Các nếp đền chính ân hiện đưới những tán cây cổ thụ râm mát như một viên ngọc mau xanh muôn màu - đền Ngọc Sơn không chỉ bao gồm các nếp đền chính trên đảo Ngọc mà thực chất là một cụ
Trang 1- Đền Ngọc Sơn nằm trên đảo Ngọc ở phía đông bắc hồ Hoàn kiếm\ cách bờ bặc
200m, cách bờ đông 50m,| đền có hình tròn xung quanh được kè đá chắc chắn loi diện tích trước đây khoáng 3-4 sào} Trải qua thời gian thì điện tích hồ còn lại cho
tới bây giờ là khoảng 2067m2 và được trồng rất nhiều cây xanh Các nếp đền chính
ân hiện đưới những tán cây cổ thụ râm mát như một viên ngọc mau xanh muôn màu
- đền Ngọc Sơn không chỉ bao gồm các nếp đền chính trên đảo Ngọc mà thực chất là
một cụm kiến trúc với rất nhiều công trình kiến trúc nhỏ khác|khi đến với nơi đây quý khách còn được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của Tháp Bút, Đài Nghiên, Cầu Thê Húc
- Đắc Nguyệt Lâu, Đình Trấn Ba và Đền Chính
- trước khi xây dựng đền thì trong hồ nổi lên 2 hòn đảo, hòn to là đảo Ngọc, hòn nhỏ là đảo Rùa tương truyền nơi đây là nơi các tiên nữ thường xuống đây múa hát và thưởng ngoạn cảnh đẹp
Vào thời trần, tương truyền trên cồn cát của khúc sông Nhĩ Hà xưa người ta đã xây dựng để thờ những anh hùng liệt sĩ hi sinh trong cuộc kháng chiến chống Mông-
Nguyên Về sau trải qua bao cơn binh biến thăng trầm của thời gian đền bị hư hong
và không còn nguyên vẹn
Đến thế kí 16, đời Vĩnh Hựu nhà Lê (1735-1739) chúa Trịnh Giang đã dựng lên cung Thụy khánh trên đáo Ngọc làm nơi vui chơi yếm ẩn ngay hè và để làm đẹp
thêm cảnh quan [thé hiện hình cho võ công phá giá ông đã cho đắp núi độc tôn ở
phía bờ đông và núi Ngọc Bội ở phía bờ tây của hỗ Hoàn Kiémph Cuối thời lê vào năm 1786 Lê Chiêu Thống đã hèn mạt đốt cung thụy khánh để trả thù chúa trịnh
Tưởng chừng rằng nơi đây sẽ không còn ai nhớ đến và bị quên lãng nhưng những kẻ
sĩ đất bắc lại tìm về trên nền đất bị tàn phá xây dựng lại nơi đây thành những lâu đài
văn hóa
Theo sử sách còn ghi chép lại: vào đầu thé ki 19 một nhà Hướng Thiện tên là Tín
Trai đã dựng một ngôi đền nhỏ trên nền cung Thụy Khánh, đền thờ Quan Đế sau
thêm bàn thờ trần Hung Dao Sau đó đền có thêm bàn thờ văn Xương, vị thần chủ
chì văn học, sau còn thờ tuong La Té, cũng từ đây đền có tên gọi là đền Ngọc Sơn
Trang 2_ Ít lâu sau vào 1840 con trai cả của Tín Trai đã nhường đền lại ngôi chùa cho Hội
Hướng Thiện làm đền tam thánh, hội này đã bỏ gác chuông xây lại các gian chính
các phòng ở 2 bên đặt tượng Văn Xương Quan Đế
Đến năm tự đức t18(1865-1866) nhà nho Nguyễn Văn Siêu đứng ra vận động nhân đân quyên góp tiền để xây dựng và tu sữa lại đền, đền mới được sửa đắp thêm đất và
kè đá xung quanh, xây đình trấn ba, làm Đài Nghiên, Tháp Bút và bắc một cây cầu
từ bờ đông đi vào gọi là cầu Thê Húc
Đến thời chống pháp đền ngọc sơn là nơi tuyên truyền văn hóa giáo dục chống pháp Nơi đây cũng là nơi giáo dục điều thiện cho dân chúng với những nhà nho yêu nước đương thời như ; Vũ Công Phan, Nguyễn Văn Liêu
Từ khi bị pháp xâm chiếm (1882) nhiều hội Hướng Thiện khác cũng lấy nơi đây làm nơi tuyên truyền chống pháp Vào những đầu thế ki 20, kác cụ Nguyễn Thương
Hiền,Lương Văn Can dÀxây đựng kinh đàn dé giảng kinh cho dân chúng, trong thời
kì pháp thuộc hầu như mọi kiến trúc vẫn giữ nguyên vẹn và dường như không bị hư
hồng nhiều
9
Đên ngày nay, các bộ phận kiên trúc của khu di tích vẫn còn giữ nguyên vẹn cua thời Nguyễn Văn Siêu và không thể thiếu trong danh thắng Hồ Hoàn Kiếm Đối với
người Hà Nội đền Ngọc Sơn không chỉ là một địa chỉ tâm linh mà còn là một quần
thể có non, có nước, có tháp, có đài, có cầu, có đỉnh, có cây cổ thụ, có bong liễu
rủ xuống lồng ghép vào nó là văn chương, tín ngưỡng, huyền thoại, lịch sử và cả
truyền thống văn hóa, đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta hơn một nghìn năm, như một nhân chứng lịch sử của cuộc cách mạng chống pháp và chống
mỹ cứu nước của dân tộc
Sau bao nhiêu cơn binh biến thăng trầm của lịch sử đền vẫn giữ được nguyên nét linh thiêng, cổ kính là nơi thờ tụng Văn Xương là ngôi sao chủ về văn chương khoa
cử và thờ Trần Hưng Đạo
Trang 3Câu 2: Anh (chị) hãy thuyết minh về Tháp Bút và Đài Nghiên
- _ thưa quý khách hãy ngước nhìn sang bên tay trái, trước mắt các bạn đây chính là
Tháp Bút, tháp là một bộ phận của của tổng thể khu di tích đền Ngọc Sơn, thuộc
khu vực bên ngoài đền, [nam theo hướng Đông Bắc của hồ Gươm| tháp được xây
dựng vào thời Tự Đức thứ 18 năm 1865 trên nền núi Độc Tôn cũ theo ý tưởng
của nhà nho Nguyễn Văn Siêu Chân tháp là một cái gò được đắp bằng đá giả núi đường kính 12m, cao 4m Tháp Bút là một tháp vuông có 5 tầng, cạnh đáy tẳng 1
cao 2m, lên đến tầng 5 là 1,2m; cả 5 tầng cao 9m Trên đỉnh tháp là 1 ngọn bút
lông, cả cán và bút cao 0.9m Như vậy tong cộng ngọn tháp cao 9,9m Nhìn lên
Tháp Bút ta thấy mặt Bắc tầng 1, 2, 3 của tháp đề 3 chữ “Tả Thanh Thiên” có
nghĩa là “viết lên trời xanh” và trên thân tầng thứ 3 của tháp có khắc 1 bài bút tháp chí do Nguyễn Văn Siêu soạn
- Dưới chân tháp còn có một tấm bia nhỏ khắc 5 chữ Hán “Thái sơn thạch cảm
đương” tắm bia đá như một lá bùa chắn giữ tà ma cho Tháp Bút
Ngoài ra, dưới chân tháp có dap 1 miéu nhỏ gọi là Sơn Thần miễu Theo quan niệm
của người xưa thì đù núi to hay nhỏ cũng phải có Sơn Than cai quan
Đây là biểu tượng khuyến học của nho giáo
Có Tháp Bút thì tất nhiên phải có Đài Nghiên Qua cổng Long Môn-Hỗ Báng đường
vào đền thu hẹp lại vì hai bên lề có xây hai đấy tường hoa thấp Cuối con đường là lớp cổng thứ ba, khác với hai lớp cổng ngoài có bốn hàng cột hay lớp cửa trồng, lớp cổng này có tường cao, có mái, cửa cuốn, cánh cửa gỗ sơn son Trên mái đặt một cái Nghiễn Đài (hay còn gọi là Đài Nghiên) Đây là một cái nghiên được tạc từ cả một tảng đá xanh, hình quả đào cắt ngang theo chiều doc, khoét lõm lòng chảo, bé dai
0,97m; bé ngang 0,8m; cao 0,3m; chu vỉ khoảng 2m, được làm từ lần trùng tu năm
1865 Nghiên được đội trên lưng ba con Thiềm thừ (con cóc) Tương truyền, người
xưa kế rằng: Mỗi khi vào giờ Ngọ ánh nắng mặt trời chiếu vào Tháp Bút thì ngọn Tháp Bút sẽ in bóng đầu bút của tháp chấm vào lòng Đài Nghiên Tuy nhiên đó chỉ
là truyền thuyết vì giờ Ngọ là vào 12 giờ trưa, lúc đó mặt trời sẽ lên đỉnh và chiếu
thẳng ánh nắng vuông góc xuống mặt đất, như vậy thì Tháp Bút sẽ in bong xuống dưới nứi Độc Tôn Vì thế đấy chỉ được coi là truyền thuyết Nếu như ngọn Tháp Bút
muốn chấm vào lòng Đài Nghiên chắc sẽ là vào một giờ khác chứ không phải giờ Ngọ, có thể là vào buổi sang khi mặt trời mọc lên từ phía đông
Trang 4Tháp Bút, Đài Nghiên là biểu trưng cho văn chương, đề cao học vấn Bên trong Đài
Nghiên có hai chữ đắp nổi khá lớn “Thiện và Ác” muốn nhắc nhở mọi người sống trên đời cần biết phân biệt giữa người tốt và xấu
Đây quá là một công trình vô giá trong quan thể đền Ngọc Sơn và hồ Hoàn Kiếm
Câu 3: Anh: (chi) hãy thuyết minh về hề Hoàn-Kiếm
nơi chúng ta đang đứng đây chính là hd Hoàn Kiếm hay còn được gọi là hồ
Gươm Hồ Hoàn Kiếm nằm ở trung tâm quận Hoàn Kiếm thành phố Hà Nội phía
tả ngạn sông Hồng
Hồ Hoàn Kiếm là vị trí kết nỗi giữa khu phố cổ: Hàng Ngang, Hàng Đào, Cầu gỗ,
Lương Văn Can, Lò Sũ Và khu phố Tây do người Pháp quy hoạch gồm các
phố HAI BÀ TRƯNG, TRANG TIEN, NHA THO, TRÀNG THỊ cách đây hơn một thế ki Hồ Hoàn Kiếm được bao quanh bởi các con phố Phía đông bắc là phố Đỉnh Tiên Hoàng, phía nam là phố Hàng Khay, phía tây là phố Lê Thái Tổ
