1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

cuộc đời và sự nghiệp văn học của trương duy toản

171 750 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 171
Dung lượng 2,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn chương Nam Bộ cùng với những thành quả của nó đã trở thành đối tượng nghiên cứu chính của hàng loạt những nhà nghiên cứu: Nguyễn Văn Trung, Cao Xuân Mỹ, Nguyễn Kim Anh, Hoài Anh, Hồ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Lê Thị Lan Hương

CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP VĂN HỌC

CỦA TRƯƠNG DUY TOẢN

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Lê Thị Lan Hương

CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP VĂN HỌC

CỦA TRƯƠNG DUY TOẢN

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 602234

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS ĐOÀN LÊ GIANG

Thành phố Hồ Chí Minh - 2011

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Xin chân thành gửi lòng biết ơn đến:

• PGS.TS Đoàn Lê Giang, người thầy đã chỉ dẫn, khai mở, động viên tôi và cung

c ấp cho tôi những thông tin, tư liệu có liên quan trong suốt quá trình thực hiện

đề tài

• Quý th ầy, cô trường Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tham gia

gi ảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình theo học tại trường

• Cán b ộ, nhân viên Thư viện trường Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh, trường Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn và cán bộ, nhân viên Thư viện

T ổng hợp đã nhiệt tình giúp tôi tìm kiếm tư liệu liên quan đến luận văn

• Ban giám hi ệu, quý thầy cô trường THPT Trần Quang Khải đã tạo điều kiện thu ận lợi cho tôi trong quá trình học tập

• Gia đình và người thân luôn ủng hộ, quan tâm tôi những lúc suôn sẻ cũng như lúc khó khăn

• Các b ạn học viên Văn học Việt Nam đã gắn bó với tôi trong suốt quá trình học

t ập

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 10 năm 2011

Người viết luận văn

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi

Các số liệu khảo sát, kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng công bố ở các công trình khác

Người viết luận văn

Lê Thị Lan Hương

Lớp Cao học Văn học Việt Nam K19

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 3

LỜI CAM ĐOAN 4

MỤC LỤC 1

PHẦN MỞ ĐẦU 3

1 Lí do chọn đề tài: 3

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề: 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 6

4 Phương pháp nghiên cứu: 7

5 Đóng góp của luận văn: 7

6 Cấu trúc của luận văn: 8

C HƯƠNG 1: TRƯƠNG DUY TOẢN TRONG BỐI CẢNH NAM BỘ ĐẦU THẾ KỶ XX 10

1.1.Vài nét về Nam Bộ 30 năm đầu thế kỷ XX 10

1.1.1.Về chính trị - Kinh tế - Xã hội 10

1.1.2.Về văn hoá – Giáo dục 16

1.1.3.Về báo chí – Văn học 18

1.2.Cuộc đời và sự nghiệp của Trương Duy Toản 26

1.2.1.Cuộc đời của Trương Duy Toản 26

1.2.2.Sự nghiệp của Trương Duy Toản 33

Chương 2: NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH TRONG VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT CỦA TRƯƠNG DUY TOẢN 45

2.1 Đạo lý truyền thống 48

2.2 Hiện thực Nam Bộ những năm đầu thế kỷ XX 59

2.3 Tư tưởng yêu nước, chống xâm lược 67

Chương 3: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT VĂN XUÔI TRƯƠNG DUY TOẢN 73

3.1 Nghệ thuật kết cấu truyện 74

3.1.1 Các hình thức kết cấu truyền thống 75

3.1.2 Những dấu hiệu cách tân theo hình thức kết cấu của tiểu thuyết hiện đại 79

3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 83

3.2.1 Tính cách nhân vật 84

Trang 6

3.2.2 Tâm lý nhân vật 97

3.3 Ngôn ngữ - Lời văn nghệ thuật 102

Chương 4: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM KỊCH BẢN CẢI LƯƠNG CỦA TRƯƠNG DUY TOẢN 116

4.1 Đề tài – Xung đột kịch: 120

4.2.Nhân vật: 125

4.3.Ngôn ngữ: 131

KẾT LUẬN 144

TÀI LIỆU THAM KHẢO 147

PHỤ LỤC 152

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài:

Đầu thế kỷ XX, cùng với sự xuất hiện của chữ quốc ngữ, nền văn học Việt Nam đã bước vào giai đoạn mới, giai đoạn từ chối sáng tác bằng chữ Hán, chữ Nôm để cho ra đời những áng văn xuôi quốc ngữ với nghệ thuật mới mẻ, hiện đại Quá trình hiện đại hóa nền văn học Việt Nam diễn ra từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và ngày một tăng tốc mà đỉnh cao của nó là giai đoạn 1930 – 1945 Việc khẳng định vai trò và vị trí của các thế hệ nhà văn góp phần vào việc khai mở con đường đi đến đỉnh cao ấy là rất cần thiết nhưng lại chưa được quan tâm đúng mức Thử làm một thống kê nhỏ về một số công trình nghiên cứu phê bình văn học trong mấy chục năm qua, chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra sự khiếm khuyết này Theo kết quả tra cứu của PGS.TS Trần Hữu Tá, trong số 78 nhà văn mà Vũ Ngọc Phan giới

thiệu trong bộ Nhà văn hiện đại, chỉ có 3 khuôn mặt của văn học phương Nam: Trương Vĩnh Ký, Hồ Biểu Chánh, Đông Hồ Bộ Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam (tập I) do

cuối thế kỷ XIX đến năm 1945 được nhóm biên soạn tóm tắt nội dung, nhận xét bước đầu,

chỉ có 56 tác phẩm văn xuôi Nam Bộ Còn bộ sách 970 trang khổ lớn - cuốn Văn học Việt

Nam thế kỉ XX, do GS Phan Cự Đệ chủ biên thì văn học Nam Bộ giai đoạn 1900-1945 cũng

chưa được quan tâm đúng mức Như vậy, độc giả lẫn giới nghiên cứu phê bình văn học nhiều năm qua đã bỏ sót một bộ phận không nhỏ di sản văn học Nam Bộ làm nên diện mạo cho nền văn học Việt Nam Thực tế này phải kể đến nhiều nguyên nhân, cả chủ quan lẫn khách quan

Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là chúng ta chưa làm được gì để tạo nên

Những bổ khuyết cần thiết cho bức tranh toàn cảnh của văn học Việt Nam hiện đại”

(PGS.TS Trần Hữu Tá) Việc nghiên cứu về văn học quốc ngữ Nam Bộ đã tiến triển nhanh hơn hẳn từ năm 1987 trở đi Văn chương Nam Bộ cùng với những thành quả của nó đã trở thành đối tượng nghiên cứu chính của hàng loạt những nhà nghiên cứu: Nguyễn Văn Trung, Cao Xuân Mỹ, Nguyễn Kim Anh, Hoài Anh, Hồ Sĩ Hiệp, Nguyễn Q.Thắng, Tôn Thất Dụng, Lê Ngọc Thuý, Bùi Đức Tịnh, Bằng Giang, Trần Văn Giàu, Trần Hữu Tá, Nguyễn Huệ Chi … Những thành quả bước đầu có thể kể đến của quá trình nghiên cứu này là việc tuyển chọn và giới thiệu được khá nhiều tác phẩm tiêu

Trang 8

biểu của các nhà văn Nam Bộ: Nguyễn Trọng Quản, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Chánh Sắt, Lê Hoằng Mưu, Phú Đức, Trần Quang Nghiệp, Bửu Đình … Bên cạnh đó là những công trình khá công phu nghiên cứu về đặc điểm, các giai đoạn, trào lưu của văn học quốc ngữ Nam Bộ, phong cách và vị trí của các tác giả, giá trị của các tác phẩm thuộc nhiều thể

loại… Có thể kể đến: Mảnh vụn văn học sử (Bằng Giang), Chân Lưu xuất bản, 1974; Tiến

trình văn nghệ miền Nam (Văn học Việt Nam nơi miền đất mới) (Nguyễn Q.Thắng), Nxb.An

đầu thế kỷ XX” (Cao Xuân Mỹ), 1997; Tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX

Trong xu hướng đó, việc đi sâu nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp của các nhà văn Nam Bộ là việc làm hữu ích, mang ý nghĩa là tri thức nền tảng cho những công trình nghiên

cứu có tính khái quát cao hơn Đó là lí do tôi lựa chọn đề tài Cuộc đời và sự nghiệp văn học

của Trương Duy Toản làm đề tài luận văn cao học

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:

Như đã trình bày ở phần lí do chọn đề tài, việc nghiên cứu đi đến khẳng định lại những giá trị của văn học quốc ngữ Nam Bộ là một xu thế đã và đang rất được khuyến khích trong chừng chục năm gần đây Tùy vào mục đích mà các công trình nghiên cứu đã tiếp cận đối tượng ở nhiều góc độ và phạm vi khác nhau, trực tiếp cũng như gián tiếp

Nghiên cứu và đánh giá về đóng góp, vị trí của văn học Nam Bộ giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX nói chung và với thể loại tiểu thuyết nói riêng đã có khá nhiều những công trình rất đáng ghi nhận:

Phê bình và cảo luận, Thiếu Sơn, Nam Ký xuất bản, Hà Nội, 1933; Nhà văn hiện đại,

Vũ Ngọc Phan, Tân Dân xuất bản, Hà Nội, 1942; Việt Nam văn học sử yếu, Dương Quảng Hàm, Trung tâm học liệu Bộ Giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1968; Mảnh vụn văn học sử, Bằng Giang, Chân Lưu xuất bản, 1974; Tiến trình văn nghệ miền Nam, Nguyễn Q.Thắng, Nxb.An

Bùi Đức Tịnh, Nxb.TP.HCM, 1992; Sự hình thành và vận động của thể loại tiểu thuyết văn

xuôi tiếng Việt ở Nam Bộ giai đoạn cuối thế kỉ XIX đến năm 1932 , luận án Tiến sĩ của Tôn

Thất Dụng, năm 1993; Truyện dài đầu tiên và tuyển tập các truyện ngắn Nam Bộ cuối thế kỉ

