chevalier, 1925)
Đến cuối thế kỷ XIX, hồ tiêu được trồng với diện tích tương đối khá ở Phú Quốc, Hòn Chồng và Hà Tiên (Kiên Giang), chủ yếu do người Hoa gốc ở đảo Hải Nam di cư vào lập nghiệp tại Hà Tiên Cũng trong
khoảng thời gian này và đầu thế kỷ XX, cây tiêu theo chân các chủ đồn điền người Pháp phát triển lên Bình Phước, Bà Rịa-Vũng Tàu, Quảng Trị và Quảng Nam; cây tiêu chỉ mới được phát triển nhiều ở Tây
Nguyên sau năm 1975
Các giống tiêu hiện có ở nước ta
Các giống tiêu được trồng nhiều ở Đông Nam Bộ chủ yếu là giống Vĩnh Linh, một diện tích nhỏ trồng giống tiêu Sẻ, tiêu Trung, tiêu
Ân Độ, còn sót lại một vài vườn trồng giống Lada Belangtoeng xen với các giống khác; ở Phú Quốc phần lớn diện tích trồng giống tiêu Phú Quốc và giống tiêu Hà Tiên; ở khu vực Tây Nguyên phổ biến là giống tiêu Vĩnh Linh, ở các vườn tiêu già còn một vài vườn trồng các giống Sẻ
Mỡ, Sẻ Lộc Ninh, tiêu Trung, tiêu Trâu, tiêu Tiên Sơn, Lada Belangtoeng, giống tiêu Ân Độ chỉ mới được đưa vào trồng thử trong vài năm gần đây; ở Quảng Trị chủ yếu giống tiêu Vĩnh Linh và giống tiêu Sẻ (tiêu Cùa)
Năng suất bình quân của các giống tiêu biến động trong khoảng 2,35-3,80 tấn/ha, trong đó giống có năng suất thấp nhất là giống tiêu Trâu, và giống cho năng suất cao nhất là giống Vĩnh Linh, bình quân hơn 3 tấn/ha Các giống Sẻ Mỡ, Sẻ Lộc Ninh, tiêu Trung cho năng suất khá, bình quân 2,5-3,0 tấn/ha Hầu hết các giống hồ tiêu cho năng suất cao nhất ở năm thứ 4-7, sau đó năng suất giảm khi vườn tiêu trên 9 năm tuổi
Thời gian thu hoạch tiêu
Trang 10Ở Việt Nam, thời gian thu hoạch tiêu cũng tương đối khác biệt giữa các vùng canh tác chính Mùa thu hoạch thường bắt đầu từ tháng 1 hàng năm, và kéo dài từ 3-4 tháng ở các vùng Tây Nguyên, Đông Nam
Bộ và Phú Quốc Lượng thu hoạch tập trung trong tháng 2 và tháng 3 Ở các tỉnh Bắc Trung Bộ, mùa thu hoạch đến muộn hơn, từ tháng 3 đến tháng 5 và tập trung chủ yếu trong tháng 4 (bảng 1)
Thời gian thu hoạch tiêu Việt Nam nói chung được kéo dài từ tháng 1 đến tháng 5 Như vậy, khả năng điều tiết thu mua và giá cũng có điều kiện dễ dàng hơn
Ngoài ra, nhờ mùa thu hoạch hồ tiêu rơi vào mùa khô nên nông dân dễ dàng phơi phong trên sân gạch, xi măng, vải bạt
Bảng 1 Thời gian và tiến độ thu hoạch hồ tiêu của các vùng tiêu Việt Nam
Các sản phẩm chính của ngành hàng hồ tiêu Việt Nam:
Sản phẩm hồ tiêu Việt Nam hiện nay chủ yếu là hạt hồ tiêu, dưới dạng hạt khô, có thể là tiêu đen (còn nguyên vỏ lụa) hoặc tiêu trắng hoặc tiêu sọ (đã bóc vỏ)
Diện tích trồng và năng suất của cây hồ tiêu
Hình 1.1 Diện tích trồng và năng suất của cây hồ tiêu ( Nguồn VPA)
Trang 11Diện tích hồ tiêu tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ (chiếm đến 54%
tổng diện tích hồ tiêu cả nước), tiếp đến là các tỉnh Tây Nguyên với 23,7% tổng diện tích, còn lại là các vùng Bắc Trung Bộ, Nam Trung
Bộ và Tây Nam Bộ với 22.3%
Diện tích trồng tiêu của VN tăng “nóng” nhiều năm qua, kể cả những vùng không phù hợp để trồng Theo đó, diện tích tiêu trồng mới trong giai đoạn 2011-2013 đạt khoảng 2.500ha/năm, nhiều nhất là tại các tỉnh Tây Nguyên Đến năm 2013, diện tích tiêu cả nước đã đạt 60.000 ha, vượt 17% so quy hoạch đến năm 2020 (50.000 ha) của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn
Nguyên nhân diện tích tiêu tăng quá nhanh trên do giá tiêu duy trì
ở mức cao trong 6 năm liên tục (2007-2013) khiến nông dân nhiều nơi tập trung trồng loại cây này dù đã được khuyến cáo không mở rộng diện tích ở những nơi không phù hợp Nhiều nơi sản xuất hồ tiêu chưa bền vững, chưa kiểm soát được tình trạng sâu bệnh Theo thống kê của VPA,
dù diện tích canh tác tăng nhanh nhưng sản lượng tiêu hàng năm không tăng tương ứng vì tiêu chết, năng suất tiêu giảm dần Năng suất vụ tiêu
2013 cả nước ước đạt 88.000-90.000 tấn, giảm khoảng 20% so với vụ
2012 (theo đánh giá của Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam – VPA)
Đặc điểm kinh doanh Hồ tiêu
Kênh kinh doanh hồ tiêu trong nước
Cũng như hầu hết các nước sản xuất và xuất khẩu hồ tiêu ở Châu
Á, hộ nông dân trồng tiêu ở Việt Nam thường không bán thẳng sản phẩm hồ tiêu cho đại lý thu mua, nhà máy chế biến hoặc doanh nghiệp
Trang 12xuất khẩu mà phần lớn bán cho thương lái (hộ thu gom) Có bốn thành phần chính tham gia trong kênh thương mại sản phẩm hồ tiêu từ sau khi thu hoạch cho đến khi xuống tàu tại cảng xuất, gồm: Người trồng tiêu, Người thu gom, Đại lý thu mua và Doanh nghiệp chế biến tiêu xuất khẩu (gọi tắt là doanh nghiệp) với 2 kênh tiêu thụ:
(1) Người trồng tiêu-Người thu gom-Đại lý thu mua-Doanh nghiệp chế biến hồ tiêu xuất khẩu (theo tiêu chuẩn FAQ/ASTA)-Xuất khẩu/Tiêu thụ trong nước
(2) Người trồng tiêu-Đại lý thu mua-Doanh nghiệp chế biến hồ tiêu (theo tiêu chuẩn FAQ/ASTA) -Xuất khẩu/Tiêu thụ trong nước
Phần lớn hộ trồng tiêu thường bán sản phẩm trong vòng hai tháng sau khi thu hoạch (86%), khoảng 12% số hộ tồn trữ tiêu trong vòng 2-6 tháng và 2% giữ tiêu tại nhà trên sáu tháng Lý do chính khiến hộ trồng tiêu không tồn trữ sản phẩm lâu một phần do cần tiền cho sinh hoạt gia đình, trang trải nợ nần đã đầu tư cho cây hồ tiêu vụ vừa qua, chuẩn bị vốn để đầu tư vụ kế tiếp, phần khác do nông hộ không có điều kiện tồn trữ và sợ gặp phải rủi ro khi giá cả biến động Số nông hộ tồn trữ tiêu trên hai tháng đa phần là hộ giàu và hộ khá, hoặc những hộ có nguồn thu
nhập khác từ hoạt động nông nghiệp/phi nông nghiệp
Hình 1.2 Kênh kinh doanh hồ tiêu
Đại lý thu mua thường có kho tồn trữ được 10-50 tấn tiêu, có phương tiện vận chuyển hoặc hợp đồng phương tiện vận chuyển thường
Doanh nghiệp chế biến xuất khẩu tiêu ASTA (c&f)
Người thu gom
Đại lý thu mua
Doanh nghiệp chế biến xuất khẩu tiêu FAQ (FOB)
Người trồng tiêu
Thị trường nước ngoài (90%)
Thị trường trong nước (10%)
Thị trường trong nước
Trang 13xuyên để chở tiêu đến bán thẳng cho nhà máy chế biến hoặc doanh nghiệp kinh doanh-xuất khẩu hồ tiêu Hồ tiêu thu mua từ thương lái hoặc nông hộ, đại lý xử lý theo hai hướng: hoặc bán thẳng cho doanh nghiệp/nhà máy chế biến, hoặc tiến hành sơ chế lại sản phẩm, chủ yếu là phơi, sấy cho khô đều, đạt ẩm độ dưới 14% và làm sạch tạp chất trước khi bán cho nhà máy/doanh nghiệp