Hồ Hoàn Kiếm là một hồ nước ngọt tự nhiên với chu vi khoảng 1750m2, chiều
đài khoảng 700m chiều rộng khoảng 250m, với độ sâu trung bình từ 1m - 1,4m
Hế Hoàn Kiếm xưa kia vến là một phân lưu của của Sông Hông Có một thời sông Hồng chảy về phía Tây, sau đổi dòng mới dịch dần sang phía Nam như bây
giờ
Hồ Hoàn Kiếm trước kia có tên gọi là hồ Lục Thuỷ vì nước hồ có màu xanh
quanh năm Tên gọi hồ Hoàn Kiếm có từ thế ki thứ 15 gắn liền với truyền thuyết của vua Lê Thái Tổ trả lại gươm cho rùa Thần Vào thời nhà Mạc vua cho xây
đập, ngăn hồ thành hai nửa để tìm rùa thần Sau đó cái đập được giữ lại, nửa hồ
phía Bắc gọi là Tả Vọng, nửa hỗ phía Nam gọi là Hữu vọng Đến đời vua Tự Đức (1847-1883) hồ Hữu Vọng có tên là hồ Thuý Quân là nơi duyệt thuý binh, còn hồ
Tả Vọng chính là hồ Hoàn Kiếm ngày nay
Trang 5Quý khách thân mến Hồ Hoàn Kiếm gắn liền với truyền thuyết vua lê lời hoàn
guom, ghi lai một dấu ấn thắng lợi trong cuộc chiến tranh đân tộc chống quân Minh (1417-1427) do Lê Lợi lãnh đạo Truyền thuyết kể rằng Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn (Thanh Hoá) đã tình cờ nhặt được một lưỡi gươm và sau đó lại nhặt được một
chuôi gươm ghép được với nhau thành một thanh gươm và ngài đã đặt tên cho thanh
gươm là Thuận Thiên Thanh gươm báu này đã theo Lê Lợi trong suốt thời gian kháng chiến chống giặc ngoại bang cho đến khi ngài lên ngôi vua Trong một lần
vua Lê Lợi dạo chơi bằng thuyền trên hồ thì gặp một con rùa lớn nổi lên và bơi về phía ngài, nhà vua rút gươm ra định đuổi rùa nhưng rùa đã rất nhanh đớp lấy thanh
gươm và lặn xuống nước, từ đó hồ được đặt tên là hỗ Hoàn Kiếm
- vào thời Lê Trung Hưng, chúa Trịnh đã cho xây dựng những công trình xa hoa như lầu Ngũ Long nằm ở bờ đông hồ Hoàn Kiếm, đình Tả Vọng trên đảo Ngọc Sơn và năm 1728 cho đào hằm ở vị trí phía Nam hồ Hoàn Kiếm để xây dựng cung điện ngầm gọi là Thưởng Trì Cung và cho ngăn hồ lớn thành Tả vọng và Hữu vọng
- Vào thời Pháp thuộc năm 1884 nhà nước bảo hộ Pháp đã tiến hành quy hạch quanh
hồ cho lấp hồ Thuỷ Quân để xây dựng và quy hoạch Hà Nội thành thành phố kiểu
mới vào năm 1891, vì thế diện mạo ven hồ được thay đổi nhanh hơn,Chùa Báo Ân
bị phá để xây dựng phủ thống sứ hồ Thuỷ Quân và sơ bưu điện và nâng cấp các con
đường được giải nhựa có vỉa hè vào năm 1886 và nhiều nhà cao tầng mang kiến trúc pháp và dương như mọi kiến trúc vân được giữ nguyên cho đến tân bây giờ trong đó
có Tháp Rùa
Câu 5: Anh (chị) hãy thuyết minh tông quan về Vịnh Hạ Long khi đoàn khách
đi tàu tham quan vịnh
- thưa quý khách hiện tại đoàn của chung tad ư thuyền trên vịnh Hạ Long, vinh dự 2
lần được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới với lần công nhận thứ nhất là về giá trị thẩm mý 17/12/1994 và giá trị địa chất địa mạo 2/12/2000 Hiện
nay tỉnh cũng đang xúc tiến đệ trình lên UNESCO để công nhận vịnh Hạ Long là đi sản thê giới lần 3 đựa trên những kết quả nghiên cứu về địa chất cũng như sinh vật trong vịnh Không những thế vinh hạ long là 1 trong 7 ký quan thiên nhiên thế giới mới của tế chức New7wonders công bó kết quả sơ bộ vào ngày 12/11/2011
- Nếu như nói đến Thăng Long người ta nghĩ ngay đến mánh đất rồng bay lên, là nơi
“ xưng nghiệp đế vương” muôn đời thì nhắc đến Hạ Long ta sẽ nghỉ đến mánh đất
Trang 6nơi rồng đậu Việc lý giải cái tên Hạ Long cũng có lien quan đến một sự tích hết sức
thú vị Đó là ngày xưa khi nước Việt mới được hình thành đã bị giặc ngoại xâm xâm
lược Ngọc Hoàng sai Rồng mẹ mang theo một đàn Rồng con xuống giúp người dân đánh giặc Đoàn giặc theo đường biển tiến vao bờ, đúng lúc đó Rồng mẹ và Rồng
con cũng kịp xuống đồng thời phun ra hang trăm ngàn châu ngọc và ngay lập tức
biến thành trăm ngàn đáo đá trên mặt biển Thuyền giặc tiến tới đâm vào đâor đá và
chết thảm Sau khi giặc tan, Rồng mẹ và Rồng con không trở về trời mà ở lại hạ giới,
nơi vừa diễn ra trận chiến nơi vị trí Rồng mẹ đậu xuống là Hạ Long nơi Rồng con
xuống là Bái Tử Long, đuôi đàn rồng quẫy nước trắng xóa là Bạch Long Vĩ( Bán đảo Trà Cô ngày nay) thành bãi cát mịn và đài hơn chục kilomet
- Vịnh Hạ Long nằm ở vùng Đông Bắc Việt Nam, là một phần bờ tây vịnh Bắc Bộ,
bao gồm vùng biển của thành phố Hạ Long, thị xã Câm Phá và một phần của huyện đảo Vân Đồn Phía tây nam vịnh giáp đáo Cát Bà, phía tây giáp đất liền với đường
bờ biển dài 120 km, được giới hạn trong các tọa độ từ 1060 58 - 1070 22” kinh độ
Đông và 200 45' - 200 50° vĩ độ bắc, với tổng diện tích 1553 km2 gồm 1969 hòn
đảo lớn nhỏ, trong đó 989 đảo có tên và 980 đáo chưa có tên
~\ - Đảo ở Hạ Long có hai dạng là đảo đá vôi và đảo phiến thạch, tập trung ở hai vùng
\ chính là vùng phía đông nam vịnh Bái Tử Long và vùng phía tây nam vịnh Hạ Long,
Ö ~ Đây là hình ảnh cổ xưa nhất của địa hình có tuổi kiến tạo địa chất từ 250 - 280 triệu
2 năm, là kết quả của quá trình vận động nâng lên, hạ xuống nhiều lần từ lục địa thành
: cảnh ngoạn mục và nhiều hang động đẹp nỗi tiếng là vùng trung tâm Di sản Thiên
nhiên vịnh Hạ Long, bao gồm vịnh Hạ Long và một phần vịnh Bái Tử Long Vùng
Di sản được Thế giới công nhận có diện tích 434 km2 bao gồm 775 đảo, như một
hình tam giác với ba đỉnh là đảo Đầu Gỗ (phía tây), hồ Ba Hằm (phía nam) và đảo
Cống Tây (phía đông) Vùng kế bên là khu vực đệm và di tích danh thắng quốc gia
lược bộ Văn hoá Thông tin xếp hạng năm 1962
- Dao thi giống hình ai đó đang hướng về đất liền - hòn Đầu Người; đảo thì giống như một con rồng đang bay lượn trên mặt nước - Hòn Rồng: dao thì lại giếng như
Trang 7một ông lão đang ngồi câu cá - hòn Lã Vọng; - hòn Cánh Buồm; rồi hai con gà đang
âu yếm vờn nhau trên sóng nước - hòn Trồng Mái; đứng giữa biển nước bao la một
Iu hương không lồ như một vật cúng tế trời đất - hòn Lư Hương Tiềm ẩn trong lòng các đảo đá ấy là những hang động tuyệt đẹp như động Thiên Cung, hang Đầu Gỗ, dong Sung Sốt, hang Trinh Nữ, động Tam Cung Đó thực sự là những lâu đài của tạo hoá giữa chốn trần gian (Từ xưa, Hạ Long đã được đại thi hào dân tộc Nguyễn Trãi mệnh danh là “kỳ quan đất dựng giữa trời cao?
- Vinh Ha Long cũng là nơi gắn liền với những trang sử vẻ vang, hào hùng của dân
tộc Việt Nam với những địa danh nỗi tiếng như Vân Dén - noi có thương cảng cổ
sằm uất vào thế ký thứ 12; có núi Bài Thơ lịch sử; cách đó không xa dòng sông Bạch Đằng - là chứng tích của hai trận thuỷ chiến lẫy lừng của các thế hệ ông cha chống giặc ngoại xâm Không chỉ có vậy, Hạ Long còn là một trong những cái nôi của con người với nền Văn hoá Hạ Long huy hoàng thời Hậu kỳ đồ đá mới tại những địa danh khảo cổ học nổi tiếng như Đồng Mang, Xích Thể, Soi Nhu, Thoi Giếng,
Câu 6: Anh (chị) hãy thuyết mình khái quát về Văn Miếu - Quốc Tứ Giám Văn Miếu — Quốc Tử Giám nằm ở phía Nam thành Thăng Long, xưa thuộc thôn
Minh Giám, tổng Hữu Ngiêm, huyện Thọ Xương, thời Pháp thuộc làng Thịnh Hào, tổng tên Hạ, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông, nay thuộc thành phố Hà Nội Bến mặt
đều là phố, cổng chính là phố Quốc Tử Giám ( phía Nam), phía Bắc là phố Nguyễn
Thái Học, phía Tây là phố Tôn Đức Thắng, phía đông là phố Văn Miễu
Văn Miếu được xây dựng từ “tháng 8 năm Canh Tuất (1070), tức năm Thần Vũ thứ
hai đời Lý Thánh Tông, đắp tượng Chu Công, Khổng Tử và Tứ phối vẽ tranh tượng Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế, Hoàng thái tử đến đây học.”