XIX đầu thế kỉ XX, Cao Xuân Mỹ sưu tầm tuyển chọn, Bùi Đức Tịnh giới thiệu hiệu đính,

Nxb.Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh và Hội nghiên cứu - giảng dạy văn học Thành phố

Trang 9

Hồ Chí Minh xuất bản, 1998; Đóng góp của văn học quốc ngữ ở Nam Bộ cuối TK.XIX –

đầu TK.XX vào tiến trình hiện đại hóa văn học VN, Luận án Tiến sĩ của Lê Ngọc Thuý,

trường ĐHSP TP.HCM, 2002; Quá trình hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam từ cuối thế kỉ

XIX đầu thế kỉ XX , luận án Tiến sĩ Cao Xuân Mỹ, trường ĐHSP TPHCM, 2002; Những

thành tựu này đã tạo nền tảng cho việc mở rộng, cũng như thu hẹp phạm vi nghiên cứu Việc nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của một tác giả cụ thể cũng không phải là vấn đề mới Một số nhà văn Nam Bộ giai đoạn này đã đến gần với bạn đọc hơn nhờ vào công sức sưu tầm, khảo cứu của giới phê bình nghiên cứu văn học: Nguyễn Trọng Quản, Hồ Biểu Chánh, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Chánh Sắt, Bửu Đình, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam… Điều đáng nói là tiểu thuyết và tác giả Nam Bộ cũng được các nhà văn, nhà báo, nhà phê bình đến

từ miền Trung và miền Bắc chú ý Phan Khôi (Trung Kỳ), trong khi hoạt động ở Sài Gòn,

đã viết bài Từ Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Trai đến Nguyễn Chánh Sắc, Đặng Thúc Liêng đăng trên báo Phụ Nữ Tân Văn số 28 năm 1929 Thiếu Sơn, nhà phê bình được xem là người mở đường cho phê bình văn học hiện đại, trong một bài viết trên báo Phụ Nữ Tân

Văn (số 106 ngày 29.10.1931), đã rất đề cao Hồ Biểu Chánh Trong cuốn Phê bình và cảo luận (1933) in sau đó hai năm, Thiếu Sơn cũng nêu lên một số nhận xét bước đầu về một vài

cuốn tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Thời Xuyên và nêu tên một số nhà văn Nam

Bộ như: Phú Đức, Phan Huấn Chương, Tân Dân Tử …

Tuy nhiên, cũng cần nói thêm, ở miền Bắc, do thiếu thông tin nên các nhà nghiên cứu không mấy chú trọng đến mảng văn học Nam Bộ Phạm Quỳnh, người bàn bạc sớm nhất về

thể loại tiểu thuyết đã không đề cập gì đến tiểu thuyết Nam Bộ trong bài viết Bàn về tiểu

thuyết (1921) đăng trên báo Nam Phong Việt Nam văn học sử yếu (1941) của Dương Quảng

Hàm, một công trình có tính chất tổng kết cũng thế Hầu hết các tác giả đều xem Quả dưa

đỏ (1923) của Nguyễn Trọng Thuật và Tố Tâm (1925) của Hoàng Ngọc Phách được sáng

tác ở miền Bắc là những tác phẩm tiểu thuyết hiện đại đầu tiên ở nước ta Riêng Nhà văn

hiện đại (1942-1945) của Vũ Ngọc Phan, bên cạnh nhà thơ Đông Hồ có điểm qua chân

dung của Hồ Biểu Chánh và cũng đã nhận định về bước đầu của tiểu thuyết:

Học trở lại, ai cũng phải nhận rằng từ Hoàng Ngọc Phách và Hồ Biểu Chánh tiểu thuyết nước ta mới bắt đầu đếm bước vững vàng để dần dần đi tới ngày nay là lúc có thể chia ra nhiều ngả, phân ra nhiều loại” [46,336]

Trang 10

Như vậy, lịch sử nghiên cứu văn học quốc ngữ Nam Bộ cho đến nay đã có những bước tiến đáng kể, thế nhưng, chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện về nhà văn Trương Duy Toản, người có công không nhỏ trong nhiều lĩnh vực: phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX; hoạt động sáng tác văn học, báo chí; nghệ thuật sân khấu cải lương Ngay cả việc sưu tầm, giới thiệu tác phẩm của Trương Duy Toản cũng còn rất hạn chế Đó là những khó khăn, thử thách, nhưng đồng thời cũng là “khoảng trống” khơi gợi hứng thú cho người nghiên cứu Do đó, thực hiện đề tài này, chúng tôi hi vọng đề tài có thể kế thừa một cách tốt nhất những thành quả của các công trình nghiên cứu đi trước, đồng thời góp phần vào việc hoàn thiện bức tranh toàn cảnh về nền văn xuôi quốc ngữ Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX nói riêng, và nền văn học Việt Nam nói chung

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Văn học Nam Bộ nói chung và văn xuôi quốc ngữ Nam Bộ nói riêng là một bức tranh rất rộng lớn và đặc sắc, khơi gợi được nhiều vấn đề nghiên cứu rất thú vị và giàu ý nghĩa Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn Trương Duy Toản Dù chỉ tập trung vào một tác giả văn học, khối lượng sáng tác không nhiều, nhưng không vì vậy mà phạm vi nghiên cứu của đề tài bị thu hẹp, mà trái lại, còn mở rộng ra khá nhiều vấn đề và lĩnh vực: lịch sử, văn học, nghệ thuật sân khấu… Về mặt thời gian, tuy đề tài chỉ giới hạn trong phạm vi vòng đời của một nhà văn cụ thể (1885-1957), nhưng quá trình nghiên cứu nhất thiết phải mở rộng ra cả khoảng thời gian trước và sau đó,

để có cái nhìn toàn diện, thấy được sự tiếp nối, kế thừa, cũng như những đóng góp riêng của tác giả

Những lí giải trên đây nhằm khẳng định lại về phạm vi nghiên cứu rộng lớn, phong phú của đề tài, để đi sâu tìm hiểu và có những đánh giá xác đáng về đối tượng nghiên cứu, thực hiện một cách tốt nhất những nhiệm vụ mà mục đích nghiên cứu đã đề ra

Trang 11

4 Phương pháp nghiên cứu:

Trương Duy Toản là nhà văn có nhiều đóng góp lớn cho nền văn học Việt Nam trong chặng đầu của quá trình hiện đại hóa Thế nhưng cuộc đời của ông vẫn còn nhiều điểm chưa được biết đến, nhiều tác phẩm của ông chưa được công bố rộng rãi Để thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chính là: Phương pháp nghiên cứu lịch sử xã hội và phương pháp tiểu sử

Phương pháp nghiên cứu lịch sử xã hội thể hiện ở chỗ đặt bản thân vấn đề nghiên cứu trong mối tương quan cụ thể với bối cảnh thời đại Bất cứ việc nhìn nhận hoặc đánh giá một vấn đề nào cũng không thể không căn cứ vào bối cảnh lịch sử cụ thể cũng như đặc điểm riêng của điều kiện tự nhiên - xã hội và con người Nam Bộ Phương pháp này thể hiện ở chỗ diễn biến của các sự kiện trong cuộc đời tác giả đều được trình bày theo trình tự thời gian, đồng thời coi văn học như là sản phẩm của lịch sử - xã hội, dùng những mối quan hệ xã hội (xã hội với nhà văn, xã hội với tác phẩm, tác phẩm với độc giả) để nghiên cứu hiện tượng văn học Bản thân sự nghiệp sáng tác cũng như cuộc đời hoạt động của Trương Duy Toản là một chỉnh thể gồm nhiều thành tố có mối quan hệ mật thiết với nhau Hơn thế nữa, toàn bộ đối tượng nghiên cứu này cũng không nằm riêng rẽ, độc lập mà chịu sự chi phối trực tiếp

của bối cảnh lịch sử, xã hội trong giai đoạn ấy

Phương pháp tiểu sử là phương pháp khoa học đầu tiên xuất hiện trong nghiên cứu văn học, văn hóa; tức là lấy việc tìm hiểu con người tác giả để tìm hiểu tác phẩm Bởi tác phẩm

là đứa con tinh thần của nhà văn, là sản phẩm của quá trình đúc kết kinh nghiệm đời sống của tác giả

Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số phương pháp bổ trợ: phương pháp cấu trúc, phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp liên ngành, phương pháp so sánh

Một đề tài nghiên cứu chỉ thực sự thành công và đưa ra được những đánh giá đúng đắn dựa trên cái nhìn khách quan về đối tượng nghiên cứu khi có sự kết hợp nhuần nhuyễn các phương pháp nghiên cứu trên

5 Đóng góp của luận văn:

Trước hết, đề tài có đóng góp rất tích cực đối với công tác nghiên cứu khoa học Từ những tư liệu mà giáo viên hướng dẫn cung cấp, luận văn đã cố gắng sưu tầm gần hết những sáng tác của Trương Duy Toản còn lưu trữ ở Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội Đồng thời, luận văn đã kiểm tra, hệ thống hóa lại tư liệu về Trương Duy Toản, từ đó khôi phục lại chi

Trang 12

tiết tiểu sử của ông, cũng như đánh giá những đóng góp của ông trong lịch sử văn học dân tộc Luận văn hi vọng sẽ đóng góp vào việc nghiên cứu văn học Nam Bộ cũng như giúp các nhà nghiên cứu, các giáo viên hiểu rõ hơn về Trương Duy Toản – một gương mặt nổi bật trong văn học Nam Bộ đầu thế kỷ XX

Bên cạnh đó, luận văn còn có ý nghĩa đối với công tác giảng dạy Giai đoạn cuối thế

kỷ XIX đầu thế kỷ XX là một nội dung rất quan trọng trong chương trình giảng dạy lịch sử

