Trong cái nôi chung của nền văn hóa dân tộc,vùng đất hạ nguồn hữu ngạn sông Mã, với đặc điểm địa lí, lịch sử riêng đã sảnsinh ra rất nhiều nhân vật lịch sử, danh nhân văn hóa, trong đó L
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
-
Trơng Văn hùng
danh nhân lơng đắc bằng
cuộc đời và sự nghiệp
Chuyên ngành: lịch sử việt nam Mã số : 60 22 54
Dòng thời gian lặng lẽ âm thầm trôi cùng những thăng trầm của lịch
sử Lịch sử giống nh giai điệu của cuộc sống, có những lúc âm vang hùngtráng, có khi là trầm lặng bình an hay đôi khi lại là những khúc biến tấu bi aibuồn tẻ Khi bánh xe lịch sử chuyển động, vô tình bụi thời gian đã khiến conngời ta lãng quên và có cái nhìn cha chân xác về chân dung của lịch sử, vềmột thời đại đã qua Ngợc dòng thời gian để gạn đục khơi trong tìm vềnguồn cội, để tìm kiếm, để đánh giá, nhìn nhận lại những gì đã qua là tráchnhiệm đặt trên vai ngành sử và những nhà nghiên cứu lịch sử, đứng trên lập
Trang 2trờng quan điểm Mácxít - Lêninít để tìm hiểu và trả lại cho sử học những giátrị đúng nghĩa của nó, để ngàn đời sau mỗi khi nhắc tới lịch sử ngời ta thờng
ngỡng mộ: "Lịch sử là tấm gơng phản ánh quá khứ, là bó đuốc soi đờng tới tơng lai''
1.1 Nớc ta ở địa phơng nào cũng có những truyền thống tốt đẹp Nhữngtruyền thống đó đợc thể hiện trong mỗi làng, mỗi xã, mỗi dòng họ, gia đình vớicác nhân vật lịch sử nổi tiếng Trong cái nôi chung của nền văn hóa dân tộc,vùng đất hạ nguồn hữu ngạn sông Mã, với đặc điểm địa lí, lịch sử riêng đã sảnsinh ra rất nhiều nhân vật lịch sử, danh nhân văn hóa, trong đó Lơng Đắc Bằng
đợc xem là một trong những ngời con u tú của mảnh đất này Vì vậy, tìm hiểucuộc đời và sự nghiệp của Lơng Đắc Bằng sẽ có ý nghĩa to lớn đối với quê hơng
và dòng họ nói riêng đối với lịch sử dân tộc nói chung
1.2 Lơng Đắc Bằng là một nhà nho trởng thành vào cuối thế kỷ XV nửa
đầu thế kỷ XVI, khi vơng triều Lê Sơ khủng hoảng trầm trọng dới các triều vua
Lê Túc Tông, Lê Tơng Dực, Lê Uy Mục, Lê Chiêu Tông Là một nhà nho cóhọc vấn cao (ông đỗ Bảng nhãn khoa Kỷ Mùi năm 1499) Lơng Đắc Bằng làmquan trong bối cảnh đất nớc có nhiều biến động dữ dội Ông làm quan trải bốntriều vua thời Lê Sơ, giữ nhiều chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nớc đơngthời nh: Thị độc, Đông các hiệu th, Lễ bộ tả thị lang sung Thị độc viện hàn lâm,Lại bộ tả thị lang kiêm Đông các đại học sĩ nhập thị kinh diên, rồi Lại bộ thợng
th Là một vị đại thần công liêm chính trực, rất mực trung thành và là ngời có
uy tín lớn trong lớp nho sĩ danh thần nh Nguyễn Trực, Lê Tung, Lê Nại, tuynhiên tài năng của ông đã không có điều kiện để phát huy Chán ghét chốnquan trờng, Lơng Đắc Bằng cáo quan về quê dạy học Tin ông từ quan về quê
mở trờng dạy học, đã lâu nghe danh về đức về tài, về tính tình cơng trực, liêmkhiết nên đã có rất nhiều học trò đến xin thụ giáo Trong sự nghiệp giáo dục, L-
ơng Đắc Bằng nổi tiếng là một “nhân s” đức độ và giỏi giang, đã đào tạo đợcnhiều thế hệ học trò đỗ đạt, thành danh (nh trờng hợp Trạng trình Nguyễn BỉnhKhiêm)
Với những đóng góp to lớn của mình cho quê hơng cho đất nớc, Lơng
Đắc Bằng xứng đáng là một tấm gơng sáng của lịch sử dân tộc ta ở cuối thế kỷ
XV nửa đầu thế kỷ XVI Nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của ông giúpchúng ta hiểu rõ hơn về một vị quan thanh liêm chính trực, khảng khái nhngkhông gặp thời, về một nhà giáo tài ba đức độ Qua đó khơi dậy và bồi đắp
Trang 3truyền thống kính trọng nhân tài, tôn s trọng đạo của dân tộc ta, và kích thíchtinh thần sáng tạo đối với các thế hệ tơng lai của đất nớc.
1.3 Từ đầu thế kỷ XVI xã hội Việt Nam lâm vào khủng hoảng trầmtrọng Các vua Uy Mục, Tơng Dực lần lợt lên ngôi nhng bỏ bê việc triềuchính, chỉ lo ăn chơi hởng thụ Là một trung thần, một đại quan của triều
đình Lơng Đắc Bằng không thể khoanh tay đứng nhìn cơ đồ của nhà Lêbỗng chốc sụp đổ Với mong muốn cứu vớt vơng triều, Lơng Đắc Bằng đã
đem hết tài năng và tâm lực của mình viết ra “Trị bình thập tứ sách” dângvua Tơng Dực để giúp vua trị nớc an dân Những kế sách của ông nếu đợcthực thi có thể làm cho “đạo trời có thể thuận, đạo đất có thể yên, đạo ng ời
có thể ổn, có thể đạt đến thái bình” Tiếc rằng vua chỉ khen là hay màkhông đem ra thực hiện
Sau gần 500 năm nhìn lại những kế sách trị nớc của Lơng Đắc Bằngkhông chỉ thấy có giá trị thiết thực đối với xã hội đơng thời mà nó cònmang tính thời sự sâu sắc Vì vậy tìm hiểu và nghiên cứu kỹ những nộidung của “Trị bình thập tứ sách” chúng ta sẽ thấy có nhiều nội dung vẫncòn có ý nghĩa lí luận và giá trị thực tiễn to lớn đối với công cuộc xây dựng
và phát triển đất nớc của nớc ta hiện nay
1.4 Là một ngời con quê hơng Hoằng Hóa - mảnh đất giàu truyềnthống văn hóa, hơn nữa lại đợc sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Hội Triều -quê hơng của danh nhân Lơng Đắc Bằng, bản thân thấy phải có trách nhiệmgìn giữ và phát huy truyền thống tốt đẹp của ông cha Qua việc tìm hiểu vànghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của danh nhân văn hóa Lơng Đắc Bằngchúng tôi càng hiểu sâu sắc và tự hào hơn về vùng đất và con ngời HoằngHóa nói chung, làng Hội Triều nói riêng Đó cũng chính là đạo lí, là truyềnthống “uống nớc nhớ nguồn” mà chúng ta hớng tới Đồng thời, chúng tôi rút
ra những bài học quý báu cho bản thân trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo
nhân tài cho đất nớc, góp phần thực hiện “chiến lợc con ngời thế kỷ XXI”,
hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nớc mà Đảng vànhân dân ta đã, đang thực hiện
Với những lí do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn vấn đề: “Danh nhân
Lơng Đắc Bằng - cuộc đời và sự nghiệp” làm đề tài luận văn thạc sĩ của
mình
Trang 42 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về danh nhân, đặc biệt là những danh nhân nổi tiếng tronglịch sử dân tộc là một đề tài hấp dẫn, thu hút sự quan tâm của nhiều nhànghiên cứu trong và ngoài nớc, nhng đòi hỏi sự công phu, bền bỉ bởi
Trong xu thế “ôn cố tri tân” tìm về nguồn cội để “gạn đục khơi trong”,tìm hiểu và nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của một danh nhân cụ thểvừa có ý nghĩa về mặt lí luận lại vừa có ý nghĩa về mặt thực tiễn
Riêng về danh nhân Lơng Đắc Bằng, từ trớc đến nay cũng đã có một
số tài liệu của một số tác giả đề cập đến dới những góc độ, phạm vi, thờigian và mức độ khác nhau
Nhà nghiên cứu Ninh Viết Giao trong công trình: Địa chí văn hóa“
Hoằng Hóa”, Nxb KHXH, Hà Nội, 2000 đã giới thiệu khái quát về quê hơng,
gia đình và sự nghiệp của Lơng Đắc Bằng; đặc biệt tác giả đi sâu nghiên cứu vềLơng Đắc Bằng dới góc độ là một thầy giáo dạy giỏi nổi danh đất Hoằng Hóa
Cũng viết về Lơng Đắc Bằng dới góc độ là một nhà giáo dục giỏi giang
còn có các tác giả Nguyễn Xuân trong cuốn sách: “Những nhà giáo tiêu biểu trong lịch sử”, Nxb Thanh Hóa, 2006; Tác giả Ngô Văn Phú trong cuốn sách:
“Danh nhân Việt Nam qua các đời”, Nxb Hội nhà văn, viết về danh nhân Lơng
Đắc Bằng với tiêu đề: “Thầy của trạng” đã giới thiệu cho độc giả về một ngời
thầy bản tính đôn hậu, rất mực yêu thơng học trò nhng dạy học rất nghiêm.Ngoài dạy theo sách, giảng theo sách, thầy Lơng Đắc Bằng rất coi trọng cáchhọc chủ động, sáng tạo của học trò bằng cách lấy những ví dụ thực tế trongcuộc sống để minh họa cho sách vở, để giảng về đạo và đời Ông đã đem hết tàinăng và vốn hiểu biết của mình truyền lại cho các thế hệ học trò nên học tròcủa ông có nhiều ngời đỗ đạt, thành danh mà ngời tiêu biểu nhất trong số đó là
vị Trạng nguyên danh tiếng Nguyễn Bỉnh Khiêm
Đề cập đến Lơng Đắc Bằng ở những khía cạnh khác có các tác giả vớicác bài viết sau:
Bài viết, “Lơng Đắc Bằng - Một tấm lòng, một nhân cách cao đẹp” của
tác giả Cao Xuân Thởng đăng trên báo Văn hóa thể thao Thanh Hóa số 479,ngày 8-7-1999, giới thiệu sơ lợc về quê hơng, gia đình và sự nghiệp của Lơng
Đắc Bằng Với một thái độ trân trọng, một tấm lòng đồng cảm tác giả CaoXuân Thởng đã đánh giá rất cao những kế sách trị nớc của Lơng Đắc Bằng từ
đó toát lên tấm lòng yêu nớc thơng dân của ông
Trang 5bài viết, “Lơng Đắc Bằng dâng sách trị bình”, đăng trên báo điện tửBình Dơng, ngày 11/2/2005, tác giả Thái Gia Th viết về Lơng Đắc Bằng với tcách là một nhà cải cách xuất sắc gần 500 năm trớc, đã đem hết tài trí, tâmhuyết của mình để viết “sách trị bình” dâng lên vua Lê Tơng Dực những kếsách nhằm cứu vãn đất nớc thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, suy vi.
Có thể nói rằng, cho đến hiện nay nghiên cứu kỹ hơn về danh nhân
L-ơng Đắc Bằng có tác giả Nguyễn Thị Quy ở Ban nghiên cứu và biên soạn lịch
sử Thanh Hóa, với “Danh nhân Thanh Hóa”, tập II, Nxb Thanh Hóa, 2006, và
“Làng Hội Triều”, Nxb Thanh Hóa, 2006 ở các bài viết về danh nhân Lơng
Đắc Bằng trong hai cuốn sách trên, tác giả Phạm Thị Quy đã cố gắng thu thậpcác tài liệu có liên quan, qua đối chiếu, so sánh và phân tích đã khái quát vềquê hơng, dòng họ, cuộc đời và sự nghiệp của Lơng Đắc Bằng một cách cụthể và chi tiết hơn so với các tác giả, các bài viết trớc đó
Ngoài ra các sách: “Đại Việt thông sử”, “Việt Nam sử lợc”, “Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075 - 1919), “Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam”,
“Nam hải dị nhân”, “Các vị Trạng nguyên - Bảng nhãn - Thám hoa qua các triều đại phong kiến Việt Nam”, “Văn thần Việt Nam”, “Gơng sáng trời Nam”,
“Danh sĩ Thanh Hóa”, “lịch sử Thanh Hóa” tập 2, “Thanh Hóa ngàn xa yêu dấu”, “Danh nhân văn hóa Việt Nam”, Đất và ng“ ời xứ Thanh”, v.v… đều giới đều giớithiệu sơ lợc về danh nhân Lơng Đắc Bằng
Nhìn chung các công trình, các bài viết trên đều đã giới thiệu về danhnhân Lơng Đắc Bằng cũng nh sự nghiệp của ông Tuy nhiên cho đến hiện nayvẫn cha có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và chuyên sâu vềcuộc đời và sự nghiệp của danh nhân Lơng Đắc Bằng, đặc biệt nghiên cứu về
ông dới góc độ là một nhà giáo danh tiếng, một nhà “cải cách” nửa đầu thế kỷXVI cho nên cha nêu lên đợc vai trò của ông đối với quê hơng, đất nớc trongbối cảnh xã hội đơng thời
Thực tế đó đã thôi thúc chúng tôi đi sâu nghiên cứu về danh nhân
L-ơng Đắc Bằng để góp phần vào việc nhìn nhận, đánh giá một con ngời đã có
vị trí quan trọng trong lịch sử trung đại Việt Nam với những đóng góp to lớncho quê hơng cho đất nớc và hậu thế
3 Đối tợng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ khoa học của đề tài
3.1 Đối tợng, phạm vi nghiên cứu
Trang 6Trên cơ sở những tài liệu hiện có và khả năng của bản thân, chúng tôitiến hành tìm hiểu, nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của danh nhân Lơng
Đắc Bằng
3.2 Nhiệm vụ khoa học
Cuộc đời và sự nghiệp của một danh nhân, đặc biệt đối với những danhnhân nổi tiếng thờng gắn liền với nhiều vấn đề ở nhiều khía cạnh khác nhau.Mặc dù đề cập đến toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp nhng trong đề tài này,chúng tôi tập trung vào giải quyết các nhiệm vụ khoa học sau:
- Tìm hiểu về vùng đất Hoằng Hóa giàu truyền thống văn hóa; về làngHội Triều đất học, về dòng họ Lơng và gia đình Lơng Đắc Bằng nổi tiếngdanh gia vọng tộc, nối đời khoa bảng của xứ Thanh địa linh nhân kiệt
- Đi sâu nghiên cứu về Lơng Đắc Bằng - một ông quan công liêm chínhtrực, một đại thần của vơng triều Lê Sơ có học vấn uyên thâm có tấm lòngnhân nghĩa nhng không gặp thời, một thầy giáo giỏi giang có công đào tạocho đất nớc nhiều lớp học trò đỗ đạt, thành danh
- Đi sâu nghiên cứu về “Trị bình thập tứ sách” - những kế sách của
L-ơng Đắc Bằng giúp vua trị nớc an dân, không chỉ có giá trị đL-ơng thời mà cònmang tính thời sự sâu sắc
4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn t liệu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã nghiên cứu và tham
khảo các tài liệu sau:
4.1.1 Tài liệu gốc
- Gồm các tác phẩm chính sử nh: Gia phả họ Lơng ở làng Hội Triều;
Đại việt sử ký toàn th của Ngô Sĩ Liên; Khâm định Việt sử thông giám cơng mục của Quốc sử quán triều Nguyễn; Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn; Lịch triều hiến chơng loại chí của Phan Huy Chú, v.v… đều giới
- Văn bia, hoành phi câu đối ở nhà thờ danh nhân văn hóa Lơng Đắc Bằng - Lơng Hữu Khánh
4.1.2 Tài liệu nghiên cứu
Chúng tôi tham khảo các tài liệu nghiên cứu lịch sử, văn hóa nh: Địa“
chí văn hóa Hoằng Hóa” của Ninh Viết Giao, “Những nhà giáo tiêu biểu trong lịch sử” của Nguyễn Xuân, “Lơng Đắc Bằng - Một tấm lòng, một nhân cách cao đẹp” của Cao Xuân Thởng, “Danh nhân Việt Nam qua các đời” và
“Truyện danh nhân Việt Nam thời Trần - Lê” của Ngô Văn Phú, “Danh
Trang 7nhân Thanh Hóa” và “Làng Hội Triều” của Ban nghiên cứu và biên soạn lịch
sử Thanh Hóa, “Hiền tài đất Việt” của Lê Ngọc Tú - Hạnh Nguyên, “Tài trí Việt Nam” của Trần Thân Mộc, “Lơng Đắc Bằng dâng sách trị bình” của Thái Gia Th, “Dòng họ Lơng ở làng Hội Triều” của Lơng Hữu Lịch - Lơng Hữu Sự, “Địa chí Hội Triều” của Lơng Ngọc Toản, “Hội Triều ngàn năm văn hiến” của Hoàng Đình Khảm, v.v… đều giới
4.1.3 Tài liệu khác
Để bổ sung và làm phong phú tài liệu cho đề tài, chúng tôi đã quansát, tìm hiểu thực tế tại nhà thờ danh nhân văn hóa Lơng Đắc Bằng - LơngHữu Khánh ở làng Hội Triều Chúng tôi cũng đã nhiều lần trực tiếp gặp gỡ,phỏng vấn các vị bô lão địa phơng, trởng họ và các trởng chi dòng họ Lơngcũng nh các gia đình con cháu của Lơng Đắc Bằng; đồng thời trao đổi vớicác vị lãnh đạo địa phơng Hoằng Phong, Hoằng Hóa (Thanh Hóa), chụp ảnh
lăng mộ, nhà thờ danh nhân Lơng Đắc Bằng- Lơng Hữu Khánh
4.2 Phơng pháp nghiên cứu
Với đặc trng của khoa học lịch sử, để giải quyết những vấn đề do đềtài đặt ra, chúng tôi chủ yếu sử dụng hai phơng pháp mang tính chuyênnghành: phơng pháp lịch sử và phơng pháp lôgíc Chúng tôi còn sử dụng ph-
ơng pháp so sánh, đối chiếu gia phả, bia ký với chính sử nhằm đánh giá,phân tích, tổng hợp mối quan hệ giữa lịch sử địa phơng và lịch sử dân tộc.Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng phơng pháp liên ngành, sử dụng sử liệu học,phơng pháp điền dã thực địa, phỏng vấn, v.v… đều giới
5 Đóng góp của luận văn
5.1 Đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu về danh nhân Lơng Đắc Bằng một vị đại thần công liêm chính trực, một nhà giáo giỏi giang tận tụy, tài đứcvẹn toàn đã đào tạo cho đất nớc nhiều nhân tài lỗi lạc, xuất chúng Qua đóluận văn góp phần khẳng định những đóng góp to lớn của Lơng Đắc Bằng cho
-đất nớc cho hậu thế, giúp ngời đời hiểu rõ hơn về một vị quan về một ngờithầy mà xa nay sử sách cha viết nhiều
5.2 Việc tìm hiểu và phân tích những nội dung cơ bản của “Trị bìnhthập tứ sách” trong bối cảnh lịch sử bấy giờ, luận văn sẽ góp phần nêu lênnhững đóng góp của Lơng Đắc Bằng cho lịch sử dân tộc với t cách là mộtnhà “canh tân” đất nớc nửa đầu thế kỷ XVI Thông qua đó, chúng ta thấyrằng những đề nghị “canh tân” của ông nếu đợc thực hiện có thể đa đất nớc
Trang 8thoát khỏi sự khủng hoảng, suy vi; đồng thời những nội dung của “Trị bìnhthập tứ sách” ngày nay vẫn có thể áp dụng trong công cuộc đổi mới nên nómang tính thời sự sâu sắc.