Năm 1076, Lý Nhân Tông cho lập trường Quốc Tử Giám, có thể coi đây là trường
Đại học đầu tiên ở Việt Nam Ban đầu trường chỉ dành cho con vua con các bậc đại
quyển quý (nên gọi tên là Quốc Tử ) Từ năm 1253, vua Trần Thái Tông cho mở rộng Quốc Tử Giám và thu nhận cả con cái các nhà thường đân có sức học xuất sắc
Năm 1156, Lý Anh Tông cho sửa lại Văn Miếu và chỉ thờ Không Tử
Sang thời Hậu Lê, Nho giáo rất thịnh hành Vào năm 1484, Lê Thánh Tông cho
dựng bia của những người thị đỗ tiến sĩ từ khó thi 1442 trở đi.
Trang 8Năm 1762, Lê Hiển Tông cho sửa lại là Quốc Tử giám - cơ sở đào tạo và giáo dục
cao cấp của triều đình.Năm 1785, đổi thành nhà Thái học
Đời nhà Nguyễn, Quốc Tử Giám lập tại Huế Năm 1802, vua Gia Long ấn định đây
là Văn Miếu - Hà Nội và cho xây thêm Khêu Văn Các Trường Quốc Tử Giám cũ ở
phía sau Văn Miếu lấy làm nhà Khải thánh để thờ cha mẹ Khổng Tử
- Dau năm 1947, giặc Pháp nã đạn đại bác làm đồ sập căn nhà, chỉ còn cái nền với 2
cột đá và 4 nghiên đá Ngày nay, ngôi nhà này đã được phục dựng theo kiến trúc
cùng thời với quan thé các công trình còn lại
Văn Miếu thờ Khổng Tử, và các bậc hiền triết của Nho giáo và Tư nghiệp Quốc Tử
Giám Chu Văn An, người thầy tiêu biểu đạo cao, đức trọng của nền giáo dục Việt
Nam; và Quốc Tử Giám trường Quốc học cao cấp đầu tiên của Việt Nam, với hơn
700 năm hoạt động đã đào tạo hàng nghìn nhân tài cho đất nước
Tổng diện tích của Văn Miếu QTG là 54,331 km” Khuôn viên được bao bọc bởi
bốn bức tường xây bằng gạch về
Văn Miếu được chia ra lam 2 khu là ngoài trời và khu nội tự Văn Miễu QTG Khu
ngoài trời gồm Hồ Văn với diện tích 12000m”, 2 bia hạ mã và Tứ trụ cùng với vườn giám Khu Văn Miếu được chia làm 5 khu vực chính :
KVI : từ Văn Miễu Môn - Đại Trung Môn
KV2 : Từ ĐT Môn - Khuê văn Các
KV3 : Giéng Thién Quang va 2 day nha Bia
KV4 : Khu Dién Dai Thanh gồm : Đại Thành Môn + Nhà Đại Bái + Điện Đại Thành
+ Đông Vu, Tây Vu
Trang 9Câu 7: Anh (chị) hãy thuyết minh về Khuê Văn Các x
Thưa quý khách trước mặt quý khách kia là Khuê Van cácbiểu tượng cho thủ đồ hà nội ngàn năm văn hiến, khuê văn Các hay còn gọi là Gác Khuê Văn
Là một lầu vuông tám mái được xây dựng vào năm 1805 đời vua gia long triều Nguyễn Gác dựng trên một nền vuông cao, lát gạch Bát Tràng kiêu đáng kiến trúc
độc đáo Tầng dưới chỉ là bốn trụ gạch, bốn bề trống không Tầng trên là kiến trúc
gỗ từ mái, lớp và phần trang trí góc mái hoặc trên bờ nóc là bằng chất liệu đất nung
hoặc cát vôi Bốn cạnh sàn gỗ có diềm trạm trễ tỉnh vi, bốn góc sàn làm lan can con
trên cùng bằng gỗ, bốn mặt tường bịt ván gỗ, mỗi mặt đều làm một cửa tròn có
những thanh gỗ chống toả ra 4 phía
Các cửa số tròn trong khung gỗ vuông nói lên quan niệm trời tròn - đất vuông âm
dương hoà hợp cùa người xưa, của và những thanh gỗ chống tượng trưng cho sức khoẻ
Khuê văn theo cách lí giải về thiên thể, khuê là một ngôi sao trong chòm 28 sao, là
đầu Bạch Hỗ phương tây có 16 ngôi sắp xếp khúc khửu giống hình chữ văn.chính vì
vậy sao khuê được coi là sao chủ về văn học Khuê Văn Các là biều tượng cho thu
đô Hà Nội, biểu tượng của trí thức, biểu tượng cho thủ đô ngàn năm văn hiến
Cạnh Khuê Văn Các là giếng Thiên Quang đây nước trong xanh in hình Khuê Văn
Các Gác Khuê Văn xứng đáng với lời bình là một viên ngọc trong khu di tích Văn
miéu - Quốc Tử Giám.Hai bên Khuê Văn Các là hai cửa Bí Văn (văn đẹp đế, trau
truốt, sang sủa) và súc văn (văn hàm ý, súc tích có sức truyền cảm thuyết phục con người)
Trang 10Câu 8: Anh (chị) hãy thuyết minh khu vực nhà bia Tiến sĩ x?
Mời các bạn nhìn sang hai bên giếng Thiên Quang,đó chính là khu nhà bia, một di
sản tư liệu có giá trị bậc nhất tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám.Khu nhà bia gồm 82
tim bia chiến sĩ được chia đều sang 2 bên giếng Thiên Quang.trên bia có khắc rỡ tên
và quê quán của 1307 vị tiến sĩ
Ý tưởng dựng bia được khởi sự từ đời Vua Lê Thánh Tông (1484) và các đời vua kế
tiếp cho khắc tên các vị danh nhân lên bia nhẳn biểu dưong các vỉ tiến sĩ đỗ đạt và
khích lệ tỉnh thần hoc hành thi cử Ở mỗi bên khu nhà bia đều có một toà đình
vuông, với 4 mặt trống không, bên trong thờ bia, nên còn được gọi là Bi Đình Xưa
kia hằng năm xuân thu nhị kỳ trong Văn Miếu làm lễ tế thì ở đây cung sắp lễ vật
cúng bái các vị tiên nho mà vẫn được khắc tên trên bia đá đến bây giờ 82 tắm bia
tiễn sĩ là 82 phong cách điêu khắc, tuy kích thước khác nhau nhưng bia nào cũng
được dựng trên lưng mội con rùa đầu ngâng cao,4 chân xoài ra trong tư thế đang bò lên
Như các bạn đang thấy, bia gồm 3 phần là trán bia, thah bia và dé bia
Tran bia có hình khum vòm, vơi các hoạ tiết lưỡng long chầu mạn nguyệt
Thân bia:đây là phần quan trọng nhất của bia,nhẳn trên cùng sát với trán bia khắc
niên đại tổ chức khoa thi Bên dưới là bài kí khắc theo chiều dọc của bia, đọc từ trên
xuống đưới từ phải sang trái, với nội dung ca ngợi triều vua đang trị vì Tiếp theo là năm tổ chức khoa thi, số lượng thi sinh thi, số lượng người lấy đỗ, tên tuổi quê quán
của người viết văn bia và người khắc bia.phnÄ quan trọng nhất là tên tuổi quê quán
của các vị tiến sĩ được sắp xếp từ cao xuống thấp là đệ nhất tiến sĩ, đệ nhị tiến sĩ, đệ
tam tiến sĩ
Dé bia là hình một con rùa
Có lẽ các bạn đang thắc mắc tại sao lại là rùa phải không ạ?