ở bậc phổ thông trung học Riêng với bộ môn Ngữ văn, cũng đã có một số tác giả và tác phẩm tiêu biểu trong giai đoạn này được đưa vào chương trình giảng dạy Mặc dù Trương Duy Toản chưa phải là nhà văn được chọn lựa, nhưng với những hiểu biết về ông và thời đại của ông qua luận văn này, hi vọng sẽ góp thêm cho giáo viên một lượng tri thức hữu ích cho những bài học khái quát về các thời kỳ văn học hay các bài giảng về những nhà văn Nam

Bộ khác: Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam…

6 Cấu trúc của luận văn:

PHẦN MỞ ĐẦU

PHẦN NỘI DUNG: Gồm 4 chương:

Chương 1: Trương Duy Toản trong bối cảnh Nam Bộ đầu thế kỷ XX

1.1.1 Về chính trị - Kinh tế - Xã hội

1.1.2 Về văn hoá – Giáo dục

1.1.3 Về báo chí – Văn học

Chương 2: Những nội dung chính trong văn xuôi nghệ thuật của Trương Duy Toản

2.1 Đạo lý truyền thống

Chương 3: Những đặc điểm nghệ thuật văn xuôi Trương Duy Toản

3.1 Nghệ thuật kết cấu truyện

3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật

Trang 13

3.3 Ngôn ngữ - Lời văn nghệ thuật

Chương 4: Một số đặc điểm kịch bản cải lương của Trương Duy Toản

Trang 14

C HƯƠNG 1: TRƯƠNG DUY TOẢN TRONG BỐI CẢNH NAM BỘ

ĐẦU THẾ KỶ XX 1.1.Vài nét về Nam Bộ 30 năm đầu thế kỷ XX

1.1.1 Về chính trị - Kinh tế - Xã hội

Giữa thế kỷ XIX, sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế đã thúc đẩy các nước tư bản phương Tây mở những cuộc chiến tranh giành giật thuộc địa Các quốc gia phương Đông nói chung, Việt Nam nói riêng đã trở thành nạn nhân trực tiếp của cuộc chiến tranh đó Lợi dụng các mối quan hệ đã có từ thời chúa Nguyễn Ánh, và sự suy yếu của chế độ phong kiến Việt Nam, Pháp và Tây Ban Nha đã viện cớ nhà Nguyễn cấm đạo Thiên Chúa, bắt bớ và giết hại nhiều giáo sĩ, giáo dân; để tiến hành cuộc chiếm cứ nước Việt

Tháng 8 năm 1858, Hải quân Pháp đổ bộ tấn công vào cảng Đà Nẵng Đến tháng giêng năm Kỷ Mùi (1859), quân Pháp vào cửa Cần Giờ, bắn phá các pháo đài ở hai bên bờ sông Đồng Nai, rồi tiến lên đánh thành Gia Định Phan Thanh Giản với vai trò là Chánh sứ và Lâm Duy Hiệp là phó sứ được cử đi điều đình với Pháp, sau đó đại diện cho triều đình Tự Đức ký kết hiệp ước hoà bình và hữu nghị Hoà ước Nhâm Tuất ngày 5 tháng 6 năm 1862 tại Sài Gòn Theo đó, ba tỉnh miền Đông Nam Bộ gồm Biên Hoà, Gia Định, Định Tường được nhượng cho Pháp Đến tháng 6 năm 1867, Pháp cưỡng chiếm luôn ba tỉnh miền Tây gồm Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên Năm 1874, triều đình Huế ký Hoà ước Giáp Tuất, giao trọn quyền cai trị sáu tỉnh Nam Kỳ cho Pháp để tạo thành một lãnh thổ thuộc địa Cochinchine (Nam Kỳ) Sau khi củng cố vị trí vững chắc ở Nam Kỳ, từ năm 1873 đến 1886, Pháp xâm chiếm nốt những phần còn lại của Việt Nam qua những cuộc chiến phức tạp ở Bắc Kỳ Bằng Hoà ước Giáp Thân năm 1884, thực dân Pháp đã thực hiện chính sách cai trị khác nhau đối với ba miền Bắc – Trung – Nam Mỗi miền có một chính sách luật lệ riêng, trong

đó Nam Kỳ trở thành xứ thuộc địa của Pháp với những nét riêng về kinh tế, chính trị, xã hội

và nhiều thể chế ưu đãi hơn so với Bắc Kỳ và Trung Kỳ Pháp tuyên bố là họ sẽ bảo hộ Bắc

Kỳ (Tonkin) và Trung Kỳ (Annam), nơi họ tiếp tục duy trì các hoàng đế bù nhìn cho đến Bảo Đại (làm vua từ 1926 đến 1945) Thật ra, kể từ khi Pháp chiếm sáu tỉnh Nam Kỳ (1867), ở Nam Kỳ đã nảy sinh nhiều biến chuyển xã hội quan trọng, đánh dấu những đổi thay khác biệt không chỉ về mặt chính trị, xã hội mà cả về mặt văn hoá so với các địa phương khác Thực dân Pháp xóa bỏ cách phân chia địa giới hành chánh cũ của triều

Trang 15

Nguyễn Năm 1899, Lục Tỉnh của Nam Kỳ bị phân lại thành hai mươi mốt tỉnh Chia lại đất Nam Kỳ, có lẽ thực dân Pháp muốn xóa nhòa hai chữ Lục Tỉnh trong lòng người Việt, cũng

là cách cắt đứt lòng lưu luyến với truyền thống yêu nước của người dân Nam Bộ, một thủ đoạn tâm lý bên cạnh các cuộc đàn áp những phong trào yêu nước kháng chiến Song mặc

dù vậy, cái tên Nam Kỳ vẫn được duy trì cho đến tận năm 1945

Cũng cần nói rõ thêm, giai đoạn từ khi chiếm được Nam Kỳ cho đến năm 1880, chính

Định, Trần Thiện Chánh… Những người không có điều kiện trực tiếp theo nghĩa quân thì tự tay đốt bỏ nhà cửa, ruộng vườn hoặc thực hiện kế sách “tị địa”, di chuyển đến sinh sống ở

địa Nam Kỳ được thành lập, gồm 12 uỷ viên người Pháp và 6 uỷ viên người Việt Với âm mưu biến Nam Kỳ thành bàn đạp để đánh chiếm Bắc Kỳ và Trung Kỳ, Pháp tăng cường

khai phản kháng

Vào năm 1885, ngay sau khi có Hoà ước 1884, các quan lại Việt Nam tổ chức phong

thu hút được một số các quan lại trong triều đình và văn thân, đặc biệt là đông đảo các tầng

Hương Khê của Phan Đình Phùng thất bại, phong trào Cần Vương coi như chấm dứt Đây là

Trang 16

của cuộc khởi nghĩa này là Hoàng Hoa Thám có liên quan tới phong trào Cần Vương, nhưng cuộc khởi nghĩa vẫn được xem là khởi nghĩa nông dân tự phát, kéo dài tới năm 1913

Xã hội Việt Nam ở Trung và Bắc kỳ thay đổi rất chậm chạp, nếu không muốn nói là dậm chân tại chỗ trong khung cảnh văn hóa Nho giáo và quân chủ đã thịnh hành từ hàng chục thế kỷ trước Chính trong hoàn cảnh đó, tại Quảng Nam vào đầu thế kỷ 20 xuất hiện hai phong trào Đông du và Duy tân, là hai phong trào vận động văn hóa và chính trị theo hướng hội nhập vào trào lưu thế giới, nhưng mỗi bên đi theo một con đường khác nhau

chủ trương Vào năm 1904, tại sơn trang Nam Thịnh, làng Thạnh Mỹ, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, Phan Bội Châu cùng Nguyễn Thành thành lập một nghĩa hội bí mật là Hội Duy tân, đưa Kỳ Ngoại Hầu Cường Để lên làm minh chủ, nhằm mục đích chuẩn bị tổ chức bạo động và kiếm cách cầu viện nước ngoài để chống Pháp Do sự vận động tài chính của Nguyễn Thành, Phan Bội Châu ra khỏi nước năm 1905, sang Trung Hoa, rồi qua Nhật Theo lời khuyên của những chính trị gia Nhật, Phan Bội Châu đưa Cường Để cùng các thanh niên sang Nhật du học để trở về cứu nước Thấy được nguy cơ này, Pháp thương lượng và ký kết với Nhật Bản hiệp ước ngày 10/06/1907, theo đó Pháp nhượng cho Nhật một số quyền lợi kinh tế ở Đông Dương, để đổi lại, Nhật thôi ủng hộ phong trào Đông du, trục xuất tất cả các

du học sinh Việt Nam ra khỏi đất Nhật năm 1908, nên phong trào Đông du tan rã Đây là một kinh nghiệm lịch sử cần được nhớ kỹ về việc cầu viện nước ngoài, vì tất cả những người nước ngoài đến Việt Nam đều vì quyền lợi riêng tư của họ

chung và tư tưởng dân chủ tư bản đã thuyết phục được Phan Bội Châu noi theo con đường

Cường Để làm hội chủ của một hội đoàn mới mang tên Việt Nam Quang Phục Hội với mục đích đánh đuổi người Pháp ra khỏi Đông Dương Phan Bội Châu tự đảm nhận làm phó hội

cho phong trào Tháng 2 năm 1913, Kỳ Ngoại Hầu Cường Để rời Hương Cảng trở về Sài

Trang 17

Gòn, rồi bí mật xuống Hậu Giang vận động các điền chủ trong thời gian ba tháng, lưu lại nơi đây bao nhiêu là thâm tình, tín nghĩa

Song song với phong trào Đông du, một số nhà khoa bảng Quảng Nam lại mở một cuộc vận động khác Các ông đỗ đại khoa như cử nhân, phó bảng, tiến sĩ Nho học, nhưng không ra làm quan hoặc từ quan và mở cuộc vận động cải cách Các nhân vật chính yếu như Phan Châu Trinh (1872-1926), Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947), Trần Quý Cáp (1870-1908), hoạt động công khai, không lập hội bí mật Người ta thường gọi phong trào do các ông đề xướng là Phong trào Duy tân Chủ trương chung thứ nhất của phong trào Duy tân là trực tiếp vận động duy tân với dân chúng khắp nước, chứ không thông qua triều đình Huế,

nhì là phong trào Duy tân hoạt động công khai, bất bạo động, không cầu viện ngoại bang, không gia nhập một đảng phái hay hội kín nào cả Chủ trương chung thứ ba hướng về tương lai, là vận động nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí, phát triển dân sinh, vận động dân quyền

