1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Ứng dụng vi sinh vật trong chăn nuôi

29 383 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 338,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo báo cáo của Bộ NNPTNT, ngành chăn nuôi trong năm 2015 có bước chuyển biến rõ rệt, từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang chăn nuôi tập trung theo mô hình trang trại, gia trại, ứng dụng công nghệ khoa học kỹ thuật, tăng hiệu quả kinh tế. Giá thức ăn chăn nuôi trong năm có giảm nhưng chưa nhiều. Ngành chăn nuôi còn gặp nhiều thách thức từ những dịch bệnh và việc sử dụng chất kháng sinh, chất cấm trong chăn nuôi, việc cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ so với nhiều mặt hang nhập khẩu đang có giá thấp hơn thịt gia cầm, gia súc trong nước.

Trang 1

BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM

ỨNG DỤNG CỦA VI SINH VẬT TRONG CNTP

Đề tài 19: ỨNG DỤNG VI SINH VẬT TRONG CHĂN NUÔI

GVHD: TS Nguyễn Thị Minh Nguyệt Lớp học phần: Lớp sáng thứ 5, tiết 5 – 6 Nhóm: 2

Trang 2

BẢNG PHÂN CÔNG

Nguyễn Ngọc Bích Trâm 13030821 Nhóm trưởng – Các nghiên cứu mới về vi sinh vật

trong chăn nuôiTrần Thùy Trâm 13059051 Tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm

Nguyễn Thị Hòa Yên 13046951 Vi sinh vật trong phòng chống chữa bệnh – Tiêu

độc, khử trùngNguyễn Thị Thu Trúc 13027311 Vi sinh vật trong phòng chống chữa bệnh – Kháng

sinh

Trang 3

MỤC LỤC

Trang 4

I. Tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm ở nước ta hiện nay.

1. Tình hình sản xuất chăn nuôi gia súc, gia cầm trong nước.

1.1.Tình hình chung

Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, ngành chăn nuôi trong năm 2015 có bước chuyển biến rõ rệt, từchăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang chăn nuôi tập trung theo mô hình trang trại, gia trại, ứng dụng côngnghệ khoa học kỹ thuật, tăng hiệu quả kinh tế Giá thức ăn chăn nuôi trong năm có giảm nhưng chưanhiều Ngành chăn nuôi còn gặp nhiều thách thức từ những dịch bệnh và việc sử dụng chất kháng sinh,chất cấm trong chăn nuôi, việc cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ so với nhiều mặt hang nhập khẩuđang có giá thấp hơn thịt gia cầm, gia súc trong nước

Chăn nuôi trâu bò:

Tình hình chăn nuôi trâu giảm do chăn nuôi thấp và diện tích chăn nuôi bị thu hẹp, một số nơi thayđổi hình thức chăn nuôi từ thả rông sang nuôi nhốt giúp cải thiện kinh tế Theo kết quả điều tra ngày01/10/2015 đàn trâu cả nước có 2,52 triệu con, bằng 100,1% so với năm trước Sản lượng thịt trâu hoixuất chuồng dạt 85,8 nghìn tấn, bằng 100,14% so với năm trước Chăn nuôi bò sữa phát triển do một

số doanh nghiệp tăng cường đầu tư, mở rộng quy mô chăn nuôi Đàn bò sữa tăng mạnh cả nước có5,36 triệu con bò trong đó bò sữa chiếm 275,3 nghìn con tăng 20,96% Sản lượng sữa bò tươi đạt120% so với năm trước Sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng đạt 299,3 nghìn tấn, bằng 102,2% do ngườidân chú trọng chăn nuôi bò lấy thịt theo hướng tập trung

Chăn nuôi lợn:

Tình hình chăn nuôi lợn khá thuận lợi do giá cả lợn hơi tăng và dịch tai xanh không xảy ra nênngười chăn nuôi đầu tư tái đàn, cả nước có khoảng 27,75 triệu con tăng 3,7% Sản lượng thịt lợn hơixuất chuồng năm 2015 đạt 3,48 triệu tấn bằng 104,2% so với năm trước

Chăn nuôi gia cầm:

Đàn gia cầm của cả nước khoảng 341,9 triệu con, bằng 104,3% so với năm trước, trong đó gàchiếm 259,3 triệu con, bằng 105,39% so vói năm trước Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồngkhoảng 908,1 nghìn tấn bằng 103,8% so với năm ngoài Sản lượng trứng gia cầm đạt 8874,6 triệu quảbằng 107,6% so với năm trước

