1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CUOC DOI VA SU NGHIEP PH TRAN NHAN TONG

23 358 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 236,5 KB
File đính kèm CUOC DOI VA SU NGHIEP PH TRAN NHAN TONG.rar (49 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phật giáo đời Trần là một thời đại vàng son của đất nước, các vị Thiền sư, các vị vua đời Trần đã thể hiện trọn vẹn tinh thần vì dân vì nước, với luồng gió “nhập thế”lớn mạnh của Phật gi

Trang 1

A DẪN NHẬP

Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phật giáo giữ một vai trò quan trọng khôngchỉ bởi xuất hiện sớm trong nhiều thế kỷ được coi là quốc giáo, mà còn được khẳngđịnh ở sự gắn bó với quá trình xây dựng, phát triển của quốc gia, phổ cập tới khắp mọivùng, miền trong cả nước và đã trở thành một bộ phận cơ hữu trong đời sống văn hoádân tộc

Phật giáo đời Trần là một thời đại vàng son của đất nước, các vị Thiền sư, các

vị vua đời Trần đã thể hiện trọn vẹn tinh thần vì dân vì nước, với luồng gió “nhập thế”lớn mạnh của Phật giáo đã dựng lên bối cảnh huy hoàng của lịch sử việt nam, trải dàigần 200 năm tạo nên những trang sử hào hùng oanh liệt của dân tộc Đại Việt đã ba lầnchiến thắng đội quân xâm lược vô địch Nguyên Mông đương thời Một thời đại điểnhình về những vị vua anh minh: Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông…mãi mãi lưu danhtrong hậu thế cùng những vị tướng tài ba, trung hiếu: Trần Thủ Độ, Trần Hưng Đạo,Phạm Ngũ Lão…quyết một lòng gìn giữ xã tắc

Một thời đại Phật giáo Việt Nam chuyển sang bước ngoặt mới mà đỉnh cao là

sự khai sáng dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử đứng đầu là Điều Ngự Giác Hoàng TrầnNhân Tông đắc đạo nhờ vị thầy lãnh đạo tinh thần phong cách siêu phóng Tuệ TrungThượng Sĩ và chư đệ tử kế thừa xuất sắc : Pháp Loa, Huyền Quang… không nhữngthế, chính tinh thần nhập thế của Phật giáo thời Trần cũng đã làm cho xã hội Việt Namrực rỡ về văn hoá mĩ thuật lẫn quân sự chính trị Phải nói rằng Phật Giáo thời Trần vớitinh thần nhập thế đã gây nên âm hưởng vang dội không chỉ một thời mà còn vọng mãiđến bây giờ và đến ngàn sau Đối với các Ngài hình thức làm vua, làm quan, cư sĩ,xuất gia chẳng qua chỉ là hình thức bên ngoài nhưng trong tâm niệm quý Ngài luônmong mỏi đem lại ấm no hoà bình hạnh phúc cho dân tộc Vì vậy những Thiền sư đivào cuộc đời mà không bị lợi danh quyền thế làm hen ố vẩn đục, tâm hồn quý Ngàiluôn thanh thoát như đoá hoa sen thơm ngát giữa bùn lầy mà không bị bùn nhơ làm ônhiễm đã thể hiện trọn vẹn tinh thần “vô ngã - tuỳ duyên – hoà quang đồng trần” Vì

vậy, người viết xin trình bày đề tài: “Cuộc đời và sự nghiệp của Phật Hoàng Trần

Nhân Tông”.

Bài viết chỉ giới hạn trong giai đoạn Phật giáo thời Trần - thời vàng son sángngời trong sử sách Cuộc đời của Thượng Hoàng, Phật Hoàng Trần Nhân Tông là mộtchuỗi của sự xuất xử gắn liền việc Đạo với việc Đời và tất cả đều thuận theo quy luật,tức là tùy duyên chứ không hề khiên cưỡng Vì tính chất và giới hạn của bài viết chắcchắn không tránh khỏi những điều những sai xót trong khi trình bày đề tài này.Ngưỡng mong chư vị giáo sư, các vị thiện trị thức cùng bạn đọc thứ lỗi và chỉ dạythêm để bài làm được hoàn thiện hơn, người viết chân thành tri ân

Trang 2

B NỘI DUNG

1 GIỚI THIỆU VỀ BỐI CẢNH XÃ HỘI THỜI TRẦN

1.1 Bối cảnh xã hội thời Trần

Sau khi nước ta giải phóng khỏi ách thống trị của giặc ngoại xâm, giai cấpphong kiến nhanh chóng tiến hành xây dựng nhà nước Đại Việt Các triều đại Ngô –Đinh - Tiền Lê đã đặt một nền móng đầu tiên cho nhà nước Đại Việt độc lập Và triềuTrần thật sự mở ra một kỷ nguyên mới của nước Đại Việt vững mạnh “Đây là mộttriều đại đã thực hiện một đại quy mô quốc gia cho dân tộc độc lập, hùng cường ởĐông Nam Á”1

