Nhận xét về cuốn tiểu thuyết này, Vân Thanh cho rằng : “Có thể xem Mùa lá rụng trong vườn là một tiếng nói của tác giả trước hiện thực hôm nay: Một tiếng nói về quan hệ giữa cá nhân, g
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN BẢO THOA
NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TIỂU THUYẾT MA VĂN KHÁNG
(qua Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú,
Côi cút giữa cảnh đời)
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Hà Nội - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN BẢO THOA
NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TIỂU THUYẾT MA VĂN KHÁNG
(qua Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú,
Côi cút giữa cảnh đời)
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60.22.01.20
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đoàn Đức Phương
Hà Nội - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn do tôi thực hiện Những kết quả từ những tác giả trước mà tôi sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng, cụ thể Không có bất kỳ sự không trung thực nào trong các kết quả nghiên cứu
Nếu có gì sai trái, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến thầy giáo, PGS.TS Đoàn Đức Phương, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, chu đáo và luôn động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Sự chỉ bảo tận tâm của thầy đã mang lại cho tôi hệ thống các phương pháp, kiến thức cũng như kỹ năng hết sức quý báu để có thể hoàn thiện đề tài một cách tốt nhất
Đồng thời, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu nhà trường, quý thầy giáo, cô giáo công tác tại khoa Văn học, trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đặc biệt là các thầy cô giáo bộ môn Lý luận văn học, những người trong thời gian qua đã dạy dỗ, truyền thụ kiến thức khoa học, giúp tôi từng bước trưởng thành
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè – những người đã hỗ trợ, tạo điều kiện để tôi có thể học tập đạt kết quả tốt và thực hiện thành công luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 19 tháng 4 năm 2018
Học viên
Nguyễn Bảo Thoa
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng, mục đích và phạm vi nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Cấu trúc luận văn 9
Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ NGƯỜI KỂ CHUYỆN VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA MA VĂN KHÁNG 10
1.1 Giới thuyết về người kể chuyện trong tác phẩm tự sự 10
1.2 Phân loại người kể chuyện 13
1.3 Chức năng của người kể chuyện trong tác phẩm tự sự 15
1.3.1 Người kể chuyện với chức năng tổ chức kết cấu tác phẩm 15
1.3.2 Người kể chuyện với chức năng dẫn dắt người đọc tiếp nhận thế giới nghệ thuật của tác phẩm 17
1.3.3 Người kể chuyện thay mặt nhà văn trình bày quan điểm về cuộc sống, nghệ thuật 18
1.4 Hành trình sáng tác của Ma Văn Kháng 20
1.4.1 Cuộc đời và sự nghiệp văn học 20
1.4.2 Quan điểm nghệ thuật của Ma Văn Kháng 24
Tiểu kết 26
Chương 2 NGƯỜI KỂ CHUYỆN VỚI NGÔI KỂ VÀ ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT MA VĂN KHÁNG 28
2.1 Ngôi kể trần thuật 28
2.1.1 Khái lược về ngôi kể 28
2.1.2 Các dạng thức ngôi kể 29
2.1.3 Các hình thức ngôi kể trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng 32
2.1.3.1 Người kể chuyện ở ngôi kể thứ nhất 32
Trang 62.1.3.2 Người kể chuyện ở ngôi kể thứ ba 36
2.2 Điểm nhìn trần thuật 42
2.2.1 Khái lược về điểm nhìn trần thuật 42
2.2.2 Các kiểu điểm nhìn của người kể chuyện 45
2.2.3 Các hình thức điểm nhìn trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng 46
2.2.3.1 Phương thức trần thuật theo điểm nhìn bên trong 46
2.2.3.2 Phương thức trần thuật theo điểm nhìn bên ngoài 51
2.2.3.3 Sự di chuyển và đa dạng hóa điểm nhìn 53
Tiểu kết 59
Chương 3 NGƯỜI KỂ CHUYỆN VỚI NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT MA VĂN KHÁNG 61
3.1 Ngôn ngữ trần thuật 61
3.1.1 Khái niệm ngôn ngữ trần thuật 61
3.1.2 Ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng 64
3.1.2.1 Ngôn ngữ dung dị, đời thường 64
3.1.2.2 Ngôn ngữ giàu biểu cảm 72
3.1.2.3 Ngôn ngữ độc thoại nội tâm 77
3.2 Giọng điệu trần thuật 81
3.2.1 Khái niệm giọng điệu trần thuật 81
3.2.2 Giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng 84
3.2.2.1 Giọng điệu trữ tình thiết tha, sâu lắng 84
3.2.2.2 Giọng điệu triết lý, suy tư 91
3.2.2.3 Giọng điệu mỉa mai, châm biếm 95
3.2.2.4 Giọng điệu thương cảm, xót xa 98
Tiểu kết 102
KẾT LUẬN 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Sau đại thắng Mùa xuân năm 1975, cả nước ta bước vào kỉ nguyên độc lập, thống nhất và đi lên Chủ nghĩa xã hội Cùng với niềm hân hoan chiến thắng khi giang sơn thu về một mối, đất nước ta phải đối mặt với biết bao khó khăn và thách thức khi nền kinh tế khủng hoảng trầm trọng Vì thế, yêu cầu đổi mới xã hội là hết sức bức thiết Văn học là một loại hình nghệ thuật, một hình thái ý thức xã hội đặc thù luôn vận động, biến chuyển Diễn tiến của văn học như một hệ thống chỉnh thể với sự hình thành, tồn tại, phát triển qua các thời kì lịch sử Bởi vậy có thể nói, văn học là con đẻ của thời đại, mang nhịp đập, dáng dấp, hơi thở của thời đại Nó là một phần da thịt của lịch sử Nếu ví văn học như một dòng sông uốn mình theo chiều dài của lịch sử dân tộc thì những biến động từ bối cảnh lịch sử đã làm cho dòng sông ấy cuộn sóng, trào dâng lên những dòng chảy khác nhau
Giai đoạn 1975 – 1985 được coi là giai đoạn khởi động của văn học
thời kỳ Đổi mới Văn học nghệ thuật lúc này vẫn vận động theo quán tính của văn học thời chiến Đề tài về chiến tranh và người lính vẫn là đề tài cơ bản của nhiều sáng tác văn học Các sáng tác ấy vẫn thể hiện nhãn quan giá trị và nguyên tắc tư duy nghệ thuật của nền văn học sử thi viết theo phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa
Sau năm 1986, văn học Việt Nam thực sự chuyển mình với những bước tiến lớn Văn xuôi nói chung, tiểu thuyết nói riêng đã có sự lột xác và cách tân mạnh mẽ Đổi mới văn học suy đến cùng là đổi mới quan niệm: quan niệm về con người, về đời sống và quan niệm về bản thân văn học nghệ thuật Với khả năng đi sâu phân tích, khám phá những giá trị thuộc về con người, tiểu thuyết được chú ý nhiều hơn cả Tiểu thuyết Việt Nam phát triển phong phú, đa dạng với nhiều phong cách giàu chất trí tuệ, tự nhiên và chân thực Trên chặng đường đổi mới đó, có nhiều nhà văn từ thời kỳ trước đã tự làm mới mình, tự
Trang 8tìm cho mình một hướng đi mới, phù hợp với xu hướng thời đại như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Tô Hoài, Ma Văn Kháng
Ma Văn Kháng là một trong những hiện tượng đặc sắc của văn học Việt Nam Vào những năm 80 của thế kỷ XX, nhiều sáng tác của ông đã nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, tạo nên những ý kiến đánh giá, nhận xét, những cuộc tranh luận sôi nổi trên các diễn đàn văn học Sáng tác ở cả hai thời kỳ với hàng chục cuốn tiểu thuyết, gần hai chục tập truyện ngắn và hồi
kí, bản thân các sáng tác của Ma Văn Kháng đã thể hiện khá rõ quá trình đổi mới của văn học nước nhà
Đề tài trong các sáng tác của Ma Văn Kháng khá đa dạng, từ cuộc sống miền núi cho đến các vấn đề của thành thị Tất cả đều phản ánh sự phức tạp, rối ren của các mối quan hệ xã hội cũng như những mâu thuẫn trong mối quan
hệ gia đình Không phải nhà văn nào cũng gây dựng cho mình được phong cách riêng, chỉ có những nhà văn lớn, có tài năng thực sự mới gây dựng được phong cách riêng cho mình Ma Văn Kháng là một nhà văn như thế, khó có thể nhầm lẫn ông với những tác giả cùng thời Và có thể thấy, tiểu thuyết là địa hạt thành công của Ma Văn Kháng Tìm hiểu về thể loại này trong các sáng tác của ông, ta có thể thấy đậm nét phong cách nghệ thuật của Ma Văn Kháng Qua đó, chúng ta có thể có một cái nhìn chân thực và chính xác hơn quá trình nhà văn tự đổi mới mình để tiếp cận cuộc sống mới
Bắt nhịp với xu hướng mới của lí luận phê bình văn học thế kỷ XX, đã
