Một số hình thức ứng dụng bản đồ tư duy để hỗ trợ quá trình dạy học * Giáo viên sử dụng BĐTD để hỗ trợ quá trình dạy học: - Dùng BĐTD để dạy bài mới: Giáo viên đưa ra một từ khoá để nêu
Trang 1“ ỨNG DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN 9”
I ĐẶT VẤN ĐỀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VẤN ĐỀ ĐƯỢC NGHIÊN CỨU:
Bản đồ tư duy (BĐTD) còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy,… là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ
đề hay một mạch kiến thức,… bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực Đặc biệt đây là một sơ
đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi người có thể “thể hiện” nó dưới dạng BĐTD theo một cách riêng, do đó việc lập BĐTD phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người.
BĐTD chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên tưởng (các nhánh) Có thể vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương, mỗi học kì và giúp cán bộ quản lí giáo dục lập kế hoạch công tác.
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Bản đồ tư duy là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để
mở rộng và đào sâu các ý tưởng Kỹ thuật tạo ra loại bản đồ này được phát triển bởi Tony Buzan vào những năm 1960 Bản đồ tư duy có cấu tạo như một cái cây
có nhiều nhánh lớn, nhỏ mọc xung quanh “Cái cây” ở giữa bản đồ là một ý tưởng chính hay hình ảnh trung tâm Nối với nó là các nhánh lớn thể hiện các vấn đề liên quan với ý tưởng chính Các nhánh lớn sẽ được phân thành nhiều nhánh nhỏ, rồi nhánh nhỏ hơn, nhánh nhỏ hơn nữa nhằm thể hiện chủ đề ở mức
độ sâu hơn Sự phân nhánh cứ thế tiếp tục và các kiến thức, hình ảnh luôn được nối kết với nhau Sự liên kết này tạo ra một “bức tranh tổng thể” mô tả ý tưởng trung tâm một cách đầy đủ và rõ ràng.
Trang 2Qua nghiên cứu và thực nghiệm giảng dạy cho thấy một số GV còn gặp khó khăn trong việc tổ chức hoạt động dạy học trên lớp với việc thiết kế và sử dụng BĐTD Bài viết này sẽ đưa ra một số gợi ý giúp GV giải quyết khó khăn trên.
GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU:
- Thời gian: Từ tháng 8/2011 đến tháng 4/2012.
- Địa điểm: Trường THCS Yên Đức
- Đối tượng: Học sinh lớp 9.
1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
Môn Ngữ văn THCS gồm 3 phân môn: Văn học, Tiếng Việt và Làm văn
Có chung mục đích là giáo dục thẩm mĩ và rèn luyện cho HS các KN nghe, nói, đọc viết, nhưng có vị trí độc lập tương đối và PPDH đặc thù.
Văn học có mục đích: giúp HS biết cách đọc để hiểu cho được giá trị của mỗi
văn bản thể hiện qua cái hay, cái đẹp trong nội dung và hình thức thể hiện của văn bản đó Cái hay, cái đẹp trong nội dung và hình thức thể hiện của văn bản là cái duy nhất không lặp lại, biểu hiện tối đa nhất chủ đề tư tưởng của tác phẩm.
Tiếng Việt: Hình thành ở HS năng lực sử dụng thành thạo tiếng Việt với bốn kĩ
năng cơ bản là: nghe, nói, đọc, viết.
- Giúp cho HS có những hiểu biết về ngôn ngữ Tiếng Việt, có ý thức sử dụng và giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt
- Dạy Tiếng Việt thông qua:
+ Từ: nghĩa, từ loại, các phép tu từ, cấu tạo, chức năng,…
+ Câu: Các loại câu, dấu câu, các thành phần của câu, cách sử dụng và liên kết các câu,…
+ Đoạn văn: nhận thức về cách viết một đoạn văn, liên kết câu và liên kết đoạn văn…
Làm văn: giúp HS nhận biết các loại văn bản, đặc điểm, chức năng cách thức
tạo lập văn bản theo từng loại thể
- Phân môn Làm văn Ở THCS:
Trang 3+ Văn nghị luận (chính trị - xã hội, văn học)
- Phân môn Làm văn chủ yếu mang tính thực hành, HS phải vận dụng những kiến thức văn học, tiếng Việt và kiến thức đời sống xã hội để tạo lập các loại văn bản dưới hình thức nói hoặc viết.