Vâng, theo quan niệm của người Việt thì rùa từ xa xưa đã gắn bó với người đân Việt
Nam: Đó là thần Kim Quy giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa, rùa là xứ giả của Thuỷ Vương giúp Lê Lợi đại phá quân Minh hơn thế Rùa là một trong tứ linh,
bung phặng tượng trưng cho đất mang yếu tố âm, mai khum tượng trưng cho trời mang yếu tố dương tượng trưng cho trời.vì thế rùa hội tụ cả âm và dương Ngoài ra Rùa còn có ý nghĩa là trường tồn và vĩnh cửu Bia đá đặt trên lưng rùa nhằm khẳng
đỉnh sự trường tồn của trí tuệ của tỉnh hoa dân tộc việt
Trang 11- 82 tắm bia có ghi 1307 nhan vat trong đó có 17 trạng nguyên, 19 bảng nhãn, 47
thám hoa, 284 hoàng giáp và 938 tiến sĩ
Người được khắc tên trên bia đầu tiên là ông Nguyễn Trực (1442) người cuối cùng
được khắc tên trên bia là Phạm Huy Ôn (1779) Người đỗ tiến sĩ cao tuổi nhất là ô ông Bàn Tử Quang và đỗ khi tuổi mới 13, trẻ nhất là Nguyễn Hiền Qua văn bia chúng ta
vẫn thấy có những vị danh nhân vẫn được lưu truyền như nhà sử học Ngô Sĩ Liên đỗ
tiến sĩ năm 1442, nhà ngoại giao lỗi lạc Ngô Thì Nhậm Nhìn vườn bia các bạn có thể thấy nhiều tắm bia với kiến trúc khác nhau bởi chúng được làm trong thoi gian
khác nhau
Các bia khắc vào thế kỷ 15 có 14 chiếc, những tắm khắc vào thế kỷ 17 có 25 chiếc, những tấm bia loại ba được xây dựng vào thế kỷ 18 Ngoài ra còn có một số bia
không thuộc loại nào Các bạn có thấy những hàng chữ bị xóa trên bia không ạ? đó
là khi triều Nguyễn lên cầm quyền do có những mâu thuẫn với triều đình trước đã
cho xoá đi Nếu ta tính từ khoa thi Nhâm Tuất (1442) tới khoa thi Định mùi 1789 thì
phải có 124 kỳ thi và phải có 117 bia tiến sĩ Nhưng sau bao chiến tranh thì hiện nay chỉ còn 82 bia
Vâng tôi và các bạn vừa được tham quan khu nhà bia một niềm tự hào của nền văn hoá việt, và sau đây xin mời các bạn tiếp tục đến với khu vực thứ tư của văn miếu đó
là Đại Trung Môn và Nhà Đại Bái
Trang 12Câu 9: Anh (chị) hãy thuyết minh về chế độ học tập và thi cử thời phong kiến
khi đưa đoàn khách tới thăm quan khu vực tầng 1 nhà Thái Học
Nói đến chế độ khoa cử ở nước ta thì phải tính đến một chặng đường dài mười thế kỉ
đã diễn ra dưới thời phong kiến mà khoa mở đầu là năm Ất Mão(1075) đời Lí và khoa kết thúc vào năm Ki Mùi(1919) đời Khải Định
Về thể lệ thi buổi đầu chưa ổn định, ở thời nhà Lí khoảng cách giữa các khoa thi
thường là 12 năm.Tới khoa thi Kỉ Hợi(1239)đời Trần Thái Tông, lệ thi mới được
định hẳn 7 năm một kì Sang nhà Lê đời Thái Tông cho đổi lại 3 năm một kì Lệ thi
được chấp nhận suốt cả một thời kì Hậu Lê cho tới cuối thời nhà Nguyễn
Khoa cử thời phong kiến gồm ba kì thi quan trọng bậc nhất được coi như ba cửa ải lớn để bước tới các bậc thang quan chức đầy đanh vọng của các nho sĩ Đó là thi
Hương( Hương thị), thi Hội(Hội thí) và thi Đình(Đình thị)
Thi hương là ki thi của một tỉnh hoặc liên tỉnh để chọn người vào thi hội và thi đình Cuộc thi được tổ chức tại các trường nhiều nơi (từ Hương do nghĩa khu vực quê
hương của người thï) Nhưng không phải tỉnh nào cũng được tổ chức thi Hương Trường thi chia ra làm nhiều vùng Ba bốn trấn hoặc tỉnh cùng thi ở một nơi, thí dụ trường Nam là tập trung thí sinh ở các tỉnh chung quanh Nam Định, trường Hà các
tỉnh chung quanh Hà Nội v.v Số thí sinh mỗi khoa có đến hàng nghìn người
Theo quy định từ năm 1434, thi Hương có 4 kỳ
- Kỳ I: kinh nghĩa, thư nghĩa;
- Kỳ II: chiếu, chế, biểu;
- Kỳ HI: thơ phú;
- Ky IV: văn sách
Thi qua 3 ky thì đỗ Tú Tài (trước 1828 gọi là Sinh đồ) - tên dân gian là ông Đồ, ông
Tú Thường mỗi khoa đỗ 72 người Tuy có tiếng thi đỗ nhưng thường không được
bổ dụng Nhiều người thi đi thi lại nhiều lần để cố đạt cho được học vị Cử nhân Lần thứ nhất đỗ gọi là "ông Tú", lần thứ hai vẫn đỗ Tú tài thì gọi là "ông Kép", lần thứ 3
WA
vẫn thế thì gọi là "ông Mền"
Thi qua cả 4 kỳ thi dé Củ Nhân (trước 1828 gọi là Hương cống) - ông Cống, ông
Cử Mỗi khoa đỗ 32 người, được bổ dụng làm quan ở các cơ quan cấp tỉnh, cấp
Trang 13trung ương, hoặc được đi làm quan các huyện, sau dần dần mới lên các chức vụ cao hơn
Người đỗ đầu gọi là Giải Nguyên
Một người muốn dự thi Hương phải qua hai điều kiện (gọi là Khảo hạch):
1) Có đạo đức tốt và lý lịch trong sạch Bản khai lý lịch này phải được xã trưởng và
quan địa phương xác nhận
2) Có trình độ học lực: trình độ học lực lúc đầu được kiểm tra bằng một kỳ thi liền
với kỳ thi Hương nhưng không tính vào nội đung thi Hương 4 kỳ trên Đây là kỳ thi
ám tả cổ văn ai đỗ kỳ này mới được vào thi Hương Đây là thi sát hạch, không phải
là kỳ thi chính thức Đỗ kỳ này chẳng có học vị gì, cả tỉnh cùng dự thi, ai đỗ kỳ này
cũng đã vinh dự lắm, nhất là đỗ đầu Người đỗ đầu cả xứ được tặng đanh hiệu đầu
xứ (về sau đỗ đầu tỉnh cũng được gọi là đầu xứ) gọi tắt là ông xứ, như: xứ Nhu (Nguyễn Khắc Nhu), xứ Tố (Ngô Tắt Tố) Ông xứ Tố chỉ đỗ đầu xứ thôi, chẳng có
học vị gì, nhưng thật là một nhà Nho uyên thâm
Khoa thi Hương đầu tiên năm 1396 đời Trần Thuận Tông, khoa thi Hương cuối cùng
tổ chức năm 1918 đời vua Khải Định
Thi Hội là khoa thi 3 năm một lần ở cấp trung ương do bộ Lễ tổ chức Từ đời Lê
Thánh Tông thi Hương được tổ chức vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu và thi Hội vào
năm sau Sửu, Mùi, Thìn, Tuất (dựa theo quy định thi cử của Trung Quốc) Khoa thi này được gọi là "Hội thi cử nhân" hoặc "Hội thi cống sĩ" (các cử nhân, cống sĩ, tức là người đã đỗ thi Hương ở các địa phương, tụ hội lại ở kinh đô dé thi) do đó gọi là thi
Trước năm 1442 thí sinh đỗ cả 4 kỳ được công nhận là trúng cách thí Hội, nhưng không có học vị gì Nếu không tiếp tục thi Đình thì vẫn chỉ có học vị hương cống hoặc cử nhân Chỉ sau khi thi Đình, người trúng cách thi Hội mới được xếp loại đỗ
và mới được công nhận là có học vị các loại tiến sĩ Từ năm 1442 thí sinh đỗ thi Hội
mới có học vị Tiến sĩ (tức Thái học sinh - tên dân gian là ông Nghè) Người đỗ đầu
gọi là Hội Nguyên
Vào thời nhà Nguyễn những thí sinh thiếu điểm để đỗ tiến sĩ có thể được cứu xét và cho học vị Phó Bảng (ông Phó Bảng hay Ất tiến sĩ)
Trang 14Khoa thi Hội đầu tiên năm 1397 đời Trần Thuận Tông, khoa thi Hội cuối cùng tổ chức năm 1919 thời vua Khải Định, đánh dấu sự chấm dứt của khoa bảng phong kiến Việt Nam
Kỳ thi cao nhất là thi Đình tổ chức tại sân đình nhà vua Nơi thi là một cái nghè
lớn, nên sau này người ta thường gọi các vị vào thi là các ông nghè Nhà vua trực
tiếp ra đầu đề, và sau khi hội đồng giám khảo hoàn thành việc chấm bài, cân nhắc điểm số, chính nhà vua tự tay phê lấy đỗ
Người đỗ đầu gọi là Đình Nguyên
Theo số điểm, người đỗ được xếp vào 3 hạng gọi là Tam Giáp:
- Bậc 3: Đỗ Tiến Sĩ Đệ Tam Giáp (Đồng tiến sĩ xuất thân - tên dân gian là ông Tiến
Si)
- Bậc 2: Đỗ Tiến Sĩ Đệ Nhị Giáp (Tiến sĩ xuất thân, Hoàng Giáp - ông Hoàng)
- Bậc 1: Đỗ Tiến Sĩ Đệ Nhất Giáp (Tiến sĩ cập đệ - gồm 3 thí sinh đỗ cao nhất gọi là Tam khôi: Đỗ hạng ba là Thám Hoa (ông Thám), hạng nhì là Bảng Nhãn (ông
Bảng), đỗ đầu là Trạng Nguyên (ông Trạng)
Đôi khi lúc chấm bài, chủ khảo (trong đó có cả vua) thấy người thủ khoa không đạt
được điểm số tối thiểu để gọi là Trạng Những khoa này sẽ không có trạng nguyên - thủ khoa giữ cấp Đình nguyên (thí đụ: Lê Quí Đôn đỗ cao nhất nhưng chỉ được cấp
vị Đình nguyên Bảng nhãn)
Vào năm 1828 vua Minh Mạng chỉnh đốn lại khoa cử và bỏ Đệ nhất giáp Học vị trạng nguyên, bảng nhãn không còn trên khoa bảng từ đó
Trang 15Câu 10: Anh (chị) hãy thuyết minh về Ái Chỉ Lăng
Vâng! Các bạn hãy nhìn sang hai bên đường ạ Những dãy núi hiểm trở trùng điệp kéo đài khoảng 20km, chỗ rộng nhất khoảng 3km nó như một thung lũng nhỏ, hình
bầu dục Dé chính la ải Chỉ Lăng Ái có vị trí hiểm trở nhất là pha Lũy đến Đông Quan Đây là vùng đất địa linh nhân kiệt và rực rỡ miền biên ải phía Bắc của nước
ta Ải Chỉ Lăng nằm trên địa phận của hai tỉnh Hữu Lũng và Chỉ Lăng vào thế kỷ XIV, tế tướng nhà Trần là Phạm Sư Mạnh khi cưỡi ngựa qua biên ải đã hạ một câu