1.2.Ngành chăn nuôi của Việt Nam tồn tại nhiều yếu kém:

• Nguồn thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm chủ yếu là nhập khẩu, làm chi phí sản xuất cao do giáthành thức ăn chiếm 65-70% chi phí.so với các nước trong khu vực giá thành thức ăn ở Việt Namluôn cao hơn 10%

• Việc kiểm soát dịch bệnh chưa hiệu quả do thiệt hại cho người chăn nuôi

• Việc cải thiện giống ở Việt Nam còn chậm so với thế giới

• Cách thức tổ chức chăn nuôi còn nhỏ, quy mô còn manh mún, thiếu sự liên kết giữa khâu sản xuất

và thị trường tiêu thụ nên hiệu quả kinh tế không cao

• Tình trạng giết mổ còn thủ công, thiếu điều kiện đảm bảo an toàn vệ sinh thủ nên làm giảm giá trịgia tăng cho sản phẩm chăn nuôi

2. Vi sinh vật có trong môi trường sống của gia súc, gia cầm.

2.1.Đặc điểm chung của vi sinh vật

• Vi sinh vật có kích thước rất nhỏ (µm, nm)

• Vi sinh vật có khả năng hấp thu nhiều, chuyển hóa vượt xa các vi sinh vật khác

• Vi sinh vật có khả năng sinh trưởng nhanh, phát triển mạnh

Trang 5

• Năng lực thích ứng mạnh và dễ dàng phát sinh biến dị

• Phân bố rộng, chủng loài nhiều

2.2.Vi khuẩn E.Coli

Vi khuẩn E.Coli (Escherichia coli) là trực khuẩn gram âm, kích thước trung bình khoảng 2 – 3 μm

× 0,5 μm, hầu hết vi khuẩn E.Coli có lông và có khả năng di chuyển.

Vi khuẩn E.Coli sống ở khắp nơi trong môi trường Khi ăn thực phẩm nhiễm E.Coli hoặc tiếp xúc trực tiếp với phân có chứa E.Coli, vi khuẩn E.Coli vào cơ thể tiết độc tố gây sung thành ruột, bệnh

viêm ruột kết xuất huyết

Khi khẩu phần ăn của gia cầm bị nhiễm E.Coli gây hội chứng tiêu chảy ở vật nuôi.

Phương thức lây truyền: Bệnh xâm nhập chủ yếu qua đường tiêu hóa khi sử dụng thức ăn, nước

uống nhiễm khuẩn… Do nuôi nhốt chung với gia cầm bệnh hoặc do gia cầm mẹ nhiễm bệnh vi trùnglây sang bào thai hoặc do vi trùng có sẳn trong cơ thể gia cầm, khi điều kiện ngoại cảnh, thời tiết thayđổi, gia cầm bị stress, chăm sóc nuôi dưỡng kém hay sức đề kháng kém sức khỏe gia cầm giảm sẽ tạođiều kiện cho vi khuẩn phát triển thành bệnh

Triệu chứng: Bệnh có dấu hiệu không đặc hiệu Chỉ có những biểu hiện không rõ ràng như sốt lúc đầu,sau giảm dần Gia cầm bị bệnh thường xù lông, xệ cánh, ít vận động, mào thâm xám, ăn kém hoặc bỏ

ăn Khi bị nặng, gia cầm sinh tiêu chảy, phân loãng, vàng, xanh lẫn nhiều bọt khí, khó thở, nhịp thởtăng, chết nhanh, chết nhiều ở gà, ngan, ngỗng giai đoạn 2 - 15 ngày tuổi, sau 5-7 ngày phát bệnh Gà

đẻ bị bệnh thường giảm ăn, giảm đẻ, gầy ốm và thường kèm theo chứng sưng khớp

Bệnh tích: Khi mổ thấy gia cầm bị bệnh có triệu chứng viêm màng bao tim, viêm màng bụng, viêmmàng quanh gan làm cho bao tim đục, màng bụng có dịch viêm, quanh gan thường phủ một lớp màutrắng đục, nếu bị nặng thì cả 2 lá gan đều sưng đỏ và xuất huyết lấm tấm Ngoài ra, gia cầm còn cóbiểu hiện viêm đường ruột, viêm túi khí Ở gà, vịt, chim cút mái đẻ, ống trứng có biểu hiện mềm, giãn,thành mỏng và có thể chứa dịch viêm trong lòng ống trứng; có bệnh tích cục bộ ở vòi trứng, buồngtrứng, ống dẫn trứng; viêm, hoại tử một phần hoặc toàn bộ buồng trứng, noãn hoàng có thể bị teo hoặc

vỡ nát Gà con bị bệnh thường có bệnh tích viêm rốn

2.3.Vi khuẩn Salmonellosis

Vi khuẩn Salmonella là trực khuẩn ngắn, hai đầu tròn, có kích thước 0,4 – 0,6 × 1,0 – 3,0 μm, bắt màu

gram âm, không hình thành nha bào và giáp mô Vi khuẩn Salmonella di chuyển bằng lông

Bệnh phó thương hàn do vi khuẩn Salmonella cholerae và Salmonella typhisuis.