5.3 Qua luận văn, độc giả sẽ đợc cung cấp những t liệu quý về lịch sử
địa phơng Hoằng Hóa - một trong những vùng đất có bề dày lịch sử, văn hóacủa xứ Thanh địa linh nhân kiệt, về dòng họ Lơng có truyền thống khoa bảng ởlàng Hội Triều Luận văn sẽ góp phần làm phong phú thêm bộ sử của địa ph-
ơng, trở thành nguồn t liệu quý để đi sâu tìm hiểu về một nhân vật lịch sử, mộtdanh nhân văn hóa của Việt Nam cuối thế kỷ XV nửa đầu thế kỷ XVI
5.4 Từ luận văn, bản thân tác giả nói riêng, những nhà làm giáo dụcnói chung rút ra những bài học quý báu trong sự nghiệp giáo dục, đào tạonhân tài cho đất nớc, góp phần vào quá trình thực hiện “chiến lợc con ngời”
ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa, và kêu gọi trí thức,các nhà khoa học Việt Nam, trong đó có con cháu dòng tộc họ Lơng hớng vềxây dựng quê hơng, đất nớc
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nộidung chính của luận văn chia làm 3 chơng:
Chơng 1 Quê hơng và gia đình Lơng Đắc Bằng
Chơng 2 Lơng Đắc Bằng với con đờng quan lộ và sự nghiệp giáo dục Chơng 3 Lơng Đắc Bằng dâng Trị bình thập tứ sách“ ”
Trang 9Diện tích tự nhiên là 22.208ha, trong đó đất nông nghiệp là 12.973ha,
đất lâm nghiệp là 389ha, đất chuyên dùng là 3.910ha còn lại là đất khác.Tính đến ngày 31/12/1999, dân số Hoằng Hóa là 251.016 ngời Mật độ dân
c là 1.120 ngời/km2 Địa hình của Hoằng Hóa, trừ phía Đông là biển còn ba
bề đều có sông Mã bao bọc, ta nghĩ ngay đây là một vùng châu thổ đợc bồi
đắp bởi sự bào mòn của miền đất cũ, của hiện tợng biển lùi và của sự lắng
đọng phù sa sông Mã, sông Chu
Nhìn chung ta có thể chia mảnh đất Hoằng Hóa thành 2 vùng:
- Vùng ven biển, đợc hình thành bởi dòng hải lu xuôi ngợc dọc bờ biển,bởi các đợt sóng nhào, bởi phù sa sông Mã, sông Hồng Đợc các dải cồn cátche chở và sự phát triển của các dải cồn cát đã tạo nên cánh đồng ven biển và
bờ biển Hoằng Hóa đã ổn định từ lâu Cồn cát phát triển đến đâu, dân c đếnsinh sống lập làng đến đó, nên giờ đây ta còn bắt gặp các tên làng nh CồnTiền, Cồn Tán, Cồn Hậu, Cồn Định ở Hoằng Tiến, Hoằng Hải, v.v…
Bờ biển Hoằng Hóa kéo dài từ cửa Lạch Trờng (cửa sông Mã cũ) đếnLạch Trào (cửa sông Mã hiện tại) dài 12 km Các xã ven biển gồm 8 xã thuộctổng Ngọc Chuế cũ Đây là một giải đất cát, rộng hẹp không đều, độ màu mỡcũng không đều Đi dọc từ Bắc chí Nam ta nhận ra ngay dấu vết của một sựhỗn hợp những dải cồn cát lợn sóng Giữa các dải cồn cát lợn sóng là những dải
đất trũng hẹp hơn, thấp hơn dải cồn cát có nơi độ một vài tấc là ruộng nớc ở
Trang 10ngay mép biển là một dải cồn cát có cồn cao tới 4-5m làm thành một hàng ràochạy dài từ Lạch Trờng đến Lạch Trào, ngăn cách với các dải đất trũng.
Vùng đồng bằng, bao gồm hầu hết các xã còn lại của Hoằng Hóa Từ xãHoằng Thắng, chúng ta nhìn những dải cát từ Hoằng lộc kéo dài xuống phía Bắcsông Lạch Trờng Đó là những gợn dải cát nh gợn sóng, song vì nó đợc hình thành
từ lâu, nên ở độ cao 3 - 5m đã đợc bào mòn làm mờ đi nên chỉ còn đợc nhận rõqua việc sắp xếp các làng mạc Dải cát rộng này gặp sự đổi dòng của sông Mã,không có dòng nớc ngọt chảy qua nên có nơi vẫn giữ đợc độ cao 2 - 3m Giờ đây
là vùng đồng bằng màu mỡ, là vựa lúa của huyện Hoằng Hóa
Là một huyện đồng bằng ven biển địa hình nhìn chung là bằng phẳng,không có những ngọn núi cao nhng Hoằng Hóa cũng có những ngọn núi vàdãy núi nổi tiếng
- Núi Kim Trà còn có tên là núi Nghĩa Trang hay Sơn Trang Núi bắt đầu
từ làng Kim Trà, nay là Trà Mỹ và Trà La thuộc xã Hoằng Khánh Núi có nhiều
ngọn trùng điệp, ngọn cao nhất là 272m Sách đại Nam nhất thống Chí chép:
“lái buôn đi thuyền biển nói: ái Châu (Thanh Hóa) các núi liền biển, duy cónúi Kim Trà là cao, đờng biển trông vào đấy để làm tiêu chí” [41, 221]
- Núi Linh Trờng, còn có tên là núi Kim Chuế, núi Trờng Lệ, dân địaphơng gọi là núi Lạch Trờng hay núi Hà Rò Núi nằm ở phía Đông Bắchuyện, ngay bên hữu ngạn sông Lạch Trờng, ở địa phận các xã Hoằng Yến,Hoằng Hải, Hoằng Trờng, bảy ngọn núi nối liền nhau, thân núi có mõm đá bò
ra mặt biển nh hình muốn xông ra biển cả sử cũ còn ghi rõ, “năm Hồng đứcthứ bảy (1476), Lê Thánh Tông đi tuần du đến đây, có làm bài thơ đề là “Cửabiển Linh Trờng” và bài tựa nói về sự kỳ vĩ của núi” [41, 21]
- Núi Băng Sơn, còn có tên là núi Mộc Sơn, nhân dân địa phơng gọi lànúi Bng Núi nằm ở địa phận làng Xuân Sơn, tổng Dơng Sơn Hai ngọn núinằm vọt lên ở giữa đồng bằng, cao không quá 100m Trong hai ngọn núi ấy,một ngọn hai đầu nhô cao mà quãng giữa lõm xuống bằng phẳng nên còn cótên là núi Mã Yên Nhân dân Hoằng Hóa đã vĩ đại hóa ngời con của quê h-
ơng là Lê Phụng Hiểu đời lý với sự tích “Thác đao điền”
- Núi Hỏa Châu còn gọi là núi Châu Phong, núi Ngọc, núi Con Nít ở
địa phận xã Hoằng Long Mạch núi từ ngọn núi Hàm Rồng ở huyện ĐôngSơn dẫn qua sông Mã mà nổi lên Đầu núi tròn, thân núi bám vào bờ sông,chân nhọn ngâm dới nớc nh hạt chân rồng nhỏ Trên núi trớc đây về phíaTây có đền Thần Đồng Dới núi mọc tách ra một khối đá, giống hệt hình ng-
Trang 11ời gọi là “đá Thần Đồng” Ngày nay không còn vì đã bị bọn Mỹ ném bomtàn phá Núi tuy nhỏ nhng đứng cạnh cầu hàm Rồng, lại soi bóng dới dòngsông Mã tạo nên một phong cảnh hùng vĩ Nói đến núi Ngọc hay núi ChâuPhong phải nói luôn đến núi Hàm Rồng bên Đông Sơn.
Dãy núi Hàm Rồng bắt đầu từ làng Dơng Xá (làng Giàng) chạy dàitheo bờ sông Mã, thân hình nhấp nhô nh săn đuổi, uốn lợn 99 khúc Đầu núihình rồng này nằm sát ngay bên bờ sông Mã Các cụ xa kể lại: “Một conrồng xanh bị trúng tên độc vào mắt nằm phủ phục bên bờ sông Mã Mắt phảicủa nó có một lỗ thông lên đỉnh núi, mùa ma nó chảy ra màu gạch cua, đó lànớc mắt rồng Mắt trái tròn, hàng lông mày lông mi là những gợn vân đá,màu xanh thẫm Bên dới có một lớp đá phình ra tựa nh mũi và hàm của rồng,nhân dân cho đó là rồng xanh há miệng nhả hòn ngọc quý sang bờ Bắc Hònngọc quý đó chính là núi Ngọc, núi Hỏa Châu” [21,32]
Huyền thoại về núi Rồng núi Ngọc nh vậy nên bao đời là ngọn nguồncắt nghĩa cho sự thăng hoa về đỗđạt, về khoa danh, về hoạn lộ của huyệnHoằng Hóa mà gần gũi là các làng Yên Vực, Phù Quang, Nguyệt Viên, VĩnhTrị, Bột Thợng, Hội Triều, Phợng Ngô, vv… đều giới Nhng trớc hết núi Ngọc, HàmRồng, sông Mã là một thắng cảnh vừa hùng tráng vừa trữ tình Thắng cảnh
ấy in đậm bao dấu tích lịch sử, bao kỳ tích của tiền nhân trong quá trìnhchinh phục tự nhiên và vật lộn với bao lực lợng hắc ám trong xã hội Bao sĩphu, bao tao nhân mặc khách đã làm thơ đề vịnh về núi Ngọc, Hàm Rồng,sông Mã nh Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Vơng Duy Trinh, Nguyễn ThợngHiền, Tản Đà, Cao Thị Ngọc Anh, v.v…
Trong những ngày chống Mỹ ác liệt, Hàm Rồng, núi Ngọc đã vangdanh khắp bốn bể năm châu Với những chiến công thần kỳ của quân dânHàm Rồng bắn tan nhiều “con ma”, “thần sấm”, “giặc nhà trời”, “pháo đàibay” của đế quốc hoa kỳ trong hai ngày mùng 3 và mùng 4/ 5/1965
Đi liền với núi là sông, ở Hoằng Hóa có những con sông nổi tiếng nhsông Mã, sông Ngu (Ngu Giang), sông Cung, sông Đằng, sông Trà, v.v…
- Sông Mã bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Quốc) khi chảy đến Ngã BaBông, địa đầu của Hoằng Hóa, sông phân làm hai ngã, một ngã chảy qua Lèn
đổ ra Lạch Sung thuộc huyện Hậu Lộc Ngã chảy qua Hoằng Hóa đến thônHữu Khánh, cách Ngã Ba Bông chừng 2km về phía Nam, gặp nớc sông CầuChày, tức sông Ngọc Chùy đổ vào, chảy qua độ 4km nữa, đến làng Hợp
Trang 12đông, thờng gọi là làng Đầu, lại gặp nớc sông Chu, tức sông Lơng, đổ vào TừNgã Ba đầu, hay còn gọi là Ngã Ba Chành, sông càng lớn rộng, chảy về phía
Đông qua các núi Trinh Sơn, Long Hạm, Hỏa Châu, qua các xã Hoằng Long,Hoằng Quang, Hoằng đại, Hoằng Trạch, Hoằng Tân, Hoằng Châu đổ ra cửaHội Triều mà tên địa phơng thờng gọi là cửa trào hay Lạch Trào (cửa Hới)
- Sông Ngu tên thờng gọi là sông Lạch Trờng, trớc đây là dòng chínhcủa sông Mã Sông Ngu bị tắc ngay ở Ngã Ba Tuần, cát và đất bồi đắp lấpdần Ngày nay chỉ còn là một cái lạch nhỏ chảy xuống Cầu Tào Xuyên, quacác xã Hoằng Lý, Hoằng Cát, Hoằng Xuyên ở tả ngạn, xuống đến Ngã Ba
Bộ Đầu, gặp nớc sông Trà Giang đổ vào rồi chảy ra cửa Lạch Trờng hay còngọi là cửa Y Bích Đời vua Trần Thuận Tông (1380 -1383), chiến thuyền củaquân chăm Pa bị thua ở cửa sông Ngu Giang, tức cửa Lạch Trờng ngày nay,
và Lê Quý Ly là ngời đánh thắng trận ấy
Hoằng Hóa nằm trong khu vực nhiệt đới, nhng lại ở ven biển, hàng nămnhận đợc ba luồng gió: gió mùa đông bắc, gió mùa tây nam và gió mùa đôngnam Cũng nh toàn Thanh Hóa, thời tiết và khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt Mùanóng (từ tháng 5 đến tháng 10), mùa này thời tiết nóng nực, nhiệt độ trung bình
là 280c, có khi lên đến 400c, song cũng có ngày chỉ 210c, thờng hay có giông tố.Mùa lạnh (từ tháng 11 năm trớc đến tháng 4 năm sau) Mùa này thời tiết khôlạnh, nhiệt độ xuống thấp, có ngày xuống tới 4 - 50c Mùa lạnh thờng có maphùn, ma nhỏ và ẩm ớt
Cũng nh toàn thể c dân Thanh Hóa, c dân Hoằng Hóa đã vất vả trongviệc chịu đựng và chế ngự khí hậu và thời tiết khá khắc nghiệt để sinh sống.Song, so với nhiều địa phơng khác ở trong tỉnh, về mặt thời tiết và khí hậu, cdân Hoằng Hóa cũng đợc thiên nhiên u đãi phần nào
Tóm lại, nhìn qua vị trí địa lí, địa hình địa thế, khí hậu, núi sông vàthắng cảnh ở Hoằng Hóa rõ ràng thiên nhiên không đến nỗi da diết bạc bẽo
đối với Hoằng Hóa mà ngợc lại còn có phần u ái đồng bằng Thanh Hóa(trong đó có Hoằng Hóa) đợc phù sa sông Mã, phù sa các dòng sông khác ởThanh Hóa, ở Bắc bộ và các đợt sóng nhào bồi đắp sau khi biển lùi Núi ởHoằng Hóa có hai núi lớn là núi Kim trà hay còn gọi là núi Sơn Trang vànúi Linh Trờng thì một ngọn núi ở góc tây Bắc án ngữ các đợt gió bắc vềmùa đông, một núi ở góc Đông Nam án ngữ xu hớng chuyển dịch về phíaNam của cửa Lạch Trờng, giữ thế ổn định lâu dài cho bờ biển Hoằng Hóa;
Trang 13các núi khác đều thấp và nhỏ, điểm xuyết cho cảnh trí Hoằng Hóa đã trùmật, chữ tình bởi có hai dòng sông lớn đi qua, thêm phần tráng lệ.
