Việc nghiên cứu phong cách nghệ thuật sẽ giúp người nghiên cứu có được một hệ thống những luận điểm quan trọng để đánh giá giá trị của tác phẩm, khám phá những nét độc đáo trong sáng tác
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ THÁI
PHONG CÁCH TRUYỆN NGẮN HỒ ANH THÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Phong cách nghệ thuật là một vấn đề có tính lý luận và thực tiễn
quan trọng của ngành Ngữ văn nói chung và chuyên ngành Lý luận văn học nói riêng Việc nghiên cứu phong cách nghệ thuật sẽ giúp người nghiên cứu
có được một hệ thống những luận điểm quan trọng để đánh giá giá trị của tác phẩm, khám phá những nét độc đáo trong sáng tác của nhà văn trong một trào lưu, một nền văn học
1.2 Tuy không phải là thể loại chủ chốt của nền văn học, nhưng với
đặc thù của một loại hình tự sự, truyện ngắn bắt nhịp rất nhanh với những biến chuyển của đời sống, nhanh nhạy len lỏi vào mọi ngóc ngách của xã hội, phản chiếu cuộc sống trong từng mảnh ghép nhỏ
Truyện ngắn đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành diện mạo sáng tác Hồ Anh Thái trong nền văn học Việt Nam đương đại Chính vì vậy, khi triển khai luận văn này, chúng tôi hướng tới truyện ngắn - thể loại được đánh giá là năng động và tích cực nhất như một cách tiếp cận với phong cách
Hồ Anh Thái
1.3 Hồ Anh Thái là một nhà văn đương đại Việt Nam, người đã tạo nên
“hiện tượng văn chương Hồ Anh Thái ” từ đầu những năm 80 thế kỷ XX, với
một bút pháp thực sự mới mẻ
Những năm tiếp theo, với lao động sáng tạo liên tục và mang tính chuyên nghiệp, ông đã thể hiện bản lĩnh của một nhà văn hàng đầu ở Việt Nam trong thời đại văn chương nước ta hội nhập với văn chương thế giới
Chúng ta biết đến nhà văn Hồ Anh Thái - nhà Ấn Độ học với loạt truyện ngắn về những mảnh đời người Ấn, được bạn đọc nhiều nước rất hoan nghênh trên báo chí Anh ngữ tại Ấn Độ và và đã được dịch ra hơn 10 ngôn ngữ, trong
đó có tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Thụy Điển K.Pandey, tiến sĩ văn học
người Ấn, đã coi đó là “những mũi kim châm cứu Á Đông đã điểm trúng huyệt
tính cách Ấn Độ”
Trang 3Hồ Anh Thái là người được chuẩn bị tương đối đầy đủ về văn hóa, trong
đó có cả những thành tựu văn chương đã trở thành giá trị văn hóa để làm nhà văn của cuộc sống cuồn cuộn, xô bồ, trăm mối ngổn ngang trước mắt Những thói quen thời bao cấp kéo dài cùng thói học đòi thời mở cửa được ông nắm bắt rất nhanh và điểm huyệt nó bằng văn chương
Hồ Anh Thái đã lao động cật lực trên từng con chữ và luôn tìm cách bứt phá trên cơ sở kiến tạo những kiến trúc mới mẻ, táo bạo Ông được dư luận
ghi nhận là nhà văn “lúc nào cũng đang viết” Ba mươi năm viết, ba mươi đầu
sách đã xuất bản, ông đã và đang tiếp tục sáng tác những tác phẩm chứa đựng nhiều phẩm chất văn hóa
Được xem như một hiện tượng văn chương sau 1975, Hồ Anh Thái đã tạo được cái nhìn riêng về thế giới qua những trang viết sắc bén Cùng với những cây bút khác như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ ,
Hồ Anh Thái đã góp phần tạo nên một động hình ngôn ngữ mới và giọng điệu văn xuôi khác hẳn so với giai đoạn trước đó Một số báo nước ngoài nhận xét:
Hồ Anh Thái là nhà văn Việt Nam cấp tiến về mặt tư tưởng, thị hiếu
Nhiều nhà nghiên cứu đánh giá: “Hồ Anh Thái là một gương mặt tiêu
biểu đã góp công cho sự tìm tòi, thể nghiệm, tạo dựng một dạng thức văn học mới có khả năng lật trở, soi chiếu nhiều phương diện của thực tại hôm nay”
[84]
Hiện tượng văn chương Hồ Anh Thái có phải là sự thể hiện cá tính sáng tạo của một nhà văn tài năng không? Đề tài mà chúng tôi lựa chọn sẽ là một tiếng nói góp phần khẳng định vai trò của Hồ Anh Thái trong đời sống văn chương đương đại nước nhà
1.4 Lịch sử vấn đề
Liên quan tới đề tài luận văn có các nhóm ý kiến sau:
1.4.1 Những bài viết về sáng tác Hồ Anh Thái :
Đó là những ghi chép trò chuyện, phỏng vấn Hồ Anh Thái trên báo chí Nhà văn bộc lộ suy nghĩ về nghề nghiệp, về tác phẩm…
Trang 4Sinh năm 1960, Hồ Anh Thái bắt đầu sự nghiệp văn chương từ năm 17 tuổi, đoạt giải văn xuôi của báo Văn nghệ, Hội nhà văn Việt Nam từ năm 24 tuổi Không chỉ là nhà văn, ông còn có nhiều năm làm chuyên viên của Bộ Ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài
Báo Thể thao và Văn hóa 5/2000 viết: Năm 1998, Hồ Anh Thái được mời đến Đại học Tổng hợp Washington làm giáo sư thỉnh giảng Đó cũng là lúc một số tác phẩm của ông lần thứ hai xuất hiện ở Mỹ, sau những truyện
ngắn về Ấn Độ Đó là một tuyển tập gồm tiểu thuyết Trong sương hồng hiện
ra và 9 truyện ngắn được lựa chọn trong số gần 300 truyện ngắn đã in Đầu
năm 2000, tập truyện ngắn về Ấn Độ của anh một lần nữa ra mắt bằng tiếng
Pháp ở Paris với cái tên Những cuộc phiêu lưu trên đất Ấn Độ
Đánh giá về văn chương Hồ Anh Thái trên báo chí quốc tế, Lại Thu Trúc
viết (12-08-2010) trên www.emotino.com: “Nhà văn bẩm sinh mang gương
mặt nhà ngoại giao” là nhận định của học giả người Mỹ Dan Duffy về tiến sĩ
Hồ Anh Thái trên tạp chí Vietnam Forum của Đại học Tổng hợp Yale, Mỹ và được đăng lại trên tạp chí Heritage 1996 Hầu hết các tác phẩm của Hồ Anh Thái đã được dịch in ở những tờ báo có uy tín ở Âu-Mỹ như Thời báo New York, Bưu điện Washington… Các nhà văn, nhà báo, nhà thơ Wayne Karlin, Maxine Hong Kingston, George Evans, Philip Gambone, tất cả đều không
hẹn mà gặp trong những đánh giá: “Nhà văn bẩm sinh với sự hài hước ngọt
ngào, chất siêu thực và ngụ ngôn tràn ra từ cây bút đã mang đến những tác phẩm tao nhã, đầy sức lay động ”
Như vậy, tầm ảnh hưởng của văn chương Hồ Anh Thái đã lan tỏa bên ngoài phạm vi lãnh thổ đất nước Ngoài yếu tố có tính hỗ trợ do nghề ngoại giao mang lại, không thể phủ nhận những giá trị đích thực của tác phẩm Hồ Anh Thái trong lòng công chúng và giới phê bình
Báo Thể thao Văn hóa (23/8/2002 ) ghi lại bộc bạch của “Hồ Anh Thái
và những quan niệm về văn chương”: “Nếu tác phẩm gây được ấn tượng ngẫu hứng tự nhiên thì đó thực sự là dụng công của tôi Tôi không thể viết
Trang 5văn mà lời lẽ kềnh càng, rườm rà hoặc cố tỏ ra đao to búa lớn để thu hút sự chú ý của mọi người”
Trả lời phóng viên Nguyễn Minh báo Văn hoá Phật giáo Phattuvietnam
net (21/02/2008) “ Giáo lý Phật giáo chạm đến mọi vấn đề của đời sống ”,
nhà văn Hồ Anh Thái tin rằng: mỗi người khi đọc Đức Phật, nàng Savitri và
tôi sẽ có một văn bản của riêng mình, khác với văn bản của chính tác giả, khác văn bản của những độc giả khác Đó là một đặc điểm của việc tiếp nhận văn chương nghệ thuật.”
Có thể thấy, Hồ Anh Thái luôn đặt mình vào vị trí người đọc khi sáng tác văn chương Tác phẩm Hồ Anh Thái luôn hướng tới việc phát huy tối đa khả năng thanh lọc hoá tâm hồn cho người đọc
Bên cạnh những ghi chép về Hồ Anh Thái với những suy nghĩ về nghề nghiệp, về tác phẩm… là những bài viết về phong cách sáng tạo nghệ thuật của con người – nhà văn Hồ Anh Thái
Phạm Xuân Thạch viết về sức sáng tạo của Hồ Anh Thái trong
VietNamNet (09/08/2007): “Hồ Anh Thái có 'sợ' giải thiêng?”: “Nếu cần tìm một hình mẫu của người viết văn chuyên nghiệp ở Việt Nam thì có lẽ ông Hồ Anh Thái là một trường hợp thuyết phục Trong nhiều năm, ông Thái duy trì được sức sáng tác đều đặn Gần như ông có sách xuất bản hàng năm Cuốn sách mới của Hồ Anh Thái - Đức Phật, nàng Savitri và tôi : Cũng một khả năng sáng tạo dồi dào, lần này là sự quay trở về và đào sâu một trong những
đề tài từng làm nên tên tuổi của ông: nền văn hóa Ấn Độ”
Giới thiệu về tập truyện “Bốn lối vào nhà cười - Hồ Anh Thái”, Book
review (30/08/ 2006) nhận xét: “Bốn lối vào nhà cười chua chát, bật lên được
ý thức tự trào của một người Việt Bởi nó chạm đến phần nhạy cảm (và có khi rất phổ biến) trong tính cách con người ta.”
Phạm Anh Tuấn viết về “Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong sáng tác
của Hồ Anh Thái” (dinhhatrieu.vnweblogs.com 01/5/ 2009): “Thế giới nhân vật trong sáng tác của Hồ Anh Thái hiện lên rất đa dạng phong phú và phức tạp như chính hiện thực cuộc sống Nhu cầu phản ánh chân thực cuộc sống đã
Trang 6thôi thúc nhà văn khám phá phát hiện, đưa vào tác phẩm những bức chân dung sinh động của nhiều dạng người, nhiều kiểu người trải dài trong thời gian và không gian.”