bat hủ: “Chỉ Lăng di hiểm lên trời ”
-_ Đến năm 1284, Ai Chi Lăng một lần nữa đi vào lịch sử, khi cánh quân Nguyên
qua Ải Chi Lăng đã bị quân ta chặn đánh và tướng la Nghệ Nhuận đã bị giết chết
tại chỗ Dạo quân Thanh là đạo quân làm kinh hoàng cá thế giới Nhưng chính
Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã dùng mưu trí tài thao lược lớn, ông đã cho
đào bẫy ngựa, phục binh nếu chúng cưỡi ngựa thì thắng mà rời ngựa thì thua Ông đã dùng cách tách chúng ra khỏi ngựa và giành thắng lợi to lớn, xóa bóng
quân Nguyên ra khỏi đất nước
- _ Những trận chiến binh lịch sử rất đặc biệt mà trong chúng ta không ai mà không
biết đến Lê Lợi đã giết chết An Viễn Hầu Liễu Thăng - chủ tướng giặc cùng 10 vạn quân binh góp phần quyết định kết thúc thắng lợi Ải Chỉ Lăng không chỉ đi
vào lịch sử với những chiến công hiển hách, mà ngược đòng lịch sử xa xăm, con
người đã để lại ải Chi Lăng những vết tích của nền văn hóa Mai Pha - Bắc Sơn nỗi tiếng với những hang động, huyền thoại và những rìu đá là minh chứng cho
nền văn hóa tiền sử của con người sinh sống ở nước ta
-_ Có rất nhiều du khách tham quan quốc tế, các nguyên thủ quốc gia, các tướng
lĩnh, các nhà sử học đến thăm với sự trân trọng đặc biệt Sloovacxoc - nhà dân
tộc học nỗi tiếng Tiệp Khắc trước đây đi thăm ải Chỉ Lăng đã phải thốt lên rằng:
“Có lẽ đây là chiến lũy hình thang độc nhất trên thế giới, nó thể hiện đẫu óc
thông mình và tài trí quân sự tuyệt vời của một dân tộc luôn phải chống trả với một đội quân xâm lược mạnh hơn mình gấp trăm ngàn lần" Trong quá trình
dựng nước và giữ nước lâu dài thể hiện một tầm nhìn chiến lược nổi tiếng : “Lấy
it dich nhiều , lay yéu thang manh” Ngày nay, ải Chi Lăng mỗi ai đi qua đều thấy tự hào, nó là niềm tự hào của Lạng Sơn nói riêng và của dân tộc Việt Nam
nói chung
Trang 16- Ai Chi Lang cdu thanh ti một thung lũng hẹp ép giữa hai đấy núi, phía Đông là
dãy núi đất Báo Dài - Thái Họa và phía Tây là núi đá Kai Kinh (Cai Kinh) dựng
đứng Con sông Thương ngoằn nghoèo chảy đọc theo thung lũng, bên con đường quốc lộ số 1A mà trước kia là đường cái quan lên biên giới, xuôi về kinh đô, Con đường sắt xuyên Việt với ga trung tâm là ga Trăm Năm (cách Hà Nội 105 km), được
xây dựng từ thời Pháp thuộc tạo thuận lợi cho thông thương lên vùng Đông Bắc Việt
Nam và ít nhiều làm giám tính chất hiểm địa của cửa ải
Những ngọn núi thấp rải rác dọc thung lũng và trấn ven đường cái quan như núi
Hàm Quỷ, núi Phượng Hoàng, núi Kỳ Lân, núi Mã Yên Đóng khóa hai đầu của thung lũng, nơi hai vòng cung núi đất phía Đông và núi đá phía Tây khép lại, là lũy
Ái Quý phía Bắc và núi Ngõ Thể phía Nam, khoanh kín trong lòng một ải quan đài 5km; rộng khoảng 3km
Tại Ải Chỉ Lăng còn có Thành Chi Lăng ở vào cây số 109 tính từ Hà Nội và tới cây
số thứ 154 thì tới tỉnh ly Lạng Sơn, Phía nam Ải Chỉ Lăng có hai khối đá lớn, một
khối có hình dáng giống như thanh kiếm khổng lồ gọi là Lê Tổ Kiếm (thanh kiếm
của vua Lê Thái Tổ) và một tượng đá có hình đáng như một người quỳ gối và bị cụt
đầu gọi là Liễu Thăng Thạch (tức đá Liễu Thăng, ám chỉ tướng Liễu Thăng bị Lê Sát
chém cụt đầu tại ải)
Từ thời sơ sử, cỗ sử Việt Nam, con người đã để lại ở Chỉ Lăng vết tích của nền văn
hóa Bắc Sơn - Mai Pha, với những hang động đẹp và những mảnh rìu đá, mảnh gốm
Những năm trước và sau công nguyên, lịch sử đã chọn lựa Ai Chi Lăng như một địa
danh đặc biệt gắn với sự nghiệp dựng nước và giữ nước, đấu tranh chống các triều đại phong kiến Trung Quốc xâm lược của dân tộc Việt Nam Ải Chỉ Lăng đã gắn liền với những hoạt động của các nhà quân sự tài năng như Lê Hoàn, Lý Thường
Kiệt, Trần Quốc Tuấn và những thủ lĩnh của xứ Lạng như Phò mã Thân Cảnh Phúc, Thế Lộc, Hoàng Đại Huẻ,
Trong suốt lịch sử xâm lăng của kẻ thù phương Bắc, từ nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Minh đến nhà Thanh, Lạng Sơn luôn được coi là vị trí chiến lược chủ yếu và là hướng tấn công chính, lý đo là vì ở đó là đồng bằng và chiếm được Lạng Sơn là chiếm được cửa ngõ châu thổ sông Hồng và chỉ còn 150km đọc đường cái quan (nay
là quốc lộ 1A) là có thể tiến chiếm kinh đô Đại Việt
Trang 17- Suét quá trình dựng nước và giữ nước của nhân dân Việt Nam, với chiến lũy hình
thang tại Ái Chi Lăng cùng hệ thống đầm lầy, sông suối, núi non hiểm trở của nó,
luôn là bức tường thành từ xa của kinh đô Thăng Long ngăn bước viễn chỉnh quân xâm lược phương Bắc
Năm 1077, phụ quốc Thái úy Lý Thường Kiệt thân hành về Chi Lăng gặp phò mã
Thân Cảnh Phúc bàn bạc việc binh Với chiến tuyến Quyết Lý và Giáp Khẩu (dựng
tại Chi Lăng), Thân Cảnh Phúc và quân dân xứ Lạng đã góp sức đánh tan quân xâm
lược Tống lần thứ hai
Năm 1285, quân Nguyên qua Ải Chi Lăng đã bị quân nhà Trần chặn đánh kịch liệt
và tướng Nguyên là Nghê Nhuận bị giết chết tại chỗ Chính Hưng Đạo Đại vương
Trần Quốc Tuấn đã thể hiện thiên tài quân sự của ông ở đây: bằng hố bẫy ngựa,
phục binh của ta từ dưới hố dùng mã tấu phạt đứt chân ngựa, tách bọn Nguyên
Mông thiện chiến ra khỏi ngựa mà tiêu diệt
Cuối năm 1427, Ải Chỉ Lăng trở thành nơi ghi công một trong những trận đánh nổi tiếng nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của Việt Nam Đạo quân chủ lực của nhà Minh do An Viễn hầu Liễu Thăng chỉ huy gồm gần 10 vạn người kéo sang để đẹp
khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo Lê Lợi đã phái Lê Sát dẫn các tướng lên
đón đường, đặt quân mai phục Tướng Trần Lựu giả cách thua vài trận để dụ Liễu
Thăng lọt vào ỗ phục kích tại núi Mã Yên Quân Lam Son dé ra chém chết Liễu Thăng khiến đạo quân cứu viện hùng hậu bị hoang mang, suy sụp, mắt sức chiến đấu
và tới đầu tháng 11 năm 1427 thì bị vây đánh, tiêu diệt bắt sống toàn bộ ở Xương Giang
Khu đi tích lịch sử Chi Lăng nằm trong vùng Ái Chỉ Lăng, bao gồm 52 điểm kéo dài
gần 20km, phần lớn thuộc hai xã Chỉ Lăng và Quang Lang, và chủ yếu liên quan đến
trận đánh ngày 10 tháng 10 năm 1427 giết chết Liễu Thăng, chủ tướng quân xâm
lược nhà Minh Khu di tích lịch sử Chi Lăng được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa Thể Thao và Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử Quốc gia từ năm 1962
Bia chiến thắng và Bảo tàng Chỉ Lăng được xây dựng tại khu di tích này vào năm
1982, nhân kỷ niệm 555 năm chiến thắng Chỉ Lăng 1427 Tượng đài kỷ niệm chiến thắng Chỉ Lăng cũng được xây đựng vào những năm sau đó
e Ai Chi Lang trong thi văn
Trang 18Từ thế kỷ 14, tế tướng nhà Trần là Phạm Sư Mạnh, ding chân trước Ai Chi Lăng
trên bước đường tuần thú xứ Lạng đã cảm thán trong bài Chỉ Lăng động khi Z4„ phong bạt mã cao hồi thủ (trước gió ghì cương ngựa, lên cao ngoảnh đầu nhìn) với câu thơ:
Chỉ Lăng quan hiểm dữ thiên té (Chỉ Lăng ải hiểm tựa lên trời)
Câu 11: Anh (chị) hãy thuyết minh về động Tam Thanh
Thưa các bạn, trước mặt các bạn là động Tam Thanh Động Tam Thanh từ lâu đã trở thành một điểm đến không thể thiếu khi đến với Lạng Sơn Động Tam Thanh nằm
trong một dãy núi có hình đàn voi phú phục trên mặt cỏ xanh Lối mà chúng ta vừa
đi lên gồm 30 bậc được đục đẽo sát vào sườn-núi, cửa động nhỏ hẹp, cây cối um
tùm Bước qua cửa động có chiều rộng khoảng 8m, cao trên 10m, ta vào lòng động
thứ nhất dài khoảng 60m, rộng gần 30m, tiếp theo là lòng động thứ hai và thứ ba.Tam Thanh được mệnh danh là "Đệ nhất bát cảnh Xứ Lạng" (gồm 4 điểm là: động Nhị Thanh, động Tam Thanh Thành nhà Mạc và Nàng Tô Thị)
Mỗi bước đi tiến vào động chúng ta càng thêm ngỡ ngàng, sứng sốt trước vẻ đẹp mà thiên nhiên đã có hàng nghìn hàng triệu năm Vách động bên trái khắc rất nhiều văn bia của các nhà thơ, các nhà nghiên cứu đã ghi lại cảm xúc của mình khi đến đây tham quan và tìm hiểu động
- Đến với đông Tam Thanh, còn rất nổi tiếng bởi trong động có chùa Tam Thanh,