Đến nay cha xác định đợc vùng nào làng nào có c dân bản địa cổ xanhất ở Hoằng Hóa, nhng có một thực tế rằng, Hoằng Hóa rất gần di chỉ GòTrũng, thuộc nền văn hóa Đa Bút và di chỉ văn hóa Hoa Lộc (Hậu Lộc) Hai
di chỉ trên cách Hoằng Hóa không xa, khoảng 2 - 3km theo đờng chim bay.Phải chăng tại Hoằng Hóa cũng có c dân thời kỳ văn hóa Đa Bút và thời kỳvăn hóa Hoa Lộc?
“Điều chắc chắn là thời kỳ các vua Hùng trị vì, quốc gia Văn Lang đã
có c dân c trú tại địa bàn Hoằng Hóa Bởi vì có di chỉ văn hóa Qùy Chử” [21,64] C dân Qùy Chử sống ở vào khoảng thế kỷ X TCN (có thể họ là những cdân đầu tiên của Hoằng Hóa)
Ngoài các di chỉ thuộc giai đoạn Quỳ Chử, dấu tích của ngời Việt cổ ởHoằng Hóa còn đợc phát hiện ở nhiều nơi khác nh cụm di tích đôi bờ sôngDọc, cụm di chỉ xã Hoằng Lý, v.v…
Đến giai đoạn tiền văn hóa Đông Sơn (vào khoảng cuối thiên niên kỷthứ III TCN), Hoằng Hóa là nơi con cháu các vua Hùng sinh cơ lập nghiệp.Dấu vết ấy đã để lại trên đất Hoằng Hóa khá nhiều Kể từ đây Hoằng Hóamang đậm dấu ấn lịch sử, là nơi tụ c ngày càng đông đúc, là một trongnhững vùng quần c phát triển liên tục của xứ Thanh
Sau giai đoạn Qùy Chử, c dân Hoằng Hóa bắt đầu bớc vào giai đoạn pháttriển rực rỡ của văn hóa Đông Sơn Điểm đáng lu ý là “ở Hoằng Hóa từ khibắt đầu có con ngời đến c trú, c dân con cháu các vua Hùng đã kiên cờng bám
đất bám làng, phát triển rộng rãi địa bàn c trú ra xung quanh, theo năm tháng
đi dọc theo triền sông Mã lấn dần ra biển đông” [21, 169] Sự phát triển nàymột mặt cho thấy sự bức thiết của vấn đề tăng trởng dân số và quy mô làngmạc, mặt khác nó cũng ghi nhận về sức mạnh về nhiều mặt của những tập thể
c dân cổ Hoằng Hóa trong tiến trình khai phá và làm chủ đồng bằng Bởi vậy,
“ở Hoằng Hóa từ hậu kỳ thời đại đồng thau đến văn hóa Đông Sơn, con ngời
đã để lại dấu tích c trú dày đặc ở vùng hạ lu sông Mã và càng về sau ngờiHoằng Hóa càng lấn dần ra biển, sinh cơ lập nghiệp” [21, 169] Bằng chứng làcác di tích lịch sử thời Bắc thuộc, thời phong kiến đã bắt đầu xuất hiện vàngày càng phong phú ở vùng đất phía đông của huyện
Trang 14Tiếp theo thời văn hóa Văn Lang - Âu Lạc, cũng nh mọi miền đất nớc,Hoằng Hóa bớc vào một thời kỳ mới đầy gian nan và thử thách - thời kỳ đấutranh giành độc lập dân tộc (từ thế kỷ I đến thế kỷ X).
Trong suốt thời kỳ ngàn năm Bắc thuộc, nhân dân Hoằng Hóa khôngngừng vơn lên cùng với nhân dân Thanh Hóa và nhân dân cả nớc kiên trì đấutranh chống hành động xâm lợc và âm mu đồng Hóa của kẻ thù phơng Bắc,tạo nên một sắc thái riêng biệt cho địa phơng mình
Sách Tiền hán th viết từ nửa sau thế kỷ I cho biết, “vào thời Hán,
Hoằng Hóa là một bộ phận khăng khít của quận Cửu Chân” Các nhà sử họccũng đã xác định đợc, Hoằng Hóa thuộc địa bàn huyện T Phố, một trong bảyhuyện của Cửu Chân
Là huyện có cửa biển Lạch Trờng, cửa biển quan trọng bậc nhất tronggiao lu kinh tế, văn hóa của Thanh Hóa trong thời kỳ này Từ Lạch Trờng th-
ơng cảng này đã tiếp thu, đón nhận những thành tựu về mọi mặt ở trong nớccũng nh ở nớc ngoài Hàng hóa của Cửu Chân đã xuôi sông Mã, qua Lạch Tr-ờng để vào Nam ra bắc, tạo nên sự ổn định của c dân trong vùng Quá trìnhtiếp xúc tự nhiên thuờng xuyên, đặc biệt với ngời nớc ngoài (ngời Hoa, ngời
ấn… đều giới) đã tạo nên một nền văn hóa Lạch Trờng vào nửa đầu thời kỳ chống Bắcthuộc, chứng tỏ quá trình chống đồng hóa diễn ra tại nơi đây vô cùng gay gắt
Suốt thời kỳ chống Bắc thuộc, Hoằng Hóa không chỉ tỏ rõ vai trò và vịtrí quan trọng của một hậu phơng trong xây dựng, mà còn cả trong sự nghiệp
đấu tranh giành độc lập dân tộc Từ Hai Bà Trng phất cờ khởi nghĩa (40 - 41)
đến chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng của Ngô Quyền (938),góp sức khôi phục nền tự chủ, giành độc lập, chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc,Hoằng Hóa luôn góp sức ngời sức của vì sự nghiệp giải phóng đất nớc, vìvinh dự của giống nòi
Dới triều Lý, Thanh Hóa nói chung, Hoằng Hóa nói riêng đã có nhữngnhân tài có công lớn đối với triều đình, trớc hết phải kể đến Lê Phụng Hiểuvới sự tích ruộng “Thác đao điền”
Sang thời Trần (1226 - 1400), Hoằng Hóa là giáp Cổ Hoằng đổi thànhhuyện Cổ Đằng dới triều vua Trần Anh Tông (1293 - 1314) với trung tâm là Kẻ
Đằng, tức ba làng Đằng (Đằng Xá, Đằng Trung, Đằng Cao thuộc xã Hoằng
Đạo) Trong 30 năm (1258 - 1288) đã diễn ra ba cuộc kháng chiến chống quân
Trang 15Nguyên Mông Với hào khí Đông A vang dội, Hoằng Hóa đã cùng cả tỉnh, cả
n-ớc hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.Hoằng Hóa cũng đã trực tiếp góp một tớng tài, đó là ông Nguyễn Công Đàn,nhân dân thờng gọi là Ông Đàn, ngời xã Hành Vi Đánh giặc nhiều trận, lập đợcnhiều chiến công, ông Đàn đợc triều đình phong đến Phụ ký lang hầu đô tổngthống Khi chết ông đợc truy tặng làm Phúc thần
Không chỉ góp sức ngời sức của cho sự nghiệp chống giặc phong Bắc
và xây dựng quốc gia Đại Việt, Hoằng Hóa thời Trần còn có vai trò quan
trọng trong sự nghiệp bình Chiêm “Toàn th cho biết: “Tháng 3 năm 1360,
Chiêm thành lại cớp các nơi ở Thanh Hóa Thợng hoàng sai Lê Quý Ly chỉhuy quân thủy, Đỗ Tử Bình chỉ huy quân bộ đi chống giữ Đến Ngu Giang
đóng cọc ở giữa sông cầm cự với ngời Chiêm” Dới sự chỉ huy của Lê Quý
Ly, nhân dân Hoằng Hóa đã tham gia chiến đấu, làm công tác hậu cần, buộcchúa Chiêm là Chế Bồng Nga phải tháo chạy” [21, 192]
Đầu thế kỷ XV, nhà Hồ thay nhà Trần Cha đầy mời năm, nhà Hồ đãphải đối mặt với cuộc xâm lợc của quân Minh Trong cuộc chiến này, chacon Hồ Quý Ly đã thất bại Một lần nữa, nớc ta lại rơi vào tay của bọn thốngtrị phong kiến phơng Bắc
Dới sự lãnh đạo của Bình Định Vơng Lê Lợi, nghĩa quân Lam Sơn trảisuốt mời năm “nằm gai nếm mật” đã giành thắng lợi trong cuộc kháng chiếnchống Minh Trong đoàn quân Lam Sơn ngay từ những ngày đầu đã có không
ít những nghĩa sĩ vô danh là ngời Hoằng Hóa, tiếc rằng sử sách không có điềukiện ghi lại ngày nay chúng ta chỉ đợc biết những con ngời ấy qua giai thoại,chuyện kể, truyền thuyết trong dân gian Đó là bà Quốc Mẫu (xã Hoằng Anh)
đã mu trí cứu thoát Lê Lợi khi ông đang bị giặc Minh lùng bắt phải chạy dạttới tận sông Mã Khi nghiệp lớn đã thành, Lê Lợi thân đến ngàn vàng tìm bàlão và rớc về kinh đô tôn làm Quốc Mẫu
Trong những năm Lê - Mạc phân tranh, Hoằng Hóa có những ngờiphò Lê diệt Mạc Họ là cựu thần hoặc con cháu cựu thần của nhà Lê, đợc h-ởng nhiều bổng lộc của nhà Lê Trong thâm tâm họ, Lê là chính thống, làchính nghĩa, Mạc là ngụy tà, là phản nghịch, nên đã đem hết sức mình phù
Lê diệt Mạc Nổi lên trong họ là Lê Tuấn Kiệt ở Trung Hòa (Hoằng Tân),
L-ơng Hữu Khánh ở Hội Triều (Hoằng Phong), Lê Ngọc Xích ở Hạ Vũ (Hoằng
Trang 16Đạt),… Trong bấy nhiêu nhân vật, nét nổi bật của họ là lòng cô trung bấtkhuất, là tinh thần xả thân vì sự nghiệp nhà Lê.
Cuộc chiến Nam - Bắc triều cha kết thúc thì Trịnh - Nguyễn lại phântranh khiến cho đất nớc bị chia cắt, dân chúng lầm than, nông dân liên tiếpnổi dậy khởi nghĩa Những ngày nghĩa quân Tây Sơn đem quân ra bắc diệt họTrịnh, lấy đất Bắc Hà, đại phá quân Thanh, Hoằng Hóa không ít ngời đứng dới
cờ vua Quang Trung
Vơng triều Tây Sơn đợc thiết lập, chấm dứt tình trạng vua Lê - chúaTrịnh, Đàng trong - Đàng Ngoài, nhng tiếc rằng hoàng đế Quang Trung độtngột qua đời để lại bao tiếc nuối cho lịch sử dân tộc
Năm 1802, nhà Nguyễn Gia Long lên thay nhà Tây Sơn, lịch sử dântộc bớc sang một trang mới Dới triều Nguyễn, Hoằng Hóa đã có nhiều danh
sĩ nổi tiếng đem sức lực và trí tuệ của mình ra phục vụ cho sự nghiệp pháttriển của đất nớc Những con ngời u tú đó nh là Hà Duy Tiên (1791 - 1852)ngời làng Bột Thợng xã Hoằng Lộc đợc triều đình tin dùng cho giữ các chức
vụ cao trong triều nh thợng th bộ công, thợng th bộ hộ, đợc Tự Đức khen là
“bề tôi tài giỏi”, “có khí tiết trung thành”
Có đợc một quốc gia thống nhất với lãnh thổ rộng lớn từ Bắc vàoNam, nhng nhà Nguyễn đã không biết phát huy những thành quả đó để pháttriển đất nớc Ngợc lại, với đờng lối xây dựng và phát triển không phù hợp,Việt Nam dới thời Nguyễn đã ngày càng khủng hoảng, suy yếu Đây là điềukiện thuận lợi để thực dân phơng Tây nhòm ngó và xâm lợc
Năm 1858, thực dân Pháp bắn đại bác vào bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng)
mở đầu cho cuộc chiến tranh xâm lợc nớc ta Nhà Nguyễn đã từng bớc đầuhàng và cuối cùng ký với Pháp hiệp ớc Patơnốt (6/6/1884), đa nớc ta từ một n-
ớc độc lập, có chủ quyền chính thức trở thành thuộc địa của Pháp
Phong trào cần Vơng thất bại, ngời nông dân quay trở lại với côngviệc cày bừa, kẻ sĩ lại làm bạn với sách đèn Còn chăng là sự nuối tiếc nhữngngày trống mỏ cần Vơng rầm rậy
Nhng rồi vào những năm đầu thế kỷ XX, một luồng gió t tởng mới đãthổi vào đất Hoằng Hóa, “tân th” đợc truyền tay sĩ phu nọ đến sĩ phu kia Nhữngcâu thơ sấm dậy của Phan Bội Châu từ Nghệ An cũng lan tới Trí thức HoằngHóa liền “bốc men’’ trên ngọn lửa căm thù giặc Cùng với cả nớc, trí thức
Trang 17Hoằng Hóa tích cực hoạt động để khôi phục nớc Việt Nam Họ hăm hởtuyên truyền t tởng duy tân.