Trần Thị Hải Vân cảm nhận “Một chiêm nghiệm "cõi người" của Hồ
Anh Thái” (Văn Nghệ, số 16, 18/4/2009): “Anh đã tạo nên trong tiểu thuyết của mình cả một thế giới nghệ thuật phong phú ”
Anh Chi bình luận về “Hiện tượng văn chương Hồ Anh Thái”(Tạp
chí Nghiên cứu Văn học 8/2009): “Hồ Anh Thái là nhà văn của cuộc sống đang cuồn cuộn trước mắt”
Những đánh giá ấy bước đầu giúp chúng ta cảm nhận về phong cách văn chương Hồ Anh Thái: một cây bút mang tính chuyên nghiệp cao, một kiến văn rộng lớn, một “tấc lòng ưu ái” với đời
Bên cạnh những bài viết về một số tác phẩm đặc sắc của Hồ Anh Thái là
những công trình khoa học đầy tâm huyết, tìm hiểu tác phẩm Hồ Anh Thái
trên nhiều phương diện: quan niệm về con người, các kiểu nhân vật, những
cách tân trên nhiều mặt…Có thể kể tới các luận văn thạc sĩ trường Đại học
Vinh của Võ Anh Minh (Văn xuôi Hồ Anh Thái nhìn từ quan niệm về con
người – 2005); Hoàng Thị Thúy Hằng (Những cách tân trong văn xuôi Hồ Anh Thái -2007)
Đa số các luận văn đi theo hướng đánh giá chung về văn xuôi Hồ Anh Thái (bao gồm cả hai thể loại: tiểu thuyết và truyện ngắn)
1.4.2 Những bài viết về truyện ngắn Hồ Anh Thái :
Diệu Hường khám phá “Một góc nhỏ văn chương Hồ Anh Thái” (Văn
Nghệ, số 12- 22/3/2008):“ Với gần ba mươi tiểu thuyết và tập truyện ngắn đã xuất bản, phần lớn trong đó đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, Hồ Anh Thái là một trong những nhà văn sung sức nhất và được đón đọc nhiều nhất ở Việt Nam hiện nay ”
Nguyễn Tham Thiện Kế “Cảm theo cách của “Đức Phật, nàng Savitri
và tôi”(Tạp chí Sông Hương 05/10/2009): “ Đã nhớ Hồ Anh Thái với sự giễu nhại, hài hước thâm trầm Những nụ cười chậm được bật ra khi đã đọc qua
Trang 7vài ba trang hoặc có khi cả thiên truyện Lớn hơn hết ở khu vực giọng điệu giễu nhại sâu thẳm vẫn là sự sẻ chia, thông cảm Tinh thần của người có cơ duyên với Phật pháp Và cũng không xa lạ với chủ nghĩa nhân văn phương Tây
Điều này được thể hiện hầu hết qua các tác phẩm: Tự sự 265 ngày, Bốn lối vào nhà cười, Cõi người rung chuông tận thế, Mười lẻ một đêm…”
Cuộc trò chuyện với Nguyễn Thị Minh Thái: “Cười để khóc hay để vui
vẻ giã từ quá khứ?” (Tuổi trẻ Online 19/06/2004) đã bộc lộ tâm sự của tác
giả “Tự sự 265 ngày”: “Trong cuốn sách này tôi chỉ muốn đưa ra trước người
đọc một tấm gương lồi để họ soi vào và tự hỏi: đấy là ta hay không phải là ta? Tôi cũng không muốn làm cho ai phải khóc Chỉ vì đối với tôi cuộc đời nhiều khi buồn quá, buồn quá thì phải cười.”
Như vậy, qua một số bài báo như đã dẫn, bước đầu có thể thấy: truyện ngắn là một bộ phận quan trọng trong sáng tác của Hồ Anh Thái, chứa đựng tài năng và tâm huyết tác giả, góp phần thể hiện cảm hứng nhân văn và phê phán của nhà văn trước cuộc đời
1.4.3 Những bài viết, công trình nghiên cứu về phong cách văn xuôi
Hồ Anh Thái:
Nhà nghiên cứu Nguyễn Ðăng Điệp viết trong “Hồ Anh Thái- người mê
chơi cấu trúc”: “Hồ Anh Thái đã lao động cật lực trên từng con chữ như một nhà văn chuyên nghiệp, và, với một vốn văn hóa dày dặn, anh không rơi vào tình trạng tự thỏa mãn mà luôn tìm cách bứt phá trên cơ sở kiến tạo những kiến trúc mới mẻ, táo bạo”[14]
Chính Hồ Anh Thái cũng quan niệm “Nhà văn phải có nhiều giọng
điệu”(VnExpress 7/4/2005): “Nhà văn thì giọng điệu nào cũng nên thực hiện, phương pháp nào cũng nên sử dụng ”
Hoài Nam khẳng định “Hồ Anh Thái - người lúc nào cũng đang viết” (Văn Nghệ Tết Mậu Tý 2008): “ Điểm qua ba giai đoạn sáng tác của Hồ Anh
Thái, dễ thấy rằng anh là người “ngọ nguậy không yên”, không tự bằng lòng với sự ổn định của cái mà người ta vẫn quen gọi là “phong cách” Một nhà
Trang 8văn đa phong cách? Một gã Don Juan của sự sáng tạo? Giản dị hơn, tôi nghĩ anh là nhà văn của tinh thần tự đổi mới liên tục, không lặp lại người khác và cũng không lặp lại chính mình”
Ngọc Ánh cũng cho rằng: “Nhà văn Hồ Anh Thái: Sáng tạo, bứt phá
trên từng con chữ”(HàNội Mới 05/02/2008): “Văn chương với Hồ Anh Thái
là một nghiệp với đa tầng phong cách biểu hiện, với một tiềm năng đọc mới
và thấu suốt cuộc sống, con người, những gì mà với nhiều người khác đã trở nên cũ kỹ Anh biết vượt qua những lối mòn tư duy coi văn học như là tấm gương phản ánh hiện thực một cách đơn giản để nhìn cuộc đời.”
Có thể thấy rằng, với Hồ Anh Thái: “Phong cách không phải là cái vỏ
ngoài bất biến và ngoan cố” (Lê Hồng Lâm - Báo Sinh viên - 9/2001)
Cùng với những bài báo, có nhiều công trình khoa học tìm hiểu tác phẩm
Hồ Anh Thái trên nhiều phương diện trong truyện ngắn: nhân vật, nghệ thuật
trần thuật, tư duy tiểu thuyết… từ góc nhìn của các chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lý thuyết và lịch sử văn học… Đó là những luận văn thạc sĩ Đại
học Sư Phạm Hà Nội của Nguyễn Thị Vân (Nghệ thuật truyện ngắn Hồ Anh
Thái- 2005); Điêu Thị Tú Uyên (Nhân vật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái-
2006); Lê Thị Thu Hương (Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Hồ Anh
Thái – 2007); Luận văn thạc sĩ Đại học Vinh của Trần Hữu Thiện (Tư duy tiểu thuyết trong truyện ngắn Hồ Anh Thái - 2009)
Tuy nhiên, ở chuyên ngành Lý luận văn học, nghiên cứu chuyên sâu về mảng truyện ngắn Hồ Anh Thái chưa nhiều Đặc biệt, phương diện phong cách nghệ thuật truyện ngắn hầu như chưa được chú trọng một cách thấu đáo Dựa trên thành công nhiều mặt của các đề tài khoa học đi trước, chúng
tôi hy vọng “Phong cách truyện ngắn Hồ Anh Thái” sẽ là một công trình
khoa học góp phần đánh giá và chỉ ra nét đặc sắc, riêng biệt của những sáng tác độc đáo Hồ Anh Thái ở thể loại truyện ngắn
2 Mục đích nghiên cứu:
- Chỉ ra đặc sắc trong phong cách truyện ngắn Hồ Anh Thái qua một số phương diện như: nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngôn ngữ và giọng điệu
Trang 9- Từ đó, ghi nhận đóng góp của tác giả này trong nền văn học Việt Nam đương đại
3 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tìm hiểu một số phương diện trong phong cách truyện ngắn Hồ Anh Thái trong tương quan với tiểu thuyết Hồ Anh Thái và sáng tác của một số tác giả cùng thời: Nguyễn Việt Hà, Thuận, Nguyễn Bình Phương…
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
* Truyện ngắn của Hồ Anh Thái gồm:
1 Chàng trai ở bến đợi xe - Tập truyện ngắn NXB Tác phẩm mới Hội
nhà văn, 1985
2 Những cuộc kiếm tìm -Tập truyện ngắn, NXB Hải phòng, 1988
3 Mảnh vỡ của đàn ông – Tập truyện ngắn, NXB Hội nhà văn, 2006
4 Lũ con hoang – Tập truyện ngắn, NXB Hà nội, 1995
5 Tự sự 265 ngày -Tập truyện ngắn, NXB Hội nhà văn Hà nội, 2005
6 Tiếng thở dài qua rừng kim tước – Tập truyện ngắn, NXB Hội nhà
văn , 2007
7 Bốn lối vào nhà cười – Tập truyện ngắn, NXB Đà nẵng, 2004
8 Sắp đặt và diễn- Tập truyện ngắn, Nxb Hội Nhà Văn, 2005
Ngoài đối tượng khảo sát chủ yếu trên các truyện ngắn ra, chúng tôi còn
khảo sát một số tiểu thuyết tiêu biểu của Hồ Anh Thái trong so sánh với một
số tác giả đương thời để làm nổi bật phong cách truyện ngắn Hồ Anh Thái
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Quan niệm về con người, các kiểu nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật
- Giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái
5 Phương pháp nghiên cứu và bố cục luận văn
Luận văn sử dụng một số phương pháp như:
- Phân tích, tổng hợp những nét chung và riêng trong các tác phẩm để thiết lập hệ thống luận điểm
Trang 10- So sánh giữa các thời kỳ sáng tác nhằm làm rõ quá trình vận động của truyện ngắn Hồ Anh Thái
- So sánh đối chiếu với một số tác phẩm đồng đại để thấy được nét riêng biệt, nổi bật phong cách truyện ngắn Hồ Anh Thái
*Bố cục luận văn : Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận và Thư mục tài
liệu tham khảo, Phần nội dung có 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý thuyết phong cách và sự hình thành phong
cách văn xuôi Hồ Anh Thái
Chương 2: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn Hồ Anh
Thái
Chương 3: Giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Hồ
Anh Thái
6 Dự kiến đóng góp của luận văn
Chỉ ra những nét đặc sắc trong phong cách truyện ngắn Hồ Anh Thái Qua đó góp phần khẳng định vị thế của Hồ Anh Thái trong văn học Việt Nam đương đại
Trang 111.1.1 Một số quan niệm về phong cách
Khái niệm phong cách có nguồn gốc từ “stylos”(Hy Lạp), “stylus”( La Mã), “style”(Pháp) Nó được coi như một thuật ngữ của ngôn ngữ học, nghệ thuật và văn học (với nghĩa khởi đầu là “nét chữ, bút pháp”)
Có nhiều định nghĩa về phong cách - những định nghĩa này xòe ra như cái quạt giữa sự thừa nhận phong cách là một phạm trù thẩm mỹ rộng nhất, bao quát và sự thừa nhận nó như những đặc điểm của một tác phẩm văn học riêng lẻ (theo M.B Khravchenco)
Ở đây chúng tôi tạm chia ra hai khu vực:
1- Quan niệm của các nhà nghiên cứu nước ngoài (chủ yếu là Liên Xô cũ) 2- Quan niệm của các nhà nghiên cứu trong nước
Trong phần này, chúng tôi sẽ điểm qua một số quan niệm trong hai khu vực đó
1.1.1.1 Quan niệm của các nhà nghiên cứu nước ngoài
Ở phương Tây ngay từ thời cổ đại với các đại biểu xuất sắc như Platon, Aristotle, khái niệm phong cách đã được nghiên cứu và vận dụng Thế kỉ XIX
- XX, khái niệm phong cách ngày càng được quan tâm sâu sắc
Do điều kiện tài liệu có hạn, ở đây chúng tôi nghiên cứu chủ yếu dựa trên các định nghĩa khác nhau về phong cách của các nhà nghiên cứu Liên Xô
cũ
Đ Likhachev đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của phong cách nhà văn trong việc tái tạo hiện thực đời sống bằng các phương tiện nghệ thuật, đồng
thời nhìn nhận phong cách với hai tư cách: “phong cách như là hiện tượng
ngôn ngữ văn học và phong cách như là một hệ thống hình thức và nội dung
Trang 12nhất định” Còn Ar Grigorian nêu lên mối quan hệ gắn bó giữa phong cách