Một ít đại lý có vốn lớn, điều kiện kho bãi và mặt bằng, thay vì chỉ kinh doanh tiêu đen còn tổ chức chế biến tiêu sọ/tiêu trắng, số lượng tiêu sọ/tiêu trắng chế biến ở mỗi thời điểm tùy thuộc nhu cầu của các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu
Hầu hết các doanh nghiệp xuất khẩu hồ tiêu lớn đề có nhà máy chế biến riêng, phần lớn các nhà máy chế biến đạt quy chuẩn thực hành chế biến tốt (GMP), do đó sản phẩm tiêu xuất khẩu của Việt Nam đạt tiêu chuẩn mặt hàng gia vị của các thị trường khó tính như Mỹ (ASTA), châu Âu (ESA) và Nhật Bản (JSA)
Xuất khẩu hồ tiêu
Trên 95% lượng hồ tiêu sản xuất hàng năm dùng cho xuất khẩu,
và hồ tiêu Việt Nam được xuất khẩu sang hơn 80 nước và lãnh thổ Việt Nam vẫn còn xuất khẩu một lượng lớn hồ tiêu theo tiêu chuẩn FAQ (Fair Average Quality) Tuy nhiên, điểm đáng lưu ý là tỉ lệ xuất khẩu tiêu trắng và tiêu đen theo tiêu chuẩn ASTA ngày một tăng Năm 2012, xuất khẩu tiêu của Việt Nam đạt 119 nghìn tấn, thu về 808 triệu USD
Đến hết tháng 9/2013, tổng khối lượng xuất khẩu mặt hàng đã tăng hơn 20% và đem lại giá trị cao hơn 16,5% so với cùng kỳ năm 2012 Cụ thể,
9 tháng đầu năm 2013 xuất khẩu được 112.000 tấn với giá trị 743 triệu USD Việt Nam đang chủ yếu xuất khẩu tiêu đen với giá bình quân của năm 2012 là 6.390 USD/tấn, trong khi giá tiêu trắng đạt tới 9.176 USD/tấn Tỷ lệ hạt tiêu ASTA của Việt Nam xuất sang thị trường Mỹ và châu Âu cũng chỉ chiếm 15% tổng sản lượng tiêu xuất khẩu của Việt Nam Bên cạnh đó, phần lớn hạt tiêu xuất khẩu của Việt Nam mới chỉ ở dạng xuất thô nên giá trị không cao, đặc biệt các DN thường xuất khẩu tiêu đen có giá trị thấp hơn rất nhiều so với tiêu trắng
1.2.3 Vai trò của xuất khẩu Hồ tiêu đối với kinh tế Việt Nam
Sản xuất và xuất khẩu gia vị nói chung và hạt tiêu nói riêng có ý nghĩa lớn đối với nền kinh tế và xuất khẩu của Việt Nam Từ năm 1999, Việt Nam đã trở thành nước sản xuất hạt tiêu lớn thứ 3 trên thế giới chỉ sau Ấn Độ và Inđônêxia và là nước xuất khẩu hạt tiêu lớn thứ 2 thế giới sau Inđônêxia Và hiện nay, Việt Nam hiện đứng đầu thế giới về sản lượng Hồ tiêu xuất khẩu, chiếm tới 50% sản lượng tiêu xuất khẩu của
Trang 14toàn thế giới Hồ tiêu Việt Nam hiện được xuất khẩu tới gần 80 quốc gia
và vùng lãnh thổ Đặc biệt là xuất khẩu các loại hàng chất lượng cao vào
Mỹ, Nhật và các nước EU ngày càng tăng Hồ tiêu nằm trong số 10 mặt hàng nông sản có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất Việt Nam hiện nay
Xuất khẩu gia vị trong đó có xuất khẩu hạt tiêu hàng năm đã thu nhập ngoại tệ trên 145-160 triệu USD cho đất nước, đóng góp lớn vào việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát triển nông nghiệp, góp phần xoá đói, giảm nghèo, cải thiện thu nhập cho người nông dân
1.2.4 Những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến xuất khẩu Hồ tiêu Việt Nam
Môi trường Kinh tế: Trong đó có môi trường kinh tế vĩ mô và môi
trường kinh tế vi mô