Trong xu hớng tiến tới những t tởng cách mạng mới, trên bớc đờng đitìm ngọn cờ giải phóng dân tộc, Lê Mạnh Trinh (ngời xã Hoằng Lộc) đã gặp
và tham gia một tổ chức cách mạng mới (Hội Việt Nam cách mạng thanhniên) do Nguyễn ái Quốc sáng lập Tháng 10/ 1926, Lê Mạnh Trinh đợctham gia học lớp chính trị “Đờng cách mệnh” do Nguyễn ái Quốc tổ chức ởQuảng Châu Lê Mạnh Trinh đợc coi là ngời con Hoằng Hóa đầu tiên đi theocon đờng cứu nớc do Nguyễn ái Quốc lựa chọn
Tháng 9/1930, chi bộ Đảng Cộng sản ở Hoằng Hóa đợc thành lập tạilàng Cự Đà (Hoằng Minh) Đây là chi bộ cộng sản đầu tiên ở Hoằng Hóa Sựkiện này đánh dấu bớc ngoặt về tổ chức phong trào cách mạng ở Hoằng Hóa
Cùng với nhân dân cả nớc cả tỉnh, những năm trớc và trong chiếntranh thế giới thứ hai nhân dân Hoằng Hóa liên tiếp nổi dậy đánh Pháp đuổiNhật Trong phong trào đấu tranh đòi dân chủ dân sinh (1936 - 1939), nhândân Hoằng Hóa đã có những hình thức đấu tranh phong phú, đặc biệt là cácphong trào đấu tranh của nông dân Tháng 4/1937 nhân dân làng NguyệtViên đấu tranh chống Hội đồng Lý trởng tham nhũng Tháng 8/1937 nhândân làng Cự Đà bắt trói lí trởng… Nhân dân Hoằng Hóa đấu tranh chốnglại “dự án thuế mới”, chống bọn tay sai khủng bố cơ sở cách mạng
Dới sự chỉ đạo trực tiếp của tỉnh uỷ, tháng 6/1944, chi bộ Đảng Cộngsản Việt Nam huyện Hoằng Hóa đợc thành lập do đồng chí Nguyễn Chiếnlàm bí th Chi bộ đảng ra đời đáp ứng kịp thời sự phát triển của phong tràoViệt Minh, gấp rút chuẩn bị khởi nghĩa
Chiều ngày 22/7/1945, Ban cán sự Việt Minh huyện tổ chức mít tinhlớn ở cồn Ba Cây xã Hoằng Thắng, tuyên bố tội ác của chính quyền tay saibán nớc, biểu dơng tinh thần chiến đấu dũng cảm của tự vệ và quần chúngcách mạng Cuộc mít tinh nhanh chóng biến thành cuộc khởi nghĩa, kéothẳng về phủ lị, chiếm công sở, giải tán chính quyền cũ Đến 24/ 7 nhân dânHoằng Hóa đã giành đợc chính quyền ở phủ lị
Cách mạng tháng Tám thắng lợi ở Hoằng Hóa mà đỉnh cao là cuộc khởinghĩa ngày 24/7/1945 đã thể hiện tinh thần mu trí, dũng cảm, chủ động, sángtạo, táo bạo của lực lợc cách mạng ở huyện Thắng lợi đó không những tạo đàcho cuộc tổng khởi nghĩa trong toàn huyện mà còn là nguồn cổ vũ lớn lao
Trang 18phong trào cách mạng giành chính quyền ở các huyện, tiến tới tổng khởi nghĩagiành chính quyền về tay nhân dân trong toàn tỉnh Thanh Hóa
Nh vậy, qua chiều dài lịch sử, dù địa giới, tên gọi có đổi thay nhngHoằng Hóa vẫn là vùng đất nổi tiếng với núi cao, sông sâu, cửa biển rộng,phong cảnh kỳ vĩ, hữu tình, nơi đã sinh ra những ngời con u tú cho quê hơng
đất nớc Những nhân vật lịch sử, những danh nhân văn hóa lỗi lạc, chính họ
là những tấm gơng bồi đắp, điểm tô cho truyền thống văn hóa đẹp đẽ của địaphơng, trong đó đặc biệt nổi bật là truyền thống khoa bảng
1.1.1.2 Truyền thống khoa bảng
Hoằng Hóa là một địa phơng giàu truyền thống văn hóa, trớc hết đó làtruyền thống khoa bảng Từ xa xa, các địa phơng đã ca ngợi Hoằng Hóabằng những câu: “Thí Hoằng Hóa, kHóa Đông Sơn” hay “Cơm Nông Cống,cá Quảng Xơng, văn chơng Hoằng Hóa”
Ngời mở đầu cho nền khoa bảng ở Hoằng Hóa và cho cả ThanhHóa là Lu Diễm (có sách chép là Lu Bính), quê ở làng Vĩnh Trị, tổng TừMinh, nay là xã Hoằng Quang Ông đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhịdanh (tức Bảng nhãn), khoa thi Thái học sinh năm nhâm Thìn, niên hiệuKiến Trung thứ tám (1232), đời Trần Thái Tông ông “là ngời thôngminh, học giỏi, các sách chỉ cần lớt qua một lần là nhớ” [21, 245] Sách
Liệt huyện đăng khoa bị khảo ghi ông đỗ lúc 22 tuổi, làm quan đến chức
Đông các đại học sĩ
Bảy năm sau, anh ông là Lu Miễn lại đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ khoa thiThái học sinh (tức nh trạng nguyên) năm Kỷ Hợi (1239), đời Trần TháiTông (khoa thi này không lấy đỗ trạng nguyên) Ông làm quan đến chức Tmã, An phủ sứ lộ Thanh Hoa, tớc Minh tự, rất có công trong việc đắp đê ởThanh Hóa Đê sông Mã, đê sông Lờng là do ông chỉ huy đắp
Một gia đình, một làng trong thời gian 7 năm hai anh em đỗ cao Tiếngthơm lừng lẫy cả huyện Hoằng Hóa và lộ Thanh Hoa Từ đó cho đến hết đời
Lê, Hoằng Hóa có 37 ngời đỗ đại khoa - tức Tiến sĩ trở lên Con số đó không
phải là ít, nếu theo Liệt huyện đăng khoa bị khảo của Phan Huy Ôn, ta biết cả
Thanh Hóa, từ khi nhà Lý mở khoa thi đầu tiên cho đến hết đời Lê (1789), chỉ
có 187 ngời đỗ đại khoa, và toàn cõi Việt Nam là 2338 ngời
Đời Nguyễn, theo quốc triều hơng khoa lục của Cao Xuân Dục, có 38
khoa thi, Hoằng Hóa 11 ngời đỗ Tiến sĩ và phó bảng trong số 558 ngời toàn
Trang 19quốc thi đậu Nh vậy, trong nền khoa cử Việt Nam dới thời phong kiến HoằngHóa có 48 ngời đỗ đại khoa trong tổng số 204 ngời của cả tỉnh Thanh Hóa.
Về đỗ hơng cống hoặc cử nhân, cha có sách nào kê cứu đầy đủ Riêng
từ năm 1702 đến 1783, có 27 khoa thi, trờng thi Thanh Hóa gồm cả tỉnhNinh Bình, lấy đỗ 1030 ngời thì Hoằng Hóa đã có 294 ngời, chiếm gần 1/3
Có nhiều khoa thi số thí sinh Hoằng Hóa đậu cử nhân rất cao
Khoa nhâm Ngọ (1702), lấy đỗ 43 ngời, Hoằng Hóa trúng 13
Khoa tân Mão (1711) lấy đỗ 12 ngời, Hoằng Hóa trúng 9
Khoa Bính Ngọ (1714) lấy đỗ 9 ngời, Hoằng Hóa trúng 6
Khoa Canh tý (1720) lấy đỗ 60 ngời, Hoằng Hóa trúng 12
Khoa Kỷ Dậu (1729) lấy đỗ 60 ngời, Hoằng Hóa trúng 19
Khoa Nhâm Tí (1732) lấy đỗ 27 ngời, Hoằng Hóa trúng 10
Khoa ất Mão (1735) lấy đỗ 60 ngời, Hoằng Hóa trúng 18
Sang thời Nguyễn, theo Quốc triều hơng khoa lục của Cao Xuân Dục, kể từ
khoa thi đầu tiên năm Đinh Mão niên hiệu Gia Long thứ sáu (1807) cho đến khoaMậu Ngọ năm Khải Định thứ ba (1918), toàn quốc có 7 trờng thi, gồm 47 khoa thihơng, số ngời lấy trúng cử nhân là 5226 ngời, Hoằng Hóa trúng 154 trong số 441ngời của cả tỉnh Thanh Hóa, chiếm hơn 1/3
Một khoa thi tại một trờng thi, sĩ tử Hoằng Hóa trúng 1/3, 1/2 số ngời
đỗ cử nhân là chuyện bình thờng
- Ân khoa Mậu Thân (1848) trờng thi Thanh Hóa lấy đỗ 16 ngời,Hoằng Hóa trúng 9
- Khoa Nhâm Ngọ (1882) lấy đỗ 14, Hoằng Hóa trúng 7
- Khoa Giáp Ngọ (1884) lấy đỗ 14, Hoằng Hóa trúng 7
- Khoa canh Ngọ (1870) lấy đỗ 15, Hoằng Hóa trúng 7
- Khoa Kỷ Dậu (1909) lấy đỗ 14, Hoằng Hóa trúng 7
Thi hơng có nhiều gia đình anh em ruột thi đỗ cử nhân cùng khoa nh
Vũ Duy Đoàn và Vũ Duy Hoàn ở Cự Đà (Hoàng Minh), Lu Chất và Lu Đề ởVĩnh Trị (Hoằng Quang) đỗ khoa Quý Mão (1723), Nguyễn Bá Khải vàNguyễn Trọng Hoành ở Bột Thái (Hoằng lộc) đỗ khoa ất Mão (1735), LêThì Trúc và Lê Thì Trứ ở Dơng Sơn (Hoằng Sơn) đỗ khoa ất Dậu (1765) đời
Lê Hiển Tông, v.v… đó cũng là cha kể đời Nguyễn
Anh em hay cha con đỗ cử nhân thì nhiều gia đình, nhng đỗ cùngkhoa thì đó là điều rất hiếm Còn đỗ đại khoa nh trên đã nói hai anh em Lu
Trang 20Miễn và Lu Diễm, em khoa trớc (1232) anh khoa sau (1239) đời Trần Dòng
họ Lu này, các đời sau vẫn nhiều ngời đỗ đạt, nổi tiếng là “kế thế đăngkhoa” Đời Lê khoa Tân sửu, năm Hồng Đức thứ mời hai (1481), HoằngHóa có hai ngời đỗ tiến sĩ cùng khoa, đó là Nguyễn Nhân Lễ ở Bột Thợng(Hoằng Lộc) và Lê Duy Hàn ở Bái Cầu (Hoằng Tân) Tiếp đó, vài ba khoanữa, khoa Nhâm Tuất niên hiệu Cảnh Thống thứ năm (1502), Hoằng Hóa lại
có hai ngời cùng đỗ tiến sĩ, đó là Trơng Đức Quang ở Ngọc Quyết (HoằngYến) và Lê Nhân Tế ở Đại Nhuệ (Hoằng Thắng) Khoa Kỷ Sửu (1589) HoằngHóa cũng có hai ngời đỗ tiến sĩ cùng khoa, đó là Lê nhữ Bật ở Vĩnh Trị(Hoằng Quang) và Lơng Khiêm Hanh ở Hội Triều (Hoằng Phong) ĐờiNguyễn, khoa Kỷ Mùi - khoa thi Hội cuối cùng, Hoằng Hóa lại cũng có haingời đỗ đại khoa Đó là Nguyễn Phong Di ở Nguyệt Viên đỗ đình nguyên và
Lê Viết Tạo cũng ở Nguyệt Viên đỗ phó bảng
Đi vào nhiều làng xã ở Hoằng Hóa, chúng ta còn đợc nghe bà con kể vềkhá nhiều những ông mền, ông kép, ông tú, hoặc ông đầu xứ, đầu phủ, đầuhuyện, rồi các ông trúng tam trờng, nhị trờng cùng bao anh khóa, anh nho…học giỏi chí cao, u thời mẫn thế, làu thông kinh sử, vác lều chõng đi thi nhiềukhoa nhng vẫn không đậu, hoặc có đỗ thì chỉ đợc xếp vào hạng tú tài ấy là cha
kể bao ngời thông thái, không chịu đi thi vì chán ghét chế độ khoa cử quan ờng nh Cả Triệu (Lê Bặt Triệu) ở Hoằng Phong, Cả Bích ở Phợng Ngô (HoằngLu),v.v …
tr-những cái rốn khoa bảng ở Hoằng Hóa là Bột Thợng, Bột Thái (HoằngLộc); Nguyệt Viên, Vĩnh Trị, Phù Quang (Hoằng Quang); Qùy Chử, ĐôngKhê (Hoằng Qùy); Hội Triều (Hoằng Phong); Cát Xuyên (Hoằng Cát); rồi Ph-ợng Đình, Cự Đà, Từ Quang, Phợng Trì, Đại Trung, Kim Cầu, Bái Cầu, DơngSơn, Trì Trọng, …Ví nh Nguyệt Viên có 11 ngời đỗ đại khoa nhng dânNguyệt Viên lại nói:
“Nguyệt Viên mời tám ông nghè Ông cỡi ngựa tía ông che tán vàng”
Đỗ đại khoa nhiều nhất là các làng sau: Nguyệt Viên (11 ngời), VĩnhTrị (7 ngời), Bột Thái (7 ngời), Bột Thợng (5 ngời), Phù Quang (3 ngời), HộiTriều (2 ngời)
Trang 21Trên là nói về những làng có ngời đỗ đại khoa (tiến sĩ và phó bảng)còn đỗ cử nhân tại các làng, nhiều gia đình cha con, ông cháu, anh em cùngthi đậu, cha kể đời Lê, chỉ kể đời Nguyễn:
- Gia đình họ Nhữ ở Cát Thôn (Hoằng Cát) anh em, cha con, ôngcháu, chú cháu cùng thi đậu: anh, Nhữ Đình An đỗ khoa Kỷ Mão (1819),
em, Nhữ Bá Sĩ đỗ khoa Tân Tỵ (1821), con Nhữ Bá Sĩ là Nhữ Dĩ Huyên đỗkhoa ất Mão (1855), con thứ là Nhữ Trí thuật đỗ khoa Canh Ngọ (1870);cháu Nhữ Bá Sĩ, con Nhữ Dĩ Huyên là Nhữ Duy Cơ đỗ khoa Giáp Ngọ(1894) Nh vậy gia đình họ Nhữ kế thế đăng khoa
- Gia đình họ Nguyễn ở Phợng Đình (Hoằng Anh), anh em, cha con đềuthi đậu Anh, Nguyễn Đình Văn đỗ phó bảng khoa thi năm 1892, em NguyễnHữu Đan đỗ khoa Quý Mão (1903), cháu Nguyễn Bình Ngân (gọi Nguyễn Hữu
Đan là chú) đỗ khoa Nhâm Tý (1912)
Ngoài ra còn rất nhiều gia đình nh gia đình họ Đặng ở thôn Cát Mao(Hoằng Cát), gia đình họ Nguyễn ở Bột Hng (Hoằng Lộc), gia đình họ Lê ởThọ Vực (Hoằng Đức), gia đình họ Nguyễn Huy ở Yên Vực (Hoằng Long), gia