có khá nhiều các công trình nghiên cứu, các bài viết về Ma Văn Kháng và các tác phẩm của ông Hầu hết là những đánh giá, nhận định về từng tác phẩm cụ thể, thậm chí là khen chê một khía cạnh nào đó trong tác phẩm khi nó mới ra đời Với các công trình như luận văn, luận án tiến sĩ cũng đã đi vào các khía cạnh chuyên biệt như: kiểu nhân vật, cảm hứng nghệ thuật hoặc những dấu hiệu đổi mới văn học qua những sáng tác của ông Tuy nhiên, chưa có công trình nào, đi sâu, tìm hiểu, nghiên cứu tiểu thuyết Ma Văn Kháng từ góc độ
Trang 9người kể chuyện qua điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ trần thuật và giọng điệu trần thuật để cảm nhận một cách sâu sắc về quan niệm của nhà văn về hiện thực cuộc sống và con người trong một giai đoạn phát triển đầy phức tạp của
xã hội Việt Nam
Với những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn vấn đề Người kể
chuyện trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng (qua Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú, Côi cút giữa cảnh đời ) làm đề tài nghiên
cứu của mình
2 Lịch sử vấn đề
Ma Văn Kháng với gia tài tác phẩm khá đồ sộ trong gần nửa thế kỉ cầm bút đã đặt rất nhiều tâm huyết vào những trang văn của đời mình Chất liệu làm nên những tác phẩm của ông, chẳng phải đâu xa mà chính là cuộc sống
gần gũi, hằng ngày Ngày từ năm 1959, khi tác phẩm Phố cụt ra đời, và đặc
biệt những tác phẩm xuất hiện trong giai đoạn đầu những năm 80 của thế kỉ
XX, tên tuổi nhà văn Ma Văn Kháng đã được đông đảo độc giả, dư luận và người trong giới quan tâm Có nhiều công trình nghiên cứu, phê bình của giáo
sư Phong Lê, Lã Nguyên, Trần Đăng Xuyền, Nguyễn Bích Thu Trong sự nghiệp của mình, Ma Văn Kháng thành công nhất trong lĩnh vực tiểu thuyết, khi nhắc đến ông, người ta không thể không nhắc đến những cái tên như:
Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú, Côi cút giữa cảnh đời
Với vai trò là một trong những cuốn sách "tiền trạm" của Đổi mới mà ở
đó chứa đựng nhiều dự báo sáng suốt, ngay khi vừa ra đời, Mùa lá rụng
trong vườn đã được độc giả đón nhận một cách nhiệt tình Chỉ trong hai năm
1985 và 1986 đã có hàng chục bài báo viết về tác phẩm này; báo Người Hà
Nội đã tổ chức thảo luận bàn tròn về tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn; Hội Nhà văn Việt Nam trao giải B về văn xuôi cho Mùa lá rụng trong vườn
Đã hơn hai mươi năm trôi qua, trong khi biết bao tác phẩm một thời được coi
Trang 10là tiếng nói của thời đại, là "sách gối đầu giường" đã vơi cạn sức hút, Mùa lá
rụng trong vườn vẫn còn được tìm đọc và còn gợi được nhiều suy nghĩ Xin
điểm qua các bài viết:
- Trần Cương (1985), “Mùa lá rụng trong vườn - Một đóng góp mới của Ma
Văn Kháng”, Báo Nhân dân chủ nhật
- Trần Đăng Suyền (1985), “Ma Văn Kháng với Mùa lá rụng trong
vườn”, Báo Văn nghệ
- Hoàng Sơn (1985), “Trò chuyện với tác giả Mùa lá rụng trong vườn”, Báo
Tiền phong
- Nguyễn Văn Lưu (1986),“Bàn thêm về tiểu thuyết Mùa lá rụng trong
vườn”, Báo Văn nghệ
- Vân Thanh (1986), “Một mảnh đời trong cuộc sống hôm nay qua Mùa lá
rụng trong vườn”, Tạp chí Văn học
- Hà Ân (1988), “Đọc Mùa lá rụng trong vườn”, Báo Người Hà Nội
- Nguyễn Công Thanh (2006) Bi kịch gia đình trong tiểu thuyết Mùa lá rụng
trong vườn của Ma Văn Kháng, Tạp chí Đại học Vinh
Trong cuộc hội thảo về tác phẩm Mùa lá rụng trong vườn do Câu lạc
bộ Báo Người Hà Nội và Nhà xuất bản Phụ nữ phối hợp tổ chức, các nhà văn,
nhà nghiên cứu đã có nhiều ý kiến đánh giá về thành công cũng như hạn chế
của tác phẩm Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân khẳng định: “Mùa lá rụng
trong vườn biểu hiện cho xu thế văn học đang vươn tới những vấn đề cốt
yếu” Hoàng Kim Quý cho rằng: “Tác giả Mùa lá rụng trong vườn đã nhìn thẳng vào cuộc sống của những gia đình với mỗi người Trong “Đọc Mùa lá
rụng trong vườn” in trong tạp chí Văn hóa nghệ thuật, tác giả Trần Bảo
Hưng cũng viết: “ Cần giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc cùng với nếp sống của gia đình Việt Nam cùng sự đổi mới và thích ứng của nó trong xã hội mới Tuy nhiên giữ vững tất cả sẽ không tránh khỏi đổ vỡ, sứt mẻ, nhưng muốn thoát ly truyền thống, phá vỡ tất cả cũng sẽ dẫn tới bi kịch.” [14; tr.37]
Trang 11Tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn có thể coi là đỉnh cao trong sự
nghiệp của Ma Văn Kháng Tác phẩm đã được đạo diễn Quốc Trọng dựng
thành một bộ phim 19 tập với tên Mùa lá rụng Nhận xét về cuốn tiểu thuyết
này, Vân Thanh cho rằng : “Có thể xem Mùa lá rụng trong vườn là một tiếng
nói của tác giả trước hiện thực hôm nay: Một tiếng nói về quan hệ giữa cá nhân, gia đình và xã hội về trách nhiệm của mỗi người đối với cuộc sống dành cho mỗi người tác phẩm đã khơi được vào dòng chảy cuộc sống chúng ta hôm nay, đã lấy ra một mảng tươi nguyên của cuộc sống đó, gợi cho ta biết bao suy nghĩ về nó, lo lắng, băn khoăn về nó, và cũng hi vọng, tin yêu ở nó Từ đó đặt
ra cho mỗi chúng ta một thái độ sống, một trách nhiệm sống.” [43; tr.14]
Nghiên cứu tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú, Vũ Dương
Quỹ có bài viết: Phải chăng đời là một vại dưa muối hỏng?, Nguyễn Văn Lưu
viết Nếu Đám cưới không có giấy giá thú Còn tác giả Mai Thục có bài Đám
cưới không có giấy giá thú có tính chất luận đề về mối quan hệ giữa những
giá trị văn hóa và đời sống con người Trong bài viết: “Đọc Đám cưới không
có giấy giá thú”, Lê Thanh Hùng đã cho rằng: “Bằng cách nhìn tinh tế vào
hiện thực đời sống, tác giả đã mô tả những người giáo viên sống và làm việc gặp quá nhiều khó khăn Những vui buồn của thời thế đã phản ánh vào những trang tiểu thuyết trở nên sống động”.[13; tr.21] Và tác giả nhấn mạnh: “Ma Văn Kháng đã có cái nhìn hiện thực, tỉnh táo, nên không bị thói xấu, cái bất bình thường vốn nảy sinh trong xã hội đang vận động lấn át, hoặc chỉ thấy một chiều này u ám mà không thấy chiều khác đầy nắng rực rỡ.” [13; tr.22]
“Có lẽ Ma Văn Kháng muốn bộc lộ một cái nhìn tiến bộ và khá mới mẻ, một nhận định khá chính xác về hiện thực đời sống đương thời – cái xấu, cái ác vẫn tồn tại, hoành hành và sinh sôi trong đời sống, còn cái thiện, cái tốt mặc
dù có nhưng có lẽ chưa đủ để có thể chiến thắng.” [13; tr.23]
Côi cút giữa cảnh đời là tiểu thuyết cảm động của Ma Văn Kháng viết
dành cho thiếu nhi nhưng qua đó, ông đã khẳng định được những tư duy mới
Trang 12mẻ trong sáng tác của mình về đề tài này Khi nghiên cứu về tiểu thuyết Côi
cút giữa cảnh đời, giáo sư Phong Lê trong cuốn Ma Văn Kháng với Côi cút giữa cảnh đời, vẫn chuyện văn và người cho rằng: “Cuốn sách của Ma Văn
Kháng đã vục vào cái sự thật tối tăm oan khổ đó như nhiều cuốn sách khác
Nó thật lạ, anh lại đưa con người vào quỹ đạo những tình cảm nhân hậu tốt lành Có thể nói, đó là hiệu quả thanh lọc, tẩy rửa, cái hiệu quả thanh lọc, tẩy rửa này vốn dành cho nghệ thuật và dường như cũng chỉ có nghệ thuật đích thực, nghệ thuật cao hơn cuộc đời mới có thể làm được” [24; tr.27] và ông
cũng nhận định: “Côi cút giữa cảnh đời với tôi, đó là cuốn sách đọc không
thôi cảm động và đầy ấn tượng Trên 200 trang sách, đọc một thôi không có
gì khúc mắc, tất cả đều dễ hiểu, tưởng như không có nghệ thuật Cuốn sách của Ma Văn Kháng ai đọc cũng hiểu, đọc một lần là hiểu” [24; tr.28]
Trong bài viết “Một vài suy nghĩ khi đọc Côi cút giữa cảnh đời”, Vũ Thị Oanh đã cho rằng: “Côi cút giữa cảnh đời – cuốn sách viết theo đề nghị
cho lứa tuổi sắp vào đời, không đề cương, không hợp đồng, được xuất bản bởi
sự hợp tác của Nhà xuất bản Kim Đồng và Nhà xuất bản Văn học Đúng ra cuốn sách viết cho tất cả mọi người, cho toàn xã hội Nó đề cập đến nhiều vấn
đề lớn mà bất cứ một chế độ xã hội nào cũng không thể bỏ qua: đạo lý, nghĩa đời, tình người Đặc biệt, viết cho lứa tuổi sắp vào đời nhưng tác giả không
hề né tránh cái xấu, cái ác, những yếu tố tồn tại khách quan làm rõ thêm bức tranh cuộc sống với những cuộc đấu tranh thể hiện nhiều bình diện, sắc thái khác nhau Đó là cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác Tất cả được thể hiện bằng ngòi bút mềm mại, uyển chuyển, ngôn ngữ hóm hỉnh, phong phú sắc màu: kết thúc có hậu kiểu truyện cổ dân gian của tác giả Ma Văn Kháng.”