1.2 Thời Đại Hào Hùng Của Dân Tộc Đại Việt Với Hào Khí Đông A

Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử dựng nước và giữ nước trải qua 10 thế kỷ,dân tộc ta đã giành được độc lập Từ đó dân tộc ta bước sang một giai đoạn mới “thờiđại thống nhất đất nước phục hưng mọi giá trị của văn hoá tinh thần, truyền thống củadân tộc” Sau hơn 1000 năm đô hộ, đây là một thời đại cả dân tộc không chỉ giữ vữngđất nước trước ngoại xâm mà còn có khả năng phục hưng mọi giá trị truyền thống từviệc dời đô 1010 để xây dựng một nền văn hoá mới văn hoá Thăng Long đến việc thiếtlập Quốc Tử Giám,Trường Đại Học đầu tiên của Nho Lão Phật cũng như thiết lập mộtthành tích mới, ba lần đánh tan quân Nguyên Mông hùng mạnh khiến cả thế giới phảithừa nhận Triều Trần là một trong những cường quốc của Đông Nam Á lừng danh với

3 trận đại thế giới xâm lược Nguyên Mông, đời Trần là đời thực thi pháp luật cao nhấtvới Bộ Luật Hình Thư được dựa trên nền tảng từ kinh Thập Thiện để trị tội, xây dựng

bộ Triều Đại Điện Với tinh thần dân tộc, đoàn kết, vua tôi đồng lòng, anh em hoàthuận cả nước chung sức chung lòng Tất cả đã làm nên một hào khí mới đó là hào khíĐông A

1.3 Phật Giáo Đời Trần Gắn Liền Với Lịch Sử Xây Dựng Và Phát Triển Đất Nước:

Vị vua khai sáng đầu tiên triều Trần là Trần Thái Tông Thế nhưng người khaithông tư tưởng cho Thái Tông và trao cho nhà vua chiếc chìa khoá tinh thần vững chãilại là quốc sư Viên Chứng một nhà sư “ăn rau răm, nhai hạt dẻ, uống nước suối, vuicảnh núi rừng” Cho nên có thể nói Quốc sư là nhà giáo dục gầy dựng vị vua mẫu mực

có lòng độ lượng nhân từ “đức độ song toàn, phải miệt mài sống đạo giúp đời ” Liêntục gần hai thế kỉ triều đại, chính Quốc sư là động lực tất yếu thiết lập phong thái ưuviệt của Phật giáo thời Trần, bằng lời dạy đơn sơ nhưng mang nhiều tâm huyết củangười sáng đạo, Quốc sư đã truyền trao trọn vẹn cốt tuỷ tư tương đạo Phật chỉ trongmột câu nói mở đường cho vua Thái Tông bước vào đạo

“ Trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong lòng Lòng lặng lẽ mà hiểu,

đó chính là chân Phật Nay bệ hạ giác ngộ điều đó thì lập tức thành Phật, không cầnkhổ công tìm kiếm bên ngoài”.

1 Nguyễn Đăng Thục, Lịch Sử Tư Tưởng Việt Nam, Tập 3, Nhà Xuất Bản TP Hồ Chí Minh.

Trang 3

Bằng nhận thức thực tế, Quốc sư không quên huấn thị nhà vua một phươnghướng lãnh đạo thiết thực: “Phàm là bậc nhân quân phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ýmuốn của mình, lấy tấm lòng thiên hạ làm tấm lòng của mình”.

Rõ ràng cốt tuỷ của đạo Phật cô đọng trong ba chữ “ Phật tại tâm” và để nhận rađược, sống được, biết được ông chủ của chính mình thì phải quay trở lại với tâm mình.Khi đức Phật còn tại thế Ngài nhắc rất nhiều về yếu chỉ “ Phật tại tâm” “Tất cả chúngsanh đều có Phật tánh ” Và việc quay lại chính mình là điều Đức Thế Tôn luôn khích

lệ môn đồ, thậm chí khi Ngài gần nhập niết bàn, Ngài vẫn răn dạy chư đệ tử “Cácngươi hãy là nơi nương tựa của chính mình, đừng tìm một nơi nương tựa nào khác”

Hay

“ Ngươi là hòn đảo là nơi nương tựa của chính ngươi” .

Trong kho tàng giáo lý của đức Phật có 84.000 pháp môn nhưng vẫn xoayquanh con đường chính, đó là con đường “hướng nội” hay con đường trở về với bảntâm thanh tịnh sẵn có của mỗi người, trong nhà Thiền thường gọi “chủ nhân ông” hay

“ông chủ của chính mình” Cho nên “hướng nội” được xem là tiền đề của sự tu tậpchính, và con đường thành tựu duy nhất mà mỗi người như một thành trì

Dù biết rằng trong mỗi chúng sanh đều có sẵn hạt nhân Phật hay “Phật tánh”,nhưng chúng ta thường nhận vọng tưởng điên đảo hơn thua phải quấy là của mình nên

bỏ quên mất hòn ngọc vô giá nên phải bị sanh tử luân hồi không có ngày dừng Nhưvậy điều kiện cần nhất cho người tu học Phật phải áp dụng “hướng nội” miên mậtdụng công hành trì, chuyển hoá nội tâm hầu làm cửa ngõ khế nhập chân tâm thể hộiPhật tánh

Các vị vua - Thiền sư thời Trần đã khéo dụng công miên mật trong từng sát nakhiến ngọn đèn tâm Phật toả sáng khắp bầu trời Đại Việt Và hiển nhiên phẩm cáchcao đẹp như: tự lực, tự cường, tự nắm lấy và tự lèo lái vận mệnh quốc gia của ngườidân Việt càng dũng mãnh tinh tấn hơn Như câu nói dứt khoát của Trần Thủ Độ “Đầutôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo”2 và lời tâm huyết của Trần Hưng Đạo “Nếu

bệ hạ muốn hàng, xin chém đầu tôi trước đã”

Cũng như hình ảnh Phạm Ngũ Lão vẫn ngồi yên bất động, dù bị quân hầu củaTrần Hưng Đạo thọc giáo vào bắp vế…

Được sự chỉ dạy của quốc sư Viên Chứng vua Trần Thái Tông đã dụng cônghành trì miên mật Ngài đã thực tu, thực chứng và thường khuyên nhủ mọi người luôn :

“Quay đầu tìm biết, quang minh ngay đó tự nhiên sanh” 3.