Nhìn chung, các phong trào yêu nước chống Pháp diễn ra sôi nổi nhưng nhanh chóng

bị dìm trong biển máu do thất bại về đường lối

Để củng cố nền thống trị ở Đông Dương, thực dân Pháp thi hành nhiều chính sách thâm độc Trước hết, nhằm nhanh chóng ổn định về chính trị, Pháp cử nhiều tên quan cai trị

có năng lực như Doumer, Klobukowski, Sarraut…, sang làm Toàn quyền ở Đông Dương, bước đầu tổ chức khai thác tài nguyên của xứ sở này phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế

năm 1945 là: Thuộc địa Đông Dương phải được đặc biệt dành riêng cho thị trường Pháp

khích thì cũng chỉ trong giới hạn nhằm bổ sung cho công nghiệp chính quốc chứ không được làm tổn hại nền công nghiệp chính quốc

đoạt ruộng đất của nông dân bằng những thủ đoạn vô cùng trắng trợn và được hợp pháp hoá

Trang 18

địa đặt ra Ngoài địa chủ Pháp, Việt Nam, nhà thờ giáo hội Thiên chúa cũng được Pháp

người ở lại làm thuê cho địa chủ, phú nông Một số bỏ đi làm tá điền ở các đồn điền Pháp

thoát

không có nghĩa là tư bản Pháp để cho công nghiệp Việt Nam được phát triển tự do mà vẫn

này đều nằm trong tay nhưng tập đoàn tư bản lớn, có trụ sở ở Pháp Phương thức hoạt động

để thu lợi nhuận cao Cùng với những chính sách về công nghiệp như trên, việc độc quyền thương mại của thực dân Pháp được biến thành phương tiện để bần cùng hoá nhân dân lao động Việt Nam, bóp chết các ngành tiểu thủ công nghiệp truyền thống Sự kết hợp giữa hai phương thức bóc lột tư bản chủ nghĩa và phong kiến, cũng như sự dung dưỡng của thực dân đối với giai cấp địa chủ Việt Nam, biến chúng thành tay sai đã làm nảy sinh mâu thuẫn giữa công thương nghiệp cổ truyền và công thương nghiệp dân tộc với quyền lợi của bọn thực dân và giai cấp địa chủ

Trong giai đoạn này, chương trình khai thác của Paul Doumer còn đặt kế hoạch tăng cường hệ thống giao thông vận tải phục vụ cho việc vơ vét tài nguyên và vận chuyển binh

Trang 19

Cỏ… để nắm nguồn lợi lúa gạo và lập nhiều công xưởng ở Sài Gòn, Chợ Lớn như đóng

Chương trình khai thác thuộc địa của Paul Doumer và Albert Saurraut đã làm thay đổi

đoán, tàn bạo của chính quyền thực dân và bè lũ tay sai cùng với nạn mất mùa xảy đến đã

Pháp và chưa thoát ly được lối bóc lột phong kiến nên không dám ra mặt chống Pháp và

Trang 20

số cả Sài Gòn – Gia Định chỉ mới gần hai vạn thì đến năm 1929 đã có trên ba mươi vạn người; trong đó gần một nửa là người lao động chân tay

Đến ngày 09/03/1945, bị Nhật đảo chính, Pháp kết thúc 86 năm đô hộ Việt Nam

1.1.2 Về văn hoá – Giáo dục

Để duy trì địa vị thống trị và bóc lột ở Việt Nam, thực dân Pháp đã dùng nhiều biện pháp để xoá bỏ tinh thần yêu nước và truyền thống bất khuất của dân tộc ta, trong đó có

lĩnh vực giáo dục được người Pháp quan tâm trước nhất Kể từ khi Paul Doumer sang làm

1/ Đào tạo một lớp người bản xứ có trình độ học vấn vừa đủ để làm kẻ thừa hành

2/ Triệt để khai thác nội dung và hình thức của nền giáo dục phong kiến lạc hậu

Để đạt được những mục tiêu trên đây, chính quyền thực dân ở Việt Nam cho mở hai

Trường Hán học chỉ duy trì tạm thời, sẽ được thay thế bằng trường Pháp – Việt trên cả nước Đầu thế kỷ XX, nền Hán học (mà ở đây đồng nghĩa với Cựu học) ở Việt Nam bắt đầu đến hồi mạt vận Thiết chế tuyển chọn hiền tài bằng khoa cử của triều đình phong kiến dần

trường học Bên cạnh đó, chữ quốc ngữ không chỉ là công cụ truyền đạo của các giáo sĩ phương Tây mà còn là phương tiện lôi kéo người Việt khỏi ảnh hưởng của văn hoá Trung

đây cũng là phương tiện chuyển tải văn hoá phương Tây đến với Việt Nam và giúp người

Trang 21

hữu hiệu để cách ly người Việt khỏi nền văn hoá bản xứ và trước mắt chặt đứt ảnh hưởng

đến Pháp đều là xấu, nhân dân đã không cho con em đi học chữ quốc ngữ Người Pháp đã

được chính quyền thực dân cho đi học tại các nước thuộc Pháp và cả Paris Vì vậy một bộ

Hơn nữa, các Nho sĩ trước những ưu thế mạnh mẽ của chữ quốc ngữ cũng đã dần dần tích

định: trong các giai cấp và tầng lớp xã hội lúc bấy giờ, tầng lớp tiểu tư sản trí thức đã giữ

1906 đã quyết định chiều hướng phát triển của tầng lớp trí thức Cùng với việc xoá bỏ hoàn

phương Tây Những người này cùng với những viên chức làm việc trong chính quyền thực

nhau nhưng về cơ bản đều có một nếp sống tương đối ổn định và đầy đủ trong một xã hội đang nhanh chóng thay đổi Họ có điều kiện để tiếp xúc với những thông tin về chính trị, văn hoá, xã hội và họ cũng có nhu cầu thể hiện tâm tư của mình về những vấn đề đó Đại

Duy Tân và phong trào Đông Du vận động tăng cường dân trí, dân chủ, nhân quyền và cải

Trang 22

văn học Việt Nam ở những thập niên đầu thế kỷ XX về cả phương diện hình thức lẫn phương diện tư tưởng Tuy nhiên, sự phát triển các phong trào này sau đó bị chính quyền

đặc biệt nhằm làm thui chột mầm mống cách mạng trong nhân dân

1.1.3 Về báo chí – Văn học

đình Lê – Trịnh đã tạo thành xứ Đàng Trong phân cách với xứ Đàng Ngoài Hoàn cảnh thực

tế này đả làm nảy sinh một bộ phận có ít nhiều sắc thái cá biệt của lịch sử văn học; đó là nền văn học Đàng Trong xuất hiện từ nửa đầu thế kỷ XVII với những tác phẩm của Đào Duy Từ

Năm 1859, với việc Pháp xâm chiếm vùng Bến Nghé (Gia Định), một sự kiện lịch sử

định đoạt Trung và Bắc Việt là những “xứ bảo hộ” mà lợi dụng những cam kết gian ngoa,

Trang 23

chính triều đình Huế Chế độ bảo hộ “mập mờ” ở Trung, Bắc thêm vào sự nghi ngại không

đủ cơ sở pháp lý để thẳng tay trấn áp khiến chính quyền thực dân siết mạnh những vòng

Nói đến nền văn học hiện đại không thể không nhắc đến vai trò của ngôn ngữ văn học,

Sơn trong bài diễn thuyết Báo giới và văn học quốc ngữ năm 1933 tại Hội Nam Kỳ Khuyến

văn minh tiên tiến thì văn học đều có trước báo chí, mà ở nước ta thì chính lại nhờ báo chí

văn trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Dẫn chứng điển hình có thể tìm thấy

ở Triều Tiên với Nhật Bản, họ phải cắt đất giảng hoà, nhận tội và bồi thường chiến phí Hơn

văn minh cơ khí và nhất là phải chịu thúc thủ trước một dân tộc vốn bị coi là man di ở ngoài

Vi, Lương Khải Siêu, Đàm Tự Đồng, Nghiêm Phục… và rất nhiều trí thức khác Một trong

trường Tân học, viết thư đệ trình đề xuất cải cách lên triều đình phong kiến chính là mở báo

Trang 24

thành một phương tiện giới thiệu văn minh phương Tây, tuyên truyền cổ động cho công

Cường học báo… đã đi vào lịch sử Trung Quốc với tư cách là cơ quan ngôn luận của phong

Rousseau Montesquieu, Spencer… đã sang Việt Nam và trở thành một trong những đốm lửa

Hoa Thám giành độc lập mà trên nhiều mặt đã lỗi thời và không mấy hiệu quả thực tế Và

Tân đầu thế kỷ, đó chính là sự đề cao của trí thức truyền thống đối với vai trò của báo chí

Trước khi Pháp xâm lược, ở Việt Nam chưa hề có báo chí Tờ báo quốc ngữ đầu tiên là Gia

Định báo ra đời ngày 15/04/1865, ít nhiều đóng vai trò thúc đẩy sự chuyển tiếp của một nền

văn chương cổ sang văn chương hiện đại Thông loại khoá trình (1888), tờ báo tư nhân đầu

Sau đó lần lượt xuất hiện nhiều tờ báo khác: Phan Yên báo (1898), Nông cổ mín đàm

Dương tạp chí (1913), Công luận báo (1916), Nam Phong tạp chí (1917)… Đến năm 1930,

đã có trên 80 tờ báo và tạp chí lưu hành trong cả nước, riêng ở Sài Gòn đã phát hành 50 tờ

Trang 25

Sài Gòn – Gia Định là mảnh đất màu mỡ của báo chí Chữ quốc ngữ đến với Nam Bộ sớm hơn, nên báo chí chữ quốc ngữ trở thành một món ăn tinh thần thiết yếu của đông đảo độc