[35; tr.18] Trong Ma Văn Kháng - sống rồi mới viết, về tiểu thuyết Côi cút
giữa cảnh đời, chính tác giả tâm sự: “Đó chính là cuốn sách tôi viết về gia
đình mình Trong đó có hình ảnh của mẹ tôi, một người tôi luôn yêu thương kính trọng và không cầm được nước mắt khi nghĩ đến” [20; tr.6]
Trang 13Bên cạnh đó, cùng có nhiều luận văn, luận án nghiên cứu về tiểu
thuyết của Ma Văn Kháng như: Đặc điểm truyện ngắn Ma Văn Kháng (1997),
của Phạm Mai Anh, Đại học Sư phạm Hà Nội Luận văn thạc sĩ của Lê Thanh
Hùng – Tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kỳ đầu Đổi mới ( Giai đoạn sáng tác
1980 -1989)- Đại học sư phạm Thái Nguyên Nghệ thuật tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kì đổi mới của Dương Thị Hồng Liên – Đại học Sư phạm Thái Nguyên, Đổi mới Nghệ thuật tổ chức cốt truyện trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng (2013) của Trần Thị Hoa – Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Cảm hứng phê phán trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng (2013) của Nguyễn Thị Thuần – Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn - ĐHQGHN, Yếu tố tự thuật trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng ( 2013) của Nguyễn Thị Phượng - Đại học Khoa học
Xã hội & Nhân văn - ĐHQGHN
Từ việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu, các bài viết về tiểu thuyết của Ma Văn Kháng ở từng khía cạnh cụ thể, chúng tôi có thêm cái nhìn đầy đủ, toàn diện về đối tượng nghiên cứu của mình Dù đã có khá nhiều các vấn đề đã
phần nào được làm sáng tỏ, nhưng chúng tôi nhận thấy yếu tố Người kể chuyện trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng chưa được tìm hiểu, nghiên cứu một cách cụ
thể, triệt để Chính lí do đó đã thúc đẩy chúng tôi nghiên cứu đề tài này
3 Đối tượng, mục đích và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Vì giới hạn của luận văn, chúng tôi không thể đi sâu nghiên cứu tất cả các khía cạnh nghệ thuật của tiểu thuyết Ma Văn Kháng, mà chỉ đi sâu vào vấn đề người kể chuyện trong tác phẩm Cụ thể, ngoài tìm hiểu khái lược về người kể chuyện và hành trình sáng tạo của Ma Văn Kháng, chúng tôi nghiên cứu người kể chuyện với ngôi kể và điểm nhìn trần thuật, người kể chuyện với ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật
Trang 143.2 Mục đích nghiên cứu
Qua công trình nghiên cứu Người kể chuyện trong tiểu thuyết Ma Văn
Kháng (qua Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú, Côi cút giữa cảnh đời), chúng tôi nhằm hướng đến những mục đích cụ thể như sau:
- Xác định thêm tính vững chắc của khái niệm người kể chuyện, một phương diện trọng yếu của Tự sự học
- Cảm thụ tiểu thuyết của Ma Văn Kháng một cách sâu sắc hơn, đồng thời chỉ ra được những nét riêng, đặc sắc từ góc nhìn tự sự học, trên trục người kể chuyện qua đó góp phần khẳng định phong cách nghệ thuật của Ma Văn Kháng
- Khẳng định sự đóng góp to lớn của Ma Văn Kháng trên văn đàn văn học Việt Nam nói chung, văn học thời kì Đổi mới nói riêng
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu những vấn đề nêu trên, chúng tôi tập trung vào ba cuốn tiểu thuyết nổi tiếng và làm nên tên tuổi của Ma Văn Kháng, đó
là Mùa lá rụng trong vườn (1985), Đám cưới không có giấy giá thú (1989),
Côi cút giữa cảnh đời (1989)
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Trong quá trình thưc hiện luận văn, chúng tôi sẽ trích dẫn một số đoạn trích tiêu biểu trong các tác phẩm để đưa ra những phân tích, đánh giá, minh họa cho những lập luận của mình Qua đó, chúng tôi tiến hành tổng hợp để để đánh giá, làm rõ các khía cạnh thẩm mĩ trong thế giới nghệ thuật tiểu thuyết của nhà văn cũng như phong cách nghệ thuật của Ma Văn Kháng
4.2 Phương pháp lịch sử - xã hội
Văn chương không nằm ngoài cuộc sống Văn chương nói chung và văn chương của Ma Văn Kháng nói riêng đều mang hơi thở của thời đại Vì thế, nếu không xem xét yếu tố hiện thực đời sống, xã hội thì không thể nào thấy được những thay đổi, những thành tựu đạt được của văn học Sử dụng phương
Trang 15pháp lịch sử - xã hội sẽ giúp cho việc lý giải những cơ sở thực tiễn và nguyên nhân chuyển hướng của nghệ thuật trong tác phẩm của Ma Văn Kháng
4.3 Phương pháp so sánh
Văn học chịu sự chi phối rất mạnh mẽ của hoàn cảnh xã hội Sự đổi mới, chuyển biến của xã hội cùng nghĩa với việc kéo theo sự chuyển biến đổi mới của văn học Sử dụng phương pháp so sánh (đồng đại và lịch đại) giúp chúng tôi có sự so sánh sự chuyển hướng nghệ thuật về phương diện người kể chuyện trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng với các tác giả và tác phẩm cùng thời
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái lược về người kể chuyện và hành trình sáng tác của Ma Văn Kháng
Chương 2: Người kể chuyện với ngôi kể và điểm nhìn trần thuật trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng
Chương 3: Người kể chuyện với ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng
Trang 16Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ NGƯỜI KỂ CHUYỆN VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC
CỦA MA VĂN KHÁNG
1.1 Giới thuyết về người kể chuyện trong tác phẩm tự sự
Văn học là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, mỗi tác phẩm văn học là một lát cắt trong cuộc sống muôn màu Tất cả đời sống, số phận của con người được soi chiếu qua lăng kính chủ quan của nhà văn Vì thế, tác phẩm văn học bao giờ cũng thể hiện thái độ, tình cảm, tư tưởng mà nhà văn muốn gửi gắm vào đứa con tinh thần của mình Nếu như trong thể loại thơ ca trữ tình, những cung bậc cảm xúc, những sắc thái tình cảm và tư tưởng của nhà thơ được ghi lại qua lời lẽ, câu từ, những hình ảnh đặc sắc thì đến với thể loại tự sự - một thể loại giàu tính khách quan, những điều đó sẽ được bộc lộ qua nhân vật “người kể chuyện”
Trong số các yếu tố của một chỉnh thể văn bản tự sự, người kể chuyện là yếu tố giữ vai trò trung tâm Mọi nghiên cứu về nghệ thuật tự sự đều ít nhiều sẽ
liên quan đến phương diện này Hơn nữa, các khái niệm cơ bản nhất của Tự sự học như: điểm nhìn, tiêu điểm, tiêu điểm hóa, lời văn nghệ thuật, tình tiết tự
sự đều được phản ánh thông qua người kể chuyện trong tác phẩm Tương đương với thuật ngữ người kể chuyện – người đứng ra kể trong tác phẩm tự sự còn được gọi bằng nhiều thuật ngữ khác như: người trần thuật, người thuật chuyện, chủ thể trần thuật, người mang thông điệp, chủ thể kể chuyện
Người kể chuyện vốn là một khái niệm vẫn còn nhiều bàn luận khác
nhau Theo Pospêlov trong Dẫn luận nghiên cứu văn học:“Người trần thuật là
người môi giới giữa các hiện tượng được miêu tả, và người nghe (người đọc)
là người được chứng kiến, cắt nghĩa các hiện tượng xảy ra Các phương thức trần thuật cực kì nhiều vẻ Hình thức phổ biến nhất của miêu tả tự sự là trần thuật từ ngôi thứ ba không nhân vật hóa, mà đằng sau là tác giả Nhưng người
Trang 17trần thuật có thể hoàn toàn xuất hiện trong tác phẩm với hình thức một cái
“tôi” nào đó Những người trần thuật được nhân vật hóa như vậy, kể câu chuyện từ ngôi thứ nhất của chính mình, có thể gọi một cách tự nhiên là người
kể chuyện.”.[36; tr.46]
Để định nghĩa về khái niệm người kể chuyện, Tz Todorov cho rằng:
“Người kể chuyện là yếu tố tích cực trong việc kiến tạo thế giới tưởng tượng Không thể có trần thuật thiếu người kể chuyện Người kể chuyện không nói như các nhân vật tham thoại khác mà kể chuyện Như vậy kết hợp trong mình đồng thời cả nhân vật cả người kể, nhân vật mà nhân danh nó cuốn sách được
kể có một vị thế hoàn toàn đặc biệt.”[46;tr.79] Trong khi đó W Kayser viết
về người kể chuyện như sau: “Trong nghệ thuật kể, người kể chuyện không bao giờ là tác giả đã hay chưa từng biết đến, mà là một vai trò được tác giả nghĩ ra và ước định.” [48; tr.168] Tiếp đó ông cho rằng: “Người trần thuật đó
là một hình hài được sáng tạo ra, thuộc về toàn bộ chỉnh thể tác phẩm văn học Ở nghệ thuật kể không bao giờ người trần thuật là vị tác giả đã hay chưa nổi danh, nhưng là cái vai mà tác giả bịa ra, chấp nhận.” [48; tr.245]
Trong giới nghiên cứu Việt Nam, Giáo sư Trần Đình Sử cho rằng:
“Mọi nội dung, tư tưởng, ý đồ sáng tạo đều do tác giả nghĩ ra, nhưng anh ta không trực tiếp đứng ra trần thuật, mà sáng tạo ra một người trần thuật để thay mình làm điều đó Khi sáng tác, nhà văn như người chép hộ lời lẽ của người trần thuật do mình sáng tạo ra.” [42; tr.145]
Còn theo nhà nghiên cứu Ngô Tự Lập thì người kể chuyện có vai trò như một “kẻ mang thông điệp” chuyển tải những thông điệp từ người phát ngôn đến người nhận: “Các thông điệp của một văn bản bao giờ cũng được chuyển đi, trực tiếp hoặc gián tiếp, nhờ một hay một vài phát ngôn viên (speaker, hoặc narrator), mà tôi gọi là kẻ mang thông điệp: một người sĩ quan