với phương pháp, thế giới quan, bút pháp của cá nhân nghệ sĩ: “Phong cách là
sự thống nhất cao nhất của tất cả các phạm trù đó”
V Turbin nhấn mạnh tới yếu tố ngôn ngữ trong việc định hình một phong cách V Jirmunxky chú ý tới thế giới quan và sự biểu hiện thế giới quan đó bằng các phương tiện ngôn ngữ thông qua hình tượng
V Kovakev coi “Phong cách là sự thống nhất chỉnh thể của nhà văn”
L.Novichenco hiểu phong cách văn học là vẻ đặc thù trong những tác phẩm của nhà văn hoặc nhóm nhà văn có chung quan điểm về cuộc sống Và phong cách biểu hiện tính đặc trưng về hình thức và nội dung tác phẩm
V Đneprov và Ya Elxberg đưa ra một định nghĩa tương đối hoàn chỉnh
về phong cách: “ Phong cách biểu hiện sự toàn vẹn của hình thức có tính nội
dung được hình thành trong sự phát triển, trong tác động qua lại và trong sự tổng hợp các yếu tố của hình thức nghệ thuật, dưới ảnh hưởng của đối tượng
và nội dung tác phẩm, của thế giới quan của nhà văn và của phương pháp của anh ta vốn thống nhất với thế giới quan Phong cách được hình thành từ tất cả những yếu tố ấy, nảy sinh từ chúng mà ra Phong cách- đó là sự thống trị của hình thức nghệ thuật, là sức mạnh tổ chức của nó”
Trong “Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học”, M B
Khravchenco đã dành cả chương 3 để bàn đến những vấn đề phong cách Tác giả đưa ra rất nhiều định nghĩa khác nhau về phong cách của các nhà nghiên cứu Liên Xô cũ ( như đã nêu trên) để khẳng định sự phong phú và tính đa dạng trong quan niệm về phong cách Tuy không có sự thống nhất chung,
nhưng về cơ bản các nhà nghiên cứu đã nhất trí coi phong cách là “biểu hiện
những đặc điểm của cá tính sáng tạo nhà văn, sự hoàn chỉnh của nhận thức nhà văn về cuộc sống, của cách nhìn đối với thế giới” 27, tr.144 Phong
cách cá nhân được hình thành dần trong quá trình sáng tạo, trong việc nắm bắt
và xử lý các vấn đề của cuộc sống; bằng các thủ pháp nghệ thuật, các phương thức kết cấu tác phẩm, các yếu tố ngôn ngữ, đề tài, nhân vật, tư tưởng…Với tất cả các yếu tố nội dung và hình thức mang tính đặc thù của tác phẩm, nhà
Trang 13văn sẽ tạo lập cho mình một phong cách riêng Bên cạnh tính ổn định, nhà văn phải tránh lặp lại mình bằng cách đi tìm những phương thức thể hiện mới Như vậy, xung quanh khái niệm phong cách có nhiều quan điểm khác nhau nhưng tựu trung lại có hai luồng ý kiến cơ bản: một nhấn mạnh sự thống nhất của những yếu tố nội dung và yếu tố hình thức của tác phẩm; một cho rằng phong cách được coi như là hình thức toàn vẹn có tính nội dung
Mặc dù vậy, vẫn có thể nhận ra sự thống nhất, bởi các tác giả đều quan tâm đặc biệt đến hai yếu tố: thứ nhất là nội dung và hình thức nghệ thuật của tác phẩm văn chương- và thứ hai là tài năng độc đáo của cá nhân nghệ sĩ
1.1.1.2 Quan niệm của các nhà nghiên cứu trong nước
Phong cách học Việt Nam, theo Trần Đình Sử, tuy khuynh hướng có khác nhau, song về đại thể hầu hết các nghiên cứu đều có cách tiếp cận chung khá thống nhất là xét tần xuất để xác định hiện tượng độc đáo, sau đó xây dựng mô hình chỉnh thể, hệ thống, giải thích các hiện tượng tìm được về mặt quan niệm của thời đại và của tác giả Đó là cách tiếp cận khách quan
Hoài Thanh có lần viết về phong cách trong phê bình văn học : “Chớ vội
đi tìm cái gọi là phong cách Hãy cứ nghiên cứu thật sâu, thật kỹ, gắng phát hiện những vấn đề ẩn khuất bằng cả tâm hồn và trí tuệ của mình, kỳ thật chín Sau đó hãy cầm bút Và hãy cố biểu đạt sao cho chính xác nhất, gọn nhất ý tưởng của mình Lúc này, phong cách tự nó sẽ đến Không phải mất công tìm kiếm gì cả Bởi vì phong cách chính là tổng thể quá trình sáng tác đó” Ý kiến
ấy phải chăng cũng là quan niệm về phong cách văn chương nói chung ? Một trong những người đầu tiên thực hành phê bình phong cách học ở
Việt Nam là Phan Ngọc với công trình Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du
trong Truyện Kiều Công trình này là một tìm tòi về phong cách học trong
khi bộ môn này ở Việt nam còn thiếu một lí luận nhất quán để khẳng định như một khoa học thật sự Ông phải tiến hành xây dựng lại các khái niệm của môn phong cách học, khám phá mối quan hệ nội dung và hình thức với tần xuất lặp lại của một hiện tượng sau đó kiểm chứng trên trục lịch sử và thời đại Theo Phan Ngọc, mỗi một ký hiệu ngôn ngữ có hai mặt, mặt thông báo và
Trang 14mặt biểu cảm Phong cách học là khoa học nghiên cứu mặt biểu cảm của
ngôn ngữ: các kiểu lựa chọn và giá trị biểu cảm của các kiểu lựa chọn ấy Một
kiểu lựa chọn có giá trị thẩm mỹ trước hết phải được chuẩn bị về ngữ cảnh, môi trường sống cho nó và của nó Đánh giá một hiện tượng phong cách học chính là nhận xét xem nó có phù hợp với ngữ cảnh hay không
Sau khi đã trình bày một cách sáng rõ quan niệm của mình về phong cách và phong cách học, Phan Ngọc đi sâu vào tìm hiểu phong cách Nguyễn
Du trong Truyện Kiều Ông đã thực hiện một loạt những đối lập Truyện Kiều với tất cả những gì liên quan đến Truyện Kiều trước đó để tìm ra cái bước đổi mới của Nguyễn Du Như thế phong cách học của Phan Ngọc không còn là phong cách học hình thức, mà đã gắn chặt với nội dung, điều kiện lịch sử và khu biệt với phong cách thời đại
Đỗ Lai Thúy thì coi phong cách là sự lệch chuẩn [85] Mỗi thời đại văn
hóa tạo ra một phong cách của mình, và mỗi nhà văn sống trong thời đại đó lại có phong cách riêng Phong cách của họ chính là sự lệch so với cái chuẩn của thời đại Từ ý tưởng trên, Đỗ Lai Thúy đã đối sánh hai phong cách thơ Nôm: Bà huyện Thanh Quan và Hồ Xuân Hương Thơ Thanh Quan là hòa điệu của sự thống nhất giữa con người và vũ trụ, giữa nội tâm và ngoại giới Mỗi bài thơ của bà là một hệ thống niệm, luật, vần, đối hết sức chặt chẽ hài hòa, trang trọng đến mức cổ điển Còn thơ Hồ Xuân Hương là một sự lệch chuẩn hoàn toàn so với phong cách Thanh Quan nói riêng và toàn bộ phong cách Đường thi nói chung Hồ Xuân Hương cũng là người chuyên thơ Đường luật Nhưng cách sử dụng ngôn ngữ của nữ sĩ này nhằm chống lại những phép tắc giả tạo, trái với đời sống tự nhiên của một xã hội tiểu nông đang bị Nho giáo hóa nặng nề Tiếng nói cá nhân mạnh mẽ của bà trong những bài thơ
“Thi trung hữu quỷ” ấy đã phá vỡ phong cách chung của thể loại thơ Đường
để tạo nên phong cách thơ Hồ Xuân Hương – Bà Chúa Thơ nôm: Một phong cách cà khịa trong hoài niệm phồn thực
Nguyễn Đăng Mạnh lại coi tác giả là nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến tác phẩm Thậm chí, tác phẩm chỉ là sản phẩm, là con đẻ của nhà văn, nên
Trang 15có thể xem cha để biết con, xem cây táo để biết quả táo… Hành trình đi
vào thế giới nghệ thuật của Nguyễn Đăng Mạnh có xuất phát điểm là Nhà
văn, đến điểm giữa là Tư tưởng nghệ thuật và điểm cuối là Phong cách [30]
Rồi phong cách lại được ông giải thích bằng những tính cách cá biệt của nhà văn, nên rút cục điểm đầu và điểm cuối gặp nhau
Đỗ Đức Hiểu trong Suy nghĩ về phong cách lớn và phân kỳ lịch sử văn
học Việt Nam đã xem những phong cách lớn như là tiêu chí phân kỳ văn
học Đó là tiêu chí dựa trên những biến động, những thay đổi của bản thân văn học trong quy luật phát triển của nó Khi một thời kỳ văn học có những đổi thay, những phá vỡ, những sáng tạo, những bước ngoặt, chúng ta có thể xác định bước chuyển mình của nó sang một thời kỳ mới Theo đó, ông chủ trương phân chia văn học sử Việt Nam thành hai thời đại lớn: thời đại thứ nhất (thế kỷ X-XIX) với phong cách được đặc trưng bởi các sáng tác tiêu biểu nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu XIX; thời đại thứ hai (đầu thế kỷ XX trở về sau) với phong cách mang đậm dấu ấn sáng tác của Hồ Chí Minh - mỗi thời đại được đánh dấu bằng một phong cách lớn
Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi trong Từ điển thuật ngữ
văn học đưa ra khái niệm: “Phong cách sáng tác (phong cách nghệ thuật) là một phạm trù thẩm mĩ, chỉ sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hình tượng, của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn, trong tác phẩm riêng lẻ, trong trào lưu văn học hay văn học dân tộc
Trong nghĩa rộng: Phong cách là nguyên tắc xuyên suốt trong việc xây dựng hình thức nghệ thuật, đem lại cho tác phẩm một tính chỉnh thể có thể cảm nhận được, một giọng điệu và một sắc thái thống nhất ” 16, tr.255, 256
Và Phương Lựu cũng đưa ra một định nghĩa tương tự: “Phong cách là
chỗ độc đáo về tư tưởng cũng như nghệ thuật, có phẩm chất thẩm mỹ thể hiện trong sáng tác của những nhà văn ưu tú” [48, tr.89] Quả thật tính độc đáo là
yếu tố quyết định tạo phong cách nghệ thuật
Trang 16Phê bình phong cách học, cũng như mọi lĩnh vực khác, không chỉ có một kiểu quan niệm duy nhất Nhiều lối đi đã và sẽ nảy sinh trên con đường tìm đến ý tưởng thống nhất Nhìn chung các nhà nghiên cứu đều nhấn mạnh cá tính sáng tạo độc đáo mang tính thẩm mỹ của nhà văn, cụ thể hoá các yếu tố tạo phong cách nghệ thuật tác giả Nhà văn muốn có phong cách riêng trước hết phải có tư tưởng độc đáo, có cách cảm nhận thế giới độc đáo qua cảm
hứng và hệ thống phương thức riêng, lẽ dĩ nhiên phải là “tính độc đáo chân
chính” (Hêghen)
1.1.1.3 Quan niệm về phong cách của tác giả luận văn
Phê bình phong cách học còn là một con đường đang được khai phá Và trên con đường này, các nhà nghiên cứu còn có nhiều kiến giải mới, quan niệm mới về tác phẩm văn chương, về ngôn ngữ văn chương, về phong cách tác phẩm, tác giả và thời đại Và quan trọng hơn, sau khi đã mô tả được phong cách thì phải lý giải tại sao lại có phong cách ấy từ cái nhìn nghệ thuật và cái nhìn thế giới của nhà văn