đình họ Vũ ở Hà Dơng (Hoằng Đạt), gia đình họ Nguyễn Hữu ở Phùng Dực(Hoằng Đức),v.v…
Riêng Hoằng Lộc, theo thống kê cha đầy đủ, số ngời đỗ tiến sĩ trớc
và sau là 12, số ngời đỗ hơng cống, hơng tiến, giám sinh Quốc Tử Giám, nhosinh là 149 trong đời Lê, đời Nguyễn (1802 - 1919) có 37 ngời đỗ cử nhân
ái mà sánh hàng chung cả nớc
Đất này, văn từ này đã làm vẻ vang, đặc biệt cho xa xa và mai sau, đã
có ngời sáng lập ắt có ngời kế tiếp để cho văn phong ngày thêm rạng rỡ, ấycũng do tinh thần các vị tiền bối và khí thiêng đúc kết từ xa để lại cho đếnhôm nay và muôn đời mai sau”
Trang 22Hoằng Hóa nổi tiếng không phải chỉ vì nhiều ngời đỗ đạt Có 48 ngời đỗ
đại khoa trong bảy tám trăm năm thi cử dới các triều đại phong kiến Việt Nam,
so với một số huyện khác trong toàn quốc nhất là các huyện thuộc Kinh Bắc(tỉnh Bắc), Sơn Nam (tỉnh Nam), Hải Hng (tỉnh Đông), Hà Tây (tỉnh Đoài), cha
đợc xếp vào hạng nhiều nhất Hiếu học, cần học, thông minh, trí tuệ, trongsáng, có nghĩa khí, trọng sang, không sợ kẻ có quyền thế, đào tạo đợc nhữngngời thành danh… đó là tính cách của sĩ phu, của trí thức Hoằng Hóa và cũng
là tính cách của sĩ phu của trí thức Châu ái, Châu Hoan nói chung Truyềnthống khoa bảng của cha ông trong lịch sử luôn đợc các thế hệ ngời dân HoằngHóa gìn giữ và phát huy
Tóm lại, qua những nét chung về địa lí, lịch sử, văn hóa của HoằngHóa có thể rút ra một số điểm sau:
- Trong buổi đầu dựng nớc, địa bàn của nền văn minh Văn Lang - ÂuLạc là vùng Phú Thọ, sau đó phát triển xuống đồng bằng Bắc bộ Đến thế kỷ
XI, quốc gia độc lập tự chủ Đại Việt bắt đầu phát triển kéo theo sự phát triểncủa vùng Thanh - Nghệ (trong đó có Hoằng Hóa) Từ thế kỷ XVI trở về sau,mặc dù chế độ phong kiến có nhiều biểu hiện khủng hoảng, nhng phải thừanhận rằng nền giáo dục khoa cử nói riêng, nền văn hóa nói chung vẫn có bớcphát triển và đạt nhiều thành tựu rực rỡ Trong những bớc thăng trầm đó củalịch sử dân tộc, những con ngời của Hoằng Hóa tuy còn nghèo khó, chật vậtvới cuộc sống thờng ngày nhng vẫn vơn lên đạt kết quả xuất sắc làm rạngdanh cho quê hơng
- Phù hợp với đặc điểm địa lí, lịch sử ngời dân Hoằng Hóa không chỉ anhdũng bất khuất chống giặc ngoại xâm mà còn cần cù chịu khó trong lao động,học tập Vùng đất và con ngời nơi đây đã sản sinh và bồi đắp những truyền thốngvăn hóa tốt đẹp, trong đó nổi bật là truyền thống khoa bảng
Trong cái nôi chung của vùng đất Hoằng Hóa, xã Hoằng Phong, trong
đó có làng Hội Triều nổi bật là vùng đất hiếu học, nơi sinh ra những ngờicon u tú mà đức độ và tài năng của họ mãi là niềm tự hào của gia đình, dòng
họ và quê hơng
1.1.2 Vài nét về làng Hội Triều
1.1.2.1 Về địa lí - lịch sử
Trang 23Tác giả của “Hoằng Hóa phong vật” khi giới thiệu về làng Hội Triều đã
phải thốt lên: “Nhất thốn sơn hà nhất thốn kim” (mỗi tấc non sông một tấc vàng)
Làng Hội Triều nằm ở phía Đông Bắc xã Hoằng Phong, phía ĐôngNam huyện Hoằng Hóa (cách thị trấn Bút Sơn khoảng 8km) Từ thành phốThanh Hóa đi xuống phía Đông khoảng 13 - 15km thì đến địa phận làng HộiTriều Trên bản đồ địa hình, “làng Hội Triều có tọa độ 19o49’ vĩ độ Bắc,
105o53’ kinh độ Đông, thuộc về phần đất phía Đông quốc lộ 1A chạy quahuyện Hoằng Hóa, nơi bờ Bắc sông Mã gần với Lạch Trào [57, 5]
Làng ở vào thế đất đẹp, nơi đây có “song long đáo hải, lỡng phợngtrình tờng”, đây cũng là vùng đất đã sinh ra bao ngời hiển đạt thành danh,
làm vẻ vang cho huyện Hoằng Hóa Cũng trong cuốn “Hoằng Hóa phong vật”, tác giả viết, từ xa xa đã có câu:
“Hoằng Hóa diệu tham thiên chi bánHội Triều lu vạn cổ chi phơng”
Tạm dịch là: Đất Hội Triều lu hơng thơm muôn thuở, huyện HoằngHóa nổi tiếng giỏi nửa trời
Địa phận làng trải dài trên 1,5 km theo hớng Bắc - Nam, từ giáp làng PhợngNgô (xã Hoằng Lu) ở phía Bắc đến giáp làng Hải Long (xã Hoằng Phong) và đoạnsông Mã ở phía Nam Chiều rộng theo hớng Đông - Tây hơn 1km, từ sông Cung ởphía Đông đến các làng Phú Lễ, Phục Lễ (xã Hoằng Lu) và làng Thụy Liên (xãHoằng Phong) ở phía Tây Tổng diện tích của làng gần 2km2, bao gồm các loại đấtthổ c, nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ hải sản Làng bao gồm 3 xóm trên 4 trục đ-ờng theo hớng Đông - Tây, song song và cách đều nhau
Theo truyền thuyết và một số gia phả của các dòng họ lớn trong làngcho biết: “Vào cuối thời nhà Đinh, nơi đây là một giải đất trù phú, có rừngrậm và bãi sình lầy, chim thú kéo về tụ họp, lác đác trên các cồn cát vensông đã có vài ba c dân tụ c sinh sống bằng nghề chài lới, hoặc mò cua bắtcá, đánh bẫy chim két lập ra làng Nghê sau đó đổi ra làng Ngô, địa danhvùng đất Hội Triều ngày nay” [8, 31- 32]
Theo thần phả về Thần hoàng ở Nghè Ba Xã thuộc làng Hội Triềuchép rằng: “Vào đầu thời Lý có một vị tớng trẻ tuổi họ Võ (Vũ) tên là VõViết Thành quê ở Trang Hoàng Xá, huyện Đông Triều, phủ Kinh Môn, (HảiDơng) vâng mệnh nhà vua đi kinh lí vào giáp Cổ Đằng, trấn Thanh Hoa Ôngthấy ở đây đất đai màu mỡ, phong cảnh hữu tình, dân c thuần hậu, lại cósông biển liền kề là nơi yếu địa của đất nớc nên cho quân lập đồn trại ở Hữu
Trang 24Vĩnh Trang Sau khai khẩn lập thêm Phợng Lịch Trang và làng Trào Hải tênchữ là Triều Hải Trang (tức vùng đất Hội Triều ngày nay) Ngài đợc triều
đình phong là Phúc thần và cho lập đền thờ” [57, 4]
Theo tộc phả họ Lơng, năm 1328, ông tổ họ Lơng (Mộ đô phủ quân) đếnTriều Hải Trang lập nghiệp thì số dân ở đây đã tăng hơn trớc Vào cuối thời HậuTrần có ông Lơng Nhữ Hốt một lần qua cửa Lạch Trào nhận thấy địa thế, cảnhquan phong thuỷ nơi đây hết thảy tốt đẹp có thể phát triển lâu dài, ông lu lại xinlập ấp, chỉnh đốn lại khu dân c và đổi tên là xã Hội Triều
Văn bia làng Hội Triều cũng ghi: “Làng chúng tôi trớc tên là Triều HảiTrang Năm Hng Khánh nhà Hậu Trần (thế kỉ XV), cụ Lơng Nhữ Hốt (LãngLăng đại vơng) đến lập ấp tại đây mới gọi là xã Hội Triều” [11]
Về tên làng có truyền thuyết kể rằng, vùng quê này có truyền thống họcrộng tài cao, nhiều ngời đỗ đạt làm quan to trong triều đình, có một thời có tới
18 quận công Cứ sau mỗi dịp quan về quê nghỉ tết hoặc giỗ họ, tế thành hoàng,các quan lại ngựa xe tấp nập trở về triều nh trẩy hội Nhà vua trông thấy liềnhỏi các quần thần: Đám ngời đông đúc ngồi trên ngựa xe kia từ đâu tới? Quầnthần cho biết đó là các quan ở Triều Hải Trang sau khi về quê ăn tết nay trở vềtriều Vua bèn phán, họ đi nh hội vào triều vậy Nay đặt cho làng ấy cái tên là
“Hội Triều”
Có truyền thuyết khác lại kể, do số ngời làm quan trong triều nhiều,vào những ngày họ về quê hội làng, triều đình có việc đột xuất không thểgiải quyết đợc nên có lần vua và các quan phải về Triều Hải Trang để bànbạc với các quan và dự lễ hội với dân làng vui nh “Hội Triều”
Theo danh sĩ Lê Bặt Triệu trong “Hội Triều trớng ký” soạn năm 1838,thì “xã Hội Triều ta vốn là ấp cựu danh trong huyện Hoằng Hóa Núi ChâuLong một dải hiện ra, nớc Lờng Mã hai đờng hợp lại, sông hội giao từ phơngNam mà đến, thuỷ triều phát tự phía Đông mà lên Ngời xa lấy tên Hội Triều
là do địa thế ấy”
Trớc cách mạng tháng Tám năm 1945, làng Hội Triều gọi là xã HộiTriều thuộc tổng Bái Trạch
Sau ngày cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, đến tháng5/1946 làng Hội Triều thuộc xã Trào Âm
Từ năm 1947 - 1949, làng Hội Triều thuộc xã Hoằng Châu
Từ năm 1949 đến nay, làng Hội Triều thuộc xã Hoằng Phong
Trang 25Trớc năm1945, làng Hội Triều chia làm 7 xóm: xóm Đá, xóm Đình,xóm Chùa, xóm Nghè, xóm Quán, xóm Trung Hng, xóm Sau.
Vào cuối những năm 50 thế kỷ XX, tên gọi của 7 xóm thay đổi lạitheo thứ tự nh sau: xóm Đông Hải, xóm Bắc Sơn, xóm Cao Thắng, xóm DânHng, xóm Quang Trung, xóm Liên Sơn và xóm Trờng
Vào đầu những năm 60 của thế kỷ XX có phong trào học tập và làmtheo hợp tác xã nông nghiệp Đại Phong, làng đợc đổi tên là làng Đại Triềuthuộc hợp tác xã Đại Triều
Đầu năm 1981, xã Hoằng Phong chia hợp tác xã lớn ra thành 3 hợptác xã Làng Hội Triều đợc gọi là Hợp tác xã Đông Phong
Năm 1996, từ 3 hợp tác xã, xã Hoằng Phong tiến hành hợp nhất thànhmột hợp tác xã, làng Hội Triều đợc chia thành 3 thôn: Bắc Hải, Trung Triều,Liên Sơn (tồn tại cho đến hiện nay)
Năm 2000 tiến hành xây dựng nhà văn hóa của làng, cũng nhân dịpkhai trơng nhà văn hóa, nhân dân trong làng thống nhất lấy lại tên cũ củalàng là làng Hội Triều
Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế trong từng giai đoạn lịch sử, têngọi làng xóm nhiều lần thay đổi, song những tên gọi lâu đời nh xóm Đá,xóm Chùa, xóm Đình, xóm Nghè… vẫn đợc nhân dân a dùng Bởi vì, “Mỗitên gọi đều mang dấu ấn lịch sử văn hóa hoặc danh nhân thể hiện tính bản
địa bền vững hay một truyền thuyết sinh động về sự hình thành làng quêbuổi sơ khai Nó nh gợi lên cái hồn của làng một thuở xa xa” [8, 35]
1.1.2.2 Truyền thống giáo dục
Không phải ngẫu nhiên mà làng Hội Triều xa kia đợc xếp vào hàng
“cái rốn khao bảng của đất học Hoằng Hóa” Suốt thời phong kiến đã cóhàng chục ngời thi đỗ tú tài, cử nhân, tiến sĩ Nhng trớc hết phải nói đến việcgiáo dục đạo đức cho con cái trong gia đình Đây đợc coi là việc làm cầnthiết hình thành nhân cách con ngời Do vậy, ý thức “dạy con từ thuở cònthơ” là một trong những bài học sâu sắc về việc dạy con trong mỗi gia đình ởlàng Hội Triều
Thông qua những tri thức và kinh nghiệm dân gian, những câu truyện
cổ tích, truyện ngụ ngôn, tuyện lịch sử, những tấm gơng về danh nhân, giáodục con trẻ phải có lòng nhân ái, lễ độ biết kính trên nhờng dới, biết làmrạng danh cho gia đình, dòng tộc, quê hơng Đó là một trong những truyền
Trang 26thống giáo dục tốt đẹp còn lu giữ hàng ngàn năm nay trong các gia đình,dòng họ ở làng Hội Triều.