đầu thế kỷ, đó là ý thức của trí thức đương thời trong việc sử dụng báo chí làm công cụ cho

hơn cả mục đích thông tin của hầu hết những tờ báo lớn đương thời, từ Đông Dương tạp chí cho đến An Nam tạp chí Trí thức thời đó làm báo với lý tưởng “thâu thái học thuật, tư

tưởng Đông Tây”, tạo dựng một sự nghiệp “có bóng mây hơn nước đến dân xã” Báo chí

đặc biệt quan trọng của báo chí đối với sự nghiệp xây dựng “quốc văn”, “quốc học” (những

hướng nội dung là vậy nên hình thức diễn đạt, lời văn câu chữ của báo chí Nam Bộ nói chung cũng gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày của đông đảo quần chúng nhân dân

sau là để cho anh em ai có điều chi lợi ích về việc nông cổ thì xin tỏ cùng bổn quán in ra

Trang 26

nhau”, “chẳng phải là có ý tiện mãi văn chương hay là sức phí văn quả mà khoe tài”

cu ộc (từ tháng 10 năm 1906) khi Gilbert Trần Chánh Chiếu về làm chủ bút, với giải thích

như sau: “Người Langsa gọi Roman nghĩa là lấy trí riêng mình mà đặt ra một truyện tuỳ

theo nhơn vật, phong tục trong xứ, dường như truyện có thiệt vậy” (Nông cổ mín đàm số

Khánh Nhương dự thi với tác phẩm Lương Hoa truyện, nhưng cuộc thi đã là tiền đề cho sự

L ục tỉnh tân văn cũng là tờ báo có uy tín vào bậc nhất ở Nam Kỳ thời đó, ra số đầu

năm 1916) đã đóng góp cho văn học Nam Bộ rất nhiều tác phẩm của những tên tuổi như

báo, sau đó mới xuất bản thành sách Dĩ nhiên, vẫn có những ấn phẩm được gọi là tiểu

chí là nơi định hình quan niệm về tiểu thuyết, là diễn đàn, là nơi giới thiệu, phê bình các tiểu thuyết mới ra đời Nhiều trận bút chiến nảy lửa đã nổ ra như trận bút chiến quanh tiểu thuyết

Hà Hương phong nguyệt (1912) của Lê Hoằng Mưu

thưởng thức văn học và đội ngũ những người sáng tác văn học Và trong việc hình thành hai

Trang 27

bộ phận cấu thành cơ bản đó của văn học hiện đại, công lao của báo chí không phải là nhỏ

đòi khoa bảng nhưng không đỗ đạt, và sự tàn cục của nền Hán học cũng không cho phép theo đuổi cử nghiệp, đồng thời cũng không chịu khuất thân làm công bộc cho chế độ Báo chí đối với họ đã trở thành sự nghiệp của cả cuộc đời Chính họ sẽ là những người tiến hành

nhưng về cơ bản, những trí thức – nhà văn này đều được trải qua một quá trình đào tạo cơ

nhóm nhà văn, dù tân học hay cựu học đều phải trải qua một quá trình “tập làm văn” bằng

Đình…Song song với sự phát triển của đô thị, báo chí cũng đã phát triển cả về hình thức lẫn

thức – văn nghệ sĩ điển hình của thời đại đều tập hợp trong môi trường báo chí

Đầu thế kỷ XX, sau một thời kỳ tồn tại biệt lập, nhiều cánh cửa nối Việt Nam với thế

giao lưu văn hoá khác, văn chương học thuật phương Tây bắt đầu thâm nhập vào Việt Nam Đồng thời văn học Trung Quốc, cả truyền thống lẫn Cận – Hiện đại vẫn tiếp tục ảnh hưởng

Trang 28

mạnh mẽ Tiếp theo sự cáo chung của những thiết chế giáo dục và khoa cử Hán học vào

văn học Được chuẩn bị từ những tiền đề văn hoá xã hội đó, một nền văn học mới bằng chữ

Trước khi xuất hiện rộng rãi những tác phẩm văn học bằng chữ quốc ngữ của các tác

tượng phát triển mạnh mẽ các ấn phẩm dịch từ các truyện Tàu thường được xếp vào loại hai,

nghĩa hiệp), một sở thích mà về sau được thể hiện qua hiện tượng mến mộ bộ môn cải lương

và tiểu thuyết, nhất là tiểu thuyết tình cảm, tâm lý, xã hội

nhà in được thành lập, trong đó nhiều cơ sở nhanh chóng phát đạt Thoạt đầu, các cơ sở in đều do người Pháp và các tở chức Công giáo làm chủ, mãi đến đầu thế kỷ XX mới có một

Trang 29

mua bản quyền rồi thuê in và tự phát hành, nhà in kiêm luôn chức năng xuất bản và phát

uy tín như F.H.Schneider, Nguyễn Văn Viết, Xưa Nay, Bảo Tồn, Đức Lưu Phương, Tín Đức

Thư Xã… đã góp phần không nhỏ trong việc phổ biến các tác phẩm văn học đến công

về văn hoá và học thuật lúc bấy giờ

Sau năm 1920, sự khai thông thương mại được bắt đầu, nhờ đó trí thức các miền có điều kiện tiếp cận, trao đổi về các vấn đề học thuật, các trào lưu tư tưởng, xu hướng văn học

văn học có điều kiện để phát triển hơn trước Cùng với việc in ấn ngày càng phát triển, báo chí và văn học quốc ngữ bước vào tiến trình hiện đại hoá gấp rút trên cả hai lĩnh vực: nội

trung trong các năm 1915 – 1916 Ở Nam Kỳ, năm 1910, người ta thấy xuất hiện cuốn Phan

Yên ngo ại sử tiết phụ gian truân của Trương Duy Toản và Hoàng Tố Anh hàm oan của Trần

đoạn văn ngụ cảnh sinh tình, những đoạn văn ưu tư thế sự, những truyện ngụ ngôn Đây là

Trang 30

quan trọng của tờ tạp chí Ở Nam Kỳ, trên mấy tờ Lục tỉnh tân văn, Nông cổ mín đàm rải rác

đăng những tác phẩm của Nguyễn Chánh Sắt, Lê Hoằng Mưu, Trương Duy Toản

tượng không bình thường Tuy nhiên, nếu đặt trong những đặc trưng của thời đại lại có thể

ưu thế bằng trong việc chuyển tải những tác phẩm có dung lượng lớn Nhưng ngược lại, với

thông tin đến một đối tượng công chúng rộng, một cách thường kỳ đều đặn, dễ tạo thành

người hướng đạo cho văn học mới đồng thời cũng là một phương tiện hữu hiệu để phổ biến, giúp người đọc làm quen với văn học mới – nghĩa là giúp văn học mới bắt rễ vào đời sống văn hoá, xã hội đương thời Và trên phương diện đó, hoàn toàn cho phép hình dung báo chí như là “bà đỡ mát tay” của văn học Việt Nam hiện đại buổi đầu

1.2.Cuộc đời và sự nghiệp của Trương Duy Toản

1.2.1 Cuộc đời của Trương Duy Toản

Trương Duy Toản là một nhà hoạt động cách mạng, một nhà văn, nhà báo, và là một thầy tuồng có nhiều đóng góp vào đầu thế kỷ XX ở Nam Bộ Các nhà làm văn học sử từ trước đến nay thường bỏ quên tên tuổi và sự nghiệp của ông, hoặc chỉ nói qua được rất ít về

sự đóng góp của ông vào gia sản văn hoá đồ sộ của miền Nam Để viết lại tiểu sử của bậc tiền bối như Trương Duy Toản, dù chỉ sống cách chúng ta trên dưới một thế kỷ, nhưng cũng gặp không ít khó khăn Chúng tôi chỉ có thể tìm hiểu về ông qua nguồn tài liệu xuất xứ từ

đủ mọi nguồn gốc khác nhau nhằm cung cấp cho độc giả một cái nhìn chân thực nhất có thể

về một con người trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt

Trang 31

Trương Duy Toản sinh năm Ất Dậu (1885), tại huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long Ông còn có tự là Mạnh Tự, bút hiệu Đổng Hồ

Trương Duy Toản là nhà văn tiêu biểu cho lớp trí thức – văn nghệ sĩ lúc bấy giờ dù vẫn giữ những mối liên hệ với nền cựu học nhưng về cơ bản, đều được trải qua một quá trình đào tạo trong nhà trường Tân học Thuở nhỏ Trương Duy Toản học chữ Nho, từng đọc thơ văn Duy Tân của các chí sĩ miền Bắc bí mật phổ biến trong Nam, nhất là bài khuyên thanh niên du học của Phan Bội Châu Lớn lên ông chuyển sang học Quốc ngữ ở Sài Gòn và

ra trường năm 1905, được bổ nhiệm sang Campuchia làm Kinh lịch tại văn phòng Tòa Khâm sứ Pháp ở Nam Vang (Phnom Penh) Đến năm 1907 thì ông trở về sinh sống ở Sài Gòn và bắt đầu tham gia các hoạt động yêu nước ở cả trong và ngoài nước

Năm 1908, Trương Duy Toản tham gia Hội Minh Tân của Trần Chánh Chiếu và tham

những người có công nhất trong việc vận động Duy Tân ở Nam Kỳ hồi đầu thế kỷ Chủ trương, mục đích của Hội Minh Tân là chấn hưng công, nông, thương nghiệp để cạnh tranh với Chệc (Tàu), Chà (Ấn Độ) về mặt kinh tế, nhằm vận động tài chánh ủng hộ du học sinh tại Nhật Bản từ năm 1906 Hội này mong giúp người Việt có thể tự mình kinh doanh công thương nghiệp về kinh tế cho phù hợp với đà tiến hoá chung của xã hội, chứ không chủ trương bạo động đánh Pháp như lập trường của Phan Bội Châu lúc đầu (1903) Từ bước đầu

này, Hội Minh Tân cùng với làng báo Nam Kỳ thuở đó (đáng chú ý là hai tờ Nông cổ mín