Phương thức lây truyền: Bệnh xâm nhập chủ yếu qua đường tiêu hóa khi sử dụng thức ăn, nước uống

nhiễm khuẩn… Do nuôi nhốt chung với thú bệnh hoặc do heo mẹ nhiễm bệnh vi trùng lây sang bàothai hoặc do vi trùng có sẳn trong cơ thể heo, khi điều kiện ngoại cảnh, thời tiết thay đổi, heo bị stress,chăm sóc nuôi dưỡng kém hay sức đề kháng kém sức khỏe heo giảm sẽ tạo điều kiện cho vi khuẩnphát triển thành bệnh

Triệu chứng:

• Thể bại huyết: thường gặp trên heo 1-2 tháng tuổi với những biểu hiện: sốt cao 41- 420C, nằmyên một chỗ, yếu ớt, có biểu hiện thần kinh và chân, lưng, da, lỗ tai, đỏ bầm tím rồi chết trongvòng 1-2 ngày

• Thể tiêu hóa:

Trang 6

Cấp tính: Thường gặp ở heo con, sốt 40 - 41,50C, bỏ ăn nằm tụm lại một chỗ, heo hường có triệuchứng: ói mữa, tiêu chảy phân vàng, da tím đỏ ở phần tai, họng, mặt trong mũi, viêm phổi thở khó vàchết sau 4 - 5 ngày Ở heo nái thường bị sẩy thai khoảng 1 tháng trước khi đẻ hoặc heo con chết khisinh, sót nhau, viêm tử cung, rồi chết.

Mãn tính: Bệnh âm ỉ kéo dài, heo sốt không cao, táo bón một thời gian sau đó ỉa chảy dai dẳng phânthối, trên da có những nốt đỏ hay tím bầm, vật gầy dần rồi chết

Bệnh tích:

• Thể bại huyết: da lưng, lỗ tai đỏ tím, hạch bạch huyết và lách xuất huyết, triển dưỡng

• Thể tiêu hóa:

Cấp tính: Da lưng và lỗ tai sậm màu, ruột viêm có thể chứa mảnh tế bào hoại tử, hạch ruột triển dưỡng

và xuất huyết phổi viêm có thể hóa gan, gan nhạt màu, túi mật sưng to, thận xuất huyết điểm và triểndưỡng, lách sung huyết và triển dưỡng

Mãn tính: Thành ruột dày có nhiều chỗ bị hoại tử, van hồi manh tràng có những vết loét hình nút nốiliền nhau thành mảng Hạch ruột xuất huyết có mủ hoặc bã đậu, gan lách có những đớm hoại tử trắngsưng mềm

II. Ứng dụng của vi sinh vật trong thức ăn chăn nuôi

1. Phương pháp ủ chua thức ăn

1.1.Khái niệm

Ủ chua là lỹ thuật ủ yếm khí các loại thức ăn xanh thô có hàm lượng nước cao (75-80%), nhờ vào

hệ vi sinh vật lên men tạo acid lactic và một số lượng nhất định các acid hữu cơ khác Do đó nhanhchóng đưa độ pH của thức ăn ủ chua xuống thấp trong khoảng 4-4.5; ở độ pH này thì hầu hết các loại

vi sinh vật và enzymes đều bị ức chế Vì vậy phương pháp này có thể bảo quản thức ăn chăn nuôitrong một khoảng thời gian dài có thể lên đến hàng năm Quá trình lên men thức ăn xảy ra nhờ chínhloại vi khuẩn lactic và nhóm vi khuẩn khác có sẵn trên bề mặt cây cỏ

1.2.Hệ vi sinh vật có trong phương pháp ủ chua

Nhóm vi khuẩn lên men tạo acid lactic: đây là nhóm vi khuẩn có ích rất cần thiết cho thức ăn ủ xanh.