“Chớ mải mê làm khách, quay về sớm chiều soi” 4

“Lang thang làm khách phong trần mãi , ngày cách quê xa muôn dặm trình” 5

2 Quỳnh Cư – Đõ Đức Hùng – Các triều đại Việt Nam 1995 Tr 93

3 Trần Thái Tông – Khoá Hư Lục - Hậu Dạ Chúc Hương – Tr 213 – TVLT II

4 Trần Thái Tông – Khoá Hư Lục – Sơ Nhập Vô Thường Kệ - Tr 172 – TVLT II

Trang 4

Với Thượng Sĩ, ngoài việc bừng tỉnh con đường cho vua Trần Nhân Tông :

“Soi sáng lại mình là phận sự gốc, chẳng từ nơi khác mà được” ra mục tiêu “hướngnội” được Ngài thức tỉnh trong các lời dạy

Còn vua Trần Nhân Tông cũng an nhiên tự tại như một “Phong trần khách”Ngài khám phá ra được chân thật tướng vạn hữu, thấy được bộ mặt xưa nay của chínhmình và thực sự Ngài đã nếm được pháp vị hiện hữu, hiện thực muôn đời cũng chính

là lúc Phật Di Đà, Phật Thích Ca, Phật Di Lặc, thể tánh kim cương và tâm viên giácnhiệm mầu đang ngự trị trong ta:

Tịnh độ là lòng trong sạch chớ còn ngờ hỏi đến Tây Phương

Di Đà là tính sáng soi, mựa phải nhọc tìm về Cực Lạc Tích nhân nghì tu đạo đức, ai hay này chẳng Thích Ca Cầm giới hạnh đoạn ghen tham chỉn thực ấy là Di Lặc Dứt trừ nhân ngã thì ra tướng thực kim cang Dừng hết tham sân mới tỏ lòng mầu viên giác

Vậy mới hay:

Bụt ở trong nhà chẳng phải tìm xa Nhân khuây bổn nên ta tìm Bụt Đến cốc hay chỉn Bụt là ta

Tuy nhiên, nếu con người là cơ hội hạn hữu để quả Phật hiển lộ thì cuộc đời sẽ

là điểm hẹn tối quan trọng mà con người cần có để rèn luyện tự tâm Nói cách khác,ngoài con người huyễn hoá không có quả phật, không có đạo tràng thực nghiệm nào

ưu thế hơn đạo tràng cuộc đời Lục Tổ Hụê Năng ngày trước đã nói:

Phật pháp tại thế gian Không lìa thế gian giác Lìa thế gian tìm Bồ Đề Giống như đi tìm sừng thỏ .

Kế thừa và phát huy truyền thống “Đạo Phật không tách rời cuộc sống, các vịvua thiền sư thời Trần đã đem đạo Phật đi vào cuộc đời để phục vụ xã hội, nhân dâncùng với việc tham thiền học đạo Bởi vì quí Ngài biết rất rõ “Đạo bất viễn nhân”( Đạo

Trang 5

không xa người) Đạo phải được sống được thể nghiệm ngay trong lòng cuộc đời nên.

“Phàm làm vua phải lấy ý muốn của dân, làm ý muốn của mình”.Như kinh Phổ hiềnnói: “Phụng sự chúng sanh là cúng dường chư Phật ,trang nghiêm thế gian là trangnghiêm tịnh độ của chư Phật”,thể theo tinh thần ấy,chư vị thiền sư thời Trần luôn lấychúng sanh làm đối tượng để phụng sự, quý Ngài luôn dấn thân vào đời để làm lợi lạccho đất nước, ích lợi cho dân tộc.Quý Ngài tuỳ duyên mà xuất hiện dưới nhiều dạngkhác nhau Khi thì đóng vai Thái sư, khi làm người cư sĩ, lúc làm người xuất gia, làmquan, vua Tất cả những hình thức đó cũng không ngoài mục đích đem lại hoà bìnhcho đất nước, ấm no hạnh phúc cho nhân dân ,làm vơi bớt nỗi khổ đau của chúng sanh.Bởi cõi Ta Bà này là cõi đời đau khổ nên quý Ngài mang tâm hồn “Bồ tát”vào đời độsanh,tuỳ duyên vào đời và mở ra một chân trờian lạc,trong sáng, hướng dẫn chúngsanh tìm về với đạo pháp , tránh ác làm lành ,tu tâm hành thiện, đi đến giải thoát sanh