đàm và Lục tỉnh tân văn) đã tổ chức được nhiều cơ sở văn hoá giáo dục, công thương

nghiệp như Chiêu Nam lầu, hãng xà bông Canard (con vịt), Nam Trung khách sạn, Minh

Tân khách sạn, Nam Kỳ Minh Tân công nghệ, Tân Hoá thương hội, Hội tương trợ của giáo viên, Minh Tân thương cuộc, Nam Kỳ thương cuộc, Nam Mĩ Thạnh thương quán, Y dược công ty, Nam Hoà Ước lập hoả thuyền, Công ty Nam Chấn Thành, Nam Hoà Lợi, Tế Nam khách sạn…rải rác khắp Sài gòn, Chợ Lớn, Gia Định, Mỹ Tho, Sa Đéc, Rạch Giá, Bến Tre,

Bạc Liêu, Vĩnh Long… nghĩa là phần lớn các tỉnh Nam Kỳ thời đó đều hưởng ứng, phát động thành lập các cơ sở công thương nghiệp dưới danh nghĩa Hội Minh Tân như đã kể Các cơ sở trên (công thương nghiệp, báo chí) được phát triển rất rầm rộ, có quy mô rõ rệt Thành phần người tham gia, góp vốn đa số là tiểu điền chủ, hương chức, nông dân, tiểu thương khắp các tỉnh Nam Kỳ Hội viên của Hội Minh Tân phần lớn là người lao động, nông dân và một số tiểu điền chủ đều là những người tiến bộ Họ tham gia việc Minh Tân với một ý niệm mới là chú ý đến việc thương mãi, tiểu thủ công nghiệp do động cơ duy tân,

Trang 32

yêu nước hơn là ham làm giàu trên mồ hôi nước mắt của người khác Hoặc có thể vì muốn đánh đổ xâm lược, chống người nước ngoài bóc lột, muốn cho đồng bào tự cường, nước mạnh dân giàu, chứ chưa có một ý niệm cách mạng triệt để như sau này

Cũng trong năm 1908 này, Trương Duy Toản bắt đầu có mặt trên tờ Lục tỉnh tân văn khi Trần Chánh Chiếu còn là chủ bút Từ năm 1910 ông là phó chủ bút cho Lục tỉnh tân

văn, đến năm 1912 ông trở thành chủ bút của tờ báo này

Cũng cần nói thêm bối cảnh lúc này, Phan Bội Châu đã phát động phong trào Đông Du

và đưa Cường Để cùng các thanh niên sang Nhật du học để trở về cứu nước Thấy được nguy cơ nầy, Pháp thương lượng và ký kết với Nhật Bản hiệp ước ngày 10/06/1907, theo đó Pháp nhượng cho Nhật một số quyền lợi kinh tế ở Đông Dương, để đổi lại, Nhật thôi ủng hộ phong trào Đông Du, trục xuất tất cả các du học sinh Việt Nam ra khỏi đất Nhật năm 1908, trong đó có Phan Bội Châu và Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, nên phong trào Đông Du tan rã, Duy Tân hội chỉ còn là cái tên Tất cả những tổn thất đó của cách mạng Việt Nam là do sự cấu kết của chính phủ Nhật và chính quyền thực dân Đông Dương Xu hướng thân Nhật ở Việt Nam bị giáng một đòn nặng nề Đây là một kinh nghiệm lịch sử cần được nhớ kỹ về việc cầu viện nước ngoài, vì tất cả những người nước ngoài đến Việt Nam đều vì quyền lợi riêng tư của họ; và đã là đế quốc thì dù cho da vàng hay da trắng, đồng văn, đồng chủng hay không, cũng là phường cướp nước như nhau mà thôi

Năm 1913, Trương Duy Toản là hội viên của Việt Nam Quang Phục Hội do cụ Phan

Bội Châu lãnh đạo Cũng năm này, Kỳ Ngoại Hầu Cường Để bí mật về nước Ngài giả làm người Tàu lại có giấy hộ chiếu của Chánh phủ Trung Hoa cấp cho rất đàng hoàng, nên tự xưng là một y sĩ Tàu sang Nam Việt làm thuốc, kỳ thật là để vận động tài chính thông qua

các nhà hảo tâm tuôn tiền ngàn bạc vạn ra không tiếc Như ở Cao Lãnh, cậu sáu Mĩ và cậu hai Hiển tức Lê Quang Hiển, cha vợ ông Diệp Văn Kỳ, mỗi người dám bỏ ra những hai vạn bạc giúp vào quỹ cách mạng Số tiền nầy tính theo giá bạc bây giờ, cũng có bạc triệu” [61,50]

Sau đó, Cường Để lên kế hoạch đi Âu Châu, đem theo ba người: Trương Duy Toản giỏi tiếng Pháp, Đỗ Văn Y giỏi tiếng Đức và Lâm Tỷ thạo tiếng Anh Sau này, các cuộc họp quan trọng của phong trào Đông Du ở nước ngoài đều có mặt Trương Duy Toản bên cạnh

Kỳ Ngoại Hầu Cường Để và Phan Bội Châu, vì ông vừa làm thư ký và vừa làm thông dịch cho cả hai Ngài Trở lại kế hoạch đi Âu Châu của Kỳ Ngoại Hầu, lúc bốn người chuẩn bị

Trang 33

lên đường thì bị sở mật thám đến vây xét Chiêu Nam lầu Để an toàn, Kỳ Ngoại Hầu phải cấp tốc xuất dương trước một mình Rồi một tháng sau, gần giữa năm Quý Sửu (1913), Trương Duy Toản mới nhờ chiếc tàu chở gạo hiệu Kim Biên chở lén sang Tàu Chuyến xuất

dương này đã được Trương Duy Toản kể lại rất rành mạch trong hồi ký Phong trào cách

mạng trong Nam (đăng trên tuần báo Tiến Thủ năm 1956):

“Đi lén bằng tàu chở gạo thế nầy coi khó mà dễ Ở một chương trước, chúng tôi có cho biết rằng hễ một chiếc tàu chở gạo sáng mai rời bến thì chiều hôm trước, lính đã xuống xét tàu và bố trí cuộc canh phòng rất cẩn mật cho đến khi tàu nhổ neo Trên bờ, ngay chỗ tàu đậu, một toán lính luôn luôn đứng gác tại đó Còn ở dưới tàu, trước mũi, sau lái mỗi nơi một người lính, tưởng một con kiến cũng không lọt khỏi mắt họ Nhưng tàu chở gạo thường là tàu lớn, như chiếc Kim Biên đây bề dài gần hai trăm thước, tới ba cột buồm, thì anh lính trước mũi và anh lính sau lái làm sao nhìn suốt cả chiếc tàu được, nhứt là vào những đêm tối trời

Người đi lén phải đưa hành lý cho người ta đem xuống tàu vài ngày trước Đêm trước ngày tàu tách bến, lối mười giờ tối, cứ thong thả xuống ngồi nhậu chơi tại quán rượu dưới chơn cột cờ Thủ Ngữ Một chặp sau, một anh bạn đến rủ đi kiếm xuồng thả trôi theo dòng sông chơi cho mát Xuống bực thang thì đã có sẵn một chiếc tam bản đang chờ Thế là cả hai cùng thả thuyền đi thừa lương như bao khách nhàn du khác

Tới chỗ chiếc Kim Biên đậu, chiếc tam bản rảo qua rảo lại ở ngoài xa Đợi khi có ám hiệu hoặc một chiếc lồng đèn nhỏ, hoặc một bó nhang đốt cháy cắm ngay ở giữa hông tàu, tam bản mới xáp lại gần Người Tàu hay cúng, vái, đốt nhang nên không ai để ý Tam bản rà lại rồi ghé triện vào hông tàu, ngay chỗ ám hiệu tất gặp một cái thang đã thòng sẵn tại đó

Vì tàu chở khẳm, từ mặt nước đến bô tàu chẳng bao cao Leo đến bô tàu, một bàn tay người trong bóng tối đen đưa ra rước đem vào trong một gian phòng có giường ngủ

Đến năm giờ sáng, một người đến gọi cùng đi xuống hầm Nơi miệng hầm có hai thuỷ thủ chực sẵn, xúm lại nhắc mấy bao gạo dang ra để hở một lỗ trống Theo lỗ trống ấy bước vào liền gặp một khoảng rộng như một căn phòng mà vách bốn bên toàn là bao gạo Trong

“phòng”, chiếu trải sẵn sàng, mình cứ nằm một mình đối bóng mà nghiền ngẫm cuộc phiêu lưu Ánh sáng lờ mờ của một cái lồng đèn nhỏ lủng lẳng toát ra dịu dàng gần như huyền bí Bên ngoài, mấy anh thuỷ thủ lấp miệng hầm lại Thế là mình đã an nhiên vững bụng giữa bốn bức tường gạo kiên cố ấy

Trang 34

Một giờ đồng hồ sau, khoảng sáu giờ sáng tàu xúp lê Hai cậu lính gác lên bờ đinh ninh mình đã “tròn phận sự”! Chừng tàu xa bến, người ta mới xuống khai cửa hang cho mình chun ra, trở lại phòng cũ mình đã ngụ trong đêm Đợi tàu ra tới Vũng Tàu, người hoa tiêu Pháp xuống tàu nhỏ vào bờ, tàu gạo nhắm xa khơi trực chỉ, người ta mới mở cửa phòng cho mình được tự do Chừng ấy mới thật chắc thoát vòng lưới bủa của đế quốc” [61,54] Bốn ngày sau, ngày 24 tháng 6 năm Quí Sửu (1913), Trương Duy Toản đặt chân lên Hương Cảng, kinh đô thương mãi của người Anh ở Viễn Đông Lập tức, ông được một đồng chí đưa ngay đến yết kiến Kỳ Ngoại Hầu Cả hai người đến sở công an Anh ở Hương Cảng