ra mệnh lệnh, người kể chuyện trong tiểu thuyết, hay các đối tác ký vào hợp đồng hợp tác kinh doanh…Những kẻ mang thông điệp có thể có thật hoặc hư
Trang 18cấu” [23; tr.178] Với một quan điểm rộng dựa trên nền của lý thuyết hội
thoại, tác giả của Văn chương như là quá trình dụng điển đã xác định được
vai trò quan trọng của người kể chuyện trong tác phẩm tự sự: cầu nối trung gian giữa tác giả, tác phẩm và người đọc Thêm vào đó ông còn nhấn mạnh
“chính đặc điểm và mối quan hệ giữa thông điệp và kẻ mang thông điệp là cái quyết định tính chất của văn bản”[23; tr.178] và “trong truyện, thông điệp mang tính chất khái quát, và kẻ mang thông điệp là những nhân vật hư cấu” [23;tr.180]
Tác giả Lại Nguyên Ân lại đưa ra một định nghĩa khá sâu sắc về người
kể chuyện trong trần thuật tự sự: “Trần thuật tự sự được dẫn dắt bởi một ngôi được gọi là người trần thuật – một loại trung giới giữa cái được miêu tả và thính giả (độc giả), loại người chứng kiến và giải thích về những gì đã xảy ra” [2; tr.360] Trong định nghĩa này, nhà lý luận một lần nữa khẳng định vai trò cầu nối và dẫn dắt câu chuyện của người kể chuyện trong tác phẩm tự sự, đồng thời nhấn mạnh vai trò chứng kiến và giải thích của hình tượng này Đây
là những dấu hiệu cơ bản nhất để nhận diện người kể chuyện trong các sáng tác tự sự từ xưa đến nay
Tác giả Lê Ngọc Trà đưa ra một quan niệm ngắn gọn hơn về người kể chuyện, dựa trên mối quan hệ giữa chủ thể kể chuyện và lời kể trong tác phẩm
tự sự: “Người kể chuyện là chủ thể của lời kể chuyện, là người đứng ra kể trong tác phẩm văn học” [48; tr.89] Ở đây, định nghĩa đã nêu bật được vai trò đặc trưng mang tính chức năng của người kể chuyện
Khi tiếp cận về vấn đề này, chúng tôi cho rằng người kể chuyện chính
là chủ thể của những lời kể về câu chuyện được kể trong tác phẩm văn học Chủ thể đó là một nhân vật đặc biệt do nhà văn sáng tạo ra để dẫn dắt, gợi
mở, sắp đặt câu chuyện được kể Người kể chuyện có thể là bất cứ ai, con người của quá khứ hoặc tương lai, nhưng là người kể lại câu chuyện trong tác phẩm bằng một chỗ đứng, một điểm nhìn phù hợp với ý đồ sáng tạo của nhà
Trang 19văn Người kể chuyện có thể xuất hiện, hoặc ẩn, có thể trực tiếp tham gia câu chuyện, có thể không Thậm chí, có một hoặc nhiều người kể chuyện, lúc đó
sẽ xuất hiện các tầng bậc trần thuật khác nhau Nhưng dù dưới hình thức nào
đi chăng nữa thì người kể chuyện cũng là người phát ngôn cho câu chuyện Anh ta đứng từ đâu để quan sát và kể câu chuyện đó thì đó chính lầ điểm nhìn của tác phẩm Tác giả là người sáng tạo ra người kể chuyện, nhưng cả khi tác giả xưng “tôi” để kể thì giữa người kể chuyện và tác giả cũng không thể là một, giữa họ có một khoảng gián cách
Tóm lại, có nhiều quan điểm khác nhau về người kể chuyện, song tất cả đều thống nhất ở điểm khẳng định vai trò của nhân vật này Bởi trong tiểu thuyết hiện đại, cái người ta quan tâm nhất là cách kể chứ không chỉ đơn thuần là cái được kể Người kể chuyện lúc đó nắm vai trò rất quan trọng tạo nên cái cách kể đó
1.2 Phân loại người kể chuyện
Người kể chuyện nắm một vai trò rất quan trọng trong tác phẩm văn học Đó là người sắp đặt, môi giới, dẫn dắt các sự kiện, kể lại câu chuyện trong tác phẩm Trong các công trình tự sự học, có rất nhiều cách phân loại người kể chuyện được các nhà nghiên cứu đưa ra Và người kể chuyện cũng được gọi bằng nhiều tên khác nhau: người kể chuyện ở ngôi thứ nhất và người
kể chuyện ở ngôi thứ ba, người kể chuyện chứng nhân, người kể chuyện sử quan, người kể chuyện toàn tri
Trong một truyện kể có ít nhất một người kể chuyện Người đó có thể công khai hoặc mờ nhạt, có thể được nhận biết thông qua những chi tiết trong văn bản Nhân vật này hiện diện khắp nơi trong tác phẩm, có khả năng tự nhận thức về mình, đáng tin hoặc không đáng tin Dù người kể chuyện công khai hay không công khai, hiểu biết hay không, có khả năng tự nhận thức thế nào thì cũng chỉ là một phần hoặc là người đứng ngoài hoàn toàn thế giới của những tình huống, sự kiện và nhân vật được kể Khi đó người kể chuyện có thể đồng
Trang 20thời là một nhân vật trong tác phẩm hoặc không Trường hợp người kể chuyện đồng thời là nhân vật, người đó thường có chức năng hoặc như một nhân vật trung tâm trong những sự kiện được kể lại Nhưng người này cũng có thể xuất hiện như một nhân vật thứ yếu hoặc chỉ đơn thuần là người quan sát
Người kể chuyện mặc dù hiện diện khắp nơi trong tác phẩm, nhưng cần phải được phân biệt với tác giả Người kể chuyện có thể không đứng ra kể lại những tình huống và sự kiện trong truyện kể, nhưng nắm vai trò chi phối
sự lựa chọn, sắp xếp và phối hợp chúng Ngoài ra, anh ta có thể được suy luận
từ toàn bộ văn bản chứ không chỉ dừng lại ở một người kể chuyện nào cụ thể trong tác phẩm Mặc dù sự phân biệt này có lúc rất mơ hồ (trường hợp người
kể chuyện xuất hiện trong hình thức người kể chuyện vắng mặt, tức là đứng ra trình bày các tình huống, sự kiện nhưng hầu như không để lộ ra những dấu hiệu của sự dàn xếp trần thuật và không có chỉ dẫn cụ thể nào trong truyện kể hướng đến việc phơi bày hoạt động trần thuật của người kể chuyện), nhưng cũng có lúc trở nên rõ ràng (trường hợp người kể chuyện đồng thời là nhân vật trong thế giới truyện kể)
Trên quan điểm trần thuật học, chúng tôi hệ thống thành hai dạng thức xuất hiện chủ yếu của người kể chuyện như sau:
Người kể chuyện tường minh: còn gọi là người kể chuyện ở ngôi thứ nhất
hoặc ngôi thứ hai, xuất hiện trong tác phẩm với tư cách là một nhân vật, tự kể
về mình và người khác Ở ngôi kể này người kể chuyện bị giới hạn bởi những giới hạn của con người: không thể xuất hiện ở hai nơi cùng một lúc, không thể biết chính xác nhân vật khác nghĩ gì…
Người kể chuyện hàm ẩn: là người kể chuyện ở ngôi thứ ba không xuất
hiện trực tiếp trong tác phẩm, không thuộc vào thế giới truyện kể, mà ở cách
xa, ở trên, ở ngoài quan sát và kể lại câu chuyện các nhân vật Người kể chuyện hàm ẩn có thể chia thành các trường hợp sau:
Trang 21+ Người kể chuyện hàm ẩn kể theo điểm nhìn của chính mình, chỉ như một người quan sát, miêu tả những hành động bên ngoài của nhân vật mà không biết gì thế giới nội tâm của nhân vật Người kể chuyện thuật lại câu chuyện một cách khách quan, lạnh lùng hoặc luôn sẵn sàng xen vào giữa câu chuyện để giải thích, bình luận
+ Người kể chuyện toàn tri: đứng ngoài thế giới được trình bày để quan sát, kể và bình luận, lý giải, am tường mọi chuyện
+ Người kể chuyện hàm ẩn dựa vào điểm nhìn của một nhân vật trong truyện để kể Người kể chuyện thấu đáo thế giới nội tâm, kể cả những suy nghĩ thầm kín nhất của nhân vật Anh/ cô ta đã hòa nhập vào nhân vật đến mức ta khó có thể phân biệt giọng kể của anh/ cô ta với giọng kể của nhân vật
Nhìn chung, xu hướng của nghệ thuật tự sự hiên đại là rời bỏ tính “biết tuốt” của người kể chuyện, vận động đi đến sự khách quan, chân thực trong trần thuật Sự hiện diện, can thiệp vào thế giới truyện kể của người kể chuyện ngày càng giảm đi, thay vào đó, người đọc sẽ được tiếp xúc trực tiếp với nhân vật, sự kiện
1.3 Chức năng của người kể chuyện trong tác phẩm tự sự
Việc nhà văn lựa chọn kiểu người kể chuyện nào để kể không bao giờ
là một sự ngẫu nhiên Khi lựa chọn bất cứ kiểu người kể chuyện nào, tác giả qua đó đều gửi gắm những ý tưởng, tâm tư, tình cảm của mình
1.3.1 Người kể chuyện với chức năng tổ chức kết cấu tác phẩm
Người kể chuyện có chức năng tổ chức hệ thống các sự kiện, liên kết chúng với nhau để tạo thành cốt truyện Với các cách kể khác nhau, cách tổ chức các sự kiện khác nhau, người kể chuyện sẽ hình thành nên các dạng cốt truyện: cốt truyện tuyến tính, cốt truyện tâm lý, cốt truyện kiểu “truyện lồng trong truyện” Người kể chuyện đồng thời sẽ thay mặt nhà văn cố gắng tìm đến một kết cấu tối ưu nhất để tạo sự lôi cuốn, hấp dẫn với người đọc Chức năng tổ chức tác phẩm của người kể chuyện thể hiện ở việc tổ chức kết cấu
Trang 22văn bản nghệ thuật Trong đó có việc sắp xếp bố cục trần thuật, tạo độ chênh lệch giữa phạm vi đầu cuối của trần thuật so với cốt truyện để tạo cho trần thuật những khả năng biểu hiện Đó cũng có thể là việc lựa chọn, kết hợp các thành phần trần thuật, hoặc việc tổ chức điểm nhìn trần thuật
Trong các tác phẩm như Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có
giấy giá thú, tác giả triển khai theo cốt truyện luận đề Ở kiểu kết cấu này,
người kể chuyện hàm ẩn vẫn luôn chứng tỏ sức mạnh của mình khi sắp xếp các sự kiện, biến cố tuân theo sự chi phối luận đề mà tác giả đưa ra Mỗi tác phẩm là một cuộc tranh luận về thế sự, nhân sinh mà Ma Văn Kháng đặt ra bắt nguồn từ những mâu thuẫn tồn tại trong cuộc sống thực xã hội đương thời Tính triết luận của văn xuôi Ma Văn Kháng về thế sự đời tư còn được thể hiện thông qua hệ thống các chi tiết biểu tượng mà nhà văn cố ý lặp đi lặp lại trong tác phẩm Nói cách khác, hệ thống mang tính biểu tượng nằm trong dụng ý xây dựng cốt truyện luận đề của tác giả Một số hình ảnh, chi tiết biểu tượng