Thông thường trong 1 gam cây cỏ họ đậu có 0.04106 tế bào vi khuẩn lactic; gồm 2 loại:

+ Vi khuẩn sinh acid lactic ưa nhiệt mà đại diện là Lactobacillus casei, Lactobacillus termofil, Lactobacillus plantarum, Lactobacillus bulgaricus Loại này có thể lên men ở cả điều kiện

yếm khí và hiếu khí với nhiệt độ thích hợp là 30-600C

+ Vi khuẩn sinh acid lactic không ưa nhiệt: Steptococcus pyogenes, Steptococcus viridans, Steptococcus lactics, Steptococcus enterococcus Loại này chỉ phát triển mạnh trong điều kiện

yếm khí, nhiệt độ thích hợp 15-300C

Nhóm vi khuẩn lên men sinh acid acetic: hoạt động mạnh trong môi trường hiếu khí, pH= 4.5-7, nhiệt

độ 27-350C Chúng lên men các loại đường dễ tan để tao acid acetic chủ yếu thuộc nhóm E.coli mà đại diện là Escherichia và Klebsiella.

Nhóm vi khuẩn lên men sinh acid butyric: Chúng phân giải acid lactic, chất bột đường proteincác aicd

amin tạo acid butyric Nhóm này không có lợi

Nấm men: Hoạt động mạnh trong giai đoạn đầu của quá trình ủ chua, chúng phân hủy tinh bột, đường

tạo thành rượu, CO2 và một số acid hữu cơ hàm lượng rượu trong cỏ ủ chua thường là 0.3% tuy nhiêncon số này cao hơn đối với nguyên liệu chứa nhiều đường như cây gỗ, ngọn của củ cải đường đôi khihàm lượng rượu lên đến 4% tính theo dạng sử dụng Tuy nhiên trong điều kiện yếm khí thì nấm men

Trang 7

dường như ngừng hoạt động; trong khi đó trong điều kiện hiếu khí khi pH=3-4, nấm men vẫn có thểhoạt động như không mạnh.

1.3.Quy trình sản xuất thức ăn

• Nơi ủ chua có thể là hố hay thùng phuy, nếu là thùng phuy thì phải đảm bảo là thùng kín, cóđậy nắp chắc chắn để nén chặt cỏ thùng không bị vỡ nứt Tuyệt đối không để không khí lọt vàothùng trong quá trình ủ; nếu không có thùng phuy thì sử dụng hố đào nên đào hố để có đượcdiện tích 1-1.5m2, nện chặt đắt xung quanh, trong hố có lót một lớp nilon kín không để thấmnước

• Cỏ sau khi cắt phải ủ trong ngày, nên chọn trời nắng để cắt cỏ, cỏ đảm bảo độ ẩm trong khoảng65-70%

• Vệ sinh thùng phuy hay hố đào sạch sẽ lót một lớp rơm rạ dày khoảng 10cm để rút bớt nướcchua lắng xuống

• Trải cỏ vào nơi ủ đã chuẩn bị, lớp cỏ dày khoảng 15cm, nén xuống sau đó rải muối và đạm uretrộn đều lên trên; cứ tiếp tục một lớp cỏ và một lớp muối cộng với đạm urê,…làm đến khi hếtlượng cỏ cần ủ

• Đậy kín nắp thùng tránh cho không khí lọt vào, với hố ủ thì dùng nilon phủ kín mặt dùng baođất cát nén chặt lại

• Dựng mái che nắng, che mưa tốt để không lọt nước vào

• Ủ trong khoảng 6 đến 8 tuần thì cỏ chua và cho gia súc ăn được

• Quá trình lấy sản phẩm phải kỹ càng tránh cho nắp mở quá lớn, lấy từng lớp từ trên xuống, nên

ủ nhiều, thùng nhiều hố, mỗi lần lấy thì lấy gọn trong một thùng hay một hố cho gia súc ăn dầnrồi mới lấy tiếp

1.4.Lợi ích của phương pháp

Ngày nay người ta cũng phải thừa nhận rằng ở các nước nhiệt đới, có 4 mùa tràn ngập ánh nắngmặt trời cũng cần phải ủ chua thức ăn cho gia súc trong mùa khô Thức ăn ủ chua không chỉ cung cấpnăng lượng cho gia súc mà còn cung cấp vitamin và khoáng chất Vấn đề này thật sự vô cùng cần thiết

vì không chỉ giúp dự trữ lượng thức ăn xanh thô để điều hòa lượng thức ăn trong các mùa vụ, thời tiếttrồng trọt điều kiện canh tác theo từng mùa vụ khác nhau

1.5.Ưu – nhược điểm

Ưu:

• Giá thành rẻ hơn các phương pháp bảo quản như phơi sấy, ít hao hụt các chất dinh dưỡng,thích hợp với nhiều nước nhiệt đới và nước nông nghiệp vì không phụ thuộc vào điều kiện thờitiết (Gohl, 1993) Ngoài ra các phụ phẩm nhiều nước, giàu protein, thu hoạch vào mùa mưavẫn có thể chế biến dữ trữ theo phương pháp ủ chua

• Thức ăn ủ chua tổn thất dinh dưỡng tương đối ít, lại giữ được hoạt tính sinh tố A, thường đạtđược 1/3 so với dạng tươi (Gohl, 1993)

• Ủ chua thức ăn không cần thiết bị tốn kém nên giá thành thấp, dễ áp dụng trong điều kiện chănnuôi nông hộ và trang trại nhỏ

• Ủ chua thức ăn thường nâng cao tỷ lệ tiêu hóa thức ăn

Nhược:

• Giai đoạn đầu của quá trình ủ chua, chất bột đường bị tổn thất một phần, do hô hấp tế bào thựcvật tạo thành nhiệt năng, nước và CO2 Đối với protein thì ít bị tổn thất, nhưng dễ bị biến dạng

Trang 8

làm cho giá trị sinh học của protein trong thức ăn đối với gia súc dạ dày đơn và gia cầm(Schmidt, Wetterau, 1974)

• Hàm lượng sinh tố D trong thức ăn ủ chua của cùng một loại cỏ sau khi ủ chua thường thấphơn so với làm khô (Dương Hữu Thời, Dương Thanh Liêm và cộng sự, 1982)

• Ủ không đúng quy cách thức ăn bị hỏng, không thể sử dụng làm thức ăn cho gia súc[21]

2. Phương pháp sản xuất sinh khối protein (SCP)

2.1.Phương pháp sản xuất sinh khối nấm men

Công nghệ sản xuất sinh khối nấm men là kỹ thuật thức hiện nuôi cấy giống nấm men thuần chủnghoặc hỗn hợp vài chủng để thu nhận được khối lượng tế bào sau sinh trưởng với mục đích làm nguồnprotein –vitamin bổ sung vào thức ăn chăn nuôi Đây là những tế bào nấm men sau khi sấy khô đã chếtchưa protein tới 50-60% ( theo chất khô), giàu vitamin nhóm B và tiền vitamin D2 đầy đủ khoáng.Sản phẩm này gọi là “ Men gia súc hay men thức ăn chăn nuôi”

Để thu nhận protein trên các dịch thủy phân từ nguyên liệu thực vật người ta hay dùng các chủng nấm

men thuộc giống Candida (C.utilis, C tropicallis, C maltosa, C scotti, C humicola, C diddensii)hoặc dùng với mức độ ít hơn các giống nấm men Trichosporon cuntaneum và Crytococcus diffluen Có hiệu quả hơn (theo sinh khối và số lượng protein) là các chủng của S.scontti, C tropicallis, C.utilis, và một số chủng khác.

Nuôi cấy trên dịch kiềm sulfit và bã rượu sulfit dùng giống Candida, nhiều nhất là C.utilis hoặc C tropicallis, Có thể dùng đơn lẻ hoặc hỗn hợp cả hai để chúng hỗ trợ lẫn nhau và kết quả thu được tốt hơn Ngoài ra người ta còn dùng nấm men Saccharomyces cerevisiae, Crytococcus diffluen.

Nuôi trên môi trường dịch thủy phân than bùn với nấm men C tropicallis là tốt nhất.

Nguyên liệu: Nguyên liệu sản xuất sinh khối nấm men chủ yếu từ rỉ đường 90% lượng sinh khối nấm

men bổ sung vào thức ăn chăn nuôi (khoảng 5-10%) trên thế giới sản xuất từ rỉ đường mía và củ cảiđường Thành phần chính của loại nguyên liệu này là saccharose (35-40%) Trong rỉ đường mía lượngđường khử thường rất cao(30%) , còn đường khử trong rỉ đường củ cải chỉ có khoảng 1% Một đặcđiểm của rỉ đường mía là các chất sinh trưởng có hàm lượng lớn trong 100g rỉ đường mía có 70 320biotin ( theo số liệu cả tác giả phân tích ở phòng nghiên cứu vitamin của Viện hóa sinh tên Bach- Việnhàn lâm khoa học Liên Xô cũ thì trong rỉ đường Việt Nam có 700 đến 800 biotin/1kg); 5.4 mg acidpantotenic, 600mg inozid Còn nhu cầu về chất sinh trưởng của nấm men khi phát triển trên rỉ đường

là 29 %biotin, 5% acid pantotenic, 12mg% inozid Mật rỉ của đường mía nghèo chất khoáng và cácacid amin Vì vậy khi dùng mật rỉ đường mía là nguồn cacbon trong nuôi cấy nấm men cần phải loại

bỏ một phần các chất sinh trưởng, đồng thời bổ sung muối khoáng cần thiết và có thể thêm hỗn hợpcác acid amin dạng protein thủy phân ( dịch nấm men tự phân, dịch thải trong sản xuất nướcchấm,dịch bã rượu…) ở giai đoạn nhân giống