Qua những ý kiến về phong cách của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, có thể rút ra những nét cơ bản nhất về phong cách: Phong cách là những biểu hiện độc đáo của tài năng sáng tạo nghệ thuật, có tính thống nhất và tương đối ổn định, được lặp lại trong nhiều tác phẩm của nhà văn, thể hiện cái nhìn và sự chiếm lĩnh nghệ thuật độc đáo của nhà văn đối với thế giới và con người
Văn học rất cần sự đa dạng, độc đáo của những cá tính sáng tạo Sự tồn tại và phát triển của văn học không thể tách rời phong cách Bất cứ nghệ sĩ nào cũng có đặc điểm riêng của mình, nhưng phong cách thì không thể ai cũng có
Phong cách - đó là kết quả sáng tạo không mệt mỏi của mỗi nghệ sĩ và “tương
lai chỉ thuộc về những ai nắm được phong cách” (V.Hugo)
Xin mượn lời Thanh Thảo để kết thúc mục này: “ Vài bài thơ cũng có thể
làm nên một phong cách thơ, ngược lại nghìn bài thơ chưa chắc làm nên một phong cách” 77, tr.107
Trang 171.1.2 Một số khuynh hướng nghiên cứu phong cách
Có thể có nhiều quan niệm khác nhau về các khuynh hướng nghiên cứu phong cách Trong luận văn này, chúng tôi dựa theo quan niệm của PGS.TS Tôn Thảo Miên
Theo PGS.TS Tôn Thảo Miên, có 4 nhóm khuynh hướng nghiên cứu phong cách:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về phong cách
- Nghiên cứu phong cách tác giả
- Nghiên cứu phong cách tác phẩm
- Nghiên cứu phong cách tác giả và tác phẩm
Luận văn chủ yếu tìm hiểu về phong cách tác giả, cụ thể là tác giả Hồ Anh Thái
Căn cứ để khẳng định phong cách tác giả là những đặc điểm nổi bật về nội dung và hình thức trong tác phẩm văn học, tạo nên tính độc đáo và giá trị của một nhà văn, một hiện tượng văn học Theo chúng tôi, những biểu hiện độc đáo và giá trị thể hiện tài năng sáng tạo ấy, đều được chi phối từ tư tưởng nghệ thuật của tác giả biểu hiện cụ thể qua cảm hứng sáng tác, thế giới hình tượng, giọng điệu và ngôn ngữ…
Văn chương là sản phẩm tinh thần của con người, một sản phẩm đặc thù mang dấu ấn độc đáo của cá tính sáng tạo Sáng tạo nghệ thuật là hoạt động tất yếu của người nghệ sĩ Nhưng người nghệ sĩ chỉ có thể tồn sinh khi tạo được cho mình một phong cách, một cá tính riêng trong sáng tạo Vấn đề này phải được xem như một chuẩn giá trị làm nên sự hiện hữu của nhà văn trong tâm thức người đọc Sự định hình phong cách của mỗi nhà văn không chỉ là quá trình rèn luyện mà còn thể hiện tài năng của họ
1.2 Những nhân tố tác động đến sự hình thành phong cách văn xuôi
Hồ Anh Thái
1.2.1 Những nhân tố tác động đến sự hình thành phong cách nhà văn nói chung: Truyền thống gia đình, hoàn cảnh sống có ảnh hưởng to lớn đến
sự hình thành phong cách nhà văn
Trang 18“Phong cách là người” Câu nói của Buyphông - nhà văn Pháp nổi tiếng-
khẳng định tính thống nhất giữa nét độc đáo nhà văn thể hiện trong sáng tác và bản chất con người anh ta Đồng thời, phong cách – cái làm nên bản lai diện mục của nhà văn là một minh chứng cho cái tôi nghệ sĩ chân chính của họ - khẳng định bản lĩnh cá nhân của nghệ sĩ trong sáng tạo nghệ thuật
Mỗi người sinh ra và lớn lên đều có riêng trong mình một khí chất, năng lực và kinh nghiệm sống Quá trình đó dần hình thành trong mỗi chúng ta một
cá tính đặc biệt gọi là phong cách Trong cùng một hoàn cảnh, phong cách của mỗi người vẫn không hoàn toàn giống nhau
Trong Nhà văn Việt Nam hiện đại: Chân dung và phong cách, Nguyễn
Đăng Mạnh rất coi trọng yếu tố tác giả Coi cá tính tạo nên diện mạo, phong
cách văn chương nhà văn, Nguyễn Đăng Mạnh xác định: “Văn chương là một
hình thái ý thức xã hội có đặc trưng riêng Đây là lĩnh vực cần đến năng khiếu
và tài nghệ, cần cá tính và phong cách” (Nhà văn, tư tưởng và phong cách)
Quan niệm phong cách của ông chịu ảnh hưởng bởi định nghĩa Buyphông Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng có sự thống nhất con người xã hội và
chủ thể sáng tạo “Con người là một hiện tượng rất phong phú và phức tạp Vì
thế đối với nhà văn, con người trong tác phẩm và con người ở ngoài đời không đồng nhất Văn tức là người, ý kiến ấy không nên quan niệm một cách đơn giản, máy móc Tuy nhiên, không đồng nhất không có nghĩa là không thống nhất Vì thế sự đối chiếu tư tưởng nhà văn trong nghệ thuật với con người trong đời sống của ông ta vẫn rất có ý nghĩa”
Để có thể tìm hiểu chủ thể sáng tạo qua con người xã hội, Đỗ Lai Thúy cho rằng: con người xã hội bao giờ cũng là nhân vật của vũ hội hoá trang, nên muốn thấy được bộ mặt thực của họ, phải biết nhòm qua chỗ hở của mặt nạ [86] Đó là cá tính
Nguyễn Đăng Mạnh chú ý nhiều đến cá tính, tính tình và tác phong sinh
hoạt của nhà văn là vì vậy Ông coi phong cách “phụ thuộc vào những thói
quen tâm lý và những sở trường riêng của nhà văn” Như Xuân Diệu sợ cô
đơn, quý thời gian, chu đáo với bạn bè; Nguyễn Tuân, khó tính, ham đọc
Trang 19không ham viết nhiều, góc cạnh, cá tính; Nguyên Hồng xuề xòa, dễ xúc động… Từ đó, dựng nên phong cách nhà văn, như Nguyễn Tuân ngông, Nguyên Hồng thành thực trong sự rung động cực điểm của tâm hồn
Nghiên cứu phong cách trong mối quan hệ với nhân thân nhà văn, thực chất là nghiên cứu tư tưởng của nhà văn đó Tầm cỡ một nhà văn phụ thuộc vào tầm cỡ tư tưởng của ông ta Nguyễn Đăng Mạnh đã gọi tư tưởng của nhà
văn là tư tưởng nghệ thuật (một thuật ngữ mượn Bêlinski): “nhận thức bằng
toàn bộ con người tinh thần với tất cả nội dung phong phú và tính tổng thể toàn vẹn của nó” Nguyễn Đăng Mạnh coi tính chủ thể là quan trọng hơn, có
tính quyết định, bởi người nhận thức ở đây là nghệ sĩ, là những cá nhân với những cá tính độc đáo Từ đó, tư tưởng nghệ thuật mới là của riêng của mỗi
nhà văn
Tư tưởng nghệ thuật của một nhà văn, theo Nguyễn Đăng Mạnh, phụ thuộc vào những hoàn cảnh tác động đến nhà văn đó Ông chia ra thành hoàn
cảnh lớn và hoàn cảnh nhỏ Hoàn cảnh lớn chính là thời đại nhà văn sống
“Hoàn cảnh lớn quyết định tầm cỡ tư tưởng của nhà văn Nhà văn lớn phải là
nhà văn của dân tộc, của nhân dân, của thời đại mình” Hoàn cảnh lớn chi
phối tất cả nhà văn sống cùng thời với nhau, nhưng lại không giống nhau Bởi
sự tác động đó thông qua một lăng kính là hoàn cảnh nhỏ Mà hoàn cảnh nhỏ
của mỗi người thì lại rất khác nhau
Nguyễn Đăng Mạnh rất chú ý đến hoàn cảnh nhỏ của nhà văn Ví như Xuân Diệu- “cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong”, từ nhỏ đã phải xa mẹ, khao khát tình thương, dễ mặc cảm vì sự thờ ơ lạnh nhạt của người đời Điều ấy giải thích ở Xuân Diệu một trái tim thiết tha, vồ vập bám riết lấy cuộc sống, muốn giao cảm hết mình với mọi người, và một linh hồn luôn cảm thấy cô đơn, bị
ruồng bỏ Nguyễn Tuân thì sinh ra và lớn lên trong Vang bóng một thời:
những tiệc rượu, tiệc trà đầy nghi lễ của một lớp người dường như còn sót lại của thời đại trước, cái “ngông” của một nhà thơ tài hoa bất đắc chí… Khó có thể hiểu tư tưởng nghệ thuật của Nguyễn Tuân nếu không đặt trong quan hệ với môi trường sống như thế của nhà văn
Trang 20Trong quá trình nghiên cứu, ông đặt mỗi tác phẩm vào “hoàn cảnh lớn”,
“hoàn cảnh nhỏ”, tìm sự thống nhất và mối liên hệ giữa các tác phẩm, thậm chí giữa các tình tiết rải rác đó đây trong nhiều tác phẩm, tìm sự phát triển của các yếu tố qua các chặng đường sáng tác của từng tác giả Rồi mới dựng lên
bộ ba vấn đề: Quan điểm sáng tác – Quá trình sáng tác – Phong cách nghệ thuật, để thâu tóm toàn vẹn sự nghiệp của mỗi vị
Như vậy, tính cách nhà văn được tạo nên từ hoàn cảnh sống, môi trường sống (đôi khi mang tính cá biệt đối với cá nhân nhà văn) Và chính điều đó giúp lý giải quan điểm sáng tác trong suốt quá trình sáng tạo cũng như phong cách nghệ thuật của mỗi nhà văn Dựa trên những nhận định ấy của nhà
nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh, chúng tôi tìm hiểu những nhân tố tác động
đến sự hình thành phong cách nhà văn Hồ Anh Thái
1.2.2 Những nhân tố tác động đến sự hình thành phong cách nhà văn
Tuy nhiên, ngay sau niềm vui chiến thắng, cả dân tộc phải đối mặt với hàng loạt khó khăn chồng chất Đó là thời kỳ chúng ta lâm vào khủng hoảng sâu sắc về kinh tế, xã hội Cơ chế quản lý cũ bộc lộ nhiều bất cập đòi hỏi phải
có sự đổi mới Đất nước hòa bình nhưng cuộc sống vẫn chồng chất khó khăn Nhiều nhu cầu chính đáng, tối thiểu của nhân dân về vật chất và văn hoá chưa được đảm bảo Mặt khác các hiện tượng tiêu cực trong xã hội phát triển, những hành vi lộng quyền, tham nhũng của một sổ cán bộ chưa kịp thời bị trừng trị , công bằng xã hội bị vi phạm
Thực trạng đó đã lay động dữ dội niềm tin của mọi tầng lớp nhân dân
Đúng như nhận xét của nhà văn Nguyễn Khải: “Chiến tranh ồn ào, náo động
Trang 21mà lại có cái yên tĩnh giản dị của nó Hoà bình yên tĩnh, thanh bình mà lại chứa chấp những sóng ngầm, những gió xoáy bên trong.”[26, tr.72,73]
Chấm dứt hai cuộc xung đột biên giới phía Bắc và Tây Nam, nước ta đã bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và khôi phục, giữ vững tình đoàn kết hữu nghị hợp tác với các nước láng giềng
Thập niên 1980, Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng Đổi mới- một chương trình cải cách toàn diện các mặt của đời sống xã hội Chính sách Đổi mới được chính thức thực hiện từ Đại hội Đảng VI, năm 1986
Đổi mới được thực hiện trên các mặt: kinh tế, xã hội, chính trị, tư duy, cơ chế, văn hóa Quan điểm Đổi mới đã được hoàn thiện dần trong quá trình thực hiện Về kinh tế: chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Về chính trị: chuyển từ việc lãnh đạo kinh tế chủ quan, duy ý chí sang tôn trọng quy luật khách quan của thị trường Đổi mới văn hóa bắt đầu cùng với Đổi mới kinh tế
Thành quả đổi mới là to lớn, toàn diện và có ý nghĩa lịch sử Mặc dù tình hình thế giới và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, nhiều khó khăn, thách thức, nhưng đất nước ta đã đạt được những thành tựu rất quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và trên các lĩnh vực khác