Môi trường kinh tế vĩ mô, là tình trạng kinh tế của mỗi quốc gia, nếu nền kinh tế của một quốc gia đang ở trong giai đoạn suy thoái về kinh tế hoặc có lạm phát thì sẽ ảnh hưởng đến quá trình mua sắm, tiêu dùng của người dân nước đó, chính sách kinh tế đối ngoại của nhà nước, chính sách tài chính tiền tệ của nước đó cũng ảnh hưởng rất nhiều đến xuất nhập khẩu khi chính phủ duy trì tỉ giá hối đoái ở mức cao tức là hạ giá đồng tiền của nước mình xuống sẽ tạo ra một lực kích thích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, ngược lại nếu nhà nước áp dụng tỉ giá hối đoái thấp thì sẽ kích thích hàng nhập khẩu nước ngoài vào thị trường trong nước
Môi trường kinh tế vi mô, đó là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Hồ tiêu của các nước khác nhau cùng kinh doanh trên thị trường nước ngoài (Indonesia, Ấn Độ, Malaysia…), mỗi quốc gia đều có những lợi thế cạnh tranh khác nhau, dựa vào
đó các doanh nghiệp sẽ sản xuất ra những mặt hàng có khả
năng cạnh tranh khác
Môi trường Chính trị: Môi trường chính trị ổn định là cơ hội để mở
rộng phạm vi thị trường cũng như dung lượng của thị trường Hồ tiêu
Song nó cũng là rào cản lớn hạn chế khả năng xuất khẩu nếu như tình hình chính trị không ổn định Quan hệ chính trị giữa hai quốc gia có ảnh hưởng quyết định đến hoạt động xuất nhập khẩu giữa hai nước, nếu hai quốc gia có ký hiệp định song phương (ví dụ như: Việt Nam – Mỹ) thì việc trao đổi hàng hóa giữa hai nước sẽ thuận lợi hơn so
với các nước khác
Môi trường Pháp luật: Mỗi quốc gia đều có một hệ thống pháp luật
khác nhau do đó sẽ có những điểm trái ngược nhau giữa nước này với nước kia trong các quy định của pháp luật Vì thế nếu nắm chắc được các quy định pháp luật của quốc gia mà mình xuất khẩu vào thì
Trang 15sẽ thuận lợi rất nhiều trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại (ví dụ như giải quyết các vụ kiện chống phá giá, chống trợ cấp của Mỹ) Các doanh nghiệp có thể dựa vào vốn hiểu biết của mình về
pháp luật để kinh doanh một cách có hiệu quả nhất
Môi trường Tự nhiên: Môi trường tự nhiên tốt, đất đai màu mỡ, khí
hậu ôn hòa… là những yếu tố giúp cho sản phẩm Hồ tiêu không những đạt năng xuất cao mà còn giúp nâng cao chất lượng sản phẩm
Từ đó tăng khả năng cạnh tranh so với các nước khác Ngoài ra, cơ
sở hạ tầng và khoảng cách địa lý quá xa còn ảnh hưởng nhiều đến chi phí vận tải, chi phí này sẽ làm tăng giá sản phẩm lên và làm giảm sức
cạnh tranh của sản phẩm so với các nước có khoảng cách gần hơn
1.3 Những cơ hội và thách thức của mặt hàng Hồ tiêu Việt Nam khi gia
nhập kinh tế toàn cầu
1.3.1 Những cơ hội
Ngành Hồ tiêu có điều kiện thuận lợi trong việc mở rộng thị trường ra toàn thế giới, đồng thời cũng được hưởng các ưu đãi, các hàng rào thuế quan và phi thuế quan sẽ được cắt giảm đáng kể khi Việt Nam ký kết các Hiệp định thương mại
Tăng cường thu hút vốn đầu tư và chuyển giao công nghệ cao
từ các nước tiên tiến tạo điều kiện để nâng cao chất lượng hàng hoá, tăng năng xuất lao động hạ giá thành sản phẩm
Thúc đẩy quá trình đổi mới đất nước đặc biệt là đổi mới cơ chế
và hành chính Chính việc thực hiện các cam kết và mở cửa thị trường Việt Nam theo lộ trình của Hiệp định đã ký sẽ là chất xúc tác thúc đẩy quá trình điều chỉnh, đổi mới cơ chế chính sách, luật pháp và thực tiễn hoạt động kinh tế của đất nước làm cho các hoạt động này trở nên năng động, mềm dẻo hơn thích ứng với thông lệ và tập quán quốc tế, cũng như các nguyên tắc, quy định của các nước trên thế giới