Dùng ngũ cốc là nguyên liệu sản xuất sinh khối nấm men rất tốt Bột hoặc tinh bột các loại dùng vàomục đích này trước tiên phải tiến hành thủy phân bằng acid hay enzyme của mầm mạ hoặc enzymecủa vi sinh vật để biến các polysaccharide thành các dạng đường mà nấm men đồng hóa được

Trang 9

Các nguồn xenlulose thực vật (gỗ, rơm, rạ, bã mia, lõi ngô,…) được chú ý nhiều trong sản xuất nấmmen Trước hết cần phải thủy phân xelullose bằng acid hoặc enzyme, nếu dùng gỗ thì phải thủy phânbằng acid sulfuric.

Trong trường hợp dùng nấm men Saccharomyces cerevisiae, thì có thể kết hợp chưng cất thu cồn sau

khi tách sinh khối từ dịch thải, như vậy trong dầy chuyền sản xuất cần phải trang bị thêm bộ phậnchưng cất

Quy trình sản xuất:

Bước 1: Xử lý nguyên liệu và chuẩn bị môi trường:

Hòa tan các thành phần của môi trường, lọc bỏ cặn, điều chỉnh pH tới 4.8-5.2 bằng acid sulfuric hoặcacid clohydric (đối với môi trường rỉ đường pH là 4.2-4.5)

Trước khi pha môi trường cần phải xử lý rỉ đường, gia nhiệt tới 750C giữ ít nhất 45 phút, để lắng bỏcặn

Dịch bã rượu có 1-2 % chất khô hoàn tan giàu vitamin B và các acid amin, pha thêm rỉ đường để môitrường luôn có 2% đường có thể thu được 10-15 kg men khô từ 1m3 dịch bã rượu

Bước 2: Nuôi cấy nhân giống:

Giống ống nghiệm được nuôi cấy chuyển vào bình tam giác có môi tường vô trùng, sau đó các bình đã

có giống được nuôi trên máy lắc với nhiệt đôi 25-300C đến độ tuổi sinh lí thích hợp sẽ cấy vào môitrường nhân giống ở phân xưởng- nhân giống cấp 2 trong các bình thép kín có sục khí khi đạt đén 3.5-4g sinh khối trong 1 lít dịch nuôi Qúa trình kết thúc sau 12 đến 15 giờ Có thể phải nhân giống cấp 3 ởcác nồi có thể tích 4-5 m3 Tỉ lệ tiếp giống chuyển cấp là 1:10 trong quá trình nhân giống dùng nướcamoniac để giữ pH, thổi khí liên tục Từ nồi 4-5 m3 chuyển đến nồi 12-15 m3 và tới vài chục mét khốihoặc to hơn.Thông thường với quy mô công nghiệp người ta thường nuôi cấy bán liên tục đạt hiệu quảkinh tế cao, nuôi trong các phân xường không cần vô trùng, có nhiều máy lên men lắp đặt kín và hở,thông thường các nồi có thể tích 500 m3

Bước 3: Tách rửa nấm men

Sau khi phá bọt dịch men được đưa vào tách men và rửa men thực hiện trên nhóm gồm 3 nhómseperator: ở nhóm thứ nhất thu được dịch men có hàm lượng sinh khối 120-160 g/l vào thùng chứa phaloãng bằng nước tới dịch huyền phù 80-100g/l, rồi đưa vào nhóm thứ 2 thu được dịch men dày đặchơn vơi nồng độ 250-300 g/l; pha loáng lần 2 tới 150-200 g/l để đưa vào nhóm thứ 3 thu được 450-500g/l Sau mỗi nhóm seperator dịch men đưa vào thùng chứa riêng

Trong khẩu phần động vật nông nghiệp cần từ 90-110g protein tiêu hóa cho một đơn vị thức ăn.Trong thức ăn thức ăn thô hàm lượng này không quá 50-75g , do vậy thức ăn chứa hydratcacbonkhông cân bằng về cả số lượng lẫn chất lượng (thành phần) protein Nấm men dùng trong chăn nuôi lànguồn protein được bổ sung vào khẩu phần ăn gia súc làm tăng giá trị sinh học cho các nguồn protein

Trang 10

khác ( thường từ thực vật) Trong protein của nấm men chứa không ít hơn 20 acid amin và có tất cảcác acid amin không thể thay thế (valin, lizin, treonin, metioni, phenylalanin và triptophan).