tiêu biểu như: hình ảnh cái trống trường và sắc đỏ của hoa phượng trong Đám
cưới không có giấy giá thú; hình ảnh khu vườn trong Mùa lá rụng trong vườn Đối với tác phẩm Côi cút giữa cảnh đời nhà văn lại chọn cho mình lối
kết cấu với cốt truyện là dòng hồi tưởng và những kí ức Cách gọi khác của kiểu cốt truyện này là cốt truyện tâm lý do nhà văn phần lớn dựa vào kí ức của nhân vật hoặc nhấn mạnh vai trò của giấc mơ, của hồi ức để tổ chức kết cấu tác phẩm Lối kết cấu này sử dụng thời gian hết sức linh hoạt và uyển chuyển, ở đó quá khứ, hiện tại, tương lai đều có khả năng đồng hiện và những giấc mơ có sức ám ảnh dữ dội đến cuộc đời nhân vật
Như vậy, người kể chuyện đóng một vai trò rất quan trọng trong việc định hướng, lựa chọn kết cấu, hình thức cốt truyện cho tác phẩm tự sự “Khái niệm hình tượng tác giả nói lên bản chất của tác phẩm nghệ thuật và là nơi tập trung sự thống nhất về tư tưởng, kết cấu, hình tượng và ngôn từ của tác phẩm
Đó là phạm trù thi pháp cao nhất quyết định đặc điểm và nội dung của cấu
Trang 23trúc tác phẩm, quyết định cả tính khuynh hướng và sự triển khai tác phẩm đó.”[12; tr.215]
1.3.2 Người kể chuyện với chức năng dẫn dắt người đọc tiếp nhận thế giới nghệ thuật của tác phẩm
Ngoài vai trò là người tổ chức kết cấu trong tác phẩm tự sự, người kể chuyện còn có chức năng dẫn dắt người đọc tiếp nhận thế giới nghệ thuật của tác phẩm Có nghĩa là người kể chuyện giữ vai trò trung giới giữa tác giả, tác phẩm và người đọc Người kể chuyện sẽ đưa người đọc tiếp cận với từng tính cách, số phận của từng nhận vật Qua đó sẽ giúp độc giả thấu hiểu, đồng cảm với nhân vật và câu chuyện được kể
Vai trò của người kể chuyện là tổ chức hệ thống hình tượng nhân vật,
từ đó tổ chức các quan hệ của nhân vật dưới các hình thức như: đối lập, tương
phản hay bổ sung nhau Trong Đám cưới không có giấy giá thú, như một
người quan sát đứng bên ngoài câu chuyện, người kể chuyện tường thuật lại những hành động, lời nói, suy nghĩ của các nhân vật Đó là cuộc sống của những người tri thức trong một ngôi trường trung học, nhưng mỗi người mang một tính cách, một nội tâm khác nhau Tự là một giáo viên dạy văn tài năng, đức độ nhưng anh phải sống trong bi kịch gia đình và làm việc trong một tập thể giáo viên với những người đứng đầu là Dương, Cẩm thiển cận và
hẹp hòi Mùa lá rụng trong vườn cũng là một cuốn tiểu thuyết mà ở đó người
kể chuyện tỏ ra rất khách quan, không hề bộc lộ thiện cảm hay ác cảm dành cho nhân vật nhưng người đọc vẫn luôn cảm nhận được người kể chuyện một
cách rõ rệt và gần gũi Trong tiểu thuyết Côi cút giữa cảnh đời, người kể
chuyện xưng tôi tham gia vào truyện kể với tư cách một nhân vật, kể về thời
thơ ấu khốn khó, thiếu vắng tình yêu thương cha mẹ của mình Người kể chuyện cung cấp cho người đọc những dấu hiệu, chỉ dẫn để thâm nhập vào sâu đời sống của các nhân vật Những dấu hiệu ấy có khi rõ nét, chi tiết, song đôi khi cũng rất cô đọng, ẩn chứa nhiều tầng sâu ý nghĩa Như vậy, với nhiều
Trang 24thủ pháp khác nhau, khi xuất đầu lộ diện, khi thì giấu mình, người kể chuyện
sẽ khiến các nhân vật trong truyện kể bộc lộ tính cách một cách đa dạng, biến hóa nhất
Bất cứ một tác phẩm nào cũng có một nhân vật người kể chuyện Nhưng không phải lúc nào người đọc cũng được thông báo về diện mạo, mối quan hệ giữa người kể chuyện với các nhân vật trong tác phẩm Người kể chuyện là một hình tượng hư cấu được tác giả xây dựng nên, đồng thời cũng
là người đem đến những phát ngôn thay mặt cho tác giả trong tác phẩm Người đọc nhận ra người kể chuyện thông qua cái nhìn, phương thức tư duy, cách cảm thụ và tình cảm của nhân vật này
1.3.3 Người kể chuyện thay mặt nhà văn trình bày quan điểm về cuộc sống, nghệ thuật
Tất cả những nhà văn chân chính đều gặp nhau ở một điểm, đó là qua những đứa con tinh thần của mình, gửi đến độc giả một thông điệp nào đó về cuộc đời và con người Khác với các nhà tư tưởng, nhà văn không thể phát biểu trực tiếp tư tưởng của mình trong tác phẩm mà họ gửi gắm vào người kể chuyện để chuyển đến độc giả những thông điệp đó Người kể chuyện hướng người đọc cùng suy ngẫm, chia sẻ với những chiêm nghiệm, triết lý về cuộc đời mà tác giả gửi gắm
Trong một lần chia sẻ với báo chí, nhà văn Ma Văn Kháng đã tâm sự:
“Nhân vật trong tiểu thuyết, truyện ngắn ít nhiều đều là phân thân của tác giả,
ít nhất thì chúng cũng phản ánh quan niệm nhân sinh, thẩm mỹ của nhà văn, cha đẻ ra chúng Đó gần như là quy tắc của nghệ thuật Các nhân vật của tôi cũng vậy Chúng vừa là tôi vừa không phải là tôi Nói cách khác, tôi vừa sống trong bóng hình họ vừa tách ra khỏi họ để phân tích, lý giải, mở đường cho
họ Khắc khoải, trăn trở, đau đớn nhưng lại phải đứng cao hơn bi kịch thì mới
có ích cho cuộc sống Nói chung, mô hình nhân vật của tôi phản ánh quan niệm thẩm mỹ của tôi: Cái đẹp thật sự là cái đẹp khi ra đời trong bi tráng, trong đớn đau, thiệt thòi với tâm thức ngạo nghễ, ngẩng cao đầu!” [20; tr.14]
Trang 25Qua tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn, nhà văn Ma Văn Kháng
gióng lên hồi chuông cảnh báo về sự lung lay của những giá trị truyền thống trong gia đình, sự biến chất của những cá nhân, không thể đứng vững trước sự cám dỗ của đồng tiền Bên cạnh đó nhà văn cũng lên tiếng kêu gọi con người hãy giữ lấy truyền thống tốt đẹp của ông cha Gia đình là nơi thiêng liêng nhất kết nối tình thân, là nơi những cánh chim bay mỏi trở về tìm chỗ trú Và cuối cùng, tác giả chỉ ra rằng, sau tất cả những biến cố, chỉ có gia đình là nơi bến
đỗ an toàn, bình yên nhất cho những con người đã từng mắc sai lầm Tiểu
thuyết Đám cưới không giấy giá thú ra đời đã tạo ra một cuộc tranh luận sôi
nổi, dài dòng trên báo chí và ở bàn hội nghị Giáo sư Phan Cự Đệ nhận xét:
“Tiểu thuyết này đã phản ánh được cái bi kịch của nhà giáo, một trí thức bị ném vào một môi trường mà các giá trị tinh thần bị đảo lộn” [5; tr.126] Đây
là tiểu thuyết có tính luận đề sâu sắc, xung quanh về đề tài người trí thức, tác giả đã đề cập đến những vấn nạn của tình hình giáo dục nói chung, tình trạng tha hóa của một bộ phận giáo viên nói riêng Đặc biệt, tác phẩm đã đề cập trực tiếp đến vấn đề nhân cách của người thầy giáo trong cơ chế đời sống mới
Đó là thói vô sỉ, đạo đức giả, lợi dụng chức quyền kết bè kéo cánh trù dập
những người trí thức chân chính Côi cút giữa cảnh đời không chỉ gây hứng
thú cho lứa tuổi thiếu nhi mà nó còn chiếm được phần lớn tình cảm của tất cả mọi người Vì ở đó, không chỉ là những vấn đề của trẻ con, sự thiếu ăn, thiếu mặc, nỗi cô đơn, bất hạnh của những đứa trẻ không cha không mẹ mà cao hơn hết đó là bức tranh về hiện thực cuộc sống một thời với những trái ngang, hỗn độn, xô bồ của nó Nhưng cuối cùng, kết thúc truyện vẫn là một cái kết có hậu Đi qua bao nhiêu sóng gió, đắng cay thì người ở hiền ắt sẽ gặp lành như anh em Duy và những người thân trong gia đình cậu bé Đó phải chăng cũng
là tư tưởng mà nhà văn muốn mang đến trong cuốn tiểu thuyết này?
Trang 261.4 Hành trình sáng tác của Ma Văn Kháng
1.4.1 Cuộc đời và sự nghiệp văn học
Nhà văn Ma Văn Kháng tên thật là Đinh Trọng Đoàn, sinh ngày 01 tháng 12 năm 1936, quê ở phường Kim Liên, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội Ông là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1959 và Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ 1974 Sinh ra trong một gia đình có truyền thống hiếu học, Ma Văn Kháng được bố mẹ rất quan tâm đến việc học hành Có tố chất thông minh cùng với năng khiếu và sự tìm tòi sáng tạo nghệ thuật, ông đã thành công trên con đường sự nghiệp văn chương Ma Văn Kháng được đánh giá là một trong những “cây bút văn xuôi lực lưỡng” của văn học Việt Nam hiện đại nửa cuối thế kỉ XX
Là một người con Hà thành chính hiệu nhưng Ma Văn Kháng đã có một thời gian sinh sống và làm việc trên vùng rẻo cao Tây Bắc Từ tuổi thiếu niên, Ma Văn Kháng đã tham gia quân đội và được cử đi học ở khu học xá Nam Ninh, Trung Quốc Năm 1954, sau khi tốt nghiệp sư phạm trung cấp tại khu học xá Nam Ninh, Ma Văn Kháng được cử về tiếp quản thủ đô nhưng ông từ chối và xin về dạy học ở Lào Cai với lý do “muốn viết văn thành ra dám liều mạng lên miền biên ải một phen xem sao” Ông về dạy cấp II ở Lào Cai và bắt đầu xung phong tham gia nhiều hoạt động xã hội
Năm 1960 ông được cử về học Đại học Sư phạm Hà Nội, tốt nghiệp năm 1964 ông lại xin về Lào Cai để dạy cấp III Sau đó ông chuyển sang làm thư ký cho đồng chí Bí thư Tỉnh ủy rồi làm Phó Tổng biên tập tờ báo của Đảng bộ Tỉnh Suốt 20 năm gắn bó với mảnh đất Tây Bắc, Ma Văn Kháng am hiểu lối sống, phong tục, tập quán của đồng bào các dân tộc thiểu số Từ sâu trong tâm khảm, ông đã coi Tây Bắc là quê hương thứ hai của mình Cái tên