2 CƠ SỞ THỰC TIỄN :
BĐTD giúp học sinh học được phương pháp học tập chủ động, tích cực Thực tế ở trường phổ thông cho thấy, một số học sinh có xu hướng không thích học môn Ngữ văn hoặc ngại học môn Ngữ văn do đặc trưng môn học thường phải ghi chép nhiều, khó nhớ Một số em học tập chăm chỉ nhưng thành tích họch tập chưa cao Các em thường học bài nào biết bài nấy, học phần sau không biết liên hệ với phần trước, không biết hệ thồng kiến thức, liên kết kiến thức với nhau, không biết vận dụng kiến thức đã học trước vào bài học sau Do đó, việc
sử dụng thành thạo BĐTD trong dạy học, sẽ giúp học sinh học được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy.
BĐTD giúp học sinh học tập tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não Việc HS vẽ BĐTD có ưu điểm là phát huy tối đa tính sáng tạo của học sinh,
Trang 4các em được tự do chọn màu sắc ( xanh, đỏ, tím, vàng…), đường nét (đậm, nhạt, thẳng, cong ), các em tự “ sáng tác” nên trên mỗi BĐTD thể hiện rõ cách hiểu, cách trình bày kiến thức của từng học sinh và BĐTD do các em tự thiết kế nên các em sẽ yêu quý, trân trọng “ tác phẩm” của mình.
II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
1 Tổng quan:
BĐTD giúp HS ghi chép rất hiệu quả Do đặc điểm của BĐTD nên người thiết kế BĐTD phải chọn lọc thông tin, từ ngữ, sắp xếp bố cục để ghi thông tin cần thiết nhất và lôgic, vì vậy, sử dụng BĐTD sẽ giúp HS dần dần hình thành cách ghi chép hiệu quả.
BĐTD có thể sử dụng được với bất kì điều kiện cơ sở vật chất nào của các trương hiện nay Có thể thiết kế BĐTD trên giấy, bìa, bảng phụ… hoặc cũng có thể thiết kế trên phần mềm bản đồ tư duy Với những trường có điều kiện công nghệ thông tin tốt, có thể cài đặt phần mềm Mindmap cho GV, HS sử dụng,
Trang 5ConceptDraw MINMAD 5 professional, việc sử dụng phần mềm này khá đơn giản.
2 NỘI DUNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
2.1 Một số hình thức ứng dụng bản đồ tư duy để hỗ trợ quá trình dạy học
* Giáo viên sử dụng BĐTD để hỗ trợ quá trình dạy học:
- Dùng BĐTD để dạy bài mới: Giáo viên đưa ra một từ khoá để nêu kiến thức của bài mới rồi yêu cầu học sinh vẽ BĐTD bằng cách đặt câu hỏi, gợi ý cho các
em để các em tìm ra các tự liên quan đến từ khoá đó và hoàn thiện BĐTD Qua BĐTD đó HS sẽ nắm được kiến thức bài học một cách dễ dàng.
Ví dụ:
Khi học bài “ So sánh” ( Môn Ngữ văn lớp 6), đầu giờ GV cho từ khoá “
So sánh” rồi yêu cầu học sinh vẽ BĐTD bằng cách đặt câu hỏi gợi ý cho các em
để cấp 3…), sau khi các nhóm HS vẽ xong, cho một số em lên trình bày trước lớp để các học sinh khác bổ sung ý Giáo viên kết luận qua đó giúp các em tự chiếm lĩnh kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng rất hiệu quả, đồng thời kích thích hứng thú học tập của học sinh.
( Sơ đồ minh hoạ)
Trang 6- Dùng BĐTD để củng cố kiến thức sau mỗi tiết học và hệ thống kiến thức sau mỗi chương, phần…: Sau mỗi bài học, giáo viên hướng dẫn, gợi ý để học sinh
tự hệ thống kiến thức trọng tâm, kiến thức cần nhớ của bài học bằng cách vẽ BĐTD Mỗi bài học được vẽ kiến thức trên một trang giấy rời rồi kẹp lại thành tập Việc làm này sẽ giúp các em dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần một cách nhanh chóng, dễ dàng.