Tỷ số P và K trong nấm men giúp phát triển bộ khung xương cho động vật non, các nguyên tố vilượng trong nấm men ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của động vật, nhiều nhất là vitamin B, có cảtocopherol ergosterin , cholin, và tác nhân điều chỉnh trao đổi chất béo Hệ thống enzyme của nấmmen xúc tác các quá trinh đồng hóa acid amin và tổng hợp protein

Bổ sung thức ăn là nấm men vào thức ăn cho bò sữa làm tăng hàm lượng sữa và chất béo có trong sữa;đối với gia cầm thì cho lượng trứng nhiều hơn 1kg men khô, dùng cho chăn nuôi thu thêm 0.4kg thịtlợn, 1.5kg thịt gia cầm, 30-40 quả trứng

Ưu:

• Chi phí lao động ít hơn nhiều so với ngành nông nghiệp

• Có thể sản xuất ở bất kì địa điểm nào trên trái đất, không bị ảnh hưởng bởi thời tiết, khí hậu,quá trình công nghệ dễ cơ khí hóa và tự động hóa

• Nâng suất cao

• Sử dụng nguồn nguyên liệu rẻ tiền và hiệu suất chuyển hóa cao: các nguyên liệu thường là phếphẩm, phụ phẩm của các ngành khác như rỉ đường, hiệu suất chuyển hóa cao: hydratcacbonđược chuyển hóa tới 50%, cacbuahydro chuyển hóa 100%thành chất khô của tế bào

• Hàm lượng protein trong tế bào rất cao, chất lượng protein cao đặc biệt giàu lizin, các acidanim chứa lưu huỳnh thấp

và Mexico thường sử dụng loại tảo này như thực phẩm chính của họ, vì thế ta hoàn toàn có thể sửdụng làm nguồn cung cấp thức ăn căn nuôi cho gia súc bằng phương pháp nuôi cấy thu nhận sinh khốitảo đơn bào

Tảo Spirulina là loại tảo dạng xoắn lò xo 5-7 vòng đều nhau không phân nhánh, đường kínhkhoảng 35-50m, bước xoắn 60m, chiều dài đạt tới 0.25 mm nhiều trường hợp tảo Spirulina có kíchthước lớn

Thành phần hóa học của tảo Spirulina

Trang 11

• Phải có ánh sáng với cường độ chiếu cao thời gian chiếu sáng trong năm nhiều

• pH môi trường duy trì 8.5-9 ( đối với Spirulina ) và trung tính (đối vơi Chlorella) Phải đượccung cấp các loại muối vi lượng

• Phải khuấy đảo liên tục tiếp xúc thường xuyên với ánh sáng ( đối với Spirulina) và chu kì sángtối thích hợp (đối với Chlorella)

Phương pháp nuôi trồng và thu nhận sinh khối tế bào tảo Clorella đã được áp dụng từ năm 1890,loài tảo này đã nhanh chóng được áp dụng nuôi ở những bể có dung tích lớn tại Cộng Hòa Liên BangĐức, Mỹ, Nhật, Đài Loan, Tiệp, Mexico, Ấn Độ, Thái Lan, Trung Quốc, trong đó Trung Quốc là nướcsản xuất nhiều nhất Sinh khối tảo được sử dụng làm nguồn dinh dưỡng bổ sung Protein cho nười vàgia súc

Tảo Spirulina mới được phát hiện sau này nhưng được ứng dụng rất nhanh Các nước nuôiSpirulina nhiều là Mexico, Mỹ Nhật, Đài Loan, Ấn Độ,…

Sinh khối tảo được sử dụng là nguồn cung cấp protein cho người và gia súc

Ngày nay người ta phát hiện trong sinh khối tảo chứa nhiều chất có khả năng chống ung thư

Vi sinh vật có tốc độ sinh trưởng rất mạnh, khả năng tăng trưởng nhanh Chỉ trong một khoảng thờigian ngắn ta có thể thu được một sinh khối tảo rất lớn, thời gian này chỉ được tính bằng giờ, còn trongkhi đó thực vật và động vật lại được tính bằng năm