Ma Văn Kháng phần nào đã nói lên tình yêu ông dành cho mảnh đất nghĩa tình đó
Trang 27Sau khi đất nước thống nhất, năm 1976 ông chuyển về công tác tại Hà Nội Ông từng làm Tổng Biên tập, Phó Giám đốc Nhà xuất bản Lao động Từ tháng 3/1995 là Ủy viên Ban Chấp hành, Uỷ viên Đảng đoàn, Hội Nhà văn
khóa V - Tổng biên tập tạp chí Văn học nước ngoài Ở cương vị nào, ông
cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ, sống chan hòa, được mọi người yêu mến
Nửa thế kỉ cầm bút, với bút lực dồi dào, Ma Văn Kháng đã có trong tay một sự nghiệp khá đồ sộ về số lượng và chất lượng các tác phẩm văn chương Ông đã chứng tỏ được khả năng và bản lĩnh của mình khi tung hoành ngòi bút trên nhiều lĩnh vực và đề tài khác nhau Cũng ít ai biết, dù ở tuổi 80, nhưng với khối óc minh mẫn và đôi mắt tinh anh, người nghệ sĩ ấy vẫn chưa có ý định gác bút, ông vẫn không ngừng tư duy, tìm lối thể hiện những đề tài mà ông theo đuổi, cần mẫn ngồi bên chiếc máy tính cũ, viết nên những câu chuyện giản dị mà rung động lòng người Sau những năm tháng miệt mài, tâm huyết sáng tạo nghệ thuật, Ma Văn Kháng đã đóng góp cho nền văn học Việt Nam hiện đại hơn gồm hơn 200 truyện ngắn, 18 tiểu thuyết, một cuốn hồi ký, một tập bút ký và tiểu luận phê bình
Một số tác phẩm chính:
Đồng bạc trắng hoa xòe (tiểu thuyết, 1979)
Mưa mùa hạ (tiểu thuyết,1982)
Vùng biên ải (tiểu thuyết,1983)
Trăng non (tiểu thuyết,1984)
Mùa lá rụng trong vườn (tiểu thuyết,1985)
Côi cút giữa cảnh đời (tiểu thuyết, 1989)
Đám cưới không có giấy giá thú (tiểu thuyết, 1989)
Chó Bi, đời lưu lạc (tiểu thuyết,1992)
Một mình một ngựa (tiểu thuyết, 2007)
Ngày đẹp trời (truyện ngắn, 1986)
Trang 28 Vệ sĩ của Quan Châu (truyện ngắn, 1988)
Trái chín mùa thu (truyện ngắn, 1988)
Heo may gió lộng (truyện ngắn, 1992)
Trăng soi sân nhỏ (truyện ngắn, 1994)
Ngoại thành (truyện ngắn, 1996)
Truyện ngắn Ma Văn Kháng (tuyển tập, 1996)
Vòng quay cổ điển (truyện ngắn, 1997)
Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương (hồi ký, 2009)
Với nhiều tác phẩm có giá trị văn học cao, cả về nội dung, tư tưởng và nghệ thuật, ông được vinh dự đón nhận hàng chục giải thưởng, trong đó có những giải thưởng cao quý nhất: Giải thưởng Văn học Đông Nam Á 1998 cho
tập truyện ngắn Trăng soi sân nhỏ; Giải thưởng Văn học Nghệ thuật đợt I năm 2001 cho các tác phẩm tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn, Đồng bạc trắng hoa xòe; Tập truyện ngắn Trăng soi sân nhỏ; Giải thưởng Hồ Chí Minh
về Văn học Nghệ thuật đợt IV năm 2012 cho cụm tác phẩm: Truyện ngắn chọn lọc và 3 tiểu thuyết Mưa mùa hạ, Côi cút giữa đời thường, Gặp gỡ ở La Pan Tẩn Tác phẩm văn học của ông còn được lựa chọn biên soạn trong sách giáo khoa Tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của ông được dựng thành phim truyền hình nhiều tập
Ở những sáng tác thời kì đầu, đề tài cuộc sống của con người miền núi chính là “đặc khu” mà Ma Văn Kháng dành cả thời trai trẻ của mình để toàn tâm, toàn ý sáng tác Nếu như nhà văn Tô Hoài là người đặt nền móng cho những trang văn viết về vùng rẻo cao Tây Bắc thì Ma Văn Kháng là nhà văn
đã góp sức mình xây những viên gạch để bức tường ấy càng trở nên vững chắc, có giá trị Ông lao động văn chương “như một người Mèo trồng bắp trên núi, lặng lẽ, cần cù, kiên nghị, không ồn ào, to tiếng với ai, góp nhặt như chú kiến tha mồi về tổ.” [51; tr.129]
Trang 29Trải qua nhiều môi trường làm việc, giữ nhiều chức vụ với các trọng trách khác nhau, Ma Văn Kháng đã phát huy mọi khả năng của mình để quan sát và lắng nghe cuộc sống ở nhiều góc cạnh Sau mỗi chuyến đi, nhà văn lại chắt chiu được những mảnh ghép nhỏ để trang trí cho bức tranh văn chương nghệ thuật của mình ngày một sinh động và hấp dẫn hơn
Đến văn học với những bước chân đầu tiên là thể loại truyện ngắn, các tác phẩm của Ma Văn Kháng được nhiều độc giả yêu mến, đón đọc Tuy nhiên, ông vẫn chưa hài lòng với bản thân mình khi ông cho rằng, phạm vi và dung lượng của thể loại này chưa đủ phản ánh những rối ren, phức tạp, những gam màu đa sắc của cuộc sống Ông cho rằng: “Chỉ có tiểu thuyết viết theo quy luật sáng tạo nghệ thuật mới cho phép tôi chuyển hóa khối lượng, vốn sống khá dày dặn sau nhiều năm tích lũy, cho phép tôi phản ánh hiện thực một cách sâu sắc, cho phép tôi gửi gắm vào đó những suy nghĩ, những tình cảm, những kinh nghiệm của cá nhân tôi.” [21; tr.24]
Nếu điểm tên những gương mặt cho tiểu thuyết Việt Nam thời kì Đổi mới, Ma Văn Kháng chắc hẳn sẽ được nhắc hàng đầu Cùng với Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Nguyễn Mạnh Tuấn ông đã dũng cảm tiên phong mở đường cho sự đổi mới của văn học Việt Nam
Ma Văn Kháng, nhà văn từng được mệnh danh là “người khuấy động văn đàn Việt Nam hiện đại” (Lưu Khánh Thơ), kém ít tuổi so với Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải nhưng cũng thuộc nhóm đại biểu tinh anh của văn học một thời, xứng danh là một trong những ngọn cờ tiên phong đổi mới Trong đoàn kỵ mã oai hùng, mấy chiến hữu hàng tướng lĩnh đã ra đi, Ma Văn Kháng vẫn “một mình một ngựa” cùng đồng đội “giương thẳng nghĩa kỳ” mải miết cuộc trường chinh vào chiến trận nhân văn để tiêu diệt cái xấu, cái ác trên đời
Bước sang thời kỳ Đổi mới, văn học chuyển mình từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng thế sự, Ma Văn Kháng không là ngoại lệ của xu thế đó Nhà
Trang 30văn đã nhìn hiện thực cuộc đời với cái nhìn mới nhiều chiều, để thấy cả bề mặt lẫn bề sâu với tất cả quan hệ ngổn ngang, chồng chéo, phức tạp của nó Con người là đối tượng để khám phá không còn và không thể được quan niệm như trước Đó là con người trong mối quan hệ đa chiều lịch sử, xã hội, gia đình và với chính mình, là con người trong tính toàn vẹn, phong phú và phức tạp, có hạnh phúc lẫn khổ đau, có cao cả lẫn thấp hèn, bóng tối lẫn ánh sáng Con người, với Ma Văn Kháng, đó là một luận đề lớn ngày càng được nhận thức, chiêm nghiệm với chiều sâu triết học, xã hội học, văn hóa học và tâm lý học nghệ thuật
Khi chuyển hướng ngòi bút sáng tác của mình, Ma Văn Kháng đã phải tiếp cận với một hiện thực phong phú, ngổn ngang, trái phải, trắng đen lẫn lộn Đất nước vừa trải qua hai cuộc chiến tranh, nay trở về với cuộc sống hòa bình, con người lại phải đối diện với những cuộc chiến im lặng không tiếng súng Đời sống của nền kinh tế thị trường như một thứ thuốc thử năng lực và phẩm chất con người
Các sáng tác của Ma Văn Kháng thời kì này có sự vận động từ đề tài đến cảm hứng sáng tác, điểm nhìn trần thuật, nhân vật, ngôn ngữ Từ đề tài miền núi đậm chất sử thi, Ma Văn Kháng hướng tới đề tài thế sự đời tư gắn với không gian thành thị và con người cá nhân Cảm hứng sáng tác vận động theo hướng nghiên cứu phân tích Nhân vật được xây dựng chủ yếu qua phương diện tâm lí, phản ánh đời sống tâm hồn với những mâu thuẫn, những suy nghĩ về cuộc đời, con người
1.4.2 Quan điểm nghệ thuật của Ma Văn Kháng
Tác phẩm là nơi nhà văn thể hiện quan điểm sáng tác của mình, nhà văn
Ma Văn Kháng cũng không phải một ngoại lệ Trong những trang văn của mình, ông đã khéo léo thể hiện quan điểm nghệ thuật ấy Ma Văn Kháng có những trăn trở về việc viết văn, ông cho rằng, viết văn cũng chính là một nghề
“Mỗi tác phẩm là một ngày hội của cảm xúc lớn Bất cứ tác phẩm thật sự nào
Trang 31cũng là sản phẩm của một cơn si mê, si mê đến điên rồ của cả thể xác lẫn tâm hồn” [21;tr.9] Ma Văn Kháng kỹ lưỡng trong việc mạnh dạn tỉa ra những yếu
tố cần thiết phù trợ hình thành nhà văn, sau yếu tố năng khiếu, đó là: 1.Trọng thị triệt để sự sống thực tiễn Sống rồi mới viết; 2 Phải được hưởng thụ một nền học vấn cao; 3 Hiểu biết về nghề nghiệp Nhưng ông vẫn không quên
nhắc bí quyết để có được một nhà văn, một nghệ sĩ, vẫn là một ẩn số Văn giới
luôn đa sắc diện, quy đồng tất cả vào một khuôn mẫu là bất khả thủ
M.Gorki đã từng nói rằng: “Nghề viết văn là một nghề cực nhọc nhất trên thế gian này” và những ai cho rằng việc viết văn là nhàn nhã, thảnh thơi,
là không phải dấn thân gian khổ là một sai lầm to lớn Với Ma Văn Kháng, ông quan niệm văn chương là một công việc khó khăn, phải thu hết tâm sức của người nghệ sĩ nhưng không phải ai cũng vươn tới được “Công việc văn chương không chỉ là tài năng mà còn là sự vật lộn trăn trở, nghiền ngẫm, từng trải, luôn canh cánh trong lòng như mắc nợ với đời Văn chương phải tự nhiên như đời sống, phải tác động đến đời sống tâm tư tình cảm của mỗi cá nhân con người, cái viết ra phải làm cho con người hoặc sung sướng phát điên hoặc đau đớn quặn thắt đến từng khúc ruột, hoặc ngẩn ngơ như một kẻ mắc bệnh trầm cảm.”[ 21; tr.24] Văn chương phải tác động tới cuộc sống hiện tại, phải làm cho người trở nên người hơn Nhà văn không dùng ngòi bút của mình để kiếm kế sinh nhai, mà viết văn bằng chính sự hối thúc từ con tim, khối óc và