tử khổ đau

Với phong cách của nhà nhập thế đời Trần là sống “Hoà Quang Đồng Trần”tứcsống hoà lẫn trong thế tục, lấy từ bi và trí tuệ làm căn bản và hạnh nhẫn nhục làm nềntảng Đối với thanh sắc lợi dưỡng,ngũ dục lục trần phần nhiều đều xa lánh ,khônggiống quan niệm thường tình cho rằng đời là một trường tranh đấu ,chỉ mong saothắng lợi về mình, đạt được càng nhiều càng tốt Do đó, khiến một số người tự mệnhdanh là tích cực tiến bộ, đã vội vàng cho Phật giáo là tiêu cực lánh đời, không thíchhợp với xã hội cạnh tranh nhộn nhịp đương thời Nhưng, Phật giáo có đúng là tiêu cựclánh đời hay không? Không! Nếu người nào hiểu được ít nhiều về Phật Giáo đều biếtrằng đạo Phật vốn có tinh thần nhập thế tích cực Về điểm này cho chúng ta thấy, vàođời vua Lương Võ Đế đời Đường ở Trung Hoa Là ông vua phật tử rất thuần thành vàthuyết pháp rất hay : thế nhưng khi đất nước Trung Hoa lâm cơn khói lửa thay vì xôngpha trận mạc, nhà vua lại đóng cốc tĩnh tu đã đưa đến thảm họa đau thương cho đấtnước Đối với các vị thiền sư thời Trần, vừa lo việc triều chính, vừa học đạo, hànhthiền vẫn sẵn sàng “cởi áo Cà Sa, khoác chiến bào khi tổ quốc lâm nguy Quý Ngàisống rất đạm bạc, không đặt nặng vấn đề vật chất mà xem rất tầm thường :

Áo miễn chăn đầm ấm qua mùa hoặc chằm hoặc xể.

Cơm cùng cháo đói no đòi bữa dầu bạc dầu thoa

Mà chỉ vui với đạo không màng danh lợi qua bài thơ của vua Trần Nhân Tôngchúng ta càng cảm nhận rõ:

Ở trần vui đạo hãy tuỳ duyên Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền.

Báu sẵn trong nhà thôi tìm kiếm Lặng lòng đối cảnh hỏi chi thiền .

Như đoá hoa sen thanh khiết vươn lên từ trong bùn, quý vị sống trà trộn trongdòng đời mà không bị lợi danh quyền uy cám dỗ Không làm sao động với tâm thanhtịnh của quý Ngài, Vì thế quý Ngài “ Xem ngai vàng như một chiếc giày cũ” Tuy đờisống bận rộn trăm bề nhưng không vì thế mà không an trụ trong thiền định Không chỉđơn giản với việc “Mình ngồi thành thị, nết dùng sơn lâm” mà là “Đi cũng thiền, ngồicũng thiền” ngay cả khi lâm triều họp bàn chính sự hay lúc lâm trận điều binh khiển

Trang 6

tướng quí Ngài cũng không rời thiền định Trước mắt quý Ngài các pháp đều thành vidiệu nhiệm mầu: “Trong ảo sắc cũng là chân sắc; nơi phàm thân cũng thực pháp thân”

Với tâm thanh tịnh trí tuệ phát sáng thì niết bàn ở ngay đây và giải thoát cũng ởngay đây Ta bà là tịnh độ mà tịnh độ cũng là ta bà rồi

Phật giáo đời Trần luôn quay trở về “nội tâm” làm nền tảng, lấy “nhập thế” làmhướng đi đã hình thành phong cách Việt Nam đặc biệt : luôn tuỳ duyên Đây chính làánh sáng thực thụ Phật giáo đời Trần

2 GIỚI THIỆU VỀ CUỘC ĐỜI PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG

2.1 Tiểu Sử của Phật Hoàng Trần Nhân Tông

- Trần Nhân Tông tên thật là Trần Khâm, con trưởng vua Trần Thánh Tông vàNguyên Thánh Thiên Cảm hoàng thái hậu, sinh ngày 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ(1258) tại kinh thành Thăng Long

Ngài tuy ở vị sang cả mà tâm hâm mộ Thiền tông từ thuở nhỏ Năm mười sáutuổi được lập làm Hoàng thái tử tháng 12 năm Giáp Tuất (1274) Ngài cố từ đểnhường lại cho em, mà vua cha không chịu Vua cưới trưởng nữ của Nguyên Từ Quốcmẫu cho Ngài, tức là Khâm Từ Thái hậu sau này

Vua Trần Thánh Tông đã mời các bậc lão thông Nho giáo, Tứ thư, Ngũ kinh đểdạy cho Ngài như Lê Phụ Trần, Nguyễn Thánh Huấn, Nguyễn Sĩ Cố v.v… tất cả đềuhết lòng dạy dỗ Chính Vua cha cũng đã soạn Di hậu lục để dạy dỗ cho Thái tử cách

xử thế, chuẩn bị nối nghiệp sau này

Con người Ngài rất thông minh hiếu học, đọc hết các sách vở, suốt thông nộiđiển (kinh) và ngoại điển (sách đời) Những khi nhàn rỗi, Ngài mời các Thiền kháchbàn giải về Tâm tông (thiền), tham học thiền với Thượng Sĩ Tuệ Trung, thâm đắc đếnchỗ thiền tủy Ðối với Thượng Sĩ, ngài kính lễ làm thầy

- Ngày 22 tháng Mười âm lịch năm Mậu Dần (tức 8 tháng 11 năm 1278), ôngđược vua cha là Trần Thánh Tông nhường ngôi, trị vì thiên hạ Đại Việt, lấy đức trị vì,dân chúng an cư lạc nghiệp, lấy niên hiệu là Thiệu Bảo Tuy ở địa vị cửu trùng, màNgài vẫn giữ mình thanh tịnh để tu tập

- Trước thảm họa ngoại xâm, quân Nguyên - Mông chuẩn bị xâm chiếm nướcNam Năm 1282, Ngài chủ trì Hội nghị Bình Than để lấy ý kiến toàn dân trong cuộcchiến tranh vệ quốc vĩ đại Năm 1284, trước khi cuộc chiến tranh diễn ra, Ngài chủ trìHội nghị Diên Hồng, lấy ý kiến các vị Bô lão, những người đứng đầu các Bộ lạc Toànthể hội nghị già trẻ, gái trai đều một lòng tung hô quyết chiến