ngôi chùa được xem là “Trấn doanh bát cảnh” của xứ Lạng Vậy tại sao lại có tên gọi là chùa Tam Thanh? Đó là do có từ thời Lê, chùa thờ ba vị thần tối cao của
đạo giáo đó là: Thượng Thanh, Ngọc Thanh và Thái Thanh Về sau Ngô Thì Sĩ
đã đặt tên là Tam Thanh
- _ Chùa tam Thanh còn nỗi tiếng với hệ thông văn bia Hệ thống này không những
có giá trị về mặt sử liệu mà còn có giá trị về văn học nghệ thuật của các văn nhân
thi sĩ qua các thời kỳ lịch sử tại đi tích này
- Tấm bia có niên đại cổ nhất là bia số 4 (bia Ma Nhai) có tên gọi là “Thiền động pháp luân thường truyền” nội dung miêu tả việc xây dựng và tôn tạo lại chùa
Tắm bia số hai của Ngô Thì Sĩ tạo năm Kỷ Hợi (1777) đây là bài thơ ca ngợi vẻ
đẹp sơn thủy hữu tình của khu di tích Bia một số gồm hai bài thơ của hai tác giả
làm quan triều đình nhà Nguyễn là Đoàn Đình Duyệt và Tôn Thất Tố làm khi
Trang 19theo giá vua Khải Định năm 1918 ra tuần thú miền bắc, nội dung là ca ngợi vẻ
đẹp của danh thắng này Đặc biệt đây là tấm bia duy nhất được thể hiện bằng loại chữ viết cổ của dân tộc ta hiện có ở địa bàn tỉnh Lạng Sơn do Đào Trọng Vận
(tuần phủ Thái Bình)viết năm 1924
- Di tích Tam Thanh ngoài ý nghĩa là một danh thắng, nó còn là một đi tích tín
ngưỡng tôn giáo Trong chùa hiện nay còn lưu giữ được một hệ thống Phật khá
phong phú, trong đó tượng phật quý giá nhất là tượng Phật A Di Đà được tạc trên vách đá phía trên cung Tam Bảo Pho tượng mang phong cách mỹ thuật thời Lê
Mac (TK XVI-XVII) Đây là pho tượng khá độc đáo, ít thấy ở tượng A Di Đà trong các chùa ở nước ta Tượng A Di Đà được tạc trong thế đứng trong hình một lá đề Lá
đề vốn được coi là biểu tượng của sự giác ngộ trong Phật Giáo Phía trên đầu tượng
có chữ Há, đó là tên của người là A Di Đà Phật; tượng cao 202cm, rộng 65cm mặc
áo cà sa buông chim, chan trần, trên đầu tóc xoắn cao, hình ốc, hai tay chỉ xuống đất
trong thế ấn cam lộ (Ấn cứu giải và ban ơn) Có thể nói, A Di Đà được tôn thờ nhiều
nhất trong dòng phật giáo đại thừa và cũng là vị phật được tôn thờ sớm nhất (khoảng thế kỷ I trước công nguyên) Người trụ trì cõi cực lạc ở Tây Phương và được tôn thờ
trong Tịnh Độ Tông tại Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và Tây Tạng, người được
tượng trưng của từ bị và trí tuệ Tương truyền rằng một trong những số kiếp luân hôi
của A Di Đà đã từng là một vị vua Sau khi phát tâm mộ đạo, vị vua này đã từ bỏ
ngôi báu và trở thành một tì kheo với tên là Pháp Tạng người quyết tâm thành phật
và nguyện giúp cho chúng sinhh tái sinh vào cõi cực lạc của mình và cũng sẽ trở thành phật
© Ban thd Tam Bao
Trước mặt các bạn chính là Ban thờ Tam Bảo của chùa Tam Thanh, nơi đây trưng
bày hệ thống tượng phật khá phong phú và chuẩn mực Như các bạn đã thấy các pho tượng ở đây đều được sắp xếp theo những nắc thang từ trên xuống, mỗi pho tượng
lại có một tư thế, một hình đáng mang ý nghĩa khác nhau Tuy nhiên lỗi bài trí ở đâylà theo cách bài trí ở đây là theo cách bài trí của tượng Phật giáo đại thừa
e Hồ âmty
tên là hồ Cảnh, hồ có chiều sâu là 4m, nước trong như gương và rất đặc biệt, cho dù
quý khách đến thăm động vào bất kỳ mùa nào trong năm thì nước hồ cũng trong xanh quanh năm và chưa bao giờ cạn
«© Lối thông thiên
Trang 20Đi lên vài bước chúng ta sẽ thấy bên phải là đường lên sân khấu, bên trái có một
luồng ánh sáng hào quang sáng chói và có các bậc cầu thang dẫn ta đi lên, đó là lối
thông thiên - đường lên trời
© Ban thờ Mẫu
người Việt Nam sống bằng nghề lúa nước nên phụ thuộc vào thiên nhiên một cách lâu dài và bền chặt Chất âm tính của văn hóa nông nghiệp dẫn đến hệ quả trong quan hệ xã hội là lối sống thiên về tình cảm trọng nữ và và trọng tín ngưỡng là tình trạng thờ nữ thần chiếm đa số Người phụ nữ không chỉ đóng vai trò quan trọng trong sắn xuất nông nghiệp mà còn giữ một thiên chức cao quý đó
là sinh con đề cái Vì vậy người Việt có truyền thống thờ nữ thần Tuy nhiên, vì
cái đích mà người làm nông nghiệp hướng tới là sự phồn thực nên nữ thần của ta
không phải là các cô gái trẻ, đẹp mà là các bà mẹ, các Mẫu
Trang 21Câu 12: Anh (chị) hãy thuyết minh khái quát về chùa Trấn Quốc
Thưa quý khách Chùa Trấn Quốc nằm trên đảo cá Vàng của Hồ Tây xưa, thuộc
phường Yên Phụ, đường Thanh Niên, Quận Tây Hồ, Thành Phố Hà Nội Chùa Trấn
Quốc là ngôi chùa cỗ nhất Hà Nội và là trung tâm Phật giáo lớn của Kinh Thành
Thăng Long vào thời Lý — Trần
Chùa được xây đựng vào thời vua Lý Nam Đề ( 544 — 548) với tên gọi là chùa Khai Quốc, nằm ở trên bãi Yên Hoa, bên bờ sông Hồng, đến niên hiệu Đại Báo đời vua
Lê Thái Tông chùa được đỗi tên thành chùa An Quốc
Đến đời Lê Trung Hưng năm 1615 do bãi sông bị lở gần vào đền chùa, nhân dân phường Yên Hoa ( sau này là phường Yên Phụ) mới rời vào đảo cá vàng trên Hồ Tây, là địa điểm chùa hiện nay :
Chùa được dựng trên nền cung Thúy Hoa ( thời Lý) và điện Hàn Nguyên ( thời Trần) sau đó người ta cho đắp đê Cố Ngự ( sau đọc chệch là Cổ Ngư) và tạo đường
nối từ đê với đảo cá vàng, con đường Cô Ngư đó chính là đường Thanh Niên ngày nay
Chùa được trùng tu với quy mô lớn nhất là vào đời vua Lê Thần Tông năm 1639 quy
mô của chùa lúc này so với trước lớn hơn nhiều
Trạng Nguyên Nguyễn Xuân Chính đã soạn bài văn bia dựng ở chùa vào năm 1639 ghi lại về công việc tôn tạo này
Đến niên hiệu chính hòa ( 1680 - 1705) đời vua Lê Hy Tông, chùa đổi tên là Trấn
Quốc
Đến đời nhà nguyễn chùa lại được trùng tu, đúc chuông, đắp tượng năm 1821 vua
Minh Mạng đến thăm chùa ban 20 lạng bạc để tu sửa
Đến 1842 vua Thiệu Trị tuần du ra bắc, ban 1 đồng tiền vàng lớn và 200 quan tiền,
đổi tên chùa là Trấn Bắc nhưng tên chùa Trấn Quốc có từ đời vua Lê Hy Tông Đã
được nhân dân ta quen gọi là chùa Trấn Quốc cho đến tận ngày nay
Ngoài tên Khai Quốc , An Quốc và Trấn Quốc ra thì từ xưa người Hà Nội còn hay
gọi là Trấn Vũ để ca ngợi vẻ đẹp của Hồ Tây người xưa có thơ rằng:
“Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ canh gà Thọ Xương
Trang 22Mịt mù khói tỏa ngàn xương Nhịp chày yên thái mặt gương Tây Hồ”
Nổi tiếng linh thiêng lại là danh thắng bậc nhất kinh kì chùa Tran Quốc xưa là nơi
các vua chúa ngự giá đến vấn cảnh và cúng lễ vào các dịp ngày rằm, lễ tết
Kiến trúc của chùa có sự kết hợp hài hòa giữa yếu tổ uy nghiêm và yên tĩnh cảnh quan thanh nhã, giữa nền tĩnh lặng với mặt nước mênh mang là trung tâm phật giáo
của kinh thành thăng long xưa dưới thời Lý, TRần
Cũng như hầu hết những ngôi chùa khác trên đất nước ta, chùa TRấn Quốc có nhiều
nếp nhà , chùa có 3 gian chính là tiền đường, nhà thêu hương và thượng điện nối
thành hình chữ công Hai bên nhà thêu hương và thượng điện là 2 dãy hành lang sau thượng điện là gác chuông Bên trái và phải là nhà bia Trong chùa hiện nay có 14
tắm bia, trong đó có tắm bia 1815 có bài văn của tiến sĩ phạm quý thích nhắc đến việc xây dựng chùa sau một thời gian dài đỗ nát công việc bắt đầu từ 1813 đến 1815
Ngoài ra trong chùa có rất nhiều pho tượng từ to đến bé từ thấp đến cao rất đẹp Phải
kể đế đó là pho tượng phật thích ca nhập niết bàn bằng gỗ thếp vàng lộng lẫy, mang kiến trúc và điêu khắc có đấu ấn vào khoảng đầu thế ki 19
Đây cũng là ngôi chùa đặc biệt du khách thăm quan viếng cảnh chùa đi vào chùa từ sau lưng chùa chứ không phải phía trước chùa như thong thường chính vì vậy trước
đây vào mùa lễ hội người ta thường trèo thuyền để đi vào từ phía trước chùa
Trang 23Câu 13: Anh (chị) hãy thuyết minh tổng quan về Báo tàng Dân tộc học
Kính thưa quý khách ! Việt Nam là một đất nước đa sắc tộc với 54 tộc người cùng
sinh sống Mỗi tộc người lại có bản sắc văn hóa, phong tục tập quán riêng thể hiện qua cách cư trú, lao động, sinh hoạt Việc khám phá, tìm hiểu văn hóa của mỗi tộc người là một điều hết sức thứ vị Tuy nhiên do địa hình cư trú của các tộc người trải
đài trên dọc miền đất nước, nên nếu muốn tìm hiểu chúng ta phải mắt rất nhiều thời