Bên cạnh thành tựu, chúng ta vẫn còn nhiều yếu kém và khuyết điểm; không ít vấn đề về nhận thức lý luận còn chưa đủ rõ; nhiều vấn đề thực tiễn, bức xúc chưa được giải quyết kịp thời và tốt nhất; phát triển kinh tế - xã hội nhiều mặt vẫn còn chậm và chưa vững chắc, hiệu quả, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, chuyển đổi cơ cấu kinh tế chưa theo kịp yêu cầu; văn hóa - xã hội phát triển chưa ngang tầm…[10] Việc thực hiện kinh tế thị trường do chưa có kinh nghiệm quản lý nên phân hóa giàu nghèo, ô nhiễm môi trường, lãng phí tài nguyên và phát sinh các tệ nạn xã hội là điều không thể tránh khỏi
Trang 22Đầu thế kỷ XXI, dân tộc Việt Nam đối đầu với những thử thách khó khăn mới Trước mắt chúng ta là thời đại của một thế giới toàn cầu hóa, một nền kinh tế - khoa học mà sự phát triển đích thực phụ thuộc trực tiếp vào khả năng sáng tạo của con người Ngày nay, chúng ta đối đầu với làn sóng toàn cầu hóa
ra sao? Hòa nhập làm sao để không hòa tan trong làn sóng ấy của lịch sử? Làm sao để nhịp sống đương đại mang một phần hơi thở của chúng ta
Hội nhập với thế giới có nghĩa là đi tìm cơ hội cho dân tộc mình ở phạm
vi toàn cầu Để làm được điều đó, Việt Nam cần lắm một "tinh thần toàn cầu"
- không phải là vong bản để trở thành "thế giới" - mà là ý thức xây dựng danh
dự cho dân tộc thông qua những đóng góp của mình cho nhân loại chung
Có thể nói, bối cảnh lịch sử xã hội đất nước trong những năm cuối thế kỷ XX- đầu thế kỷ XXI có nhiều chuyển biến phức tạp Điều này có tác động không nhỏ đến đời sống văn học nước nhà
1.2.2.2 Bối cảnh văn học Việt Nam những năm cuối thế kỷ 20 - đầu thế
kỷ 21
* Vài nét về sự đổi mới tư duy và quan niệm nghệ thuật trong văn học Việt Nam đương đại
Sau 1975, đất nước ta từ chiến tranh chuyển sang hòa bình, từ đời sống
bất bình thường của “ngày có giặc” (Hữu Thỉnh) chuyển sang đời sống bình
thường Có những chuyện hôm qua văn học chưa kịp nói đến, chưa được đề cập, còn phải nhìn một cách phiến diện thì nay có điều kiện đề cập, để nhìn lại… Những điều này đòi hỏi văn học phải chuyển kịp với thời đại, phù hợp với hiện thực mới
Sau 1986, trước yêu cầu bức thiết về sự đổi mới một cách toàn diện và sâu sắc của đời sống thì văn học- một trong những hình thái ý thức xã hội tất yếu cũng làm mới mình để đáp ứng yêu cầu này Lẽ dĩ nhiên, dẫu ở thời đại nào, văn học cũng không bao giờ xa rời tiêu chí tối thượng Chân-Thiện-Mĩ
của nó Cắt nghĩa phong cách nghệ thuật của nhà văn dưới góc độ thi pháp
học là một phương pháp tiếp cận khoa học, nhất là khi người đọc đặt tác phẩm
trong phạm trù thi pháp thời đại
Trang 23Tìm hiểu những nhân tố tác động đến sự hình thành phong cách nhà văn
Hồ Anh Thái dưới ánh sáng thi pháp học, thiết nghĩ cần nhận diện rõ sự đổi mới sâu sắc trên các bình diện thi pháp của văn học sau 1975
Theo nhiều nhà nghiên cứu, đổi mới của văn học sau 1975 diễn ra trên những bình diện phổ quát sau:
Đó là quan niệm về nhà văn Nếu như, văn học 1945-1975 gắn với kiểu
nhà văn- chiến sĩ (phát ngôn cho tiếng nói thời đại, nhân danh kinh nghiệm cộng đồng) thì xu hướng dân chủ sau 1975 tạo nên cho văn học kiểu nhà văn mới Họ sáng tạo nhân danh kinh nghiệm cá nhân với ý thức cá tính cao độ
Họ không đứng cao hơn độc giả để phán truyền mà đối thoại với người đọc, chia xẻ và kiếm tìm những cách cắt nghĩa mới để sinh thể nghệ thuật của mình luôn sống Quan niệm này gần gũi với văn học trước 1945 nhưng được ý thức
ở trình độ cao hơn
Đó là quan niệm về hiện thực Hiện thực được phản ánh trong văn học
1945-1975 gắn bó chặt chẽ với cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc, âm vang hào khí thời đại- một hiện thực vận động xuôi chiều và nhìn chung rất lạc quan Sau 1975, các nhà văn không chỉ dừng lại ở phản ánh mà còn nghiền ngẫm hiện thực Trước đây, hoàn cảnh chiến tranh không cho phép họ khám phá tận cùng sự phức tạp, bề bộn, ngổn ngang của đời sống Giờ đây, do yêu cầu của thời đại, do nhu cầu tự thân của hoạt động sáng tạo, hiện thực đời sống
đi vào văn chương vẹn nguyên sự đa chiều của nó, được soi sáng, cày xới cả những phần khuất lấp, mờ tối
Đó là quan niệm nghệ thuật về con người Lịch sử văn học là lịch sử của
những quan niệm khác nhau về con người Văn học chiến tranh đã tạo dựng thành công kiểu con người sử thi, biểu trưng cho cộng đồng, mang vẻ đẹp lí
tưởng, được " bao bọc trong bầu không khí vô trùng" ( nhân vật của Nguyễn
Minh Châu) Còn văn học sau 1975 hướng đến khám phá và tạo dựng con người thế sự - đời tư, con người cá nhân với những phức tạp và bí ẩn của nó Nhà văn cắt nghĩa sự tồn tại của con người không phải ở vị thế nhà đạo đức, nhà tuyên huấn mà là nhà triết học, nhà tư tưởng Con người được nhìn ngắm
Trang 24từ nhiều góc độ nên sâu sắc hơn: đa chiều, đa nhân cách ("rồng phượng lẫn
rắn rết, thiên thần và ác quỷ")…
Đó là điểm nhìn trần thuật Văn xuôi 1945-1975 chủ yếu sử dụng phương
thức trần thuật khách quan được soi chiếu từ điểm nhìn của tác giả Nhà văn đứng cao hơn nhân vật và trở thành người phán truyền chân lí Sự đổi mới sâu sắc nhất của văn học sau 1975 ở phương diện trần thuật chính là đa dạng hoá điểm nhìn trần thuật Hiệu quả của việc trần thuật từ nhiều điểm nhìn đã tạo nên hệ thống các giá trị khác nhau về con người và hiện tượng, nhằm soi chiếu hiện thực từ nhiều chiều kích
Đó là giọng điệu trần thuật Xuất phát từ yêu cầu chiến tranh, văn học
1945-1975 là phương tiện cổ vũ, tuyên truyền cách mạng Giọng điệu chủ đạo của văn học thời kì này nhất quán ở sắc thái ngợi ca, trang nghiêm và đầy lạc quan Văn học sau 1975 đã chuyển từ đơn sang đa giọng Nhu cầu khẳng định
cá tính, nhận thức và khám phá tận cùng các đối tượng nghệ thuật đã làm nảy sinh các giọng điệu: hoài nghi, chất vấn, chiêm nghiệm, triết lí, giễu nhại Chính chất liệu ngôn ngữ đời thường thô nhám, giàu màu sắc khẩu ngữ ùa vào trang văn làm nên sự đa giọng điệu này
Trước 1975, văn học Việt Nam chủ yếu là văn học sử thi- tiếng nói của tư
tưởng quốc gia, đặt ra những vấn đề mang tầm vóc lịch sử, liên quan tới vận
mệnh và sự sống còn của cả dân tộc Khi tiếng nói sử thi lắng xuống, thì tiếng
nói thế sự vang lên Văn học thế sự sau 1975 là tiếng nói của tâm trạng đại
chúng, trở về với hiện thực đời thường- những gì văn học sử thi thường dấu
kín, không được nói, không dám nói
Vượt qua mọi sự cấm kỵ, văn học sau 1975 cất lên tiếng nói về cái sai, cái xấu và cả cái ác trong nội bộ chúng ta Nguyễn Mạnh Tuấn tố cáo sai lầm trong cung cách làm ăn, lề lối quản lý Nguyễn Minh Châu luận bàn về sự sơ lược, giản đơn trong những quan niệm về con người từng tồn tại lâu dài trong văn học và ý thức xã hội Dương Thu Hương lên án cái hèn, sự ngu dại, nhẹ dạ
cả tin Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường vẽ nên sự nhếch nhác của những lề thói được nuôi dưỡng hàng ngàn đời nay sau lũy tre làng Ma Văn Kháng lo lắng
Trang 25về sự sa sút đạo đức, sự băng hoại không thể nào níu giữ của phong hóa và sự tàn bạo, dữ dội của đời sống bán khai Nguyễn Huy Thiệp cay độc triết lý về
sự phân rẽ trong quan niệm nhân sinh giữa các thế hệ và sự đốn mạt của con người Sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài đâu đâu cũng thấy có
ma quỷ hiện hình biết nói thứ tiếng của con người
Tuy vậy, đừng nên nghĩ rằng, văn học sau 1975 chỉ nói tới cái phàm tục
dơ dáng, méo mó nghịch dị Văn học chân chính bao giờ cũng là vương quốc
của cái đẹp Nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến có lần nói đến “nguyên tắc tính
nữ” như là “điểm tựa tinh thần” “toả một ánh sáng dịu dàng, huyền diệu trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp”[20, tr 239]
Trước 1975, văn học nói về tình yêu đất nước quê hương, tình đồng chí đồng đội, nhưng chưa dám mạnh dạn ca ngợi tình yêu đôi lứa Có nói về tình yêu đôi lứa chẳng qua cũng là để nói về vẻ đẹp lý tưởng, đức vị tha, lòng dũng cảm và sự thuỷ chung Sau 1975, văn học nói thật tự nhiên, hồn nhiên về vẻ đẹp phồn thực của cuộc đời trần thế Sáng tác của Ma Văn Kháng, Phạm Thị Hoài, Phan Huyền Thư, Vi Thuỳ Linh như tiếng reo hò khởi loạn của cõi
thầm kín, vốn là vùng cấm bao đời nay bị thứ văn chương “ phải đạo” (chữ
của Hoàng Ngọc Hiến) chôn chặt, giấu kỹ
Trước 1975, văn học sử thi nói tới cái đẹp, cái hùng là để khẳng định sự hợp lý tuyệt đối của tồn tại Tiếng nói thế sự sau 75 lại làm nổi bật sự vô lý, phi lý của cuộc đời Mọi thiết chế xã hội được ta bày đặt ra nhất thời, tất thảy đều chật hẹp hơn khát vọng nhân bản miên viễn của của nhân loại Cái bi, cái hài của cõi nhân sinh có nguồn cội ở đấy Cho nên, dù viết về cái méo mó nghịch dị, tà ngụy ma quái, hay cái đẹp, cái xinh, văn học thế sự sau 1975 vẫn
là tiếng nói thể hiện khát vọng đổi mới xã hội Đứng trước biển, Cù Lao
Tràm của Nguyễn Mạnh Tuấn; Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ của Nguyễn Minh Châu, phóng sự đầy ắp sự thật đời sống làm
chấn động dư luận của Xuân Ba, Phùng Gia Lộc, Trần Huy Quang, Hoàng Hữu Cát… Khi kịch của Lưu Quang Vũ được công diễn , và một loạt truyện ngắn, tiểu thuyết của Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị
Trang 26Hoài, Nguyễn Khắc Trường, Tạ Duy Anh được xuất bản, thì những vang hưởng của văn học đổi mới trở nên có mãnh lực đặc biệt
Để biến tiếng nói xã hội thành tiếng nói nghệ thuật, văn học trước và sau
1975 đã tìm đến những phương thức thể hiện rất khác nhau Trước, tiếng nói
trong văn học cất lên thành tiếng hát hùng tráng; sau, nó hoá thân vào tiếng
cười trào tiếu, giễu nhại
Văn học là tiếng nói thể hiện ước mơ, khát vọng về con người và cuộc sống Mỗi thời đại văn học có tiếng nói riêng, với giọng điệu riêng Nhờ đó