để thăm một số đồng chí của ta bị bắt trong vụ nổ bom ở Cửu Long trước đó mươi ngày, nhưng không may bị bắt lại xét hỏi Tuy gặp trở ngại từ phía tổ chức mật thám Pháp, phải ra toà nhưng cuối cùng Cường Để và Trương Duy Toản cũng may mắn thoát nạn, chỉ phải đóng hai ngàn bạc thế chân Để tránh sự theo dõi của bọn mật thám đế quốc, liền ngay sau

đó, hai người đã bí mật sắp đặt cuộc sang Âu Cuối tháng 7 năm 1913, cả bốn người, Kỳ Ngoại Hầu, Trương Duy Toản, Đỗ Văn Y, Lâm Tỷ cùng xuống tàu đi ngược xuống Thượng Hải trước để tránh sự dò xét Trên đường đi, để cho lộ trình thêm lắt léo, lạ kì nhằm đánh lạc hướng kẻ theo dấu, Kỳ Ngoại Hầu không đến thẳng Thượng Hải mà còn ghé lại một đêm ở Sán Đầu, đến Hạ Môn hai ngày, rồi đi Tân Gia Ba (Singapore) Đến được Tân Gia Ba quả thật là một hành trình gian nan, tưởng đã nguy hiểm đến tính mạng của cả bốn người Do nôn nóng việc lớn nên cả đoàn quyết định đi theo một chuyến tàu chở hàng, tàu lại gặp bão lớn nên phải mất mười sáu ngày mới đến được Tân Gia Ba Sau đó, Kỳ Ngoại Hầu và Đỗ Văn Y đi Bá Linh (Berlin – Đức), Lâm Tỷ sang Anh, còn Trương Duy Toản qua Pháp hoàn thành sứ mạng mà Kỳ Ngoại Hầu giao phó Đến Pháp, Trương Duy Toản ở khu thợ thuyền gần công trường Cộng hoà và trọ ở một nhà gần đường Pierre Chausson Cường Để ủy nhiệm cho Trương Duy Toản tiếp xúc với Phan Châu Trinh ở Ba Lê (Paris) để thăm dò ý kiến về việc đưa bức giác thư tố cáo chính sách cai trị tàn ác cho chính phủ Pháp, nhưng lúc

đó Phan Châu Trinh không có chân trong Đảng phái nào, trước sau mọi sự làm theo ý mình, khi Trương Duy Toản gặp cụ đề nghị hợp tác thì Phan Châu Trinh có ý hoài nghi và cảnh giác nên đưa thẳng Trương Duy Toản và bức huyết thư kia lên Bộ Thuộc địa Gần một tháng sau, mãi đến tháng chạp năm 1913, Trương Duy Toản mới gặp được Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut để bàn luận Sarraut muốn giáp mặt Kỳ Ngoại Hầu để tìm một giải pháp chấm dứt những hoạt động cách mạng ở Việt Nam Trương Duy Toản liền báo tin cho Cường Để, lúc bấy giờ đang ở Luân Đôn

Trang 35

Lại nói về Kỳ Ngoại Hầu và Đỗ Văn Y sang Đức chỉ trong ít ngày là đã thoả thuận được với chánh phủ Đức về những điều kiện hỗ trợ khi chiến tranh bùng nổ Nhờ vậy, hai người ở Bá Linh có ba tuần lễ Nhận được tin của Trương Duy Toản từ Ba Lê, Cường Để vì cẩn trọng với âm mưu của Sarraut nên lệnh cho Đỗ Văn Y sang hỗ trợ cho Trương Duy Toản, còn mình âm thầm lên tàu trở về Trung Hoa Việc này khiến Trương Duy Toản không khỏi lo âu, hồi hộp nghĩ cách đối phó với Toàn quyền Sarraut Tâm sự này được ông thở than trong mấy vần hát nói:

Mưỡu

Đã từng đội nguyệt mang sao,

Đã từng làm khách bô đào Đông, Tây

Bao phen dày võ hình hài, Phong trần nám mặt những ngày lỡ sanh

Nói

Gót chơn hồ hải Khắp Á, Âu đã trải gian lao Cắp thanh gươm nhẹ gót bô đào Vào Pháp địa đã nêu cao chí khí Lãnh trọng nhiệm người trên uỷ ký Đến hang hùm chẳng tị hiểm nguy Chót lưỡi khờ tuy chẳng sánh Trương Nghi Chớ cũng đã đắc kỳ sở nguyện

Bỗng ai kia vì đâu xui khiến

Mó tay vô cho sai suyển nước cờ, Dẫu Tô Tần cũng líu lưỡi u ơ Phúc tai hoạ đương chờ ta đó

Ôi! Thân dầu những thiên tâm vạn khổ Với non sông không hỗ đủ rồi,

Chẳng thử chơi há biết vàng mười Lửa hoạn nạn trêu người càng rõ hạng

Cầu nhơn đắc nhơn hà oán;

Tri ngả tội ngả hề thương

Xưa Di, Tề vào núi Thú Dương

Trang 36

Đâu có bận lòng hờn dạ oán

Ai hờn oán mình đừng hờn oán Đứng anh hùng hà hoạn tử sanh Mất còn tự ý ông Xanh

Trương Duy Toản và Đỗ Văn Y bị đưa xuống giam lỏng ở miền Nam nước Pháp, gần

khác nhau: Trương Duy Toản ở Orthez, Đỗ Văn Y ở Lescar Tháng tám năm 1914, quân đội Đức tràn qua nước Pháp thế như chẻ tre Chính phủ Pháp phải bỏ Ba Lê chạy xuống

của chính phủ quân quản là bắt hết những người tình nghi và xử bắn ngay tức khắc Hai ông Trương, Đỗ đều bị toà án quân sự đệ nhứt cấp Ba Lê sai người đến bắt tại trụ sở ngày

tin cho lão Sarraut và Hội Nhơn quyền hay kịp Nhờ hai sức can thiệp mạnh mẽ và đắc lực

ấy mà toà án quân sự phải để lại xét xử theo thủ tục đàng hoàng Tuy nhiên, hai ông cũng

phải bị tống giam vào đại khám đường La Santé ở Ba Lê hơn mười tháng Nhờ sự can thiệp

có dụng ý của Albert Sarraut, hai ông được trả tự do vào tháng 4 năm 1916 và bị trục xuất

về Sài Gòn Trong hành trình, một viên thanh tra mật thám Pháp bí mật theo sát hai ông như hình với bóng đưa về tới nước nhà Dù nhớ quê hương và gia đình da diết nhưng Trương Duy Toản không dám rời Sài Gòn về Vĩnh Long là nơi sanh quán để vấn an đấng từ mẫu Biết mình còn bị theo dõi nên ông về ẩn dật trong một căn phố nhỏ ở đường Mamiger, nay

là đường Mạc Đỉnh Chi, để cho phân minh đen trắng, và để bọn mật thám khỏi nghi ngờ Ông có vợ và con trai duy nhất 10 tuổi là Trương Duy Khánh (ký giả Thiệu Võ), rồi ông theo đạo Cao Đài, phái Tiên Thiên Một thời gian sau, đến năm 1922, thấy tình hình Pháp theo dõi mình đã lắng dịu, nhờ sự giúp đỡ của Gilbert Chiếu, một nhà cách mạng có thế lực

và Nguyễn Văn Của, một ông chủ nhà in được Pháp nể trọng, Trương Duy Toản lại ra hoạt động văn hóa

Trong những năm từ 1919 đến 1936, ông là ký giả và là chủ bút của nhiều tờ báo: Làm

chủ bút tờ Trung lập (1924-1933), ông giữ mục Thiên hạ đồn rất ăn khách Năm 1926: làm chủ bút tờ Sài Thành, bị Pháp để ý kiểm duyệt gắt gao Sài Thành bị đóng cửa, ông chủ trương tờ Dân quyền (1936 do Cendsieux đứng tên), tham gia vận động cho Đông Dương

đại hội, tờ báo cũng bị đóng cửa

Trang 37

Trong thời gian làm báo, ông còn viết lời ca tài tử, là soạn giả kiêm đạo diễn sân khấu tuồng có tiếng Vào thời ấy, ông và Nguyễn Trọng Quyền là hai thầy tuồng nổi tiếng nhất của sân khấu cải lương vào những năm 20 của thế kỷ trước

Trước khi mất một năm (1956), với bút hiệu Đổng Hồ, ông còn cho đăng trên tuần báo

Tiến Thủ (chủ nhiệm Lê Văn Thử) loạt hồi kí mang tên Phong trào cách mạng trong Nam,

từ số 53 (ngày 24/12/1955) đến số 75 (ngày 02/06/1956), gồm 18 chương Đây cũng là một

trong những sáng tác cuối cùng của Trương Duy Toản

Cuối đời Trương Duy Toản về an dưỡng ở Thanh Đa, ông mất năm Đinh Dậu (1957), thọ 72 tuổi Sau đó được cải táng đưa về quê ở huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long Theo

Nguyễn Bá Thế thuật lại trên báo Đuốc Nhà Nam: do phong tục Cao Đài, nên di hài ông

được liệm ngồi trong cỗ quan tài hình bát giác dựng đứng

1.2.2 Sự nghiệp của Trương Duy Toản

1.2.2.1.Ho ạt động báo chí của Trương Duy Toản

Trương Duy Toản bắt đầu có mặt trên tờ Lục tỉnh tân văn lúc Trần Chánh Chiếu còn là

đối chính quyền Bảo hộ truất phế vua Thành Thái (1879 – 1954) vốn là ông vua có tinh thần

(ngày 30/04/1908):

Tái chế Tứ đại cảnh phổ ca

Nào văn minh tấn bộ đã cùng

Đởm đương lắm sự anh hùng, Quyết vẫy vùng đoạt quyền lợi chung, Kẻo hổ cùng tha bang

Cũng nhờ Nhựt Quang Đứng mở mang cho đời

Ngoài năm dư,

Đã khích khuyến khắp trong sáu tỉnh, Lại gánh nhọc nhằn

Mở nên hãng Minh Tân,

Cả đẹp lòng dân

Trang 38

Nay, buổi hôm nay

Mấy châu đà phấn khởi Chốn thương trường đưa bước tới, Xông đụt đồng tranh mối lợi Việt Nam nay rõ,

Thiếu chi anh hào Đương hiệp chúng đồng bào

Mà tranh đoạt lợi quyền Rất nhộn nhàng cõi Nam Trung Khen ai cũng thung dung,

Cứ đong đưa theo năm giọng, Bao biếm triều đường,

Trách quở tiên vương Thấy chẳng thiên thương!