- Năm 1285, với tinh thần bảo vệ dân tộc, Tổ quốc của toàn dân, Ngãi đã lãnhđạo và chiến thắng cuộc xâm lăng Nguyên – Mông lần thứ nhất

Trang 7

Với ý đồ bành trướng Phương Nam, tiến chiếm Chiêm Thành, làm bàn đạp thôntính Đại Việt, Trần Nhân Tông lại một lần nữa lãnh đạo cuộc chiến tranh vệ quốc vĩđại, với sự quyết tâm chiến thắng của toàn quân, toàn dân, Ngài đã chiến thắng quânNguyên – Mông lần thứ hai năm 1288.

Sau khi đất nước thanh bình, dân chúng an cư lạc nghiệp, Ngài đã củng cố triềuđình, phủ dụ, đoàn kết toàn dân, xây dựng và phát triển đất nước trong thời hậu chiến.Với mục đích chủ hòa, Ngài đã bỏ qua những lỗi lầm đã có của quần thần cũng nhưthân tộc

- Năm 41 tuổi (1293), Ngài nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông lên làmThái Thượng Hoàng

- Năm 1294, Ngài cầm quân sang chinh phạt Ai Lao, giữ yên bờ cõi và làm chonước Triệu Voi tiếp tục thần phục Đại Việt Sau khi chinh phạt Ai Lao, Ngài trở vềHành cung Vũ Lâm – Ninh Bình, cầu Quốc sư Huệ Tuệ làm lễ Xuất gia, tập sự tu hànhtại đây một thời gian

- Năm 1299 Ngài quyết tâm trở lại thăm Kinh sư lần cuối, rồi đi thẳng lên núiYên Tử - Quảng Ninh quyết chí tu hành, tham thiền nhập định, lấy tên là “Hương VânĐại Đầu Đà” và độ Đồng Kiên Cương làm đệ tử và ban pháp hiệu là Pháp Loa

- Năm 1301, Ngài hạ san, đi thăm hữu nghị đất nước Chiêm Thành và nghiêncứu về tôn giáo, tạo lập mối quan hệ hợp tác, hòa bình, hữu nghị với các nước lânbang Trở về chùa Phổ Minh phủ Thiên Trường giảng kinh, thuyết pháp, mở Hội đạithí vô lượng cho nhân dân

- Năm 1304, Ngài chống gậy trúc dạo đi khắp nước Đại Việt, khuyến khíchmuôn dân giữ năm giới, tu hành Thập thiện, dẹp bỏ những nơi thờ cúng không đúngChính pháp, loại bỏ những điều mê tín dị đoan v.v… Ngài đến Bố Chánh – QuảngBình lập am Tri Kiến và lưu lại đây một thời gian Sau đó, được Vua Trần Anh Tôngthỉnh vào nội cung để truyền giới Bồ tát cho Bá quan văn võ, quần thần

Sau chuyến thăm hữu nghị Chiêm Thành năm 1301, Ngài có hứa đính hônCông chúa Huyền Trân cho Vua Chiêm là Chế Mân Năm 1305, Vua Chiêm Thành saiChế Bồ Đài và phái đoàn ngoại giao mang vàng, bạc… sính lễ cầu hôn Đến năm

1306, Ngài đứng ra chứng minh hôn lễ giữa Công chúa Huyền Trân và Chế Mân –Vua Chiêm Thành

Trước thành quả ngoại giao hôn phối ấy, Vua Chiêm đã dâng hai quận Châu Ô,Châu Rí cho Đại Việt làm quà sính lễ Đây chính là điều kiện giúp cho Đại Việt mởrộng bờ cõi về phương Nam là Thuận Hóa (Huế)

Năm 1307, Ngài truyền Y Bát lại cho Tôn giả Pháp Loa, lên làm Sơ Tổ TrúcLâm và Pháp Loa là Tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm Trong thời gian đó, Ngàithường lui tới chùa Báo Ân Siêu Loại, Sùng Nghiêm Hải Duơng, Vĩnh Nghiêm LạngGiang, chùa Từ Lâm, chùa Quỳnh Lâm Đông Triều để giảng kinh, thuyết pháp vàchứng minh các Lễ hội…

Trang 8

Sau khi truyền Y Bát cho Tôn giả Pháp Loa, Ngài tập trung biên soạn Kinhsách và Ngữ lục Qua đó, Ngài đã để lại cho đàn hậu học một số tài liệu vô cùng quýbáu như: Trần Nhân Tôn thi tập, Đại Hương Hải Ấn thi tập, Tăng Già Toái Sự, ThạchThất Mỵ Ngữ, Trung hưng Thực Lục, Truyền Đăng Lục v.v….