Ví dụ:
Khi dạy phần từ loại Tiếng Việt, cho học sinh vẽ BĐTD sau mỗi bài học
để mỗi em có 1 tập BĐTD về các từ loại Tiếng Việt: danh từ, động từ, tính từ, số
từ, đại từ, quan hẹ tự, trợ từ, thán từ… Lên đến lớp 9, trong bài “ Tổng Kết ngữ pháp”, học sinh có thể dễ dàng tổng hợp kiến thức về từ loại Tiếng Việt bằng BĐTD dựa vào tập BĐTD đã có Sau khi có một học sinh hoặc một nhóm học sinh vẽ xong BĐTD sẽ cho một học sinh khác, nhóm khác nhận xét, bổ sung …
Có thể cho học sinh vẽ thêm các đường, nhánh khác và ghi thêm các chú thích… rồi thảo luận chung trước lớp để hoàn thiện, nâng cao kĩ năng vẽ BĐTD cho các em.
( Sơ đồ minh hoạ)
Trang 7Ví dụ:
Khi học bài “ Truyện Kiều” của Nguyễn Du và bài thơ “ Ánh trăng” của Nguyễn Duy( Môn Ngữ văn lớp 9), cuối giờ GV cho từ khoá “ Truyện Kiều ” và
“ Ánh trăng” rồi yêu cầu học sinh vẽ BĐTD bằng cách đặt câu hỏi gợi ý cho các
em, sau khi các nhóm HS vẽ xong, cho một số em lên trình bày trước lớp để các học sinh khác bổ sung ý Giáo viên kết luận qua đó giúp các em tự chiếm lĩnh kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng rất hiệu quả, đồng thời kích thích hứng thú học tập của học sinh.
Trang 8Bản đồ tư duy bài “Truyện Kiều”- Ngữ văn 9
Ví dụ: Sơ đồ minh họa cho bài “ Ánh trăng” của Nguyễn Duy
Trang 92.2 Học sinh học tập độc lập, sử dụng BĐTD để hỗ trợ học tập, phát triển
tư duy lôgic:
- Học sinh tự có thể sử dụng BĐTD để hỗ trợ việc tự học ở nhà: Tìm hiểu trước bài mới, củng cố, ôn tập kiến thức bằng cách vẽ BĐTD trên giấy, bìa… hoặc để
tư duy một vấn đề mới qua đó phát triển khả năng tư duy lôgic, củng cố khắc sâu kiến thức, kĩ năng ghi chép.
- Học sinh trực tiếp làm viêc với máy tính, sử dụng phần mềm Mindmap, phát triển khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng máy tính trong học tập
2.3 Một số biện pháp ứng dụng BĐTD trong đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn ở trường THCS Yên Đức
* Nâng cao nhận thức của GV và HS về vai trò của BĐTD trong đổi mới phương pháp dạy học
* Nhà trường đã tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn để tuyên truyền, giới thiệu cho giáo viên về vai trò, tác dụng của BĐTD trong hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học Từ đó giáo viên nâng cao nhận thức và tuyên truyền, phổ biến tới học sinh theo môn học của mình.
- Bồi dưỡng, nâng cao nhận thức của giáo viên về đổi mới phương pháp dạy học.
- Quán triệt quan điểm chỉ đạo về đổi mới phương pháp dạy học;
- Nắm vững cấu trúc chương trình, SGK mới;
- Nắm vững nội dung đổi mới phương pháp dạy học;
- Tích cức dự giờ thăm lớp, rút kinh nghiệm với đòng nghiệp;
- Tham dự sinh hoạt chuyên môn cụm, tổ đầy đủ, hiệu quả.
* Bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng sử dụng BĐTD cho giáo viên
Người giáo viên có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học Do đó muốn ứng dụng BĐTD trong đổi mới phương pháp hiệu quả thì người giáo viên phải có kiến thức và kĩ năng sử dụng BĐT tốt.