Cho dẫu cho

Muốn học đòi trang trí thức, Quyết côn kình toan dấy sức, Tiếng khuyên người tua hữu đức Ích chi vạch đầu,

Lỗi vua tội thầy?

Chữ lăng thượng đã bày, Dẫu có mưu dầy,

Mấy ai mà phụ xua

Hễ trọng đạo vi nhân, Nghĩa vua tôi cha con phải trọng Bằng lỗi đạo hằng,

Khác chi kẻ côn quang Chẳng kể tam cang

Khán quan hỡi chư ông,

Bởi thấy người vô lễ, Nên bày luận đàm, Trước sau việc phải chăng

Trang 39

Cho quý vị thử xem

Dám đâu khéo nét văn từ

Hỡi bấy kẻ tri âm,

Khá nhẫn tâm Lỗi mình thường ít thấy, Nay người phân rành, Thôi thôi, mựa hờn nhau

Mấy ai trọn mình vay,

Có câu nhơn bất thập toàn

Thôi, ngày sanh trên cõi dinh hoàn

Không qua ba vạn sáu ngàn, Nhẽ công đâu tranh nhau hơn thiệt

Chừ hôm nay, Phải đua chen trong vạn quốc mà đoạt mối thương quyền,

Để cho trẻ cháu con, Danh rỡ sông non

Thấp cao ít lời quê Xin quý vị niệm tình

Cho chúc mấy triệu đồng bào

Mau bước tới Nơi đài văn minh”

phong trào Minh Tân như Quốc âm cải lương (Lục tỉnh tân văn, số 153, 29/12/1910)

như cụ Gilbert Chiếu và nhân vật được nhà cầm quyền Pháp nể nang là Nguyễn Văn Của Trương Duy Toản trở thành kí giả hoặc chủ bút của nhiều tờ báo ở Sài Gòn

Trang 40

Huỳnh Công Thanh, người Việt Nam đầu tiên lập tiệm cà phê để tranh thương với Huê Kiều

L ập song song với tờ Impartial de Henry do Lachevrotière chủ trương, làm chủ bút số 2, chủ

An Khương lãnh đạo”

Năm 1926: ông làm chủ bút tờ Sài Thành, với những người cộng tác: Bút Trà, Bùi Thế

Ông Trương Duy Toản báo Sài Thành Vùng vẫy theo đời, buổi cạnh tranh Bút mực đã khô, gan lại héo

Tình người nghĩ lại bắt buồn tanh Sài Thành b ị đóng cửa vào năm 1935 Năm 1936, ông chủ trương tờ Dân Quyền Như vậy đến thời điểm này, ông đã tham gia ba phong trào đắc ý:

1/ Phong trào tẩy chay Hoa Kiều hồi năm 1919, cộng tác với Thời Báo của Hồ Văn Lang 2/ Phong trào tẩy chay Chà, Bombay hồi làm tờ Trung Lập, nhân vụ tên thương gia Chà ở

đường Vannier (Ngô Đức Kế) làm nhục một đàn bà Việt là khách hàng, vợ một công chức,

bằng cách đụng cán dù trên đầu; tờ Đông Pháp thời báo hưởng ứng làm mạnh hơn đề xướng

thành phong trào tẩy chay Chà – Bombay, hô hào dùng đồ nội hóa

3/ Phong trào dân quyền lúc làm tờ Dân Quyền đẩy mạnh phong trào Đông Dương đại hội cùng với tờ Việt Nam của Nguyễn Phan Long

Ngày đăng: 02/12/2015, 16:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguy ễn Kim Anh (2004), Ti ểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, Nxb Đại học quốc gia TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX
Tác giả: Nguyễn Kim Anh
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia TP.HCM
Năm: 2004
2. Nguy ễn Văn Ái (1994), T ừ điển phương ngữ Nam Bộ , Nxb TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển phương ngữ Nam Bộ
Tác giả: Nguy ễn Văn Ái
Nhà XB: Nxb TP.HCM
Năm: 1994
3. Tr ần Hoà Bình, “Những “kỳ biến” trong làng báo đầu thế kỷ XX” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những “kỳ biến” trong làng báo đầu thế kỷ XX
Tác giả: Trần Hoà Bình
4. H ồ Biểu Chánh (1953), N ặng gánh cang trường , Nxb T ấn Phát, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nặng gánh cang trường
Tác giả: H ồ Biểu Chánh
Nhà XB: Nxb Tấn Phát
Năm: 1953
5. Nguy ễn Huệ Chi (2002), “Thử tìm vài đặc điểm của văn xuôi tự sự Quốc ngữ Nam B ộ trong bước khởi đầu”, t ạp chí Văn học , 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử tìm vài đặc điểm của văn xuôi tự sự Quốc ngữ Nam Bộ trong bước khởi đầu
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Nhà XB: tạp chí Văn học
Năm: 2002
6. Vi ệt Chung (2005), “Trương Duy Toản”, t ạp chí Xưa và nay , 250 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trương Duy Toản”, "tạp chí Xưa và nay
Tác giả: Vi ệt Chung
Năm: 2005
7. Tôn Th ất Dụng (1993), S ự hình thành và vận động của thể loại tiểu thuyết văn xuôi ti ếng Việt ở Nam Bộ giai đoạn cuối thế kỉ XIX đến năm 1932 , Lu ận án Tiến sĩ, Đại h ọc Sư Phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hình thành và vận động của thể loại tiểu thuyết văn xuôi tiếng Việt ở Nam Bộ giai đoạn cuối thế kỉ XIX đến năm 1932
Tác giả: Tôn Th ất Dụng
Năm: 1993
8. Đỗ Dũng (2003), Sân kh ấu cải lương Nam Bộ 1918 – 2000 , Nxb Tr ẻ, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sân khấu cải lương Nam Bộ 1918 – 2000
Tác giả: Đỗ Dũng
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2003
9. B ằng Giang (1974), M ảnh vụn văn học sử, Chân Lưu xuất bản, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mảnh vụn văn học sử
Tác giả: B ằng Giang
Năm: 1974
10. B ằng Giang (1990), “Trương Duy Toản (1885-1957), một cây viết đa dạng”, tu ần báo Văn nghệ TP.HCM , 636 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trương Duy Toản (1885-1957), một cây viết đa dạng
Tác giả: B ằng Giang
Nhà XB: tu ần báo Văn nghệ TP.HCM
Năm: 1990
11. B ằng Giang (1992), Văn học Quốc ngữ ở Nam Kỳ 1865-1930 , Nxb Tr ẻ, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Quốc ngữ ở Nam Kỳ 1865-1930
Tác giả: B ằng Giang
Nhà XB: Nxb Tr ẻ
Năm: 1992
12. Đoàn Lê Giang (2006), “Văn học Quốc ngữ Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX đến 1945 – Thành t ựu và triển vọng nghiên cứu”, t ạp chí Nghiên cứu Văn học , 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Quốc ngữ Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX đến 1945 – Thành tựu và triển vọng nghiên cứu
Tác giả: Đoàn Lê Giang
Nhà XB: tạp chí Nghiên cứu Văn học
Năm: 2006
13. Lê Bá Hán (1992), T ừ điển thuật ngữ văn học , Nxb Giáo d ục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
14. Lê Th ị Đức Hạnh (2001), “Báo chí với văn học giai đoạn 1932-1945”, t ạp chí Văn h ọc , 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí với văn học giai đoạn 1932-1945”, "tạp chí Văn học
Tác giả: Lê Th ị Đức Hạnh
Năm: 2001
15. H ồ Sĩ Hiệp (2005), “Đông Du- Từ Phan Bội Châu nghĩ đến Lỗ Tấn”, t ạp chí Xưa và nay, 250 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đông Du- Từ Phan Bội Châu nghĩ đến Lỗ Tấn
Tác giả: H ồ Sĩ Hiệp
Nhà XB: t ạp chí Xưa và nay
Năm: 2005
16. Đỗ Đức Hiểu (2003), T ừ điển văn học (bộ mới) , Nxb Th ế giới, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học (bộ mới)
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2003
17. Nguy ễn Văn Hiệu (2002), “Văn chương Quốc ngữ Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế k ỷ XX: Nhìn từ quá trình xã hội hoá chữ Quốc ngữ”, t ạp chí Văn học , 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn chương Quốc ngữ Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX: Nhìn từ quá trình xã hội hoá chữ Quốc ngữ
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệu
Nhà XB: tạp chí Văn học
Năm: 2002
18. Nguy ễn Văn Hiệu (2007), “Ý thức văn hoá trong dịch thuật văn chương ở Việt Nam t ừ cuối thế kỷ XIX đến 1945”, t ạp chí Nghiên cứu Văn học , 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý thức văn hoá trong dịch thuật văn chương ở Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến 1945”, "tạp chí Nghiên cứu Văn học
Tác giả: Nguy ễn Văn Hiệu
Năm: 2007
19. Phan M ạnh Hùng, “Tiểu thuyết lịch sử - một khuynh hướng nổi bật trong văn xuôi qu ốc ngữ Nam Bộ đầu thế kỷ XX” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết lịch sử - một khuynh hướng nổi bật trong văn xuôi quốc ngữ Nam Bộ đầu thế kỷ XX
20. Tr ần Văn Khải, Ngh ệ thuật sân khấu Việt Nam: Hát bội – Cải lương – Thoại kịch , Thanh Trung thư xã, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật sân khấu Việt Nam: Hát bội – Cải lương – Thoại kịch
Tác giả: Trần Văn Khải
Nhà XB: Thanh Trung thư xã

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w