Cùng với việc giáo dục đạo đức là việc cho con đi học chữ Ngời Hộitriều xa nay luôn nhận thức đợc sự cần học và luôn quan tâm đến sự học Phảinói nền nho học mà nhà nớc phong kiến duy trì hàng mấy trăm năm đã ăn sâuvào đời sống văn hóa làng xã Ngay từ khi tóc còn để chỏm, các cậu bé đã đợccha mẹ cho theo học lớp “khai tâm” do các thầy đồ trong làng mở Vài ba chữthánh hiền đối với trẻ thời kỳ này mang ấn tợng sâu sắc, những nguyên tắc củanền tảng luân lí nho giáo trở thành nguyên tắc hớng dẫn họ trong cả cuộc đời.Thực tế số ngời đỗ đạt cao ở Hội Triều phần lớn đều do nho học
Có thể nói, làng Hội Triều là nơi sinh ra và nuôi d ỡng những ngờithầy, những ngời trò nổi tiếng Đó là cụ Giải nguyên Lơng Hay, xứng
đáng là nhà giáo u tú thế kỷ XV (thầy dạy của trạng nguyên Lơng ThếVinh), Bảng nhãn Lơng Đắc Bằng, Binh bộ thợng th Lơng Hữu Khánh,Tiến sĩ Lơng Khiêm Hanh, Tổng mã tớng quân Trơng Phúc Nghị, saunày là cụ Tú Luyện cũng là một thầy giáo làng có uy tín, đ ợc đông đảo sĩ
tử trong huyện mến mộ
Sau khi kết thúc chế độ khoa cử nho học ở Việt Nam, vua Khải Định rachỉ dụ bãi bỏ các trờng chữ Hán, nền giáo dục Việt Nam chuyển sang dạy chữQuốc ngữ Cũng nh trên toàn quốc, việc học hành thi cử của con em trong lànghầu nh không đợc đáp ứng là do chính sách ngu dân của thực dân Pháp
Năm 1920, ở Hoằng Hóa cũng đợc mở một trờng dạy chữ Quốc ngữ,chữ Pháp (gọi là trờng Pháp - Việt) với mục đích đào tạo một số ngời làmcông chức, làm tay sai để khoe khoang sự “khai Hóa văn minh” của mẫuquốc Con em ở các trờng làng hầu nh không đủ điều kiện theo học Trớctình hình đó, năm 1922, với lơng tâm và trách nhiệm của một ngời con đốivới quê hơng, cụ Lơng Tái Tạo (hậu duệ của quan bảng nhãn Lơng ĐắcBằng) đã mạnh dạn vay tiền của địa ốc ngân hàng đầu t xây dựng hai trờnghọc tại chùa Hội Triều cũ Làng thuê thầy về dạy chữ Quốc ngữ cho học sinh
là con em trong làng và học sinh một số vùng lân cận Đây có thể coi là mộthoạt động giáo dục tiêu biểu những năm đầu thế kỷ XX của Hội Triều nóiriêng của Thanh Hóa nói chung
Vào khoảng năm 1924 - 1926, nhà nớc cho phép mở lại trờng làngHội Triều, giáo viên do nhà nớc bổ nhiệm đó là các thầy Lê Đức Mậu, Võ
Trang 27Việt Hồ, Nguyễn Thức Cung, Dơng Văn Thông, Nguyễn Tiến Năng Đây lànhững thầy giáo đợc giác ngộ cách mạng sớm, đợc bổ về địa phơng, ngoàiviệc dạy chữ cho học sinh, các thầy giáo còn có nhiệm vụ gây dựng cơ sởcách mạng trong vùng Tháng 3/ 1926, hàng trăm giáo viên và học sinh trờngtiểu học Pháp - Việt của huyện và trờng Hội Triều tổ chức lễ truy điệu nhàyêu nớc Phan Chu Trinh tại nhà thờ Lơng Đắc Bằng Bài văn tế do thầyNguyễn Thức Cung soạn đọc trong buổi lễ truy điệu đã khích lệ tinh thần
đấu tranh trong mọi tầng lớp nhân dân Thanh Hóa Đây là một trong những
điều kiện để làng Hội Triều là nơi thành lập tổ chức cách mạng sớm thứ batrong toàn huyện
Trong những năm trớc cánh mạng tháng Tám, đợc sự giúp đỡ củanhóm học sinh u tú ngời Liên Châu và sự vận động của cụ Lơng Tái Tạo,phong trào dạy và học chữ Quốc ngữ trong làng diễn ra sôi nổi, hình thànhcác nhóm đọc sách báo cách mạng, Hội truyền bá Quốc ngữ, Hội t ơng tế
ái hữu…
Sau cách mạng tháng Tám, phong trào bình dân học vụ diễn ra rộngkhắp trong huyện, trong đó làng Hội Triều là một trong những làng đi đầucủa huyện Năm học 1947 - 1948, bậc học phổ thông bắt đầu hình thành Tạilàng Hội Triều có một trờng học cấp I do xã quản lý Đến năm 1949 có thêmmột trờng cấp II t thục
Từ năm 1956 đến năm 1975, làng Hội Triều đã có 36 ngời học ở cáctrờng Đại học trong nớc và nớc ngoài (Liên Xô, các nớc Đông Âu, Cu Ba),
đặc biệt trong số đó có PGS TS Lơng Ngọc Toản (nguyên là thứ trởng BộGiáo dục), ngời con đầu tiên của làng vào Đại học s phạm Hà Nội, đã cónhiều đóng góp quan trọng đối với sự phát triển của nghành giáo dục ViệtNam nói chung và của quê hơng Hội Triều nói riêng
Truyền thống hiếu học của quê hơng luôn đợc các thế hệ con em tronglàng phát huy Từ sau cách mạng Tháng Tám đến nay, lớp lớp con em HộiTriều nói riêng, Hoằng Phong nói chung say sa học tập và thành đạt
Tính đến nay, làng Hội Triều đã có hơn 200 ngời tốt nghiệp Đại học(hoặc tơng đơng), trong đó có 4 ngời có học vị Tiến sĩ, 6 ngời có học vị Thạc sĩ,trên 40 ngời làm thầy trong nghành giáo dục, một số công tác trong nghànhcông an, quân đội, y tế, ngân hàng, xây dựng, thuỷ lợi và một số nghành kỹthuật khác Ngoài ra con em trong làng có trình độ Cao đẳng, Trung cấp cũng
Trang 28chiếm tới hàng trăm ngời 100% con em của làng đến độ tuổi đi học đều đến ờng từ bậc mầm non đến bậc phổ thông Hàng năm số con em tốt nghiệp trunghọc cơ sở là 100%, tốt nghiệp trung học phổ thông là 98% Phong trào thi đua
tr-“hai tốt”, tr-“hai không” đợc phát huy mạnh mẽ trong giáo viên và học sinh, tiếptục tô thắm thêm truyền thống của vùng quê đất học
Suốt nhiều thế kỷ, “truyền thống cần cù vợt khó, hiếu học là mộttrong những đặc điểm nổi bật đáng quý của ngời Hội Triều họ luôn xứng
đáng và tự hào khi xng với ngời nơi khác rằng “tôi là con cháu cụ Bảng nhãnHội Triều” Đây là một trong những động lực quan trọng để làng Hội Triềutừng bớc thực hiện sự nghiệp công nghiệp Hóa hiện đại Hóa nông thôn” [8,125]
Trên quê hơng giàu truyền thống lịch sử - văn hóa đó, dòng họ Lơngcũng nh gia đình Lơng Đắc Bằng nổi lên nh một điểm sáng, góp phần làmrạng danh cho làng Hội Triều
1.2 Dòng họ và gia đình
1.2.1 Dòng họ Lơng và truyền thống dòng họ
Trong Gia phả họ Lơng ở làng Cao Hơng (Nam Định) và Gia phả họLơng ở làng Hội Triều (Thanh Hóa) đều có ghi câu:
“Bản chi bách thế tơng truyền Văn Phái Triết Giang lai”, nghĩa là:
T-ơng truyền từ nhiều đời trớc, chi họ ta đến từ văn phái Triết Giang
Trao đổi với ông trởng họ và các ông trởng chi, đối chiếu với Gia Phảdòng họ Lơng ở làng Hội Triều đợc kết quả là dòng họ Lơng có nguồn gốc
từ vùng Triết Giang (Trung Quốc), cụ thể nh sau:
Vào cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV, nhà Nguyên Mông Cổ diệt nhàTống và cai trị Trung Quốc Một số quan lại nhà Tống không chịu khuấtphục, bỏ chạy ra nớc ngoài Trong số đó có hai anh em nhà họ Lơng ở tỉnhTriết Giang chạy sang Việt Nam Ngời anh định c ở làng Cao Hơng, huyện
Vụ Bản (Nam Định), là tổ của Trạng nguyên Lơng Thế Vinh Ngời em chạyvào Thanh Hóa định c ở làng Ông Hòa, huyện Hoằng Hóa Đó là vào năm1311
Tính từ khi định c là cụ Mộ đô phủ quân - đức thuỷ tổ, cho đến nay(2008), dòng họ Lơng Hội Triều đã có lịch sử gần 700 năm, với 27 đời tính
đến đời anh Lơng Hữu Thao, là cháu ông trởng họ Lơng Hữu Thà
Trang 29Trong suốt lịch sử gần 700 năm, dòng họ Lơng là một trong nhữngdòng họ có công khai phá ra làng Hội Triều (Triều Hải Trang), để lại dấu ấn
đậm nét trong lịch sử hình thành và phát triển của làng ở Hội Triều, dòng
họ Lơng là một trong những dòng họ lớn, đặc biệt dòng họ này có nhiều
ng-ời đỗ đạt và làm quan trong thng-ời phong kiến, có thể kể ra đây một số nhânvật tiêu biểu:
1 - Ông thuỷ tổ Mộ đô phủ quân, sau khi chạy sang Việt Nam đợc nhàTrần thu dụng, làm quan tới chức Hàn lâm thị giảng, tớc phong tới Thái bảoVăn phái hầu
2 - Ông Lơng Đại Đồng, là con trai trởng của Mộ đô phủ quân Ônglàm quan dới thời vua Trần Minh Tông (1314 - 1329) và vua Trần Hiến Tông(1329 - 1341), chức Ngự sử đài kiêm hàn lâm thị độc, có công dẹp giặc NguHống vùng Đà Giang, và đi sứ Tàu
3 - Ông Lơng Thế Vĩnh (đời thứ 4), đỗ cử nhân, làm quan đầu đời LêSơ Ông là ngời có công cùng Thái Tổ hoàng đế Lê Lợi đi bình định vùngTây Bắc, và khéo léo bang giao với nhà Minh giải quyết ổn thỏa vấn đề tùbinh ông đợc nhà Lê phong là Đại tớng quân, tớc Văn phái hầu
4 - Ông Lơng Tiệm Giác (đời thứ 5) và ông Lơng Danh Luật (đời thứ6), đều đậu cử nhân và ra làm quan dới triều Lê Sơ
5 - Ông Lơng Hay (đời thứ 8), là cha của Lơng Đắc Bằng Ông đỗ đầu
kỳ thi Hơng (nên còn đợc gọi là cụ Giải nguyên), nhng không tiếp tục tham
dự kỳ thi Hội, và cũng không ra làm quan Ông là thầy dạy của trạngnguyên Lơng Thế Vinh
6 - Ông Lơng Đắc Bằng (đời thứ 9), là ngời đỗ đầu kỳ thi Hơng và thiHội, thi Đình đậu Bảng nhãn, làm quan đến chức Lại bộ thợng th
7 - Ông Lơng Hữu Khánh (đời thứ 10), là con duy nhất của quan Bảngnhãn Là ngời có công lớn giúp nhà Lê Trung Hng Với tài năng về quân sự,
ông đợc giữ chức Thợng th bộ binh, kiêm tổng tài sử quán, tớc Đạt quậncông
8 - ông Lơng Khiêm Hanh (đời thứ 11), là con Lơng Hữu Khánh,cháu nội Lơng Đắc Bằng Ông đỗ tiến sĩ khoa Kỷ Sửu (1589) đời Lê ThếTông, giữ chức Lễ khoa cấp sự trung
9 - Ông Lơng Thế Nho (đời thứ 13), thi Hơng đậu cử nhân, làm quan ở
bộ Lại, tớc phong Hơng liễn hầu
Trang 3010 - Hậu duệ đời thứ 23 của dòng họ Lơng là Lơng Tái Tạo đợc xem lànhà “canh tân” đầu thế kỷ XX, từng học chế nho, về sau ông chuyển sang họcchữ Quốc ngữ và Pháp ngữ Năm 1917, ông giữ chức phó tổng Bái Trạch Ông
là ngời có nhiều đóng góp tích cực vào việc xây dựng và phát triển làng xã trênnhiều phơng diện (kinh tế, y tế, giáo dục… đều giới)
Không chỉ bó hẹp trong làng Hội Triều mà theo dòng thời gian họ
L-ơng Hội Triều đã phát triển ra một số chi ở các nơi khác, tại các tỉnh VânNam (Trung Quốc), Thái Bình, Nghệ An… đều giớiRiêng trong tỉnh Thanh Hóa cóchi Hàm Rồng (huyện Đông Sơn), chi Hoàng La (xã Hoằng Xuân) và chiTào Sơn (huyện Tĩnh Gia) Trong Trớng làng Hội Triều có câu: “Diệc hữu di
vu biệt quán Hoàng La, Tào Sơn tịnh kỳ khoa giáp chi danh” (hoặc có ngờichuyển đi xa quê đến Hoàng La, Tào Sơn cũng đều nổi danh khoa giáp) ở
địa phơng mới nào ngời họ Lơng cũng luôn biết cách giữ gìn và phát huytruyền thống của dòng họ mình đặc biệt là truyền thống khoa bảng nh chiTào Sơn ở huyện Tĩnh Gia, với các tiến sĩ Lơng Chí, Lơng Nghi, LơngLâm,v.v…
Nh vậy, dòng họ Lơng Hội Triều là một dòng họ lớn, có vai trò quantrọng đối với lịch sử hình thành và phát triển của làng, là dòng họ nổi tiếng
“danh gia vọng tộc” có nhiều ngời đỗ đạt thành danh dới thời phong kiến.Luôn biết cách gìn giữ và phát huy truyền thống, trong công cuộc xây dựng
và phát triển quê hơng đất nớc con em dòng họ Lơng đã có những đóng góp
to lớn trên nhiều lĩnh vực
1.2.2 Gia đình Lơng Đắc Bằng và truyền thống gia đình
Ông nội của Lơng Đắc Bằng là Lơng Tôn Huệ (đời thứ 7), đậu cửnhân và ra làm quan dới thời vua Lê Thánh Tông, là ngời có công tiểu trừbọn loạn đảng vùng biên giới Tây Bắc, đợc phong tớc Văn phái hầu
Cha của Lơng Đắc Bằng là Lơng Hay (1424 - 1484), ông thuộc đờithứ 8 của dòng họ Lơng ở Hội Triều Năm 1460, đi thi Hơng ông đậu Giảinguyên, vì vậy ông còn đợc gọi là cụ Giải nguyên Mặc dù đỗ đầu ở kỳ thiHơng nhng không tiếp tục tham gia thi Hội và cũng không ra làm quan mà
ông về quê mở trờng dạy học Học trò của ông rất đông, có nhiều ngời thành
đạt Thuở ấy ông có ngời bà con ở làng Cao Hơng, huyện Vụ Bản (Nam
Định), biết tiếng mới gửi con trai là Lơng Thế Vinh vào học Nhờ tài năngthiên bẩm cộng với sự dạy bảo tận tình của thầy Lơng Hay, Lơng Thế Vinh
Trang 31học hành ngày càng tiến tới, đến khi đi thi Lơng Thế Vinh đậu Trạngnguyên, khoa Quý Mùi, đời vua Lê Thánh Tông, niên hiệu Quang Thuậnnăm thứ t (1463).