Trước khi nhập diệt, Ngài đã để lại bài kệ Pháp Thân Thường Trụ qua sự trả lờicho thị giả hầu cận bên Ngài là Bảo Sát: “Tất cả pháp không sanh Tất cả pháp khôngdiệt Ai hiểu được như vầy Thì chư Phật hiện tiền Nào có đến có đi” (Nhất thiết phápbất sanh Nhất thiết pháp bất diệt Nhược năng như thị giải Chư Phật thường tại tiền

Hà khứ lai chi hữu)

Vua Trần Nhân Tông đã ở ngôi 15 năm, nhường ngôi 5 năm, xuất gia 8 năm đãđặt hai niên hiệu là : Thiên Bảo (1279-1285) và Trùng Hưng (1285-1293), mất ngày 3tháng 11 năm Mậu Thân, thọ 50 tuổi, qua đời ở am Ngoạ Vân núi Yên Tử, đưa về táng

ở Đức lăng (nay thuộc tỉnh Thái Bình), miếu hiệu là Nhân Tông, tên thụy là PhápThiên Sùng Đạo Ứng Thế Hóa Dân Long Từ Hiển Hiệu Thánh Văn Thần Võ NguyênMinh Duệ Hiếu Hoàng Đế

2.2 Quá trình xuất gia

Trần Nhân Tông có chủng duyên sâu đậm với Phật Đà từ lúc mới sanh ra.Trong quyển Thánh Đăng Lục ghi: “Khi mới sanh ra, thân tướng Ngài vàng tía nhưsắc Phật nên vua cha mới đặt tên là Kim Phật Ngài tuy ở địa vị cao sang mà tâm hâm

mộ thiền tông từ thuở nhỏ Và có chí hướng thượng như bậc Đại Sĩ xuất trần Do đó,năm mười sáu tuổi được lập làm Hoàng thái tử, Ngài hai lần cố xin nhường lại cho em

là Đức Việp, nhưng vua Thánh Tông không cho, vì thấy Ngài có khả năng gìn giữgiang sơn gánh vác việc lớn, đúng với cái nhìn của vua Thánh Tông sau hai lần chiếnthắng quân Nguyên - Mông oanh liệt

Cuộc đời xuất gia của Tổ Trúc Lâm là một cuộc đời hoạt động sôi nổi, tích cực.Ngoài các mùa kết hạ tại các am núi hay các chùa, thời gian còn lại Ngài thường đivân du hoằng hoá đây đó Năm 1304, “Điều Ngự đi khắp mọi nẻo thôn quê, khuyêndân phá bỏ các dâm từ và thực hành giáo lý Thập thiện” Ngài muốn xây dựng một xãhội trên nền tảng luân lý đạo Phật, góp phần củng cố triều đại thời hoàng kim củamình

Sau khi nhường ngôi cho con trai là Trần Anh Tông, ông xuất gia tu hành

lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử (còn gọi là phái thiền Trúc Lâm hay Trúc Lâm Tam

tổ), lấy đạo hiệu là Điều Ngự Giác Hoàng (hay Trúc Lâm đầu đà) Ông là tổ thứ nhấtcủa dòng Thiền Việt Nam này Về sau ông được gọi cung kính là “Phật Hoàng” nhờnhững việc này

2.3 Tác phẩm của Phật Hoàng Trần Nhân Tông

Trần Nhân Tông là nhà văn, nhà văn hóa Có thể nói, trong tình hình tư liệuhiện nay, ông là người đầu tiên dùng tiếng Việt chữ Nôm để sáng tạo các tác phẩmnhư:

- Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca

Trang 9

- Cư Trần lạc đạo phú.

- Thiền Lâm thiết chủy ngữ lục (Ngữ lục về trùng độc thiết chủy trong rừngThiền)

- Tăng già toái sự (Chuyện vụn vặt của sư tăng)

- Thạch thất mỵ ngữ (Lời nói mê trong nhà đá)

- Đại hương hải ấn thi tập (Tập thơ ấn chứng của biển lớn nước thơm)

- Trần Nhân Tông thi tập (Tập thơ Trần Nhân Tông)

- Trung Hưng thực lục (2 quyển): chép việc bình quân Nguyên xâm lược.Các phẩm trên đều đã thất lạc, chỉ còn lại 25 bài thơ chép trong Việt âm thi

với hơn 30 bài thơ chữ Hán, 22 lá thư viết cho quân nhà Nguyên, cùng 2 bài giảng ởchùa Sùng Nghiêm và Kỳ Lân

3 SỰ NGHIỆP PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG

Xuyên suốt lịch sử dân tộc, đã có biết bao nhiêu nhân vật với tư cách là ngườiđứng đầu đất nước đã có những kỳ tích lẫm liệt đối với đất nước Có nhân vật nổi bậtlên trong sự nghiệp giữ nước, có nhân vật nổi lên trong sự nghiệp dựng nước, lại cónhân vật nổi lên trong sự nghiệp mở nước, hoặc có một số nhân vật có cả hai hoặc balãnh vực đó Trần Nhân Tông là một vị hoàng đế mà sự nghiệp nổi hẳn trên cả ba mặt:Giữ nước, dựng nước và mở nước Trên cả ba lãnh vực này, Trần Nhân Tông đã cónhững đóng góp hết sức đặc biệt Tuy nhiên, cho đến nay trong chính sử cũng nhưtrong hiện thực xã hội, sự nghiệp của Trần Nhân Tông và một số vấn đề liên quan đếnthời đại Trần Nhân Tông vẫn chưa được nhìn nhận một cách thỏa đáng

3.1 Sự nghiệp giữ nước của Phật hoàng Trần Nhân Tông

Thời Trần Nhân Tông ở ngôi hoàng đế, dân tộc ta phải đương đầu với một kẻthù hung hãn nhất của thời đại: Giặc Mông - Nguyên Trong vòng nửa thế kỷ, bộ tộcMông Thát đã mở rộng chiến tranh xâm lược và làm chủ nhiều vùng đất đai rộng lớn ởhai lục địa Á - Âu, lập nên một đế chế kéo dài từ bờ Hắc Hải đến Thái Bình Dương.Thế nhưng cả ba lần xâm lược Đại Việt, đội quân "bách chiến bách thắng" đó đều bịđánh bại, trong đó có hai lần diễn ra dưới thời Trần Nhân Tông Vậy vai trò của TrầnNhân Tông, với tư cách là người đứng đầu đất nước trong hai cuộc kháng chiến 1285

và 1288 được thể hiện như thế nào?