Chính phủ Việt Nam có nhiều chính sách và biện pháp hỗ trợ cho các doanh nghiệp Việt Nam trong việc xuất khẩu Hồ tiêu
1.3.2 Bên cạnh những cơ hội đó là những thách thức, khó khăn
Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, giá cả nông sản nói chung và giá Hồ tiêu nói riêng, ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào các yếu tố kinh tế vĩ mô như chính sách tiền tệ, sự cân bằng ngân sách quốc gia, tỉ giá, các chính sách thương mại quốc tế và cả đầu tư nước ngoài Khủng hoảng kinh tế toàn cầu
sẽ khiến cho tất cả các quốc gia xem xét, điều chỉnh các chính sách kinh tế vĩ mô và điều này sẽ lại làm cho giá cả xuất nhập khẩu trở nên khó lường
Trang 16 Hiện nay giá Hồ tiêu tăng khá cao sẽ kích thích nông dân mở rộng diện tích sản xuất Nhà nước cần thông tin sâu rộng cho nông dân hiểu rằng nếu tăng năng suất và sản lượng cao thì có khả năng cung sẽ vượt cầu dẫn đến giá cả sẽ giảm thấp Vì vậy, ngành Hồ tiêu Việt Nam cần phải ổn định sản xuất, không nên tăng diện tích quá nhanh và tránh đầu tư tràn lan
Do mở rộng sản xuất dẫn đến tình trạng sâu bệnh trên cây tiêu khá trầm trọng Vì thế, Bộ Nông nghiệp & PTNT, các nhà khoa học cần phối hợp với Hiệp hội Hồ tiêu để tìm biện pháp phòng trừ sâu bệnh trên cây tiêu
Về lĩnh vực đầu tư chế biến, sau 10 năm, ngành Hồ tiêu của Việt Nam đã có hàng chục nhà máy chế biến tiêu sạch đạt tiêu chuẩn quốc tế Tuy nhiên, do mỗi nhà máy có một cách thức hoạt động khác nhau, vẫn tồn tại tình trạng một số doanh nghiệp vì chạy theo lợi nhuận đã bán hàng không đảm bảo chất lượng, không giữ chữ tín gây mất uy tín của ngành Hồ tiêu Việt Nam Cần đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng, giữ uy tín khách hàng
Tiêu chuẩn chất lượng các mặt hàng Việt Nam xuất vào các nước công nghiệp phát triển đều phải đạt tiêu chuẩn quốc tế ISO hoặc tiêu chuẩn tương đương của các nước Đức ,Nhật,
Mỹ, đây là một khó khăn lớn đối với các mặt hàng nông sản Việt Nam nói chung và Hồ tiêu nói riêng không những thế sự cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn, với nhiều "đối thủ" hơn, trên bình diện rộng hơn, sâu hơn Trong khi đó sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam về cả ba phương diện: chất lượng, giá cả
và mẫu mã hầu như còn rất yếu
Hồ tiêu Việt Nam vẫn chưa xây dựng được thương hiệu mạnh, chưa khẳng định được uy tín, chất lượng và năng lực cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế
Chiến lược phân phối, chiến lược truyền thông và xúc tiến thương mại của các doanh nghiệp kinh doanh Hồ tiêu Việt Nam còn nhiều hạn chế Đa số các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ nên hạn chế tầm hoạt động và mạng lưới phân phối sản phẩm
Rào cản kỹ thuật trong thương mại cũng là yếu tố khiến cho mặt hàng Hồ tiêu gặp khó khăn nhiều trong việc xuất khẩu Hồ tiêu phải đáp ứng các yêu cầu về an toàn vệ sinh, an toàn thực phẩm cùng các quy định kỹ thuật chặt chẽ… Để phù hợp với các tiêu chuẩn này vừa khó khăn vừa tốn kém nên xét về mặt