mà tư tưởng nghệ thuật trong sáng tác văn học của các thời đại tìm thấy được hình thức biểu hiện cụ thể Cho nên, giọng điệu của tiếng nói nghệ thuật là nhân tố quan trọng làm nên phong cách, góp phần tạo nên bản chất thẩm mỹ của các giai đoạn, thời đại văn học
Có thể nói rằng, quá trình đổi mới của văn học sau 1975 diễn ra khá toàn diện và sâu sắc từ nhà văn đến công chúng, từ bản chất văn học đến tư cách nghệ sĩ, từ tư tưởng đến thi pháp Nhận diện những đổi mới ấy dưới góc độ thi pháp sẽ giúp chúng tôi dễ dàng hơn trong việc tiếp cận phong cách nhà văn Hồ Anh Thái
* Vài nét về truyện ngắn Việt Nam đương đại
GS.TS Nguyễn Thanh Hùng cho rằng: Trong bối cảnh xã hội thông tin cấp tập ngày nay, truyện ngắn là kết quả của sự lựa chọn của người viết và là tiền đề của sự lựa chọn ở người đọc
Truyện ngắn tự nó đã hàm chứa cái thú vị của những điều sâu sắc trong một hình thức nhỏ xinh, gọn ghẽ và truyền dẫn cực nhanh những thông tin mới
mẻ Đây là thể loại văn học có nội khí "một lời mà thiên cổ, một gợi mà trăm suy" Truyện ngắn có khả năng chớp lấy sự thật tiểm ẩn trong cái bình thường,
trong những sự kiện hoàn toàn có thực, những con người thực sự và sự thật về con người [24, tr 121-131]
Truyện ngắn Việt Nam đương đại thể hiện sâu sắc sự đổi mới tư duy nghệ thuật Nhà văn Nguyên Ngọc khẳng định vai trò hàng đầu của truyện ngắn trong quá trình tìm tòi thầm lặng mà quyết liệt của văn học giai đoạn này
Trang 27Theo ông, truyện ngắn hiện nay đang vượt qua tiểu thuyết “Nó sớm đạt đến
tính khách quan xã hội cao hơn, nó đi thẳng vào vấn đề thân phận con người, thế giới bên trong của con người, ý nghĩa nhân sinh, lẽ sống, con người ở đời sâu và sắc hơn”[38]
Đó cũng là nhận xét của nhà nghiên cứu Nguyễn Tuấn Anh khi ghi nhận
công lao của truyện ngắn: “Trong thời kỳ đầu của Đổi mới văn học, truyện
ngắn mở ra những mũi thăm dò, khai thác và đặt ra nhiều vấn đề đạo đức thế
sự nhanh chóng đạt đến một độ chín cả trong hình thức và nội dung mà tiểu thuyết còn chưa kịp đạt đến” [4, tr.189]
Điều này cũng được tác giả Phạm Mạnh Hùng thừa nhận trong cuốn sách
“ Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XX” (Nxb Đại học quốc gia Hà nội, H, 1999): Theo tác giả, cái mới trong những truyện ngắn này là việc “đi
vào những đề tài mới của cuộc sống sau chiến tranh, hay vẫn viết về chiến tranh nhưng với cách nhìn mới với những mối quan tâm, suy tư, trăn trở mới
Số phận con người trong cuộc sống được chú ý khai thác ở góc độ không chỉ ở cái phi thường mà còn ở cả cái bình thường”
Truyện ngắn có những thể nghiệm đổi mới trên phương diện nghệ thuật
Tác giả Bích Thu trong bài “Những thành tựu của truyện ngắn sau
1975” (Tạp chí Văn học tháng 9 - 1996) cho rằng: trong một thời gian không dài truyện ngắn đã làm được nhiều vấn đề mà tiểu thuyết chưa kịp làm, đã tạo
ra nhiều phong cách sáng tạo có giọng điệu riêng Xét trong hệ thống chung của các loại hình văn xuôi, nghệ thuật truyện ngắn đã đạt được những thành tựu đáng kể trong nghệ thuật xây dựng cốt truyện, trong cách nhìn nghệ thuật
về con người và trong sáng tạo ngôn từ
Tác giả Nguyễn Văn Long khi đi sâu vào nghệ thuật trần thuật khẳng
định: ngày nay người viết có thể đưa ra nhiều quan điểm khác nhau, chính
kiến khác nhau Để làm được điều đó, cách tốt nhất là chuyển dịch điểm nhìn vào nhiều nhân vật .Bên cạnh đó sự thay đổi vai kể, cách đưa truyện lồng trong truyện, sự đảo ngược và xen kẽ các tình tiết, sự việc không theo một thời
Trang 28gian duy nhất Tất cả những thủ pháp ấy đều nhằm tạo ra một hiệu quả nghệ thuật mới để đáp ứng xu thế của thời đại [49, tr 20]
Nhà văn Ma Văn Kháng lại rất chú ý đến ngôn ngữ của truyện ngắn
Theo ông, đó là thứ ngôn ngữ vừa dung dị, vừa ma quái thêm, nó sử dụng đến
sức mạnh tổng hợp của câu chữ (“Truyện ngắn - nỗi run sợ”,Tạp chí Văn nghệ
quân đội, Tháng 7, 1992)
Nhà nghiên cứu Lý Hoài Thu nhận định: Cùng với sự gia tăng những tên
tuổi mới và số lượng tác phẩm, truyện ngắn thời kỳ này đã mở ra nhiều hướng tìm tòi cả trong tiếp nhận hiện thực lẫn thi pháp thể loại Đó là chiều sâu triết
lý và những cảm nhận về nỗi cô đơn, của thân phận con người, là sự đan cài giữa cái ảo và cái thực, giữa chất thơ và văn xuôi Những bước cách tân ấy
đã tạo nên sắc diện mới và sự lôi cuốn cho thể loại
Có thể nói rằng, trong văn xuôi, truyện ngắn là thể loại đã khẳng định được vị trí của mình và có tầm ảnh hưởng rộng rãi nhất đối với đời sống văn học thời kỳ đổi mới [82]
Nhìn một cách tổng thể, truyện ngắn giai đoạn sau 1975 có xu hướng vươn tới sự khái quát, triết luận về đời sống, sử dụng nhiều hình thức khác nhau để tái tạo đời sống.Vì thế, truyện ngắn ở giai đoạn này như một khúc chảy mạnh mẽ, tạo nên dòng chảy liên tục của văn học dân tộc
1.2.2.3 Hoàn cảnh sống và tính cách con người Hồ Anh Thái
Xuân Anh có hai bài viết về Hồ Anh Thái trên Sông Cửu Long Online
(02-03.10.2007) “ Nhà văn Hồ Anh Thái: Đừng tò mò, tôi không phải là
người như các bạn nghĩ!”: “Rõ ràng, Hồ Anh Thái ý thức được vị trí của anh trong xã hội nhiều hơn là cá nhân anh Mối quan hệ giữa anh và hiện thực gắn bó chặt chẽ Không thể có một Hồ Anh Thái đơn phương là nhà văn,
mà cũng chẳng thể duy nhất một Hồ Anh Thái là công chức ngoại giao”
Khi cuộc chiến tranh chống Mỹ lan ra miền Bắc, Hồ Anh Thái lên 5 tuổi, được đưa đi sơ tán ở nông thôn Chiến tranh nhanh chóng mở rộng tới các làng quê, nơi dự trữ rất nhiều con người và vật lực để cung cấp cho mặt trận Vậy là, ngay từ thời thơ ấu, Hồ Anh Thái đã biết về nông thôn, đã chứng kiến
Trang 29máy bay Mỹ dội bom xuống xóm làng, thấy lửa cháy, thương vong Cùng với những ấn tượng như vậy, theo thời gian, Hồ Anh Thái hiểu hơn về cuộc chiến tranh khốc liệt
Hồ Anh Thái viết văn vào giai đoạn mà hầu hết các nhà văn Việt Nam đang hăng hái viết về chiến tranh Đó là xu thế chung của nền văn chương hiện thực thô sơ ở nước ta nửa cuối thế kỷ XX Như anh nói, đêm đêm trên trang viết của anh, súng vẫn nổ, người Việt Nam vẫn đánh giặc Hồ Anh Thái
kể lại những câu chuyện chiến tranh nhằm đặt ra những vấn đề bức thiết của
cuộc sống những năm 80 của thế kỷ XX Người đàn bà trên đảo là thân phận
những nữ cựu chiến binh đã phải trả một cái giá khủng khiếp cho cuộc chiến
tranh chống Mỹ Trong sương hồng hiện ra, nhà văn từ hiện tại nhận thức lại
quá khứ: Cuộc sống, con người thời chiến
Trong ký ức người thân, hồi sinh viên, Hồ Anh Thái có phần gầy yếu so với những thanh niên cùng tuổi, tính tình khiêm nhường, nhưng rất chịu nghĩ ngợi về chuyện đời, và đọc rất nhiều, như một con mọt sách Về làm việc ở
Bộ Ngoại giao một thời gian ngắn, Hồ Anh Thái đi nghĩa vụ quân sự
Năm 1988 Hồ Anh Thái sang nghiên cứu và làm việc ở Đại sứ quán Việt Nam tại Ấn Độ Anh sống tại Ấn Độ sáu năm Đây là một bước quan trọng trên đường đời nhà văn Ấn Độ là xứ sở của những tư tưởng rất minh triết và hết sức siêu hình, là quê hương của những trí tuệ hiền minh bậc nhất của nhân loại từ cổ đại đến cận - hiện đại, như Phật Thích Ca, Mahatma Gandhi, R Tagore Đây là cái nôi sinh ra nhiều truyền thuyết và những pho sử thi vĩ đại,
là quê hương của nền văn hóa Phật giáo với những bộ kinh điển vừa sâu sắc vừa huyền bí và đầy mê hoặc Hồ Anh Thái đến đây vào thời kỳ cao trào của cuộc hội nhập thế kỷ giữa nền văn hóa Tây phương và nền văn hóa cổ truyền của xứ sở Anh ngưỡng mộ nền văn minh Ấn Độ vĩ đại Nhưng, anh cũng ngỡ ngàng trước những tấm sari và nhiều con người đói rách trên xứ sở này Với một tình yêu lớn dành cho Ấn Độ, anh muốn khám phá tất cả sự phức tạp tiềm
ẩn của nó Anh dành thời gian đi tới rất nhiều vùng quê trên đất nước này, tới những đền chùa danh tiếng, rong ruổi hầu khắp miền Bắc và Trung Ấn, những
Trang 30nơi thuộc Vương quốc Phật cổ đại Đây là cuộc khám phá văn hóa Ấn Độ trong đời sống Ấn Độ, khám phá kiến trúc của tôn giáo này cùng những kinh điển Phật học…
Ở tuổi 30, Hồ Anh Thái tốt nghiệp Học viện Hindi của Ấn Độ, được coi
là “nhà Ấn Độ học” và làm thư ký cho đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Ấn Độ Trong một đêm thơ Hindi, nơi hội ngộ của các nhà thơ tiêu biểu viết bằng tiếng Hindi, Hồ Anh Thái đã đọc năm bài thơ mà anh dịch của các tác giả Việt Nam Cả hội trường đã vỗ tay không ngớt cùng nhiều tiếng reo hò đòi đọc lại Người ta hết sức ngạc nhiên, bởi một người Việt Nam lại thông thạo tiếng Hindi của Ấn Độ đến thế! Loạt tác phẩm viết về Ấn Độ là thành quả lớn của anh trong giai đoạn này
Sau khi bảo vệ luận án tiến sĩ Văn hóa phương Đông, Hồ Anh Thái về làm việc trong nước Trước mắt anh là cuộc sống xô bồ, ngổn ngang trăm mối
với lắm loại người, nhiều kiểu sống Hồ Anh Thái tự nhận thấy: “Rất tự
nhiên, dần dà mình cũng thiền đi, và khi trở về Việt Nam, chất Ấn Độ đã ngấm vào tôi từ lúc nào Hầu như tôi không nhận lời đăng đàn diễn thuyết, hoặc giao lưu với độc giả
Quyền lợi chia bôi, nhường mọi người nhận trước Người ta ghen ghét,
đố kỵ, bịa đặt công kích mình hoặc làm ác với mình, cứ lấy sự ôn hoà mà đáp lại Ôn hoà, cũng bởi vì tin vào điều nhà Phật nói: những người ấy trong đời
tự họ đã và sẽ phải chịu luật nhân quả rất nặng nề rồi ” (Trả lời phóng viên
báo Văn hoá Phật giáo Phattuvietnam.net (21/02/2008) - “Giáo lý Phật giáo
chạm đến mọi vấn đề của đời sống ”)
Hồ Anh Thái có một tản văn với nhan đề “Không hơn gì nhau câu nói” trên www.chungta.com: “Trong đời sống, vẫn thường xuyên tự nhắc nhở mình
theo triết lý Phật: thiên hạ có nói sai về ta, hiểu nhầm ta, ta cũng không việc
gì phải đôi co, nói lại Không hơn gì nhau câu nói Lối nghĩ ấy chuyển hóa thành lối sống thì cũng nhẹ người Đời sống vì thế cũng thanh thản.”