Cụ Lơng Hay mất năm 1484, thọ 60 tuổi Cụ là “một nhà nho có họcvấn uyên bác, một nhà giáo u tú đã có công đào tạo cho đất nớc nhiều nhântài lỗi lạc, ngời đã mở đầu cho một giai đoạn phát triển vẻ vang về văn hóacủa làng Hội Triều” [26, 6]
Lơng Đắc Bằng là con trai duy nhất của Lơng Hay Ông sinh năm 1471tại làng Hội Triều, huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa Ông là học trò củaTrạng nguyên Lơng Thế Vinh, đậu Giải nguyên kỳ thi Hơng, đỗ đầu kỳ thiHội, đậu Bảng nhãn khoa thi năm Kỷ Mùi (1499), làm quan đến chức Lại bộThợng th Ông cũng là một thầy giáo dạy giỏi có nhiều học trò đỗ đạt
Sáu tháng sau khi Lơng Đắc Bằng qua đời, vợ ông là bà Hoàng Thị Thụcmới sinh hạ đợc cho ông ngời con trai duy nhất đặt tên là Lơng Hữu Khánh
Lơng Hữu Khánh sinh năm 1520, là học trò Trạng trình Nguyễn BỉnhKhiêm Hữu Khánh lúc nhỏ “thiên t thông minh, cha đến 10 tuổi đã thuộcnhiều văn sách, lại văn hay chữ tốt” [26, 11] Năm lên 12 tuổi theo lời chadặn, Hữu khánh sắp xếp nghiên bút t trang lên đờng ra Bắc, tìm đến họctrạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm Khi qua bến đò Tam Kỳ, sang sông cùngvới mấy nhà s vừa ở đám chay về Qua câu chuyện trên đò, biết Hữu Khánh làhọc trò nên các nhà s muốn thử tài cậu Nhà s yêu cầu Hữu Khánh làm thơvịnh cảnh “Nho tăng đồng chu” Ông ứng khẩu đọc ngay một bài thơ, “lời thơthật hào hùng, ứng đối thật linh hoạt tài hoa, s già khen ngợi hết lời, các s trênthuyền cũng ồ lên thán phục” Đò cập bến, hai bên giã biệt nhau, s già cầmtay lu luyến mà nói rằng, “ngời có tài trí nh cậu… mai sau ắt có ngày sải bớc
đờng mây, công danh hiển đạt” [32, 12]
Năm Mậu tuất (1538), nhà Mạc mở khoa thi lớn Qua ba kỳ thi Hữu Khánh
đều xếp thứ nhất, Giáp Hải xếp thứ nhì Xong đến lúc hồi phách, quan trờng thi thấyHữu Khánh là ngời Thanh Hóa, lại là con của quan đại thần triều Lê nên xếp HữuKhánh xuống hạng nhì, đa Giáp Hải lên thứ nhất Thấy triều Mạc thiên vị, HữuKhánh bỏ thi Đình, vì vậy khoa này Giáp Hải mới đỗ trạng nguyên
Ông về Thanh Hóa tham gia phong trào phù lê diệt Mạc, lập đợc nhiềuchiến công Vua Lê cho ông giữ chức Lại bộ tả thị lang, cho tham tán việc
Trang 32quân cơ Ông bày ra nhiều kế sách chống giặc mà mẹo kế nào cũng đắc cả,nên nhà vua tin dùng hơn cả mọi ngời.
Trong suốt cuộc đời trận mạc, ông luôn ghi nhớ lời thỉnh cầu của vị sgià trên chuyến đò năm xa mà luôn tránh sự tổn hại đến triều đình và nhữngngời dân vô tội Nhờ vào tài năng và có nhiều cống hiến nên ông đợc vua Lêcho giữ tới chức Binh bộ thợng th, kiêm phó tổng tài quốc sử quán, tớc thái
tể đạt quận công
Nhà sử học Phan Huy Chú trong “Lịch triều hiến chơng loại chí” xếp ông
vào một trong ba mơi chín ngời thời Lê Trung Hng vào hàng những ngời phò tá
có công tài đức Ông mất ngày 8/8/1590 Công đức và danh tiếng của ông đợcnhân dân cả nớc ngỡng mộ Ngày nay tại thành phố Hồ Chí Minh có một đờngphố vinh dự đợc mang tên Lơng Hữu Khánh
Lơng Khiêm Hanh (đời thứ 11), là con trai của Lơng Hữu Khánh, làcháu nội của Lơng Đắc Bằng Ông sinh năm 1563, là con trai bà vợ ba LơngHữu Khánh Thuở nhỏ thanh tú, khôi ngô, hiền hoà, thông minh, ham học,cũng đợc mệnh danh là “thần đồng” Năm 19 tuổi đậu giải nguyên, đến năm
26 tuổi đậu Tiến sĩ, khoa thi năm Kỷ Sửu (1589)
Khi ông phụng mệnh vua đi sứ Tàu, vua nhà Minh thấy ông còn trẻ
mà có tài từ chơng, thơ phú, việc nớc ứng đối lu loát nên rất khen ngợi phongcho tớc Nam triều lỡng tớng
Năm 1596, vua Lê Thế Tông lại sai Lơng Khiêm Hanh đến Nam Giaoquan tiếp sứ Tàu để xóa bỏ mối nghi ngờ của nhà Minh Nhờ tài trí mu lợccủa ông mà việc nớc xong xuôi tốt đẹp Vua Lê phong cho ông là: “Tuyênlực công thần, đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, lễ khoa đô cấp sự trung, tháithờng tự khanh, văn diễn hầu”
Nh vậy, có thể nói rằng gia đình Lơng Đắc Bằng là một gia đình nối
đời khoa bảng, đã làm rạng danh cho lịch sử văn hóa làng Hội Triều nóiriêng, cho quê hơng Hoằng Hóa nói chung
Chơng 2.
Lơng Đắc Bằng với con đờng quan lộ
và sự nghiệp giáo dục 2.1 Khái quát tình hình xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XV nửa đầu thế kỷ XVI
Trang 33Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng, đất nớc trở lại thanh bình Ngày
15 tháng 4 năm Mậu Thân (ngày 29 tháng 4 năm 1428), Lê Lợi chính thứclên ngôi hoàng đế ở Đông Kinh (Thăng Long), mở đầu triều đại Lê Sơ
Trải qua các triều vua Thái Tổ (1428 - 1433), Thái Tông (1434 - 1442),Nhân Tông (1443 - 1459) đất nớc Đại Việt dần dần đợc hồi phục và phát triển,
và đạt đến đỉnh cao thịnh trị dới thời vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497)
Năm 1497 vua Lê Thánh Tông mất, Lê Hiến Tông lên nối ngôi Kếthừa những thành quả rực rỡ mà vua cha để lại, trong 7 năm trị vì đất nớc(1497 - 1504), vua Lê Hiến Tông gần nh không có sáng tạo gì lớn, nhng vốn
là ngời “nhân từ ôn hoà”, “tiết kiệm tiêu dùng, thận trọng hình phạt, chuyên
lo chính sự, coi trọng hiền tài, kính trời chăm dân” nên đất nớc vẫn tiếp tục
ổn định và phát triển, đợc xem là “ông vua cuối cùng của triều Lê Sơ còn giữ
đợc những thành tựu từ thời Thái Tổ gây dựng” [16, 189]
Từ đầu thế kỷ XVI, nhất là từ sau khi vua Lê Hiến Tông mất (1504),xã hội Đại Việt mất dần cảnh thịnh trị, kinh tế sa sút, nhân dân sống cảnhkhốn cùng, các thế lực phong kiến tranh chấp lẫn nhau, mở đầu cho một giai
đoạn mới của chế độ phong kiến Việt Nam - giai đoạn khủng hoảng, suy vicủa nhà Lê Sơ và tình trạng chia cắt đất nớc
Năm 1505, Lê Uy Mục lên làm vua, ở ngôi 5 năm nhng là ông vua bấttài, bỏ bê việc triều chính, ham rợu chè, gái đẹp Vua thích giết ngời, kể cảcác công thần, tôn thất có ý không ủng hộ Quyền hành trong triều rơi vàotay họ ngoại “Phía Đông thì làng Hoa Lăng (quê của mẹ nuôi), phía Tây thìlàng Phù Chẩn (quê mẹ đẻ), đều chuyên cậy quyền thế, dìm hãm thần liêu,
có khi vì t ý mà giết hại sinh dân, có khi dùng ngón kín mà yêu sách tiềncủa; phàm súc vật hoa màu của dân gian đều cớp cả, nhà dân ai có đồ lạ, vậtquý thì đánh dấu để lấy” [ 16, 192] Uy Mục tính tình hung hãn đến nỗi phó
sứ nhà Minh là Hứa Thiên Tích khi sang sắc phong, trông tớng mạo Uy Mục
đã đề hai câu thơ:
“An Nam tứ bách vận vu trờng, Thiên ý nh hà giáng quỷ vơng?”
(Vận nớc An Nam còn dài bốn trăm năm, ý trời sao lại sinh ra vua quỷ?)
Sự tàn bạo quá đáng của Uy Mục đã gây nên một làn sóng bất bìnhtrong dân chúng và trong hàng ngũ quan lại, dòng dõi họ Lê Chính ngờitrong hoàng tộc đã hợp quân với Nguyễn Văn Lang làm cuộc khởi nghĩa lật
đổ Lê Uy Mục, lập vua mới là Lê Tơng Dực Sử thần nhà Lê bàn rằng: “Mẫn
Trang 34Lệ công tin dùng ngoại thích, bạo ngợc vô đạo, giết hại tông thất, tàn sátnhân dân, tự mình chuốc lấy diệt vong, chẳng cũng đáng sao!” [29, 50].
Từ năm 1510, Tơng Dực lên làm vua nhng cũng tỏ ra sa đọa khôngkém Uy Mục Vua thích “xây cung điện đồ sộ nguy nga, dựng cửu trùng đài
to cao tráng lệ”, làm sức dân kiệt quệ, binh lực hao gầy Tháng giêng nămQuý Dậu (1513) chánh sứ nhà Minh là Trần Nhợc Thuỷ và phó sứ là Phạm HyTăng khi sang phong cho Tơng Dực làm An Nam quốc vơng, trông thấy TơngDực đã nhận xét: “Quốc vơng An Nam mặt thì đẹp mà ngời lại lệch, tính bạodâm, là vua lợn, loạn vong sẽ không lâu đâu” [29, 65]
Lợi dụng sự sa đọa của chính quyền trung ơng, bọn quan lại địa phơngcũng theo đó mặc sức tung hoành, nhũng nhiễu dân chúng đến nỗi “ở phố xáchợ búa, hễ thấy bóng quan thì dân vội đóng cửa và tìm đờng lẩn trốn”
Trong lúc chính quyền trung ơng sa đọa thì thế lực phong kiến ngàycàng mạnh lên, đua nhau tranh chấp quyền hành Không lâu sau khi dựa vàothế lực của Nguyễn Văn Lang lật đổ Uy Mục, nhóm hoạn quan do NguyễnKhắc Hài đứng đầu làm loạn, bắt Tơng Dực nhốt vào cung rồi uy hiếp triều
đình Trịnh Duy Sản đem quân tiêu diệt bọn loạn thần Nguyễn Khắc Hài.Nhng không lâu sau đó lại chính Trịnh Duy Sản làm loạn rồi sai ngời giếtvua Tơng Dực
Chiêu Tông (1516 - 1522) rồi Cung Hoàng (1522 - 1527) lần lợt lênngôi, chẳng những không cải thiện đợc tình hình mà còn làm cho nhà Lê lúnsâu vào khủng hoảng
Bấy giờ mọi quyền hành đã thuộc về tay họ Mạc mà đứng đầu là Mạc
Đăng Dung Bằng tài năng quân sự nổi bật và sự khôn khéo thâu tóm quyềnhành, Mạc Đăng Dung đã ngày càng trở thành một nhân vật trụ cột trongtriều, đến nỗi vua Lê Chiêu Tông phải tự thân hành đến phủ đệ của ĐăngDung để gia phong cho ông ta làm Thái phó Từ đó “Đăng Dung đi bộ thìche lọng phợng dát vàng, đi thuỷ thì dùng thuyền rồng dây kéo, ra vào cungcấm nh đi vào chỗ không ngời, không kiêng sợ gì… đều giới” [16, 197]
Trớc tình cảnh ấy, Chiêu Tông mu ngầm với Trịnh Tuy tìm cách triệthạ thế lực của họ Mạc nhng không thành, vua phải bỏ chạy khỏi kinh thànhsau đó bị giết Đăng Dung lập em của Chiêu Tông là Xuân lên ngôi (tức vua
Lê Cung Hoàng) Từ đây quyền hành của triều đình thật sự bị Mạc ĐăngDung thao túng, chuẩn bị cho việc cớp ngôi lập nên một triều đại mới - triềuMạc (1527)
Trang 35Nh vậy, “cuộc khủng hoảng chính trị đã chứng tỏ sự suy nhợc củadòng họ Lê và chính quyền của nó” [49, 340] Sự thối nát của chính quyềntrung ơng, sự bóc lột nặng nề sức ngời sức của đối với con dân trăm họ lànguyên nhân dẫn đến các cuộc đấu tranh của nông dân liên tiếp nổ ra từ nửa
Năm 1512, Nguyễn Nghiêm nổi dậy ở Sơn Tây, Hơng Hóa; Lê Huy,Trịnh Hng, Lê Minh Triệt nổi quân ở Nghệ An Triều đình phải khó khănlắm mới dẹp yên
Năm 1515, Phùng Chơng nổi dậy ở vùng Tam Đảo; Đặng Huân, ĐặngNgạt nổi dậy ở vùng Ngọc Sơn (Thanh Hóa)
Năm 1516, Trần Công Ninh nổi dậy ở vùng Yên Lãng (Vĩnh Phúc).Không lâu sau, ở vùng huyện Thuỷ Đờng (Hải Phòng), Trần Cảo nổi quâncùng với nhóm Phan ất (ngời Chăm), Đình Ngạn, Đình Nghị, Công Uuẩn ởchùa Quỳnh Lâm (Đông Triều) Nghĩa quân đánh bại quân triều đình, làmchủ hai huyện Thuỷ Đờng và Đông Triều Tháng 5 năm ấy, từ Hải Dơng,nghĩa quân đánh về Thăng Long, vua tôi nhà Lê chống không nổi, phải bỏchạy vào Thanh Hóa, kinh thành náo loạn, nghĩa quân kéo vào Thăng Long.Trần Cảo tự lập làm vua, đặt niên hiệu là Thiên ứng, phong chức tớc cho t-ớng sĩ Không lâu sau quân triều đình chia làm ba đạo, từ Thanh Hóa kéo ra
đánh Trần Cảo rút quân về Hải Dơng Mãi đến năm 1521 cuộc khởi nghĩacủa Trần Cảo, Trần Cơng mới bị dập tắt
Ngoài ra còn có nhiều cuộc bạo động lẻ tẻ của nông dân ở khắp nơi từ
đồng bằng đến vùng rừng núi
Các cuộc đấu tranh của nông dân và các tộc ngời thiểu số đã nói lêntình trạng khủng hoảng của xã hội đơng thời, góp thêm phần làm lung laynền thống trị của vơng triều Lê Sơ
Trang 362.2 Lơng Đắc Bằng với con đờng quan lộ
2.2.1 Việc học hành thi cử
Lơng Đắc Bằng sinh năm 1471 Ông sinh ra và lớn lên tại làng HộiTriều (Hội Trào), nay thuộc xã Hoằng Phong, huyện Hoằng Hóa (ThanhHóa) Thuở nhỏ có tên là Lơng ngạn ích, tự Tử Lăng, hiệu Thanh Hiên Cha
là cụ Giải nguyên Lơng Hay, mẹ là bà Lê Thị Sử (hiệu là Từ Hạnh), ngờilàng Vĩnh Trị, vốn con nhà khoa bảng, tính nết đôn hậu, lại cũng ham thíchvăn chơng Sinh thời bà là ngời vợ nội trợ đảm đang, ngời mẹ nhân từ và làngời bạn cầm kỳ thi phú của chồng
Sinh trởng trong một gia đình vọng tộc có học vấn, cả thân phụ vàthân mẫu đều là những ngời có văn tài học hạnh nên Lơng Đắc Bằng từ sớm
đã hấp thụ truyền thống gia giáo kỷ cơng Ngay từ khi Ngạn ích cất tiếngkhóc chào đời, thấy con mình có tớng mạo khác ngời, cả cha và mẹ đã dốclòng đào tạo con trai mình với mong muốn sau này Ngạn ích sẽ trở thànhmột tài năng giúp nớc cứu đời
Với trí tuệ mẫn tiệp, thông minh lại đợc cha dạy chữ rất sớm nên từ béLơng Đắc Bằng đã nổi tiếng “thần đồng” đất Cổ Hoằng (Hoằng Hóa)
Năm lên 12 tuổi, cha qua đời, theo lời dặn của cha, Lơng Ngạn ích tìm
đến theo học Trạng lờng Lơng Thế Vinh (vốn là học trò của Lơng Hay) Sauthời gian về Hội Triều theo học thầy Lơng Hay, đến ngày lên đờng đi thi,thầy Lơng Hay cầm tay ngời học trò yêu quý mà dặn rằng: “… đều giớiTa có nỗibuồn riêng, đến giờ vẫn muộn đờng con cái Ta nhờ anh, nếu sau này ta sinhcon trai, anh hãy trông nom dạy dỗ cháu nên ngời Đó là sở nguyện của ta”.Không quên công ơn dạy dỗ và nhớ lời gửi gắm của thầy năm xa, Lơng ThếVinh xem Lơng Đắc Bằng nh con cháu trong nhà và ra sức dạy bảo đợc ng-
ời học trò yêu quý của cha dạy dỗ ân cần, sức học của Ngạn ích ngày càngtấn tới Ông nghe lời thầy dạy, chăm học, ham hiểu biết, trọng thực học làmquan trạng rất hài lòng Quan trạng luôn khuyến khích Ngạn ích bằngnhững lời khen ngợi: “cháu có đức có tài ắt sau này sẽ hữu dụng cho đất n-ớc”
Năm 22 tuổi, Ngạn ích dự kỳ thi Hơng và đậu giải nguyên
Sáu năm sau, năm Kỷ Mùi (1499), Minh Hoằng Trị thứ mời hai “thihội các cử nhân trong cả nớc Bấy giờ có tới hơn 5.000 ngời dự thi Vua nói:Phép cấm không nghiêm thì không thể ngăn chặn đợc thói cầu may, giũ bỏkhông kỹ thì không thể lấy đợc ngời thực giỏi Liền cho Nghi tào định ra
Trang 37phép thi, cận thần ra đầu bài thi in ra đa xuống từng lều từng khu… đều giới Khảoquan ai có ngời thân vào thi thì cho rút Lấy đỗ đợc 55 ngời” [29, 14] Trong
số 55 ngời thi đỗ đó Lơng Đắc Bằng đỗ hội nguyên Tiếp đó ông dự kỳ thi
đình và đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhị danh (bảng nhãn) Sách Đại
Việt sử ký toàn th chép: “Ngày mồng 9 (tháng 7 mùa thu 1499), thi Điện.