Vì vậy, ngay từ ban đầu nhà trường đã rất coi trọng việc tập huấn chuyên môn cho giáo viên Cử cán bộ cốt cán có năng lực chuyên môn vững, có kiến
Trang 10thức về công nghệ thông tin đi dự hội thảo, học hỏi kiến thức, kĩ năng về ứng dụng BĐTD để về hướng dẫn cho giáo viên trong trường.
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Sau một thời gian ứng dụng BĐTD trong đổi mới phương pháp dạy học nói chung và đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn nói riêng ở trường THCS Yên Đức đã bước đầu có những kết quả khả quan Giáo viên đã nhận thức được vai trò tích cực của ứng dụng BĐTD trong hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học Nhiều giáo viên đã biết sử dụng BĐTĐ để dạy bài mới, củng cố kiến thức bài học, tổng hợp kiến thức chương, phần Học sinh hiểu bài nhanh hơn, hiệu quả hơn, Đa số các em học sinh khá, giỏi đã biết sử dụng BĐTD để ghi chép bài, tổng hợp kiến thức môn học Một số HS trung bình đã biết dùng BĐTD để củng cố kiến thức bài học ở mức đơn giản.
- Đối với môn Ngữ văn, học sinh rất hào hứng trong việc ứng dụng BĐTD để ghi chép bài nhanh, hiệu quả, đặc biệt là trong học Tiếng Việt.
Qua nghiên cứu lí luận và thực nghiệm dạy học ở một số tiết học cho thấy, sử dụng BĐTD trong dạy học kiến thức mới giúp HS học tập một cách chủ động, tích cực và huy động được tất cả HS tham gia xây dựng bài một cách hào hứng Với sản phẩm độc đáo “kiến thức + hội họa” là niềm vui sáng tạo hàng ngày của HS và cũng là niềm vui của chính thầy cô giáo và phụ huynh HS khi chứng kiến thành quả lao động của học trò của mình Cách học này còn phát triển được năng lực riêng của từng học sinh không chỉ về trí tuệ (vẽ, viết gì trên BĐTD), hệ thống hóa kiến thức (huy động những điều đã học trước đó để chọn lọc các ý để ghi), khả năng hội họa (hình thức trình bày, kết hợp hình vẽ, chữ viết, màu sắc), sự vận dụng kiến thức được học qua sách vở vào cuộc sống.
Trang 11IV KẾT LUẬN
Dạy học luôn là một quá trình sáng tạo, mục tiêu và nội dung chương trình được xây dựng trên cơ sở tích hợp, điều này tạo điều kiện cho học sinh dễ dàng mở rộng và nâng cao kĩ năng cũng như kiến thức của mình trong từng lớp, cấp học Nghị quyết TW 4 khóa VII, nghị quyết TW 2 khóa VIII và được pháp chế hóa trong điều 24.2 của Luật Giáo dục: Định hướng chung của đổi mới phương pháp dạy học là “Tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh” Ta có thể hiểu tích cực ở đây là tích cực hoạt động nhận thức, tích cực trong tư duy, tích cực một cách chủ động Điều đó có nghĩa là học sinh chủ động trong toàn
bộ quá trình phát hiện, tìm hiểu và giải quyết nhiệm vụ nhận thức dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên Do đó dạy tập làm văn là hình thành cho học sinh năng lực tư duy, năng lực hành động Muốn thế, chức năng của giáo viên không chỉ là truyền thụ giảng giải kiến thức cho học sinh mà chính là tạo điều kiện, tổ chức và khuyến khích học sinh tự mình tìm ra kiến thức mới, phát triển
kĩ năng và hình thành thái độ Điều tôi muốn nói nhắn nhủ với các em học sinh:
“ Muốn có một bài văn hay đòi hỏi phải có cảm xúc chân thật khi viết, cảm xúc hồn nhiên tươi trẻ xuất phát từ suy ngẫm trải nghiệm của chính mình, phải lao tâm khổ luyện Tránh lối viết theo kiểu khuôn sáo Hãy viết bằng chính tâm sức của mình, bằng sự nung nấu từ con tim, có như thế bài văn mới là sản phẩm sáng tạo của chính các em”.