Trang 17kinh tế, vừa thực hiện vừa duy trì được sức cạnh tranh trên thị trường nước ngoài là cả vấn đề không nhỏ
Trang 18CHƯƠNG 2:THỊ TRƯỜNG MỸ VỀ SẢN PHẨM HỒ TIÊU 2.1 Giới thiệu về quốc gia Mỹ
Tên nước: Hợp chúng quốc Mỹ (United States of America); Tên thường gọi: Mỹ
- Ngày quốc khánh: 4/7/1776 (Ngày Độc lập khỏi Anh)
- Dân số: 313.9 triệu người (năm 2012)
- Dân tộc: Người da trắng (81,7%), người da đen (12,9%), người châu Á (4,2%), người da đỏ và thổ dân Alaska (1%), thổ dân Hawaii và thổ dân các quần đảo Thái Bình Dương (0,2%)
- Hành chính: Mỹ gồm có 50 tiểu bang và một đặc khu liên bang
48 tiểu bang nằm lục địa và thủ đô Washington, D.C
- Đơn vị tiền tệ: Đồng đôla Mỹ (USD)
- Tôn giáo: Mỹ có nhiều tôn giáo Đạo Tin lành (52%), Đạo Thiên Chúa (24%), Đạo Do Thái (1%), Hồi giáo (1%)
- Ngôn ngữ chính thức: Tiếng Anh; một bộ phận nói tiếng Tây Ban Nha, Pháp và nhiều ngôn ngữ khác (theo xuất xứ nhập cư)
- Khoa học và kỹ thuật: Mỹ đã và đang dẫn đầu trong việc sáng tạo kỹ thuật và nghiên cứu khoa học từ cuối thế kỷ 19 Mỹ còn dẫn đầu thế giới trong các tài liệu nghiên cứu khoa học và yếu tố tác động Mỹ là quốc gia phát triển và trồng trọt chính yếu thực phẩm biến đổi gen, trên phân nữa những vùng đất của thế giới dùng trồng các vụ mùa kỹ thuật sinh học là ở Mỹ
- Giao thông: Phương tiện giao thông chủ yếu ở Mỹ là xe hơi Chỉ
có 9% tổng số lượt đi làm việc ở Mỹ là dùng giao thông công cộng (xe lửa, xe buýt, tàu điện ngầm ) so với 38,8% tại châu Âu Việc sử dụng xe đạp thì rất ít 5 hãng hàng không lớn nhất thế giới tính theo số khách hàng được vận chuyển đều là của Mỹ
- Chăm sóc sức khỏe: Hệ thống chăm sóc sức khỏe của Mỹ vượt mức chi tiêu bất cứ quốc gia nào khác, tính theo cả số chi tiêu cho mỗi đầu người và phần trăm GDP Không như đa số các quốc gia phát triển
Trang 19khác, hệ thống chăm sóc sức khỏe của Mỹ không hoàn toàn xã hội hóa, thay vào đó nó dựa vào tài trợ phối hợp của cả công cộng và tư nhân
- Mỹ có một nền kinh tế hỗn hợp tư bản chủ nghĩa được kích thích bởi tài nguyên thiên nhiên phong phú và cơ sở hạ tầng phát triển tốt Mỹ đứng hạng thứ 8 về tổng sản lượng nội địa trên đầu người và hạng 4 về tổng sản phẩm nội địa trên đầu người theo sức mua tương đương Mỹ là nước nhập khẩu hàng hóa lớn nhất và là nước xuất khẩu lớn nhất trên thế giới
- Mỹ là một thị trường riêng lẻ lớn nhất thế giới, là nước tham gia
và giữ vai trò chi phối hầu hết các tổ chức kinh tế quốc dân quan trọng trên thế giới như: Tổ chức thương mại quốc tế (WTO), Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), là đầu tàu của khu vực mậu dịch
tự do Bắc Mỹ ( NAFTA) Và ngay cả đối với ASEAN, Mỹ tuy không phải là thành viên song lại là một bên đối thoại quan trọng nhất của tổ chức này.Chính vì vậy, để có thể thâm nhập thành công vào một thị trường như vậy trước hết cần phải tìm hiểu về môi trường kinh doanh cũng như là hệ thống luật pháp của Mỹ để từ đó có cách tiếp cận phù hợp hơn
2.2 Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Mỹ