Đầu bài văn sách hỏi về nhân tài và vơng chính Sai Bắc quân đô đốc HoaLâm hầu Trịnh Tốn và Lại bộ thợng th Trần Cận làm đề điệu; Hình bộ thợng
th Đinh Bô Cơng làm giám thí; Đông các học sĩ Nguyễn Bảo, Hàn lâm việnthị giảng tham chởng hàn lâm viện sự Lê Ngạn Tuấn làm độc quyển Cho Đỗ
Lý Khiêm, Lơng Đắc Bằng, Nguyễn Khắc Kiệm, ba ngời đỗ đệ nhất giáptiến sĩ cập đệ; bọn Hoàng Trng, Nguyễn Hằng 24 ngời đỗ đệ nhị giáp tiến sĩxuất thân; bọn Trần Bá Lơng, Lê Tự 28 ngời đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuấtthân, tổng cộng là 55 ngời
Ngày 16, vua ngự điện Kính Thiên, quan Hồng lô truyền loa xớngdanh Lễ bộ đem bảng vàng treo ở ngoài cửa Đông Hoa” [29, 16]
Với tiếng tăm lừng lẫy về học vấn nên trớc khi thi ai cũng tin chắc
L-ơng Đắc Bằng sẽ đỗ Trạng Nguyên TL-ơng truyền, bài thi của LL-ơng Đắc Bằngxuất sắc hơn bài thi của Đỗ Lý Khiêm, nhng khi công bố kết quả thấy Lơng
đắc Bằng còn ít tuổi, Thái hậu sợ Đắc Bằng khó đảm nhận đợc việc lớn củatriều đình của đất nớc nên mới đa Đỗ Lý Khiêm lên đỗ đầu (Trạng nguyên)còn Lơng Đắc Bằng bị đánh xuống hàng thứ hai (Bảng nhãn)
Nh vậy, kế thừa truyền thống gia đình, dòng họ, quê hơng, với t chấtthông minh ngay từ thuở nhỏ, lại đợc sự dạy bảo tận tình của quan Trạng cộngvới sự nỗ lực phi thờng của bản thân, cuối cùng Lơng Đắc Bằng đã gặt hái đợcthành qủa tơng xứng với sự học của mình Đỗ đạt cao là thành qủa của baonăm miệt mài đèn sách và khi đỗ đạt cao cũng đồng nghĩa với một tơng laisáng ngời đang chờ Lơng Đắc Bằng ở phía trớc Tuy nhiên trong khi xã hội bất
ổn, nhà Lê Sơ đang trên con đờng khủng hoảng, suy vi nên sẽ có rất nhiều giannan thử thách đang chờ ông trên con đờng quan lộ
2.2.2 Con đờng quan lộ
Sau khi thi đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhị danh (bảng nhãn),
L-ơng Đắc Bằng đợc vua ban cho áo mũ, xe ngựa về quê vinh quy bái tổ
Lần đầu tiên làng có ngời đỗ đại khoa mà lại đỗ cao (Bảng nhãn) nêndân làng Hội Triều muốn nhân việc này tổ chức lễ đón rớc thật long trọng
Trang 38Ghi nhận và trân trọng tấm lòng của bà con dân làng nhng Lơng Đắc Bằng từchối lễ đón rớc linh đình Buổi lễ đón quan Bảng nhãn rất đơn giản nhng diễn
ra trong không khí thân mật, thắm tình quê hơng Đắc Bằng tự hào vì đợc sinh
ra trên quê hơng giàu truyền thống văn hóa còn bà con dân làng thì vô cùng tựhào về ngời con đã làm rạng danh cho quê hơng, dòng tộc Có thể nói thờigian này là những “ngày hội” ở làng Hội Triều
Về báo công với tổ tiên dòng tộc cha đợc bao lâu, Lơng Đắc Bằng đãphải lập tức trở lại triều để nhận nhiệm vụ Ngày tiễn ông lên đờng dân làng
ai cũng đặt trọn niềm tin: Lơng Đắc Bằng sẽ là một vị quan tốt
Do trong triều có lời bàn tán về chuyện thi cử nên trớc khi cắt cử quanchức, nhà vua muốn thử tài các tân khoa, liền tổ chức kỳ thi ứng chế ngay tạisân rồng, đề bài là: “Ngũ Vơng Trớng” Với sự hiểu biết uyên bác, bút lựcdồi dào, Ngạn ích đã làm cho cả triều đình kinh ngạc Bài của ông đợc cácquan hết lời tán thởng, vua khen là hay nhất, ban thởng rất hậu, lại thân mậtban cho tên mới là Đắc Bằng, với mong muốn ông sẽ là ngời bạn tâm đắc,ngời bạn lớn của nhà vua (cái tên Lơng Đắc Bằng cũng chính thức có từ đó)
Đại Việt sử ký toàn th viết về sự kiện này nh sau: “mùa đông tháng 10, ngày
mồng 7 (1499) tuyên triệu bọn tiến sĩ Đỗ Lý Khiêm vào làm bài ứng chế,vua sai làm bài ký “Ngũ Vơng Trớng”, Lơng Đắc Bằng đợc hạng u NguyễnQuý Nhã làm lạc vần, cho ra làm tri huyện huyện Phụ Dực” [29, 19]
Thời gian đầu, khi mới đợc bổ nhiệm làm quan, Lơng Đắc Bằng giữchức Thị độc rồi Đông các hiệu th Cho dù chức quan không to nhng ông vẫn
nỗ lực đem hết tài năng của mình ra giúp vua trị nớc, đợc vua Hiến Tông rấttrọng dụng Ngoài việc là một bề tôi trung thành, thờng xuyên đợc tham gialuận bàn việc triều chính, Lơng Đắc Bằng đợc nhà vua xem nh một ngời bạnthân, đợc mời dự các buổi lễ tiệc, thi phú, họa thơ cùng vua và các đại thần
Sách Đại Việt sử ký toàn th viết: “Mùa thu, tháng 8, ngày 15, vua làm bài thơ
ngự chế “Quan giá đình trung thu ngoạn nguyệt”, 15 vần, sai bọn Đông các
đại học sĩ Nguyễn Nhân Thiếp, Lê Ngạn Tuấn, Lê Mậu thởng, NguyễnXuân Xác, Hàn lâm viện thị th Nguyễn Tôn Miệt, đông các hiệu th ĐặngTòng Củ, Đặng Minh Khiêm, Lơng Đắc Bằng, Hàn lâm viện hiệu lý NguyễnViên, Vũ Châu, hiệu thảo Nguyễn Mẫn vâng mệnh họa theo” [29, 24 - 25]
Dới triều vua Lê Hiến Tông, do nhà vua chuyên lo việc nớc, chăm locho muôn dân, lại biết trọng dụng ngời hiền tài, lắng nghe những lời nói phải
từ những bề tôi trung thành cho nên đất nớc tiếp tục ổn định và phát triển
Trang 39Đ-ợc sự tin cậy của nhà vua, Lơng Đắc Bằng đã dâng nhiều kế sách hay lêntriều đình Những kế sách của ông phần nào góp công vào sự ổn định đất nớctrong những năm Hiến Tông trị vì.
Vua Lê Hiến Tông ở ngôi đợc 7 năm thì mất, đợc xem là “ông vuacuối cùng của triều đại Lê Sơ còn giữ đợc những thành tựu từ thời Thái Tổgây dựng” [16, 189] Vua Túc Tông kế vị nhng chết yểu, ở ngôi cha đầy mộtnăm Năm 1504, Lê Uy Mục lên ngôi, bị ngời đời gọi là “quỷ vơng” vì UyMục rất hiếu sát, hoang dâm đồi bại, ra lệnh bắt giết cả Hoàng thái hậu vànhững đại thần trớc đây không lập mình Những ngời Chiêm bị bắt làm gianô trong các điền trang của các thế gia, công thần cũng bị đem ra giết hết Sử
cũ còn ghi rõ: “Từ khi lên ngôi, vua đêm nào cũng vào cung cùng với cungnhân vui đùa, uống rợu vô độ Khi rợu say thờng giết cả cung nhân” [29, 45].Bọn cơ hội họ ngoại nhân đó nắm hết mọi quyền hành, mặc sức tác oai tácquái Với cơng vị là Tả thị lang bộ lễ, kiêm Thị độc viện hàn lâm, Lơng ĐắcBằng đã tận mắt chứng kiến những cảnh động loạn thối nát đó, ông cố sứctìm cách can ngăn nhng không đợc
Hành động và việc làm của Uy Mục làm cho những triều thần trunghậu và trăm họ căm giận, chuẩn bị lật đổ Đứng đầu những ngời đảo chính làNguyễn Văn Lang, lúc này đang làm Kinh lợc sứ Đà Giang Bị Uy Mục đuổi
về quê, Nguyễn Văn Lang liên kết với các quan trấn thủ Thanh Hóa là Lê BáTuấn, Lê Tung, Nguyễn Thì Ung, tập hợp lực lợng đón Giản tu Công Dinhlàm minh chủ chuẩn bị lật đổ Uy Mục Lơng Đắc Bằng đã bỏ quan vàoThanh Hóa phò giúp lực lợng này
Là một kẻ sĩ đợc đào tạo bài bản theo nho học, không phải Lơng ĐắcBằng không biết đến cái nghĩa quân - thần, nhng cũng không phải vì nó màngu muội ôm lấy đạo nghĩa “trung quân” Tấm lòng trung quân đợc đề cao
đợc ca ngợi khi đấng quân vơng phải là vua hiền vua sáng, trong khi Uy Mục
là “quỷ vơng” thì đạo nghĩa “trung quân” với ông vua này phải đợc xem xétlại Và Lơng Đắc Bằng biết mình phải làm gì trớc một ông vua nh vậy
Bằng văn tài xuất sắc của mình, ông đợc giao thảo hịch vạch tội UyMục Hịch mà ông soạn viết rằng: “Bạo chúa Lê Tuấn, phận con thứ hènkém, làm nhơ bẩn nghiệp lớn, lần lữa mới gần 5 năm mà tội ác đã đủ muônkhóe Giết hại ngời cốt nhục, dìm hãm các thần liêu Bọn ngoại thích đợc tindùng mà phờng đuôi chó ngang ngợc làm bậy, ngời cứng cỏi bị ruồng bỏ mà
kẻ đầu cá ẩn nấp nẻo xa Quan tớc đã hết rồi mà thởng tràn không ngớt, dân
Trang 40chúng đã cùng khốn mà vơ vét chẳng thôi, vét thuế khóa từng cân lạng, tiêutiền của nh đất bùn, bạo ngợc ngang với Tần chính Đãi bề tôi nh chó ngựa,coi dân chúng nh cỏ rác, ngạo mạn quá cả Ngụy Oanh Huống chi lại xâycung thất to, làm vờn hoa rộng, xua dân đi trồng cây, giẫm theo vết xe đổchất gò Hoa Cơng đời Tống, lấp biển xây cung điện, nối gót thói u mê xâycung A Phòng nhà Tần Công trình thổ mộc xây lên rồi thay đổi, thay đổi rồixây lên, dân Hải Dơng, Kinh Bắc mệt mỏi, lao đao; tông thất xa hoa, kiêucăng lại ngang ngợc, ngang ngợc lại kiêu căng, cõi tứ tuyên phiên trấn xônxao, rối loạn, c dân nhức óc, cả nớc đau lòng”.
Bài hịch của Lơng Đắc Bằng đã vạch ra những tội ác tày trời, nhữngviệc làm ngang tàng bạo ngợc, thói ăn chơi xa hoa trụy lạc của Uy Mục và
đám quần thần thân cận của ông ta
Sự thối nát của triều đại Lê Uy Mục cha dừng lại ở đó, Lơng ĐắcBằng còn làm thêm một bài hịch nữa để kể tội, hịch viết: “Đoan Khánh làmvua, họ ngoại chuyên quyền, Tử Mô là phờng ngu hèn nơi phố chợ, làm rốiloạn kỷ cơng, Thắng Chủng là hạng trẻ ranh miệng còn hơi sữa đã tác oai tácphúc Đến mức đánh thuốc độc giết hại bà nội, tàn sát các thân vơng Theo ýriêng mà giết hại sinh dân, không biết đâu cho thỏa; dùng ngón ngầm để vétvơ tiền của, càng mặc sức tham lam” [29, 48] Tội ác tày trời của Uy Mục,
sự chuyên quyền của họ ngoại làm cho: “Bốn biển khốn cùng, muôn dân đềusầu oán” [29, 48]
Lời lẽ trong hai bài hịch đầy ắp sự phẫn nộ, đã khích lệ quân dân trăm
họ nổi dậy hởng ứng khởi nghĩa, vua Uy Mục nhanh chóng bị lật đổ Sử thầnnhà Lê bàn rằng: “Mẫn lệ công tin dùng ngoại thích, bạo ngợc vô đạo, giếthại tông thất, tàn sát nhân dân, tự mình chuốc lấy diệt vong chẳng cũng đángsao!” [29, 50]
Năm 1510, Tơng Dực lên ngôi, Lơng Đắc Bằng vì có công ứng nghĩa
đợc thăng giữ chức tả thị lang bộ lại, sau đó kiêm thêm chức Đông các đạihọc sĩ, vào hầu giảng toà Kinh diên Sử viết: “Mùa xuân tháng giêng (1510),bàn luận công trạng những ngời ứng nghĩa, lấy Nghĩa quận công NguyễnVăn Lang làm Nghĩa quốc công, gia phong Thiệu quận công Lê Quảng Độlàm Thiệu quốc công, Lợng quận công Lê Phụ làm Lợng quốc công, Uyquận công Lê Bá Lân làm Uy quốc công, Hộ bộ thợng th Trịnh Duy Đại làmVăn quận công, Phò mã đô uý Lê Mậu Chiêu làm Diên quận công; con VănLang là Nguyễn Hoằng Dụ làm Yên Hòa hầu; Trịnh Duy Sản làm Mỹ Huệ