gian, mà không phải ai trong chúng ta cũng có điều kiện như vậy phải không ạ
ma hôm nay chúng ta chỉ cần đến một địa điểm thôi các bạn cũng có thể được
šhiếm ngưỡng bức tranh sống động đa sắc màu về văn hóa của các tộc người trên đất
nước ta Địa điểm đó không đâu xa mà ở ngay giữa lòng thú đô Hà Nội của chúng ta
Nơi mà tôi muốn nói đến đó chính là Bảo tàng dân tộc học Việt Nam
Thưa quý khách! Bảo tàng dân tộc học Việt Nam nằm trên đường Nguyễn Văn
Huyên, thuộc quận Cầu Giấy, Hà Nội, được khánh thành vào năm 1997 Công trình này do kiến trúc sư Hà Đức Lịnh (người dân tộc Tày, thuộc Công ty Xây dựng nhà ở
và công trình công cộng, Bộ Xây dựng) thiết kế Nội thất công trình do Bà kiến trúc
sư Véronique Dollfus (người Pháp) thiết kế e
Bảo tàng có 2 khu vực chính Một khu bao gồm nhà trưng bày, văn phòng và cơ sở
nghiên cứu, thư viện, hệ thống kho bảo quán, hệ thống các bộ phận kỹ thuật, hội trường Các khối nhà liên hoàn với nhau, có tổng diện tích 2.480m2, trong đó 750
mˆ dùng làm kho bảo quản hiện vật Khu thứ 2 là khu trưng bày ngoài trời, rộng khoảng 2 ha, bất đầu xây đựng năm 1998 và hoàn thành công trình trưng bày cuối cùng trong năm 2006
Bên cạnh đó, hiện nay Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam được cấp thêm hơn 1 ha đất,
nâng diện tích khuôn viên của Bảo tàng lên gần 4,4 ha Tại phần đất mở rộng này, từ
giữa năm 2007 bắt đầu xây dụng một tòa nhà 4 tầng, sẽ mang tên “nhà Cánh diều”,
để giới thiệu về văn hóa các dân tộc nước ngoài, chủ yếu là các dân tộc ở Đông Nam
Á Đây sẽ là khu trưng bày thứ 3 của Bảo tàng
23
Trang 24% TAY KA Chergne Chu M1 tựu4 tƠ MOT OO of TU, Ð 024Y9, Clath Che bi hd
che cal Rar cing, nial GB cổng chau -
_ Câu 14: Anh (chị) hãy thuyết minh về ngôi nhà dài của người Ê đê
Đi tiếp theo con đường nhỏ, quý khách sẽ nhìn thấy một ngôi nhà sàn rất dài, đó
chính là nhà đài truyền thống của người Ê Để Mỗi căn nhà dài như thế này là để
dành cho một đại gia đình cùng sinh sống Nhà dài của người Ê đê làm bằng các vật
liệu truyền thống: khung nhà bằng gỗ, vách và sàn bằng tre nứa, mái lợp cỏ tran
Đầu và cuối nhà đều có cầu thang lên xuống Í Cầu thang ở phía đầu nhà dành cho
nam giới và khách, cầu thang ở cuối nhà dành cho phụ nà Cầu thang được làm bằng
nguyên một thân gỗ, đếo 7 bậc, trang trí hình lưỡi liềm và bầu vú tượng trưng cho uy
quyền của người phụ nữ ( vì người Ê để theo chế độ mẫu hệ) Xưa kia có những nhà
dài hơn 200m, nhà nào càng giàu có, đông con cái thì nhà càng dài và đẹp Một điều
đặc biệt là nhà của người Ê đê luôn dựng theo hướng Bắc Nam, Ngôi nhà này đài
42,5m, rong 6m, san cao 1,lm, từ sản lên nóc cao 4,3m.)ìNó được dựng lại trên
nguyên mẫu nhà bà HĐách Êban ở buôn Ky, thành phố Buộn Ma Thuột, tỉnh Đắc
Lắc\Bây giờ chúng fa sẽ vào tham quan bên trong căn nhiẾBộn trong một căn nhà
dài được chia làm hai phần chính Một gian đầu nhà khá rộng là nơi sinh hoạt chung
'của cá gia đình và là nơi tiếp khách Ở gian này có đặt một bếp lửa, một cái ghế dài
:làm bằng nguyên một thân gốdảnh cho khách ngồi Đây cũng là nơi đặt chiêng,
trồng, ché rượu Số lượng chiêng, trống càng nhiều thì gia đình đó càng giàu có Nối
tiếp với gian nhà chung là khu vực giành cho các cặp vợ chồng Khu vực này lại chia
thành 2 phần theo chiều dọc Phần phía đông, là phòng ngủ của các cặp vợ chồng,
còn phần phía tây là bếp riên, gia đừng nhà hông thường ăn phòng đầu tiên sẽ là
phòng cua vo chong chủ nhà 1 ngủ người E Đê sẽ quay đâu về hướng Đông và
chân về hướng Tây Phía cuối nhà có một khoảng trống hình vuông đùng làm kho
chứa lương thực Quý khách có thể thấy trên các cột hay xà nhà có trang trí nỗi hình
các con vật như : voi, rùa, cá sấu, kỳ nhông điều này thể hiện tín ngưỡng vạn vật hữu
Tĩnh của người Ê đê Ở đây, quý khách cũng có thể thấy một số nhạc cụ truyền thống
Súa người Ê đê Nhạc cụ của họ khá đa dạng, thông thường một dàn nhạc sẽ có 6
chiếc chiêng, 3 chiếc cồng và một chiêng rất lớn để giữ nhịp Ngoài ra còn có thêm
các nhạc cụ khác |như : đàn Brố (làm bằng ống tre dài khoảng Im, phía cuối có
miếng gỗ để bắc 2 dây và nửa quả bầu khô để cộng hưởng âm buộc vào ống tre bằng
sợ dây vải), tù và Các nhạc cụ này được sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày, đặc
biệt trong các dịp lễ hội, mừng nhà mới, đám cưới, đám ma
- beth sath cv jbãu suy tủa Wor 2 xâm, tường vớn olk Rhecie fen caw thanop
24
Trang 25Câu 15: Anh (chị) hãy thuyết mỉnh về lễ cấp sắc của người Dao Đỏ
Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, việc chuyển cư sang Việt Nam kéo đài suốt từ thế ky XII, XII cho đến nửa đầu thế kỷ XX Họ tự nhận mình là con cháu của Bản Hồ (Bàn vương), một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêng liêng ở
người Dao Người Dao có nhiều nhóm như: Dao đỏ, Dao Tiền, Dao Họ (Dao quần
trắng)| mỗi nhóm lại có trang phục khác nhau và dựa vào đó chúng ta có thể phân biệt được Người Dao sống ở những vùng lưng chừng núi ở Miền Bắc Việt Nam.|Họ
sử dụng chữ viết Nôm Dao, và còn sử dụng chữ Hán trong việc thờ cúng, hay các
nghỉ lễ Một trong những lễ quan trọng của người Dao đỏ là lễ cấp sắc dành cho những nam giới trưởng thànfÑfQuý khách có thể thấy ở đây có mô hình tái hiện lại
nghỉ lễ cấp sắc của người Dao đói Nghỉ lễ cấp sắc của người Dao đỏ có nhiều cấp bậc, gồm 3 đèn, 7 đèn và 12 đèn VTủy theo điều kiện của từng gia đình việc cấp sắc
sẽ được thực hiện tuần tự từ ive cao Theo phong tục của đồng bảo Dao, người
con trai khi đã trải qua lễ cấp sắc mới có tâm, có đức để phân biệt phải trái, mới
được công nhận là con cháu của Bàn Vương Các nghỉ thức được diễn ra tuần tự, hòa theo nhịp điệu của tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng kèn Bắt đầu buổi lễ, các
thầy mo làm lễ tế, lễ khấn để kính mời tổ tiên về dự Các nghỉ lễ khai đàn để báo cho -
tổ tiên biết lý do của buổi lễ, đâng đèn và đặt tên âm cho người được cấp sắc tiến hành Theo đó, những chàng trai sau khi thụ lễ đã được coi như một người đàn ông trưởng thành hoàn toàn về thể chất cũng như tâm linh
‘cho W vain ean Ok bi) no mong} vrgur dab Vas gino 7
sit gee eek ee dr yi WS ge
Trang 26Câu 16: Anh (chị) hãy thuyết minh về ngôi nhà Rông của người dân tộc BaNa Thưa quý khách ! sau đây chung ta sé tiếp tục tham quan một ngôi nhà rất độc đáo, đặc trưng nữa của các dân tộc Tây Nguyên đó là nhà Rông của dân tộc Bana Nhà
rông — ngôi nhà chung của cộng đồng, đã trở thành biểu tượng văn hóa của các dân
tộc ở Tây Nguyên nói chung và người Bana nói riêng Đây là không gian tâm linh,
tín ngưỡng, nơi diễn ra mọi sinh hoạt thiết yếu, cố kết cộng đồng, đồng thời cũng là không gian diễn ra mọi hoạt động văn hóa dân gian, lễ hội truyền thống, bao bọc và sản sinh nhiều giá trị văn hóa tỉnh thần, nghệ thuật đặc sắc Nhà rông trong quan
niệm của đồng bao Bana là một không gian linh thiêng, chỉ có con trai từ 14 tuổi trở
lên mới được ngủ qua đêm trong nhà rông Đã là con trai Bana thì ai cũng phải biết
đánh công, chiêng và làm nhà rông Người Bana có tín ngưỡng đa thần giáo, họ cho
rằng mọi vật luôn có Yàng (Trời) chế ngự; trong những ngôi nhà rông cũng có Yang
trú ngụ, nên họ chăm sóc nhà rông như nhà ở của mình Người Bana quan niệm: Nơi
nào nhà rông càng to, cao, đẹp thì đó là buôn làng giàu có và thịnh vượng Ngôi nhà rông này được làm theo mẫu nhà rông hồi giữa thế kỷ XX của làng Kon Rbàng ( xã
Vinh Quang, thị xã Kon Tum, tỉnh Kon Tum) Tháng 3, năm 2003, Bảo tàng dân tộc
học đã mời 29 người dân ở làng Kon BRàng đến để giúp dựng nhà rông Các nguyên
dùng làm nhà như gỗ, tranh, tre, nứa, lá đều là những vật liệu ở Tây Nguyên chuyển
ra Đến tháng 6/2003 thì công việc xây dựng đã hoàn thành Ngôi nhà cao 19 m( kể
cả đải hoa văn trên nóc), sản cao 3m và rộng 90m2 ( không kể phần sân sàn) và có 4 thang lên xuống Mái nhà lợp cỏ tranh, vách đùng phên nứa, sàn nhà bằng tre đập