cả trách nhiệm của một người nghệ sĩ trước cuộc sống, trước con người Vì vậy, văn viết ra phải tự nhiên, giản dị, chân thật như chính cuộc đời Phát biểu
trên Tuần báo văn nghệ năm 1971, nhà văn đã khảng định rằng để có những
trang viết sâu sắc, chân thành đòi hỏi sự cần mẫn, gắn bó của mình với nghề văn và “sự chăm chỉ trong công việc, sự quan sát, suy nghĩ và học tập thật sự Phải có hiểu biết, hiểu biết có tính chất học thuật sâu sắc, phải có một trái tim chân thành thương yêu, một sự đồng cảm thiết tha.” [ 20; tr.25]
Trang 32Ma Văn Kháng cho rằng, vốn sống, chất liệu cuộc sống thực tiễn là yếu
tố tối quan trọng để nhà văn sáng tác “Chất liệu là cuộc sống của chính mình Bởi vì cái bí quyết thành công của nhà văn là ở chỗ trên trang viết anh phải thể hiện mình đầy đủ nhất Nghĩ thế, nên nhiều nhà văn đã có ý thức chuẩn bị cho nghề nghiệp của mình bằng cách quăng mình vào cuộc sống, bằng việc
du hành khắp đó đây, làm đủ các nghề nghiệp, tiếp xúc với đủ hạng người.” [21;tr.10] Và quả thật, chính cái việc “quăng mình vào cuộc sống”, với rất nhiều trải nghiệm qua các giai đoạn chìm nổi của cuộc đời nơi thị thành, miền núi, miền xuôi, ông đã có trong gia tài văn chương của mình một khối lượng tác phẩm không hề khiêm tốn
“Mỗi cuốn tiểu thuyết của tôi thường ứng với một quãng đời thật” - nhà văn Ma Văn Kháng cho biết Theo ông, “đọc chúng, tôi nhận ra mình chỉ có thể viết được nếu trong đó có phần tham dự của cá nhân mình, có khi là rất ít
ỏi và chỉ là gián tiếp Chẳng hạn, Mùa lá rụng trong vườn là cuốn sách đầu
tiên trong đó nguyên mẫu đã rõ hơn hình bóng tôi và những người thân của tôi Lý là hình ảnh tổng hợp của các bà chị dâu tôi: xinh đẹp, tháo vát, thành thạo, đáo để và quan trọng là gắn liền với nhịp sống thường ngày hôm nay…
Nhân vật người bà trong Côi cút giữa cảnh đời nguyên mẫu là hình ảnh
người mẹ thân sinh ra tôi Tôi đã chuyển hóa toàn bộ những hình ảnh cùng kỷ niệm về mẹ tôi vào trang sách, với biết bao thương nhớ, kính yêu…”[21; tr.16]
Tiểu kết
Trong các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, có rất nhiều cách
để phân loại người kể chuyện được giới chuyên môn đưa ra Theo quan điểm
trần thuật học, có thể hệ thống thành hai dạng thức xuất hiện chủ yếu của người kể chuyện đó là : người kể chuyện tường minh và người kể chuyện hàm
ẩn Người kể chuyện nắm vai trò tổ chức kết cấu trong tác phẩm, dẫn dắt
Trang 33người đọc bước vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm, đồng thời thay mặt nhà văn trình bày quan điểm về cuộc sống, nghệ thuật
Đối với nhà văn Ma Văn Kháng, để sáng tạo trong văn chương phải biết “quăng mình vào cuộc sống”, phải chăm chỉ trong công việc, phải có một trái tim chân thành yêu thương, một sự đồng cảm thiết tha với cuộc đời… Chính vì lẽ đó, hơn nửa thế kỷ cầm bút, ông đã chứng tỏ được bút lực dồi dào
và khả năng, bản lĩnh khi tung hoành ngòi bút trên nhiều lĩnh vực và đề tài khác nhau Và ở bất cứ thể loại nào, tác giả cũng mang đến những tác phẩm
có giá trị
Trang 34Chương 2 NGƯỜI KỂ CHUYỆN VỚI NGÔI KỂ VÀ ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT MA VĂN KHÁNG 2.1 Ngôi kể trần thuật
2.1.1 Khái lược về ngôi kể
Khái niệm về người kể chuyện luôn gắn liền với khái niệm ngôi kể vì giữa chúng có mối quan hệ biện chứng, luôn gắn bó và không thể tách rời nhau Có ba ngôi kể là ngôi thứ nhất (người kể xưng “tôi” hoặc “chúng tôi”), ngôi thứ ba (người kể chuyện hàm ẩn qua điểm nhìn của nhân vật) và ngôi thứ hai (người được nhắc tới trong câu chuyện – ngôi kể này có tồn tại nhưng hiếm khi xuất hiện)
Trong trường hợp nhân vật đóng vai trò người trần thuật thì tác phẩm được kể ở ngôi thứ nhất, xưng “tôi” hoặc “chúng tôi”, đây là kiểu người kể xuất đầu lộ diện, trở thành một nhân vật trực tiếp tham gia vào diễn biến của cốt truyện Hình thức này chỉ cho phép người kể nói ra những gì mình biết hoặc chứng kiến, đó là kiểu điểm nhìn hạn tri mang tính khách quan, tạo được niềm tin nơi độc giả Còn người kể ở ngôi thứ ba là hình thức kể chuyện truyền thống, ở đó người kể ẩn tàng qua điểm nhìn của nhân vật, luôn đứng ở
vị trí cao hơn nhân vật, quan sát và kể lại mọi chuyện (người kể chuyện với điểm nhìn toàn tri) Bên cạnh đó còn có ngôi kể chuyện thứ hai – ngôi kể trung gian giữa ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba, lúc này người xưng “anh” – đó
là một cái “tôi” khác, một cái “tôi” được kể ra chứ không phải là tự kể ở ngôi thứ nhất Tuy nhiên, trong dòng văn học đương đại Việt Nam, nhất là với những tiểu thuyết có yếu tố hậu hiện đại, ngôi kể không còn hình dạng nguyên bản và đơn giản như trước, các ngôi kể trở nên sinh động và biến ảo linh hoạt, nhà văn trở thành những tay phù thủy nhào nặn, biến hóa các ngôi
kể Trong đó một tác phẩm có thể được kể ở nhiều ngôi khác nhau, sự xâm
Trang 35lấn của các ngôi kể có thể đan xen, xoắn bện ở ngay trong một chương, một đoạn nào đó của tác phẩm Hơn nữa, ranh giới giữa ngôi thứ nhất và ngôi thứ
ba cũng bị nhòe mờ, cùng là kể ở ngôi thứ nhất nhưng người kể chuyện không còn biết gì kể đó nữa mà nhiều khi người kể trở thành “Thượng đế toàn thông” Ngược lại, người kể ở ngôi thứ ba, đôi khi cũng chỉ hiểu biết hạn tri, không còn là người biết tuốt nữa Chính điều này tạo nên sự đa sắc, phong phú về ngôi kể trong tiểu thuyết
Trong sáng tác văn học, người kể chuyện được tác giả tưởng tượng, xây dựng thay mặt tác giả kể lại câu chuyện Vì vậy, để có thể truyền đạt được tư tưởng của tác giả một cách rõ nét nhất, có khả năng khơi gợi liên tưởng suy nghĩ nơi người đọc một cách tốt nhất, nhà văn có thể sử dụng người kể chuyện ở các ngôi kể khác nhau Việc sử dụng ngôi kể ở những dạng thức sẽ tạo nên những hiệu ứng câu chuyện khác nhau mà theo GS Trần Đình Sử:
“Người trần thuật trong văn bản văn học là một hiện tượng phức tạp nhất, mà ngôi kể chỉ là hình thức ước lệ Người trần thuật vốn không có gì là ngôi kể
Sự khác biệt ở ngôi thứ nhất, ngôi thứ ba chỉ là khác nhau ở mức độ bộc lộ và
ẩn dấu của người trần thuật mà thôi.” [42; tr.17]
2.1.2 Các dạng thức ngôi kể
Trong tác phẩm tự sự, người kể chuyện thường xuất hiện dưới hai dạng thức cơ bản, đó là: chủ thể kể chuyện kiểu “khách quan hóa” với ngôi kể thứ ba; chủ thể kể chuyện kiểu “chủ quan hóa” với ngôi kể thứ nhất Việc lựa chọn ngôi kể nào là tùy thuộc vào nội dung, ý đồ và cách thức mà tác giả muốn thể hiện trong tác phẩm của mình
Với kiểu kể chuyện “khách quan hóa” - với ngôi kể thứ ba, chủ thể hoàn toàn ở cốt truyện, không phụ thuộc vào thế giới của các nhân vật truyện,
mà chỉ thực hiện nhiệm vụ theo dõi nhân vật, dẵn dắt nhân vật, đứng sau hành động để quan sát và kể lại, không trực tiếp tham gia vào sự kiện, biến cố truyện Chủ thể kể chuyện xuất hiện ở ngôi thứ ba luôn có một vị trí tốt nhất
Trang 36để theo dõi, dẫn dắt nhân vật Nhân vật ít có những cơ hội để phát biểu, suy ngẫm hoặc hồi tưởng Chủ thể kể chuyện chi phối toàn bộ tác phẩm từ lời dẫn chuyện, cách kể, cách tả đến lời trữ tình ngoại đề
Kể chuyện ở ngôi thứ ba là một dạng xuất hiện của người kể chuyện khá quen thuộc trong lịch sử văn học Trong truyện kể dân gian, lời kể của chủ thể chiếm phần lớn so với lời của nhân vật Người kể chuyện có thể thêm bớt ít nhiều lời kể nhân vật, sự kiện, biến cố mà không ảnh hưởng đến cốt truyện, từ đó tạo nên tính dị bản của truyện Người nghe phải tưởng tượng rất nhiều để hình dung đầy đủ cuộc đối thoại của nhân vật Người kể vừa là người truyền đạt, vừa là người diễn xướng tác phẩm, vừa là đồng tác giả và tham gia sáng tạo lại Người kể chuyện trực tiếp giao lưu với người nghe Người nghe vừa là người thưởng thức, vừa là người tham gia vào quá trình sáng tạo tiếp Chủ thể kể chuyện trong truyện dân gian không để lại bất kỳ một dấu vết nào của riêng mình mà không hòa mình vào tập thể Trong văn học viết, truyện kể từ ngôi ba về cơ bản tác giả vẫn sử dụng phương thức trần thuật khách quan kiểu “vô nhân xưng” Ở những tác phẩm này, tác giả vẫn cố giấu mình, mặc dù câu chuyện là sản phẩm của chính họ Tuy nhiên, thông qua chủ thể kể, người đọc vẫn nhận thấy được thái độ, tư tưởng, tình cảm của tác giả thể hiện ở các mức độ đậm nhạt khác nhau Cái nhìn của chủ thể kể luôn hướng ngoại theo nhân vật Chủ thể kể chuyện là người biết hết mọi chuyện, luôn theo dõi nhân vật, sự kiện nhưng không tham gia trực tiếp vào câu chuyện Chẳng hạn, ở những tác phẩm tiểu thuyết hiện đại, người kể chuyện ở ngôi kể thứ ba xuất hiện dưới dạng thức rất đa dạng Ở đó, người kể chuyện có thể ẩn mình sau những chi tiết, sự kiện, làm nhiệm vụ theo dõi, quan sát, ghi chép các sự kiện hiện lên một cách chân thực, người đọc tự rút