Với sự kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào năm 2007, thương mại hàng hóa song phương Việt Nam-Mỹ trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2012 tiếp tục có những bước khởi sắc đáng kể Cho đến nay, Mỹ là đối tác lớn thứ hai của Việt Nam trên toàn thế giới, đứng sau Trung Quốc và là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam trong khu vực châu Mỹ
Số liệu thống kê hải quan cho thấy, nếu như trong năm 2005 và
2006, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Mỹ chỉ đạt tương ứng là 6,77 tỷ USD và 8,81 tỷ USD thì đến năm 2007, con số này đã là 11,79 tỷ USD Tuy chịu ảnh hưởng từ cuộc suy thoái kinh tế thế giới nặng nề trong các năm tiếp theo, nhưng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam – Mỹ vẫn duy trì ở mức cao
Đến năm 2012, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa giữa 2 quốc gia đã đạt đến con số 24,49 tỷ USD, tăng 12,3% so với năm 2011 và gấp 3,6 lần kết quả thực hiện của năm 2005 Trong đó, xuất khẩu đạt 19,66
tỷ USD và nhập khẩu đạt 4,83 tỷ USD
Cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam trong trao đổi thương mại với Mỹ luôn duy trì mức thặng dư lớn
Cụ thể trong năm 2010, mức thặng dư hàng hóa của Việt Nam trong buôn bán trao đổi thương mại với Mỹ đã vượt qua con số 10 tỷ USD, cao gấp 26,5% so với năm trước Đến năm 2012, nhờ kim ngạch
Trang 20xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ cao gấp 4 lần so với kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của cả nước từ thị trường này, mức xuất siêu của Việt Nam sang Mỹ đã lên tới 14,8 tỷ USD, và dự đoán đến hết năm 2013 là 20.7 tỷ USD
Bảng 2: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam- Hoa Kỳ ( ĐVT : tỷ USD )
Nă
m 200
5
Nă
m 200
6
Nă
m 200
7
Nă
m 200
8
Nă
m 200
9
Nă
m 201
0
Nă
m 201
1
Nă
m 201
2
Nă
m 201
3 Xuất
khẩu
5.9 7.8 10.1 11.9 11.4 14.2 16.9 19.7 23.7
Nhập khẩu
Theo số liệu thống kê của Bộ Công Thương, 11 tháng năm 2013, kim ngạch thương mại song phương giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đạt khoảng trên 30 tỷ USD trong đó Việt Nam xuất khẩu vào Hoa Kỳ đạt 23,5 tỷ USD, dự kiến cả năm sẽ vượt con số 25 tỷ USD và nhập khẩu từ
5 tỷ USD Như vậy, năm 2013 xuất siêu có thể đạt mức kỷ lục, gần 20 tỷ USD
Trong số các mặt hàng xuất khẩu sang Hoa Kỳ thì có 3 mặt hàng xuất khẩu chủ lực đó là dệt may, giày dép, gỗ Trong đó mặt hàng dệt may tiếp tục đứng đầu về xuất khẩu của Việt Nam vào Hoa Kỳ với trị giá xuất khẩu cả năm 2013 có thể đạt 8,5 tỷ USD, tăng 10,4% so với mức 7,7 tỷ USD của năm 2012, chiếm đến 36% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này và chiếm gần 50% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của cả nước Ngoài ra, các mặt hàng như
gỗ và sản phẩm của gỗ, hàng thủy sản, giày dép các loại cũng là những mặt hàng chủ lực, đóng góp tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ
Tuy nhiên, theo Cơ sở dữ liệu thương mại của Liên Hợp Quốc (UN Comtrade), trị giá buôn bán hai chiều giữa Việt Nam với thị trường này chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Hoa Kỳ (chưa đển 1%) Đối với Hoa Kỳ, Việt Nam là đối tác xếp thứ 23
Trang 21về xuất khẩu hàng hóa và xếp thứ 40 về nhập khẩu hàng hóa từ thị trường này