Phải chăng vai trò của Trần Nhân Tông đã bị "che khuất" sau Thượng hoàngThánh Tông và tài thao lược của Hưng Đạo Vương? Việc Thượng hoàng Trần TháiTông và Hưng Đạo Vương tham gia chỉ đạo chiến tranh và đã có những quyết sách tối

ưu đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi là điều không thể phủ nhận, nhưng phải khẳngđịnh rằng thực quyền lãnh đạo hai cuộc chiến tranh vẫn thuộc về Trần Nhân Tông Xinđược nêu một số sử liệu để minh họa cho lập luận này

Trang 10

Để chuẩn bị cho chiến tranh, Trần Nhân Tông ý thức rất sâu sắc về "thế trậnlòng dân" hạt nhân để làm nên chiến thắng Trần Nhân Tông đã tổ chức hội nghị BìnhThan (1282), gồm tướng sĩ để bàn kế giữ nước Đặc biệt, đầu năm 1285, Trần NhânTông đã tổ chức hội nghị Diên Hồng, gồm các bô lão đại diện cho thần dân khắp cảnước, để rồi từ điện Diên Hồng vang lên tinh thần quyết chiến Rõ ràng là mỗi khi sứcmạnh nhân dân vào trận thì không một thế lực nào có thể vượt thắng được Với cáchhiểu như vậy, chúng ta mới thấy được tầm cao của Trần Nhân Tông trong việc huyđộng sức dân vào hai cuộc chiến tranh giữ nước 1285 và 1288

Vai trò tối cao của Trần Nhân Tông còn thể hiện trong chính sách dùng người.Việc Trần Nhân Tông giao cho Hưng Đạo Vương chỉ huy trực tiếp toàn quân, hoặctrọng dụng các tướng lĩnh tài năng dù họ có lỗi lầm trong quá khứ như Nhân HuệVương Trần Khánh Dư được giao làm Phó tướng, phụ trách toàn bộ thủy quân; hoặcnhư Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật tuổi đời còn rất trẻ vẫn được cử trông coi cảmột vùng Tây Bắc rộng lớn, Nhà sử học đời Lê là Ngô Sĩ Liên nhận xét: "Tôi từngthấy các danh tướng nhà Trần như Hưng Đạo Vương thì học vấn tỏ ra ở bài hịch,Phạm Điện Súy (tức Phạm Ngũ Lão - TG) thì học vấn biểu hiện ở câu thơ, không chỉ

có chuyện về nghề võ Thế mà dùng binh tinh diệu, hễ đánh là thắng, đã tấn công làchiếm được, người xưa cũng không một ai vượt nổi các ông Đủ biết, nhà Trần dùngngười, vốn căn cứ vào tài năng của họ để trao trách nhiệm” Còn Lê Quý Đôn tỏ ra hếtsức thán phục: "Nhà Trần đãi ngộ sĩ phu rộng rãi mà không bó buộc, hòa nhã mà có lễ

độ, cho nên nhân vật trong một thời có chí khí tự lập, hào hiệp cao siêu, vững vàngvượt qua thói thường, làm rạng rỡ trong sử sách, trên không thẹn hổ với trời, dướikhông thẹn với đất Ôi như thế, người đời sau còn có thể theo kịp thế nào được”6

Chúng ta cũng thấy những ứng xử ngoại giao vừa mềm dẻo, vừa cứng rắn củaTrần Nhân Tông với triều Nguyên trước, trong và sau chiến tranh Trong cuộc chiếntranh năm 1285, khi quân Nguyên sắp vào nước ta, Trần Nhân Tông cho sứ đưa thưđến Thoát Hoan, từ chối việc cho mượn đường Đại Việt đánh Champa: "Từ nước tôiđến Champa, đường thủy đường bộ đều không tiện”7; hoặc nhắc tới Tờ chiếu năm

1261 của Hốt Tất Liệt: "Trước đây, được vâng thánh chiếu nói rằng: ‘Sắc riêng choquân ta (quân Nguyên - TG) không vào bờ cõi nhà ngươi’, thế mà nay thấy ở Ungchâu doanh trạm cầu đường nối nhau san sát ” Phương sách ngoại giao của TrầnNhân Tông dầu không cản được chính sách xâm lược của triều Nguyên, nhưng nó cótác dụng giúp triều Trần có thêm thời gian chuẩn bị để ứng phó với chiến tranh mà biếttrước sẽ diễn ra; mặt khác, nó góp phần quán triệt tư tưởng trong nhân dân về bản chấthiếu chiến của kẻ thù để mà dốc lòng cứu nước Vì vậy, điều không phải ngẫu nhiênkhi quân lính, mỗi người đều thích vào cánh tay hai chữ "Sát Thát” trước lúc ra trận

Khi chiến tranh diễn ra, Trần Nhân Tông có mặt hầu như khắp mọi mặt trận đểcùng với tướng lãnh có những quyết sách tối ưu trước những tình thế hiểm nghèo, nổibật nhất là những quyết định lui quân hoặc phản công chiến lược Trong cuộc khángchiến năm 1285, khi nghe tin Nội Bàng thất thủ, quân ta phải rút lui trong thế bất lợi,Trần Nhân Tông bỏ ăn sáng, đi thuyền suốt ngày ra Hải Đông để gặp Hưng ĐạoVương để bàn cách giải quyết Việc quyết định lui quân ở Hải Đông sau khi Nội Bàngthất thủ, rời bỏ Thăng Long, thực hiện "vườn không nhà trống", nói lên sự sáng suốt

6 Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Đại Việt Sử ký Toàn thư Bản dịch Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam.