Trước đây, các tiết ôn tập chương một số GV cũng đã lập bảng biểu, vẽ sơ
đồ, biểu đồ,… và cả lớp có chung cách trình bày giống như cách của GV hoặc của tài liệu, chứ không phải do HS tự xây dựng theo cách hiểu của mình, hơn nữa, các bảng biểu đó chưa chú ý đến hình ảnh, màu sắc và đường nét Gần đây, sau một số đợt tập huấn của Dự án THCS II, nhiều GV đã áp dụng thành công dạy học với việc thiết kế BĐTD Có thể kể đến một số trường tham gia dự án THCS II sau khi được tập huấn về đổi mới PPDH (trong đó có nội dung thiết kế,
sử dụng BĐTD) đã triển khai và bước đầu tạo một không khí sôi nổi, hào hứng của cả thầy và trò trong các sinh hoạt ở tổ chuyên môn cũng như hoạt động dạy
Trang 12học của nhà trường, là một trong những nội dung quan trọng của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” mà Bộ GD&ĐT đang đẩy mạnh triển khai.
Bước đầu cho phép kết luận: Việc vận dụng BĐTD trong dạy học sẽ dần hình thành cho HS tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học Sử dụng BĐTD kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực khác như vấn đáp gợi mở, thuyết trình… có tính khả thi cao góp phần đổi mới PPDH, đặc biệt là đối với các lớp ở cấp THCS và THPT
V ĐỀ NGHỊ:
* Trong công tác quản lí của hiệu trưởng:
- Hiệu trưởng phải là người gương mẫu, đi đầu trong đổi mới phương pháp dạy học ( PPDH) Tổ chức, hướng dẫn giáo viên tích cực đổi mới PPDH Chuẩn bị tốt các điều kiện về cơ sở vật chất, điều kiện, phương tiện phục vụ công tác đổi mới PPDH.
- Hiệu trưởng phải biết đánh giá đúng năng lực, trình độ của từng giáo viên trong trường để động viên, khen thưởng kịp thời đối với giáo viên biết đổi mới PPDH tích cực, hiệu quả.
* Tổ chuyên môn:
- Bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cốt cán về đổi mới PPDH.
- Tích cực dự giờ thăm lớp, rút kinh nghiệm, tổ chức sinh hoạt chuyên môn đúng kế hoạch;
- Thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt chuyên môn;
- Đánh giá, xếp loại giáo viên đúng năng lực, trình độ và đề xuất khen thưởng kịp thời những giáo viên tích cực trong đổi mới PPDH.
3 Với giáo viên:
- Nhiệt tình, say mê với nghề, tận tuỵ với học sinh.
Trang 13- Luôn tạo hứng thú trong giờ học ( đặc biệt là các tiết tập làm văn- luôn luôn bị coi là khó và khô) bằng các hình thức như: thi giữa các nhóm, tổ, tổ chức các trò chơi, tạo các tình huống…để học sinh có hứng thú và yêu thích môn học hơn
Trên đây là những kinh nghiệm của bản thân tôi trong quá trình giảng dạy
ở trường THCS Yên Đức - một ngôi trường còn nhiều khó khăn, điều kiện học tập của các em học sinh còn thiếu thốn nhiều Nhưng bằng sự nỗ lực, thầy và trò nhà trường đang dần dần khắc phục để đưa sự nghiệp giáo dục đi lên Rất mong được sự góp ý chân thành của lãnh đạo cấp trên và các bạn đồng nghiệp để sáng kiến kinh nghiệm của tôi được đầy đủ và hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Yên Đức, ngày 18 tháng 5 năm 2012
Người thực hiện
Vũ Thị Bình Ngọc
Trang 14VI TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1 Sách giáo khoa Ngữ văn 6,7,8,9.
2 Sách giáo viên Ngữ văn 6,7,8,9.
3 Tài liệu chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Ngữ văn.
4 Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn THCS - Dự án phát triển GD THCS II - Bộ GD & ĐT - T.S Nguyễn Văn Nam.
5 Sử dụng bản đồ tư duy góp phần tổ chức hoạt động học tập của học sinh- Tạp chí Khoa học giáo dục, số chuyên đề TBDH năm 2009 - Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy.