Hồ Anh Thái tâm sự: “Danh tiếng, địa vị, tiền bạc là huyễn tưởng” (Ngày Nay 24/6/2003): "Người tỉnh táo, luôn đối mặt với vực thẳm của cái
Trang 31hữu hạn, thì sẽ biết cả ba thứ kể trên đều là phù vân Còn nếu coi những đó là biểu hiện của "thành công" thì có lẽ chính người đó đang thất bại" Có thể, đó
là triết lí sống mà anh đã học được từ quá trình nghiền ngẫm Phật học chăng? Cuối năm 2002, Hồ Anh Thái làm xôn xao dư luận khi từ chối nhận tặng
thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam dành cho cuốn Tự sự 265 ngày (Nxb Hội
Nhà văn 2001) Anh là người đầu tiên từ chối giải thưởng Hội Nhà văn vói
lời giải thích rằng: tác phẩm đã xuất bản, trở thành sản phẩm xã hội thì phải
chịu sự định giá của xã hội, bất kể tác giả có tán thành hay không Vậy anh không thể từ chối sự định giá của xã hội, nhưng từ chối vinh quang thì có thể
Và quả vậy, tác phẩm của anh dù không nhận giải nhưng vẫn đứng vững
trong lòng công chúng Nhà văn Ma Văn Kháng nhận xét: “Những truyện
ngắn trong Tự sự 265 ngày, tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế vừa
có tính đại chúng, gần gũi vừa uyên bác, trí tuệ Dễ ai đã làm được điều này!” [Anh Chi - “Hiện tượng văn chương Hồ Anh Thái”, Tạp chí Nghiên
cứu Văn học( 8/2009)]
Bên ngoài trang viết là một Hồ Anh Thái đầy biến ảo và nhiều lớp lang Nhà văn Hồ Anh Thái chỉ là một khía cạnh Còn nhà ngoại giao Hồ Anh Thái; nhà nghiên cứu Ấn Độ Hồ Anh Thái; giảng viên Hồ Anh Thái Giỏi ngoại ngữ, thực tế và tỉnh táo Anh như một nhà ngoại giao viết văn giỏi hơn là một nhà văn giỏi ngoại ngữ
Cái tên Hồ Anh Thái thời gian gần đây gắn với nhiều câu chuyện thật cũng như thêu dệt về nhà văn huyền bí này Hình ảnh của nhà văn Hồ Anh Thái trên những bức ảnh: trẻ trung, tươm tất, hơi lãng đãng và mơ hồ, tay
chống cằm, mắt nhìn xa xăm Thiên Ý viết về “Nhà văn Hồ Anh Thái: Một
mình qua đường” (CAND.com 04/08/2008): “Hồ Anh Thái sống một mình trong căn nhà nhỏ, lối đi vào phải dắt khéo mới được một chiếc xe Anh hiếm khi mời ai về nhà Có thể coi đó là "tổ kén", hoặc là "nơi trú ẩn" của anh Căn nhà nhỏ, các lối đi âm u, đường lên cầu thang lành lạnh, chiếu nghỉ là chỗ xếp đầy giá và chân nến, như thể một thứ nghi lễ Anh sống trọn vẹn trên
Trang 32căn gác, với bốn bề là sách và băng đĩa ” Một cuộc sống ẩn dật hơi lạ lùng
với những nhà ngoại giao?
Khi được hỏi: "Khởi nguồn của sáng tạo văn chương chính là sự cô độc" Vậy, đời sống gia đình có ý nghĩa thế nào với anh? Hồ Anh Thái trả lời:
Tôi tin rằng nhà văn đích thực là người không ló mặt ra ở bất kỳ đám đông nào, cũng như không thích hợp với đời sống gia đình Nhưng liệu có mấy ai làm được thế trong cuộc sống toàn cầu hoá này? (Hồ Anh Thái: 'Nghề văn tẻ nhạt lắm', vnexpress.net/ /3b9ce772/ - 29/12/2003 )
Có lẽ, hoàn cảnh sống trải rộng trên nhiều môi trường địa lý (nông thôn,
thành thị, trong nước, ngoài nước ); công việc (quân đội, công chức, nhà văn ); gắn với những thăng trầm của lịch sử dân tộc (thời chiến, thời bình, thời bao cấp, thời đổi mới ) cũng phần nào tạo nên tính cách con người Hồ Anh Thái : hiểu biết, điềm đạm, tự tại
Còn nhiều điều bí ẩn về thân thế và sự nghiệp của văn sĩ này Chúng ta tôn trọng những gì riêng tư của cá nhân nghệ sĩ và ghi nhận những cống hiến của ông trong vai trò một nhà văn đương đại Việt Nam
1.2.2.4 Sự nghiệp văn chương Hồ Anh Thái
* Quan niệm của Hồ Anh Thái về văn chương
Báo Thể Thao Văn Hóa (23/8/20 cho ta biết đôi điều về “Hồ Anh Thái
và những quan niệm về văn chương”: “Tôi không đặt văn chương vào tháp ngà mà để cho nó chung sống với những vấn đề nhạy cảm của xã hội… Tôi luôn hướng tới mục đích là chỉ viết những gì mà mình thực sự cho là chín về mặt cảm xúc ”
“Hồ Anh Thái nói về cuốn tiểu thuyết mới nhất”("Cõi người rung
chuông tận thế") trên báo Người Lao Động (13/10/2002):“ Tôi quan niệm tiểu thuyết như một giấc mơ dài, gấp sách lại người ta mừng rơn như vừa thoát khỏi một cơn ác mộng, lại vừa tiếc nuối vì phải chia tay với những điều
mà đời thực không có.”
Như thế, với Hồ Anh Thái, văn chương tuy bắt nguồn từ cảm xúc, tưởng tượng của nghệ sĩ Nhưng không vì thế mà văn chương xa lạ với cuộc đời
Trang 33Quan niệm này rất gần với quan niệm“ nghệ thuật vị nhân sinh” của các nhà
lý luận Việt Nam đầu thế kỷ 20
* Khái quát về truyện ngắn Hồ Anh Thái
Truyện ngắn có vị trí như thế nào trong sự nghiệp văn chương Hồ Anh Thái ?
Khởi nghiệp viết văn, Hồ Anh Thái nổi lên như một hiện tượng, với giọng văn trẻ trung, tươi mới, về đời sống thanh niên, sinh viên với những cuộc phiêu lưu, những khát khao khám phá đời sống Những tác phẩm tiêu
biểu của ông thời gian này được biết đến như các tiểu thuyết Trong sương
hồng hiện ra, Người và xe chạy dưới ánh trăng, Người đàn bà trên đảo…
truyện ngắn Món tái dê, Chàng trai ở bến đợi xe
Đầu những năm 1990, sau nhiều năm nghiên cứu và làm việc ở nhiều nước Âu - Mỹ, đặc biệt là sáu năm tại Ấn Độ, ông trở lại trên văn đàn với
những truyện ngắn độc đáo, hài hước mà thâm trầm về Ấn Độ: Người đứng
một chân, Người Ấn, Tiếng thở dài qua rừng kim tước, Cuộc đổi chác
Từ năm 2000, ông có những tác phẩm được đánh giá cao và gây tranh
luận như các tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế, Mười lẻ một đêm và các tập truyện ngắn Tự sự 265 ngày, Bốn lối vào nhà cười
Có thể nói, bên cạnh tiểu thuyết, truyện ngắn luôn đồng hành cùng Hồ Anh Thái trong sự nghiệp văn chương của ông
Vậy cảm hứng chủ đạo trong truyện ngắn Hồ Anh Thái là gì ?
Cảm hứng chủ đạo là trạng thái tình cảm mãnh liệt xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động lớn đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm [16, tr.10] Cảm hứng nghệ thuật là trạng thái tâm lí then chốt, có ý nghĩa quyết định tới quá trình sáng tạo của nhà văn
Trong văn học đương đại, có thể nói văn xuôi thế sự, đời tư đã phần nào đáp ứng được nhu cầu của con người, xã hội một thời đầy biến động Đó là một bước phát triển quan trọng của văn xuôi phù hợp với yêu cầu của hiện thực, của đối tượng phản ánh Hầu hết các truyện ngắn của Hồ Anh Thái in
Trang 34đậm cảm hứng thế sự đời tư Văn Hồ Anh Thái đầy nếm trải, suy tư, chiêm
nghiệm về sự vật hiện tượng để đi đến tận cùng bản chất của nó Đọc truyện
ngắn Hồ Anh Thái, người đọc thấy sự xô bồ của đời sống là sự phản ảnh của
nhân tình thế thái mà xã hội chúng ta đã và đang trải qua Các trạng thái nhân
thế không những được đề cập mà còn được cắt nghĩa, phân tích, lý giải góp
phần đáng kể trong việc nhận thức hiện thực trong hiện tại cũng như trong quá
khứ Chính vì vậy, tác phẩm có ý nghĩa cảnh tỉnh và nhận thức rất sâu sắc
Cuộc trao đổi giữa nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ và nhà phê bình Phạm
Xuân Nguyên về Hồ Anh Thái với “Sắp đặt và Diễn” trên evan
vnexpress.net (12/11/2005) đã đề cập đến cảm hứng chủ đạo trong truyện
ngắn Hồ Anh Thái trong cả 3 giai đoạn sáng tác Mỗi một giai đoạn đánh dấu
một thời điểm sáng tác của nhà văn, phản ánh rất rõ nhân sinh quan, thế giới
quan của người viết với chính mình, và với xã hội
Giai đoạn tiền Ấn Độ với Mảnh vỡ của đàn ông, Những cuộc kiếm tìm,
Chàng trai ở bến đợi xe là cái nhìn cuộc đời với sự tin cậy, với những ước
mơ, khát vọng trong cảm hứng nhân văn
Giai đoạn "Ấn Độ" với Tiếng thở dài qua rừng kim tước là nhân sinh
quan được chiếu rọi bởi triết lý Phật giáo thông qua những số phận, mảnh đời,
kiếp người với bao nỗi đắng cay Cảm hứng bi kịch là chủ đạo
Giai đoạn 3 với Tự sự 265 ngày, Bốn lối vào nhà cười, Sắp đặt và
Diễn hoàn toàn là sự thay đổi phong cách Dù mỗi truyện một vẻ nhưng đều
có chung âm điệu phê phán khá gay gắt những thói đời Sự trong sáng, đôn
hậu trước đây đã tạm ngưng, nhường chỗ cho một giọng điệu giễu cợt, trào
lộng, châm biếm sâu cay, không nương nhẹ
Viết về cuộc đời, về con người, đi sâu vào các số phận khác nhau, các
tính cách và cảnh ngộ khác nhau, nhà văn đã sống với nhiều kiểu người, đã vui
buồn cùng họ Dù viết bằng cảm hứng bi kịch hay cảm hứng phê phán thì tất
cả đều thống nhất trong cảm hứng nhân đạo, nhân văn Bởi qua mỗi tác phẩm
bộc lộ lương tâm và trách nhiệm của người cầm bút trước những đau khổ, vui
buồn của con người và cuộc đời Vì thế, dù tác phẩm viết về một hiện thực
Trang 35nghiệt ngã, phũ phàng hay một số phận bất hạnh cũng phải truyền đến cho con người niềm tin vào cuộc sống
Như vậy, xuất phát từ những vấn đề mang tính lý thuyết về phong cách, chúng tôi đã vận dụng vào tìm hiểu khái quát về sự hình thành phong cách văn xuôi Hồ Anh Thái Đó là một quá trình tích lũy văn hóa lâu dài trong sự trải nghiệm rộng lớn cả về tri thức và không gian địa lý Mỗi bước đi của nhà ngoại giao - nhà văn hóa Hồ Anh Thái đều in dấu trong phong cách sống, phong cách văn chương của ông
Chúng tôi sẽ tiếp tục tìm hiểu phong cách văn xuôi Hồ Anh Thái, cụ thể
là phong cách truyện ngắn của ông trong các chương tiếp theo của luận văn này
Trang 36CHƯƠNG 2:
NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN HỒ ANH THÁI 2.1 Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn Việt Nam đương đại và truyện ngắn Hồ Anh Thái
2.1.1 Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn Việt Nam đương đại
Con người luôn là hạt nhân của mọi sự tồn tại, là tâm điểm của mọi cuộc bàn luận Lịch sử loài người là lịch sử tiếp cận vấn đề con người Với vai trò là một hình thái ý thức xã hội, văn chương có cách truy nguyên vấn đề con người theo hướng riêng của mình Sứ mệnh cao cả của văn chương là phản ánh một
cách sinh động và trung thực về con người Vì “văn học và cuộc sống là hai
vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người”( Nguyễn Minh Châu)
GS Trần Đình Sử cho rằng: “Quan niệm nghệ thuật về con người là sự lý
giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình tượng nhân vật trong đó”[ 56, tr 41]
Do vậy, khi nghiên cứu quan niệm về con người trong tác phẩm văn học, chúng ta thấy những cách giải mã khác nhau về con người trong từng giai đoạn, từng thời kỳ
Cách mạng Việt Nam và kháng chiến 30 năm (1945 - 1975) đã tạo nên một mẫu người phổ biến trong cuộc sống và trong văn chương phù hợp với yêu cầu cơ bản của lịch sử là chiến thắng, bằng bất kỳ giá nào, kẻ thù của dân tộc và tiến bộ xã hội Mặc dù chúng ta vẫn nhận biết được tính toàn diện của bản chất người, tính đa dạng và phức tạp của quan hệ người, nhưng để tồn tại
và chiến thắng, một số mặt trong bản chất và quan hệ ấy cần được làm nổi trội hẳn lên Đó là con người hiện thực, con người hành động, con người xã hội, con người giai cấp, con người cộng đồng, con người phi thường Chiến tranh
có quy luật riêng của nó Trong thử thách khắc nghiệt của chiến tranh, con người cần sống một cách thực tế, không mơ hồ về kẻ thù, không được phép
Trang 37nghĩ nhiều tới lợi ích và nguyện vọng riêng, không quá ưu tư và đa cảm, giản ước mọi ham muốn, và nhất là cần huy động mọi phẩm chất cao đẹp tiềm ẩn trong bản thân mình
Tuy nhiên, từ sau 1975, tình hình đã đổi khác Với nhà văn, cuộc sống đã
mở ra những triển vọng cao hơn cùng những đòi hỏi lớn hơn Để đáp ứng những nhu cầu thẩm mĩ mới của công chúng, văn chương cần trở về với đặc trưng vốn có của mình, với những “quy luật của muôn đời” Bệnh giản đơn, một chiều trong quan niệm nghệ thuật về con người cần sớm được chấm dứt
Đã đến lúc cần lưu tâm đến tính toàn diện của bản chất người, tính đa dạng của quan hệ người Cùng với những mẫu người hùng của một thời lịch sử, nhà văn cần coi trọng con người siêu việt, con người tâm linh, con người tự nhiên, con người nhân loại, con người cá thể và con người đời thường - những phương diện và những quan hệ mà trước đây do nhu cầu của đời sống thời chiến đã không được chú ý một cách thích đáng Đó là những mặt đối lập thống nhất trong thực thể sống động - con người
Ở Việt Nam, công cuộc đổi mới trên nhiều phương diện trong đó có đời sống văn hoá, tư tưởng đã thổi một luồng gió mới vào đời sống văn học nước nhà Bên cạnh tiểu thuyết, thơ, kí, kịch… truyện ngắn trở thành một thể loại phát triển rực rỡ của văn học Việt Nam đương đại với nhiều gương mặt tiêu biểu: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái,
Y Ban, Võ Thị Hảo, Dạ Ngân, Tạ Duy Anh, Lê Minh Khuê, Thái Bá Tân, Phạm Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Xuân Hà, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Ngọc Thuần, Nguyễn Ngọc Tư… Bút pháp của các nhà văn thay đổi trên nhiều phương diện, trong đó đặc biệt là thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người
Truyện ngắn đã nhanh nhạy trong cách tiếp cận và phản ánh cuộc sống con người dưới cái nhìn đa chiều kích Nhà văn chuyển hướng cách nhìn nhận, cách cảm và cách đánh giá con người về mặt nhận thức, tư duy bản thể con người Con người luôn phải tự đấu tranh, tự dò dẫm trong muôn ngàn ngã rẽ của xã hội Hiện đại, Hậu hiện đại Bởi trong mỗi con người bao giờ cũng tồn
Trang 38tại hai mặt: đẹp – xấu, thiện – ác, cao cả - thấp hèn… Ở đó, con người đứng trên ranh giới mong manh giữa con người tự nhiên và con người xã hội
Nguyễn Minh Châu được xem như một trong những tác giả tiên phong thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người: nhìn con người không còn một chiều mà trong nhiều mối quan hệ bộn bề phức tạp (Con người tự thú, con người thức tỉnh, con người sám hối, con người bản năng tính dục, con người luôn khát khao vươn tới cái Chân - Thiện - Mỹ …)
Một trong những tên tuổi của văn học đương đại là Nguyễn Huy Thiệp, một cây bút độc đáo, một hiện tượng văn học “vang bóng” không chỉ “một thời” Với giọng văn sắc lạnh, gai góc, xương xẩu đến tàn nhẫn ông đã đào xới lên những mảng tối, những góc khuất của mỗi người, mỗi thời, của cuộc đời Nguyễn Huy Thiệp trăn trở nhiều về đời tư và thế sự, tình yêu và thù hận, sự sống và cái chết Nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp luôn luôn sống trong ốc đảo cô đơn, đau khổ đến tột cùng Đọc truyện Nguyễn Huy Thiệp, có thể nhìn thấy một “ cõi người ta” xù xì, gân guốc, góc cạnh lẫn lộn giữa tốt và xấu, thật và giả, đen và trắng, cao thượng và thấp hèn với những con người có suy nghĩ, hành động và đời sống nội tâm vô cùng bí ẩn Cái thế giới ấy thể hiện một cách nhìn chân thật và sâu sắc của nhà văn về con người [ Dẫn theo 59]
Con người trong truyện ngắn đương đại nói chung, dù là con người khô khan hay tình cảm; con người vất vả, khổ đau hay may mắn, hạnh phúc…tất
cả đều mang chiều sâu tư tưởng và hàm chứa nỗi niềm tâm sự của nhà văn Bằng những truyện ngắn của mình, các nhà văn đã cố gắng thức tỉnh lương tri loài người, kéo con người ra khỏi vỏ ốc cá nhân, giúp họ nhận chân giá trị của chính mình để có cách ứng xử tốt hơn trong xã hội Mặc dù có quan niệm nghệ thuật về con người tương đối khác biệt nhưng qua những câu chuyện về tình yêu, về cuộc sống, truyện ngắn của các nhà văn cuối cùng đều hướng con người tới những điều tốt đẹp
Song hành với sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người là sự thay đổi trong phương thức biểu hiện nghệ thuật về con người Nhà văn có
Trang 39quyền sử dụng mọi phương tiện nghệ thuật (kể cả ước lệ, tượng trưng, viễn tưởng ) để đạt mục đích sáng tạo của mình Có thể tiếp nhận những ảnh hưởng tích cực từ các trào lưu hiện đại phương Tây như kĩ thuật “dòng ý thức” của Marcel Proust, tư duy huyền thoại của Franz Kafka Cũng có thể tiếp thu biện pháp thể hiện của các lĩnh vực khác như thủ pháp đồng hiện (điện ảnh), tính tư liệu (báo chí) Tất cả nhằm tạo nên sự đa dạng về màu sắc thẩm mĩ, sự nhiều chiều về thời gian và không gian, sự đa thanh về giọng điệu và âm hưởng
2.1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn Hồ Anh Thái
Trong dòng chảy văn học Việt Nam đương đại, Hồ Anh Thái đã tạo bản sắc riêng cho tác phẩm của mình với một thế giới nghệ thuật phong phú, hiện
diện một “cõi người” sinh động và đầy biến ảo Nó hàm chứa một quan niệm,
một cách nhìn, một chiêm nghiệm về cuộc đời, về nhân tình thế thái của nhà
văn Cũng như “Tấn trò đời” của Balzac, “Cõi người” trong sáng tác Hồ Anh Thái cũng là một “tấn trò đời”, một nhân loại riêng với đầy đủ tất cả những
Hỉ, Nộ, Ái, Ố, Sinh, Lão, Bệnh, Tử
“Cõi người” là một khái niệm mang màu sắc tôn giáo đậm nét Tôn giáo quan niệm “cõi người” là cảnh giới mà chúng ta đang sống và đang thụ hưởng
cả hạnh phúc lẫn khổ đau Phật giáo tin rằng, phạm vi luân hồi sinh tử tuy có sáu cõi (Trời, người, Atula , địa ngục, súc sinh, quỷ) nhưng cõi người là chủ đạo, vì chỉ ở cõi người, chúng sinh vừa có thể gieo các nhân thiện hay ác nghiệp, vừa chịu quả báo Còn các cõi sống khác, chúng sinh chỉ có một chiều hưởng phúc báo, không có cơ hội tạo nghiệp mới Chỉ có ở “cõi người”, chúng sinh vừa thụ quả báo vui, vừa chịu quả báo khổ, lại có thể phân biệt được thiện
ác
Cảm hứng về “cõi người” của Hồ Anh Thái phải chăng cũng là bắt
nguồn từ tôn giáo Là một nhà nghiên cứu về văn hóa Ấn Độ, triết lý của Phật
giáo về “cõi người” thấm đẫm trong văn chương của anh như một ám ảnh
Trang 40Mặt khác, sự thể hiện “cõi người” trong sáng tác Hồ Anh Thái cũng có
cội nguồn sâu xa từ những quan niệm về hiện thực của nhà văn Hồ Anh Thái
đã từng khẳng định rằng: “Tôi không đặt văn chương vào tháp ngà mà để nó
chung sống với những vấn đề nhạy cảm của xã hội” Thiết nghĩ đây cũng là
quan niệm của bất cứ nhà văn nào được xem là “cấp tiến” về mặt tư tưởng Nó
mở đường cho những khám phá về hiện thực mang màu sắc nhân văn của tác giả
Phải chăng những chiêm nghiệm về “cõi người” luôn mang tính nhân loại
phổ quát, không chỉ dừng lại ở khía cạnh giai cấp hay dân tộc, là những chiêm nghiệm hướng vào chiều sâu nhân bản trong mỗi con người, trong từng số phận con người Qua những sáng tác, ta thấy Hồ Anh Thái nhìn đời thoải mái
mà dung thứ Nhìn rõ sự đa dạng về nhân cách của con người, nên nhà văn không quá kỳ vọng về con người Nhưng bao giờ anh cũng trân trọng con người với tất cả sự phức tạp trong họ
Bởi vậy “cõi người” trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái là cả một nhân loại
đầy phức tạp Xã hội Việt Nam trong thời kỳ chuyển mình sang kinh tế thị trường bên cạnh những cái đổi mới, cái hiện đại thì cũng bộc lộ nhiều vấn đề bất cập, nhiều cái đáng khóc, đáng cười, nhiều thói hư tật xấu của con người cũng có dịp nảy sinh Trong xã hội ấy có những con người đầy bản lĩnh và đầy khát vọng như Hòa, những con người ngập chìm trong dục vọng như Tường, cũng có những số phận bất hạnh bị xã hội lãng quên như những người đàn bà
trong Đội Năm (Người đàn bà trên đảo) Có những thanh niên trong sáng như Tân (Trong sương hồng hiện ra), nhưng cũng có những kẻ tha hóa như Cốc, Bóp, Phũ (Cõi người rung chuông tận thế) Có tấn trò đời qua cái nhìn đầy châm biếm hài hước của Hồ Anh Thái trong Mười lẻ một đêm
Không chỉ ở tiểu thuyết, truyện ngắn của Hồ Anh Thái cũng là nơi chứa đựng quan niệm nghệ thuật về con người trong xã hội hiện đại Đọc truyện ngắn Hồ Anh Thái, chúng ta bắt gặp một thế giới hình tượng nhân vật đủ các lứa tuổi, nghề nghiệp, tầng lớp xã hội Bên cạnh những con người có phần nghịch dị, con người bản năng, thì con người hướng thiện là một điểm sáng