Ấn bản điện tử, năm 2001, tr.200

7 Lê Quý Đôn Toàn tập, Tập 2, Kiến văn tiểu lục, Hà Nội, 1977, tr.258-259

Trang 11

của Trần Nhân Tông trong việc nắm bắt tình hình và đánh giá tương quan lực lượng;trong trận thủy chiến (14-2-1285) ở Bình Than, các trận Trường Yên, Hàm Tử tiêudiệt đạo quân của Toa Đô, đặc biệt là trận quyết chiến chiến lược Bạch Đằng (1288)chôn vùi ý chí xâm lược của Hốt Tất Liệt, Trần Nhân Tông, người vừa hoạch định

kế sách, vừa đốc binh ngoài mặt trận

Sau cuộc kháng chiến năm 1285 thắng lợi, để nắm được tiềm lực của quốc gia,ngỏ hầu đối phó với nguy cơ của một cuộc chiến tranh xâm lược mới của triềuNguyên, Trần Nhân Tông cho thực hiện ngay việc điều tra dân số Đại Việt Sử KýToàn thư cho biết: "Mùa đông, tháng Mười (1285), xuống chiếu định hộ khẩu trongnước Triều thần can là dân vừa lao khổ, định hộ khẩu thực không phải là việc cần kíp.Vua nói: ‘Chỉ có thể định hộ khẩu vào lúc này, chẳng nên qua đó mà xem xét (tìnhtrạng) hao hụt, điêu tàn của dân ta hay sao?” Quần thần đều khâm phục”

Sau ngày khải hoàn, việc Trần Nhân Tông không phong Đỗ Hành tước cao vìkhi bắt được Ô Mã Nhi đã dâng lên Thượng hoàng (mà không dâng lên Trần NhânTông); hoặc không thăng trật cho Hưng Trí Vương, vì khi đã có chiếu của Trần NhânTông cho người Nguyên về nước, không được cản trở, mà Hưng Trí Vương cứ cònđón đánh; trong lúc đó Trần Nhân Tông cho "Man trưởng Lạng Giang Lương Uất làmtrại chủ Quy Hóa Hà Tất Năng làm Quan phục hầu vì đã chỉ huy người Man đánhgiặc”8

Nhìn lại những trang sử chống ngoại xâm của dân tộc, nhân dân ta đã đươngđầu với biết bao kẻ thù hung bạo và đã lập nên biết bao chiến công lừng lẫy, song điềucần khẳng định là cuộc kháng chiến chống đế quốc Mông - Nguyên thắng lợi ở thế kỷXIII là một trong hai chiến công vĩ đại của dân tộc ta mang tầm thời đại, có ý nghĩaquốc tế sâu sắc "Lịch sử thế giới đánh giá chiến thắng này (chiến thắng chống đế quốcMông - Nguyên - TG) là thần kỳ, độc nhất vô nhị” 9 Tổng Bí thư thư Lê Duẩn khẳngđịnh: "Dân tộc ta hơn các dân tộc khác ở chỗ ngay từ buổi đầu giữ nước dân tộc ta có

bà Trưng, Bà Triệu; ở chỗ đã hai lần đánh bại những tên sen đầm quốc tế: Mông Nguyên và Hoa Kỳ”10

-Dĩ nhiên, "chiến công hiển hách này thuộc về cả dân tộc, trong đó nổi bật lênnhững danh tướng như Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Phạm NgũLão Song vai trò của Trần Nhân Tông với tư cách là người Tổng chỉ huy tối cao phải

ở vị trí hàng đầu, bởi lẽ nếu ‘vua không hiền’ thì dù tôi giỏi mấy cũng không thể nàophát huy được sở trường của mình trong việc điều quân ngoài mặt trận Hơn thế nữa,chính Trần Nhân Tông cũng tự mình thống lĩnh binh mã, xông pha trận mạc”11 Điều

đó càng cho chúng ta thấy tầm cao của Trần Nhân Tông trong sự nghiệp giữ nước

3.2 Giá trị văn học của Phật hoàng Trần Nhân Tông

8 Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Đại Việt Sử ký Toàn thư Bản dịch Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam.

Ấn bản điện tử, năm 2001, tr.195

9 Lê Văn Hưu, Sđd., tr 199 - 200

10 Phạm Quế Dương Tư tưởng đạo Phật đời Trần một nguyên nhân trọng yếu ba lần đại thắng Nguyên Mông

thế kỷ XIII trong “Trần Nhân Tông vị vua Phật Việt Nam” Nxb Tổng hợp TP.HCM, 2003, tr.44

11 Lời phát biểu của Tổng Bí thư Lê Duẩn tại Hội thảo khoa học “100 năm lịch sử Huế (4-7-1885 - 1995)” tổ

chức tại Trường Đại học Sư phạm Huế tháng 6-1995, trong Lê Cung, “Trần Nhân Tông Anh hùng, Thi sĩ và Thiền sư ” Đại học Huế, số 44-45, Tháng 1 & 2, 2004, tr.96

Ngày đăng: 11/07/2016, 21:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w