Bảng 3: Thống kê sơ bộ Tổng cục Hải quan xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Hoa Kỳ 11 tháng 2013 – ĐVT: USD
KNXK
11T/2013
KNXK 11T/2012
Tốc độ tăng trưởng KN (%) Tổng kim ngạch 24.584.723.57
gỗ và sản phẩm gỗ 1.792.793.754 1.625.921.784 10,26 máy vi tính, sản
phẩm điện tử và linh kiện
1.351.604.304 807.394.139 67,40
Hàng thuỷ sản 1.331.915.348 1.092.625.731 21,90 máy móc, thiết
bị,dụng cụ phụ tùng khác
400.561.611 387.599.773 3,34
đá quý,kim loại quý và sản phẩm
242.631.004 91.567.493 164,98
sản phẩm từ chất dẻo
Trang 22Đối với nhập khẩu, các mặt hàng chính Hoa Kỳ xuất khẩu sang Việt Nam trong những năm qua bao gồm máy móc thiết bị và dụng cụ phụ tùng; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; bông các loại, chất dẻo nguyên liệu, thức ăn gia súc và nguyên liệu; phế liệu sắt thép…
trong đó mặt hàng máy móc thiết bị có kim ngạch nhập khẩu cao nhất, 492,6 triệu USD, chiếm 14,2% tỷ trọng, tuy nhiên nếu so với cùng kỳ năm ngoái thì nhập khẩu mặt hàng này giảm 3,98%
Đứng thứ hai trong bảng xếp hạng về kim ngạch là mặt hàng máy
vi tính, sản phẩm điện tử với 396,1 triệu USD, giảm 44,95% so với cùng
kỳ - đây là mặt hàng có kim ngạch giảm tương đối mạnh, chỉ sau mặt hàng điện thoại các loại và linh kiện (giảm 94,62%)
khác và sản phẩm
sản phẩm từ cao su 49.001.202 44.291.648 10,63 Sản phẩm mây tre,
Hàng rau quả 46.942.736 36.017.101 30,33 Nguyên phụ liệu
dệt,may, da giày
thuỷ tinh và các sản phẩm từ thuỷ tinh
28.798.113 26.462.721 8,83
sản phẩm hoá chất 19.848.181 17.973.185 10,43 sắt thép các loại 17.134.073 17.454.227 -1,83 Xăng dầu các loại 11.310.507 20.793.206 -45,60
máy ảnh máy quay phim và linh kiện
Trang 23Hai mặt hàng chính nhập khẩu từ thị trường Hoa Kỳ đều giảm về kim ngạch, đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến Việt Nam nhập khẩu từ thị trường Hoa Kỳ trong 8 tháng đầu năm nay chỉ tăng nhẹ
Ngoài những mặt hàng Việt Nam nhập khẩu từ Hoa Kỳ giảm về kim ngạch, còn có những mặt hàng lại có sự tăng trưởng mạnh tuy kim ngạch chỉ đạt ở mức khiêm tốn như: bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc tăng 619,52%, kim ngạch 7,8 triệu USD; đá quý kim loại quý tăng 141,8%, kim ngạch 49,3 triệu USD và nguyên phụ liệu thuốc lá tăng 128,28%, kim ngạch 6,4 triệu USD
Bảng 4: Thống kê hàng hóa Việt Nam nhập khẩu từ Hoa Kỳ 8 tháng
2013 ĐVT: USD ; KNNK/ XK : kim ngạch nhập khẩu/ xuất khẩu
KNNK 8T/2013 KNNK 8T/2012 % so sánh Tổng kim ngạch 3.459.962.555 3.261.330.723 6,09
280.576.180 173.381.192 61,83
phế liệu sắt thép 155.260.493 128.194.237 21,11 chất dẻo nguyên liệu 139.300.681 117.511.415 18,54
nguyên phụ liệu dệt may, da giày
Trang 24Nguồn : Tổng cục Hải Quan
Theo nguồn Báo Công thương thì Việt Nam là điểm ưa thích thứ
2 của các nhà đầu tư Hoa Kỳ tại ASEAN
Cuộc khảo sát mới đây về triển vọng kinh doanh ASEAN năm
2014 do Phòng Thương mại Mỹ tại Singapore thực hiện cho thấy, trong
10 nước thuộc ASEAN, Việt Nam là điểm đến ưa thích thứ 2 của các nhà đầu tư Mỹ (sau Indonesia) Có 43% doanh nghiệp Mỹ được hỏi cho biết đang có kế hoạch mở rộng kinh doanh tại Việt Nam