dập bổ phanh, sân sàn hoàn toàn bằng gỗ, các thang lên xuống cũng đều bằng gỗ tròn Đây quả là một công trình hoành tráng, công phu, bề thế, một nét văn hóa cỗ
truyền đặc sắc Tây Nguyên giữa lòng thú đô Hà Nội
Trang 27Câu 17: Anh (chị) hãy thuyết minh về tòa tháp Liên Hoa Lục Độ Đài Sen
Các bạn thân mến! chúng ta vừa đi qua cổng chùa và đang đứng trong khu vườn tháp của chùa Trấn Quốc Vườn tháp vừa linh thiêng vừa hài hòa trong kiến trúc với nhiều các ngôi chùa cổ từ thể kỉ 18 Đây là nơi an nghỉ của các vị tỔ sư và các cao ting đã quá cố Các bạn có thể thấy trên đỉnh của các tòa tháp đều có hình ảnh
đài sen đỡ hồ lô, hình ánh này tượng trưng cho sự kết hợp hài hòa giữa phật giáo và đạo giáo Và m giáo Và một công trình kiến trúc nỗi bật nhất trong khu vườn tháp này chính là tòa tháp chính với tên gọi là tòa bảo tháp “Liên hoa lục độ đài sen” Tòa bảo tháp Lục độ đài sen đc khởi công xây dựng từ năm 1998 va hoàn thành vào năm 2003
Tòa bảo tháp này đc xây đựng trong khuôn viên của chùa để xứng tầm với ngôi chùa
đã có từ trước đây gần 15 thế ki Và tòa báo tháp “Lục độ đài sen” k phải là ngôi mộ
tháp như các ngôi mộ tháp như các tòa tháp xung quanh Lục độ tức là để tịnh độ, là
trì giới, thiền định, nhẫn nhịn, trí tuệ | Chùa Trấn Quốc đc xây dựng trên đảo Cá
Vàng, phải có tháp Liên Đài, trên đỉnh của tháp có đải sen tôn quý vươn lên để tương xứng với mặt hồ Tây mênh mông sóng Tu bảo tháp này đc xây dựng
đối xứng với cây Bồ Đề ở phía vườn sau của chùa, thì cây Bồ Đề này chính là một nhánh của cây Bồ Đề mà khi xưa phật Thích Ca đã ngồi tu hành đắc đạo Nó đc
Tổng thống Án Độ mang sang trồng tặng Chủ Tịch HCM trong lần viếng thăm VN năm 1959] Sư trụ trì Thích Thanh Nhã đã giải thích cho sự đối xứng này là do hoa
sen tượng trưng cho phật tính chân @hự) dù sinh trong bùn mà k hề bị ô ué, còn bồ đề
tượng trưng cho trí giác trí tuệ, vô thượng Tất cả đều hàm ý bản thể và hiện tượng + ÿ@} các pháp (Tòa bảo tháp “Liên hoa lục độ đài sen” chính là tâm nguyện của cố hòa
-_ thượng Kim Cương Tử khi người còn trụ thế Thì cố đại lão hòa thượng Kim Cương
Tử bắt đầu trụ trì chùa Trấn Quốc từ năm 1982 và cũng trong thời gian này hòa ,
thượng nhận nhiệm vụ phó ban thường trực thành hội Phật giáo HN Ông đã có
nhiều đóng góp to lớn cho nền Phật giáo của HN nói riêng và của Phật giáo VN nói chung
Vâng, thưa các bạn! Tòa bảo tháp này cao 15m gồm 11 tầng, mỗi tầng của tòa tháp đều có mái hiên đc lợp bằng ngói vảy cá và đc trang trí các họa tiết mây song rat tinh
sảo và cầu kì Các bạn có thể thấy trên mỗi tầng của tòa bảo tháp này đều có 6 bức
tượng phật A Di Đà bằng đá quý quay ra 6 hướng tượng trưng cho sự soi xét nhìn thấu vạn vật và ban phước cho trần gian Và ở tầng 1 của tòa bảo tháp này qua 6 lan can bên trên có trang trí hình hoa sen loài hoa tượng trưng cho nhà Phật, loài hoa tao
nhã thanh lịch, sống trong bùn mà k hề bị vấy bẩn Và trên đỉnh của tòa bảo tháp có
27
Trang 281 đài sen 9 tang de gọi là Cứu Phẩm Liên Hoa bằng đá quý, vươn lên trời cao nhự niềm kiêu hãnh của đân tộc Ngoài ra trong khu vườn tháp này còn có l tòa tháp là nơi đặt hài cốt của vị sư trụ trì đầu tiên của chùa đó là nhà sư Viên Dungy Không chỉ
có thế, ở ngay trung tâm ườn tháp cạnh tòa “Lục Độ Đài Sen” nơi đây lưu giữ hài cốt của Đại sư Giác Linh Thiền Tọa Hạ Vâng! Các bạn có thé thấy trong khu vườn
tháp của chùa có tất cả gần 20 tòa tháp Tháp là nơi tiêu biểu của những nhà tu hành
khi họ viên tịch, có nhiều loại tháp khác nhau như tháp 1 tầng, 3 tầng, 5 tầng, 7 tang,
9 tang, 11 tang 13 tầng mỗi loại tháp lại mang một ý nghĩa khác nhau Tháp từ 1 đến 5 tầng là các ngôi mộ tháp còn các tòa tháp từ 5 tầng trở lên là các tòa tháp
mang tính tượng trưng để thờ các vị tổ sư các cao tăng hay đôi khi các vị sư chết trẻ
cũng đc thờ ở đây Các bạn có thể thấy trong khu vườn tháp của chùa chủ yếu là tháp
1 tang va tháp 3 tầng Chùa thì k thể.k có tháp và ngôi chùa nào càng.có nhiều tháp
và tháp càng lớn thì càng thể hiện đc sự thịnh vượng cũng như bề dày lịch sử của ngôi chùa đó
Và phía bên tay trái của tôi đây chính là khu nhà thờ tổ Đây là nơi thờ các vị tô sư,
các cao tăng tu hành trong chùa hay là các cao tăng có củng sư môn Khu nhà thờ tổ
có kiến trúc đc chia làm 3 gian chính: gian giữa thờ các vị tổ sư trụ trì và các cao tăng đã có công với chùa, bức tượng lớn nhất nằm ở phía dưới cùng kia chính là
tượng của đại lão hòa thượng Kim Cương Tử Ông sinh ngày 16/10/1914 thế danh
là Trần Tử Cung, quê ở xã Mỹ Thắng, Mỹ Lộc,Nam Định.Ông sinhh trưởng trong dòng họ Trần có danh đức nổi tiếng nhiều đời Quq hơn 80 năm trụ thế và gần 60
năm tủy duyên hóa đọ chúng sinh, đóng vai trò long trượng trong Phật pháp, mô
phạm chến rừng thiền Ông đã giữ nhiều vị trí quan trọng trong giáo hội Phật giáo
VN và ông cũng là người đã có công xây dựng và phát triển chùa Và ở phía trên
cùng kia chính là tượng của vị Bồ Đề Đạt Ma, vị tổ sư thứ 28 chi sau phat Thich Ca,
Ngài theo phật giáo đại thừa nên đc thờ trong chùa ÌVà gian bên phải đây chính là
gian thờ tứ phối mẫu Liễu Hạnh: bức tượng ở giữa mặc áo màu đỏ đó là mẫu Thiên
~ người cai quản vũ trụ mây mưa sắm chớp Tượng ở bên trái mặc áo xanh đó là
mẫu Thượng Ngàn — người cai quản vùng rừng núi, tượng mặc áo trắng là mẫu
“Thoải : — người cai quản vùng_ sông nước, biển cả Và bức tượng nằm ở phía dưới
thắng mẫu Thiên đó chính là mẫu Địa - người cai quản đất đai Gian bên trái chính
là gian thờ mẫu thượng ngàn
28
Trang 29Câu 18: Anh (chị) hãy thuyết minh về bán Lac
Bản Lác ngày nay đã là một điểm du lịch cộng đồng rất quen thuộc trong lòng du
khách gần xa Không phải là một nơi sầm uất, tấp nập, không hào hoa tráng lệ,
không cao sơn mỹ vị mà tất cả đều đân dã, tự nhiên, gần gũi thân thiện khiến du
khách một lần tới đây sẽ nhớ mãi không quên
Bán Lác — Mai Châu: nơi in đậm bản sắc văn hóa người Thái trắng 5 dòng họ người
đân tộc Thái sinh sống ở bản Lác là Hà, Lò, Vì, Mác, Lộc Tới nay bản đã tồn tại
được 700 năm Trước đây dân bản chỉ sống dựa và nghề trồng lúa nương và dét thd
cẩm Sau này, vẻ đẹp tiềm ẩn của bản Lác đã dần được du khách khám phá Và cũng
từ đó mợi người trong bản đều làm về du lịch và cái tên bản Lác là một trong những
vùng trọng điểm về du lịch ở Mai Châu, rộng hơn nữa nhiều người ví nơi đây như một “điểm sáng” trên bản đồ du lịch Việt Nam
Những năm trở lại đây, khách du lịch đến Mai Châu mỗi ngày một đông, chính vì
thế dân bản thường bảo nhau sửa sang nhà cửa, như xây dựng nhà sàn và sử dụng các nguyên vật liệu cho ngôi nhà cũng được cải tiến (sàn gỗ công nghiệp, chân nhà
có ốp xi măng ), các trang thiết bị trong nhà cũng hiện đại hơn, với mục đích để
làm cho khách đến sống thấy thoải mái nhất Tuy nhiên, những ngôi nhà sàn hiện nay không bị thay đổi quá nhiều mà vẫn giữ được cái “mộc” của nó
Nhà sàn ở bản Lác được đát bằng tre rộng mênh mông, cái nào cũng cao ráo, sạch sẽ
và giữ được truyền thống kiến trúc cỗ Bên trong có đầy đủ chăn, đệm, gối được gấp ngăn nắp, gọn gàng Sát cạnh sàn ngủ — nghỉ là san ngồi để ăn cơm và uống trà Lối sinh hoạt dân đã, ấm cúng phần nào gắn kết những con người lần đầu tiên gặp nhan trở thành thân quen, không ít người trong số họ đã trở thành tri kỷ
Có những ngôi nhà sàn được du khách phong tặng là “khách sạn 3 sao, 4 sao” Hiện
tại ở bản Lác có 25 ngôi nhà sản làm “khách sạn” được xây cất theo quy hoạch, mỗi
“khách sạn” đều được đánh số theo thứ tự từ 1 đến 25 Du lịch gần như là nguồn thu
chính của bà con nơi đây
Bên cạnh đó người dân ở bản Lác cũng quan tâm hơn đến 4m thực truyền thống của
bản, thành lập những đội văn nghệ chuyên phục vụ khách tham quan Từ chỗ chỉ dệt
những chiếc khăn, chiếc áo thổ cảm để mặc, phụ nữ trong bản đã tự làm nhiều đỗ lưu niệm bán cho khách như dệt khăn quàng cổ, váy xòe Thái, vai treo tường có trang trí, đây đeo tay và những chiếc ví xinh xắn