6 Web: www.mind-map.com ( trang web chính thức của Tony Buzan).
Trang 1511 2.2 Học sinh học tập độc lập, sử dụng BĐTD để hỗ trợ học tập 9
Trang 16Sự mạch lạc trong tư duy, năng lực phân tích tổng hợp khám phá các vấn đề, năng lực thuyết phục trên cơ sở lí lẽ chặt chẽ có căn cứ xác thực là một trong hướng tiếp cận hết sức quan trọng đặt ra đối với con người hiện đại Việc dạy học văn nghị luận vì vậy có giá trị rất quan trọng trong nhà trường Kiến thức và kĩ năng được rèn luyện trong quá trình học tập về nghị luận và cách nghị luận không chỉ giúp cho học sinh có kĩ năng làm văn mà có tác dụng hình thành năng lực cả về tư duy và sự thành công trong giao tiếp Ảnh hưởng của văn nghị luận đạt được không chỉ trong phạm vi môn Ngữ văn mà lan toả dối với tất cả các môn học khác ở trong nhà trường.
Văn bản nghị luận là một trong 6 dạng văn bản trong SGK Ngữ văn THCS Cũng như các văn bản khác, ngoài mục đích văn chương, văn bản nghị luận với những giá trị đặc trưng riêng đã đem lại cho học sinh những phát triển mà mỗi dạng văn bản tạo ra từ chính giá trị của bản thân tác phẩm Văn bản nghị luận thuyết phục người đọc, người nghe thông qua hệ thống luận điểm, luận cứ, luận chứng và
những hình ảnh sinh động gắn với thực tiễn Vẻ đẹp riêng của văn chương nghị luận vừa cuốn hút hấp dẫn tạo ra dòng chảy tư duy mạch lạc chặt chẽ trước các vấn
đề chính trị xã hội và cả đời sống nhân sinh.
Văn nghị luận là thể loại văn: “Viết về những vấn đề nóng bỏng thuộc nhiều lĩnh vực đời sống khác nhau: chính trị, kinh tế, triết học, văn hoá…Mục đích của văn nghị luận là bàn bạc thảo luận, phê phán hay truyền bá tức thời một tư tưởng, một quan điểm nào đó nhằm phục vụ trực tiếp cho lợi ích của một tầng lớp, một giai cấp nhất định…Đặc trưng cơ bản của văn bản nghị luận là tính thuyết phục- khác với văn bản nghệ thuật, văn chương nghị luận trình bày tư tưởng và thuyết phục người
đọc chủ yếu bằng lập luận , lí lẽ…”(Lê Bá Hân,Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi-
Từ điển thuật ngữ văn học – NXB Đại học quốc gia.).
Trước đây do quan niệm phiến diện nên nhiều người cho rằng văn chương chỉ bao gồm những sáng tác bằng tưởng tượng, hư cấu mà ít nghĩ đến văn nghị luận Hoặc
có nghĩ đến thì lại cho rằng đây là thể loại thường đề cập đến vấn đề tư tưởng cao siêu, trừu tượng, lập luận khó, diễn đạt khô nên khó hấp dẫn Do vậy văn chương nghị luận rất ít được đưa vào chương trình giảng dạy phổ thông Chỉ có một vài tác
phẩm nghị luận trung đại ( Sông núi nước Nam, Hịch tướng sĩ, Bình ngô đại cáo)
và rất ít tác phẩm nghị luận hiện đại được đưa vào chương trình THCS Mảng văn bản nghị luận còn nghèo về đề tài, chưa phong phú về thể loại.Việc dạy văn nghị luận trong nhà trường đã được tiến hành từ lâu Song tính phiến diện về đề tài, thể loại của văn bản nghị luận trong nhà trường còn thể hiện khá rõ Phương pháp dạy học văn bản nghị luận còn nhiều điều cần trao đổi.