ra nhận thức, suy nghĩ và bình luận thông qua các hiện tượng đó Người kể chuyện cũng có thể hiện diện trong tác phẩm thông qua những lời bình luận, đánh giá, nhận xét miêu tả sự việc Ở dạng thức xuất hiện này, lời kể của
Trang 37người kể chuyện có thể được thực hiện thông qua điểm nhìn của người kể chuyện, cũng có thể thông qua điểm nhìn của nhân vật Có thể nói, với ngôi
kể thứ ba, người kể có thể linh hoạt trong cách kể, tả, giúp cho người đọc nhìn nhận hiện thực trên nhiều phương diện và nhiều góc độ khác nhau
Ngược lại, kể chuyện kiểu “chủ quan hóa” với ngôi kể thứ nhất “xưng tôi” thì chủ thể kể chuyện lại chủ động thực hiện nhiệm vụ dẫn dắt chuyện, có thể tự đứng ra kể chuyện mình, kể chuyện người khác, hoặc cùng tham gia kể chuyện với các nhân vật, hoặc chủ động ủy quyền cho nhân vật tự kể Chủ thể
kể chuyện được cá thể hóa “Tôi” – chủ thể kể chuyện là một trong các nhân vật của truyện, là người bình luận từ bên trong, đồng thời cũng là người tham gia sự việc đang diễn ra Điểm nhìn của chủ thể kể chuyện hầu hết hướng nội
do tính chất hướng nội của nhân vật Ở vị trí điểm nhìn này, nhân vật được soi rọi từ bên trong, chủ thể kể dễ dàng tái hiện sinh động thế giới tâm hồn của nhân vật, chủ động đối thoại để nhân vật phải nói lên ý nghĩa của mình Khi chủ thể kể chuyện hướng nội xưng tôi – ngôi thứ nhất thì điểm nhìn của người
kể chuyện và nhân vật trùng nhau, người kể trở thành nhân vật chính của truyện Người đọc khó phân biệt rõ ràng nhân vật nói hay người kể chuyện nói Trường hợp chủ thể kể chuyện đóng vai trò dẫn dắt câu chuyện thì người kể chuyện chỉ là một hình tượng giả định, được tác giả sử dụng làm người trung gian tưởng tượng ra giúp người đọc về cái được miêu tả Chủ thể kể luôn giữ vai trò trung gian của người đã chứng kiến sự việc, hạn chế tới mức tối đa việc bộc lộ cảm xúc để tạo điều kiện cho câu chuyện được kể mang tính khách quan Trường hợp chủ thể kể chuyện xưng “tôi” kể lại câu chuyện mà trong đó anh ta vừa là người dẫn dắt vừa là một nhân vật thì cái “tôi” của người kể chuyện có mức độ cá thể hóa cao Tác giả nhập vào chủ thể “tôi” với vai trò người dẫn, vừa đóng vai nhân vật xuất hiện cùng với các nhân vật khác trong truyện, vừa chứng kiến vừa tham gia nói chuyện với các nhân vật truyện Trường hợp chủ thể kể chuyện xưng “tôi” vừa kể chuyện vừa bình luận thì chủ
Trang 38thể kể chuyện không phải là nhân vật trong truyện, anh ta chỉ song song đồng hành cùng nhân vật chính, gần gũi với nhân vật chính, đôi khi nhập vào đời sống của nhân vật để suy tưởng Có thể nói, trong tác phẩm tự sự, chủ thể kể chuyện xưng “tôi” với ngôi thứ nhất xuất hiện với nhiều kiểu dạng khác nhau Kiểu trần thuật “chủ quan hóa” với ngôi thứ nhất xưng “tôi”, lời của chủ thể kể chuyện làm cho tác phẩm tự sự trở nên đa thanh, đa giọng điệu
Như vậy, ở trần thuật ngôi thứ nhất, câu chuyện được kể lại bởi người
kể chuyện hiện diện như một nhân vật trong truyện Người kể chuyện cũng là một nhân vật ở cấp độ hành động Ở trần thuật ngôi thứ ba, câu chuyện được
kể lại bởi người kể chuyện không phải là nhân vật trong truyện Nếu người kể chuyện không tham gia vào chuyện thì chuyện được kể ở ngôi thứ ba và sẽ có hai trường hợp: trường hợp thứ nhất người kể chuyện đứng ngoài sự vật, trình bày chúng không có bình luận; trường hợp hai người kể chuyện đứng ngoài câu chuyện nhưng chứng tỏ sự hiện diện của mình thông qua những đánh giá hoặc bình luận
2.1.3 Các hình thức ngôi kể trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng
2.1.3.1 Người kể chuyện ở ngôi kể thứ nhất
Người kể chuyện ngôi thứ nhất là phương thức trần thuật xuất hiện muộn hơn so với phương thức trần thuật ngôi thứ ba Tuy vậy, phương thức trần thuật ngôi thứ nhất bước vào thế kỷ XIX cũng đã trở thành ngôi kể thông dụng và khá được ưa chuộng đối với nhiều tác phẩm nổi tiếng của các nhà văn trên thế
giới như: Robinson Crusoe (Defoe), Guliver du ký (Swift), Tom Jon đứa trẻ vô thừa nhận (Henry Fielding) Ở nước ta, ngôi kể này đến đầu thế kỷ XX vẫn
được coi là mới mẻ đối với nhiều nhà văn, đặc biệt trong lĩnh vực sáng tác tiểu
thuyết Năm 1887, tác phẩm Thầy Lazaro phiền của Nguyễn Trọng Quản có
thể được coi là tác phẩm văn xuôi tự sự đầu tiên ở nước ta có hình thức kể chuyện ngôi thứ nhất với kết cấu “lồng ghép” Tuy nhiên, do tính chất đi trước thời đại quá xa nên tác phẩm này đã nhanh chóng bị quên lãng Khoảng mười
Trang 39lăm năm sau, đến năm 1902 một loạt truyện ngắn ra đời đã sử dụng cách kể
chuyện ở ngôi kể thứ ba Ở thể loại tiểu thuyết, hai cuốn đặc sắc Phan Yêu ngoại sử của Trương Duy Toản và Hoàng Tố Anh hàm oan của Trần Chánh
Chiếu – mặc dù văn phong chịu ảnh hưởng của tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc nhưng vẫn được các nhà nghiên cứu xem là những cuốn tiểu thuyết tiên phong của Văn học Việt Nam hiện đại Trong tiểu thuyết thế kỉ XX, nhà văn không sử dụng một điểm nhìn duy nhất mà luôn tạo ra sự đan xen, luân chuyển các điểm nhìn khác nhau nhằm biến văn bản nghệ thuật thành một sinh thể đa nghĩa, mời gọi người đọc tham dự vào trò chơi do tác giả sáng tạo ra Với ngôi thứ nhất, nhà văn sẽ xác lập điểm nhìn trần thuật bên trong và có khả năng đi sâu được vào những diễn biến phức tạp cũng như đáp ứng khát vọng giãi bày của nhân vật Ở đây, chúng tôi hoàn toàn không có ý niệm đồng nhất tác giả và nhân vật Theo M.Jahn, “Trong trần thuật ngôi thứ nhất, đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất chỉ cả người kể chuyện (cái tôi kể chuyện) và một nhân vật trong câu chuyện (cái tôi trải nghiệm) Nếu người kể chuyện là một nhân vật chính của câu chuyện thì anh/cô ta là cái tôi –vai chính, nếu anh/cô ta là nhân vật phụ thì anh/cô ta là cái tôi – chứng nhân.” [15; tr.55] Với hình thức kể chuyện ở ngôi thứ nhất, khoảng cách của người trần thuật với câu chuyện bị phá vỡ, làm tăng
độ tin cậy của câu chuyện được kể
Cuốn tiểu thuyết duy nhất được nhà văn Ma Văn Kháng lựa chọn sử
dụng ngôi kể thứ nhất là Côi cút giữa cảnh đời sáng tác năm 1989 Trong Côi
cút giữa cảnh đời, người kể chuyện xưng “tôi” kể lại câu chuyện về những
biến cố trong khoảng mười lăm năm tuổi thơ của cuộc đời mình và gia đình mình: “Thật tình tôi không hiểu rằng đời mình sẽ ra sao, nếu như cách đây mười năm, khi tôi năm tuổi, tôi không có bà nội tôi Bà nội tôi, năm ấy đã ngoại sáu mươi, tóc đã bạc quá nửa, gầy gùa như thân hình tượng La Hán chùa Tây Phương, nhưng gân cốt dẻo dai, tinh anh, nhanh nhẹn” [18; tr.1-2] hoặc “Cho đến tận bây giờ tôi vẫn không hiểu nổi lí do gì mà mẹ lại bỏ tôi lại
Trang 40cho bà, ra đi theo cái ông lái xe nọ Bà tôi đã già và tôi thì còn quá bé bỏng
Cả hai đều đang cần người nương tựa, đỡ nâng Tôi không hiểu vì sao mẹ tôi, người phụ nữ ba mươi tuổi thông minh, tươi đẹp bỗng dưng gần như là vô cớ
từ bỏ một gia đình êm ấm, vui vẻ mà khối người ao ước chẳng được.” [18; tr.5] Có thể thẩy tác giả đã có dụng ý trong việc lựa chọn ngôi kể thứ nhất cho tác phẩm của mình Với ngôi kể thứ nhất – người kể chuyện cũng là nhân vật, người trong cuộc Chính vì vậy, người kể chuyện có điều kiện để thể hiện tất cả những cung bậc cảm xúc, nhất là những biến cố lớn xảy ra trong đình của nhân vật “tôi” Với hình thức để nhân vật Duy tự kể về cuộc đời mình và gia đình với những biến cố đầy đau thương, tác giả đã tạo điều kiện cho người đọc được trải nghiệm tất cả những cung bậc cảm xúc mà nhân vật đã trải qua,
ở đó người đọc có thể cùng lắng nghe, bình luận và suy ngẫm Trong cách lựa chọn ngôi kể này, đôi khi người đọc có cảm giác tham thoại cùng nhân vật Trong quá trình kể chuyện, nhà văn không quên lồng ghép những đoạn phát ngôn trực tiếp những tư tưởng, bài học thuyết lí về cuộc sống và con người mang tính giáo dục đối với bạn đọc Người kể chuyện với ngôi thứ nhất làm cho câu chuyện được bộc lộ một cách cách tự nhiên
Trần thuật theo ngôi thứ nhất là cách trần thuật tôn trọng sự phát triển nội tại của nhân vật Nó là cách trần thuật giảm thiểu tối đa sự chi phối của nhà văn và của người kể chuyện toàn năng đến nhân vật và cảm xúc người đọc Nó di chuyển điểm nhìn vào bên trong, cho phép nhân vật tự giãi bày Lúc này tiêu cự là zero Nó thể hiện đúng bản chất suy nghĩ của nhân vật và
để người đọc tham gia vào câu chuyện, được phép đánh giá và cảm nhận theo thiên kiến chủ quan của mình Đây chính là cách kể chuyện hiện đại Bởi nó mời gọi quá trình đồng sáng tạo của người đọc
Hình thức kể chuyện ở ngôi thứ nhất trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng không nhiều và không chiếm vị trí quan trọng, nó chỉ giống như một
sự tô điểm cho cách kể chuyện thêm hấp dẫn và đa dạng mà thôi Một điểm