Đổi mới chương trình phổ thông hiên nay, văn bản nghị luận được đưa vào SKG Ngữ văn THCS bắt đầu từ lớp 7 đồng thời với việc hình thành các kiến thức cho học sinh về làm văn nghị luận Hướng tích hợp liên thông nội dung các phân môn trong dạy học Ngữ văn đặc biệt với phân môn làm văn đã giúp cho việc dạy văn bản nghị luận có được cơ sở khoa học vững chắc Học sinh được trang bị kiến thức
Trang 17Văn bản nghị luận là một bộ phận trong hệ thống văn bản của SGK Ngữ văn
THCS Để dạy văn bản nghị luận có hiệu quả cần phải có vốn tri thức về nghị luận, các vấn đề xã hội, lịch sử có liên quan cùng đồng thời với sự chuẩn bị công phu của giáo viên trong việc thiết kế một bài giảng khoa học, hợp lí nhất.
I Thực trạng của việc dạy học văn bản nghị luận trong SGK Ngữ văn THCS.
Theo đánh giá của bản thân cũng như nhiều giáo viên có kinh nghiệm trong giảng dạy phần kiến thức này, khó khăn lớn nhất từ phía học sinh là tư duy lập luận lôgíc của các em chưa định hình Điều này cũng có lý do chương trình lớp dưới chủ yếu
là văn miêu tả, kể chuyện…nên thói quen của các em vẫn chỉ là tư duy hình ảnh theo phản ánh một chiều đối với hiện thực khách quan Trong lúc đó văn nghị luận đòi hỏi yêu cầu cao hơn về tính khoa học, tính lôgíc, tính biện chứng Từ “rào cản”
đó mà sự tiếp cận kiến thức mới đối với các em rất hạn chế, ảnh hưởng rất nhiều đến sự lắng động kiến thức mà giáo viên muốn truyền thụ đến các em Một lý do chủ quan khác là tình trạng học sinh ngại đọc sách, đọc tài liệu và không say mê với việc tìm hiểu những vấn đề thuộc lĩnh vực trừu tượng, khó hiểu và khô khan này Nếu không có sự hướng dẫn tận tình, sự thúc ép của giáo viên thì học sinh cũng rất khó tự giác học và làm bài.
Về phía người thầy,cũng còn nhiều lúng túng Trong quá trình giảng dạy, có giáo viên lại thường chỉ chú ý khai thác nội dung làm toát lên những quan điểm tư tưởng của tác giả đề cập mà ít chú ý đến vẻ đẹp về hình thức nghệ thuật của tác phẩm, Vì thế việc dạy tác phẩm nghị luận thường khô, không hấp dẫn đối với học sinh nên dẫn đến tình trạng học sinh chán học cũng là dễ hiểu Hơn nữa để phục vụ cho những bài giảng này vẫn còn thiếu đồ dùng, giáo cụ để góp phần nâng cao hiệu quả tiết học Thầy cô nào yêu nghề, say mê với môn học thì tự mò mẫm và thiết kế riêng những đồ dùng phục vụ cho chính bản thân mình Còn không thì có sao dùng vậy vì thế ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng học tập của học sinh Theo đánh giá của giáo viên giảng dạy, nhiều kiến thức của phần này chưa phù hợp với các em
học sinh THCS chưa sát với thực tế cuộc sống như Tiếng nói của văn nghệ ở lớp 9,
Sự giàu đẹp của tiếng Việt, Ý nghĩa của văn chương ở lớp 7.
Cũng phải nói rằng dạy học văn bản nghị luận là khó.Vì trên thực tế cả ở thế giới
và Việt Nam văn chương nghị luân có lịch sử rất lâu đời, nó không chỉ có ý nghĩa đối với những vấn đề lớn lao của đất nước, thời đại như công cuộc dựng nước, giữ nước, canh tân đất nước mà còn rất gần gũi và có ý nghĩ trong đời sống cộng đồng, nhiều văn bản viết bằng chứ Hán, nhiều điển tích và từ ngữ Hán- Việt nên khó hiểu…
Bên cạnh những khó khăn trên, thời gian gần đây giáo viên cũng có nhiều thuận lợi như có đủ sách giáo khoa, sách tham khảo, sách thiết kế bài giảng, và hỗ trợ của công nghệ thông tin cho soạn giảng, tra cứu, tham khảo… đây là những tài liệu, tư liệu tốt giúp cho giáo viên mở rộng, chọn lọc kiến thức để đưa vào bài giảng của mình.