Hàm lượng protein cao, cao hơn rất nhiều sao với protein thực vật và động vật, cung cấp đầy đủ và cânđối các acid amin

• Tảo đơn bào có hàm lượng protein rất cao (70-75% chất khô)

• Protein của tảo thuộc loại protein hoàn hảo và có chất lượng cao

• Cho đến nay người ta chưa tìm thấy độc tố nguy hiểm tồn tại trong sinh khối tảo

• Tảo là loài sinh vật tự dưỡng chúng có thể tự tổng hợp các chất hữu cơ cho sự phát triển củamình từ các chất vô cơ, CO2 và ánh sáng như ở thực vật

Trang 12

• Tảo có kích thước tế bào lớn, chúng hoàn toàn đáp ứng tốt mọi yêu cầu kỹ thuật, đặc biệt rấtthuận lượi trong giai đoạn thu nhận

• Chúng không bị virus tấn công, sống trong điều kiện đơn giản

• Hoàn toàn có thể sản xuất theo quy mô công nghiệp

• Không phụ thuộc vào thời tiết, khí hậu, địa lí

• Do là thức ăn cho gia súc không cần đòi hỏi các chỉ tiêu nghiêm ngặc.[23]

Ngoài ra, còn có các phương pháp thu nhận nguồn protein từ sinh khối vi sinh vật như: Phương phápsản xuất protein đơn bào cho thức ăn gia súc từ chất thải nông nghiệp lignocellulose [24]:Các chất thảiđược tái chế để ngăn ngừa sự ô nhiễm môi trường và làm nguồn thức ăn cung cấp thực phẩm cho giasúc Những tiềm năng từ thức phẩm gia súc tái chế từ chất thải có tiềm năng rất lớn Là phương phápsản xuất protein với quy mô lớn mà không cần đòi hỏi điều kiện cao về nguồn năng lượng; Sản xuất visinh vật từ dầu mỏ và khí đốt

III. Vi sinh vật trong phòng chống chữa bệnh –Tiêu độc, khử trùng, kháng sinh

1. Tiêu độc khử trùng trong chăn nuôi

Mặc dù, đa số vi sinh vật là có ích và cần thiết cho nhân loại, nhưng hoạt động của vi sinh vật cũng

có thể gây nên nhiều tác hại cho con người Chẳng hạn như việc gây nên các bệnh tật cho người, giasúc, gia cầm, việc làm hư hỏng thực phẩm, nguyên vật liệu Vì vậy chúng ta phải nắm vững cácphương pháp để tiêu diệt hoặc ức chế các vi sinh vật có hại, làm giảm bớt các thiệt hại do chúng gâynên Chủ yếu là: Tiêu diệt các vi sinh vật gây bệnh và cản trở sự lan truyền của chúng Giảm bớt hoặchạn chế các vi sinh vật gây ô nhiễm nguồn nước, thực phẩm và phá hủy các nguyên vật liệu khác.Trong một thời kỳ rất dài, từ khi chưa biết đến sự tồn tại của vi sinh vật thì tổ tiên chúng ta đã biếtkhông ít các biện pháp để tiêu độc và diệt khuẩn Người Cổ Ai Cập đã biết dùng lửa để diệt khuẩn,dùng các chất tiêu độc để xử lý các vật thối rữa Người Cổ Hy Lạp đã biết cách xông sulfur để bảoquản các vật liệu kiến trúc Người Hê-Brơ (Hebrews) đã có luật thiêu hủy toàn bộ quần áo của nhữngngười bị bệnh hủi Hiện nay, việc nắm vững các kỹ thuật tiêu diệt vi sinh vật vẫn hết sức quan trọng,chẳng hạn như việc sử dụng kỹ thuật vô khuẩn trong nghiên cứu vi sinh vật, việc bảo quản lương thực,thực phẩm, việc phòng chống các bệnh truyền nhiễm

Trong chăn nuôi, các vi sinh vật gây bệnh có thể tồn tại ở bất cứ đâu trong môi trường, mầm bệnh

có thể lây lan từ nhiều nguồn khác nhau Mầm bệnh trong chất thải gồm vi trùng, virus, nấm, ký sinh

và ấu trùng hay trứng của chúng Sự tồn tại của vi sinh vật gây bệnh trong chất thải phụ thuộc nhiềuyếu tố Các điều kiện giúp chúng có khả năng tồn tại lâu trong bao gồm: số lượng ban đầu lớn; nhiệt

độ môi trường thấp (<10oC); hàm lượng các chất rắn cao và loài động vật cảm nhiễm Mầm bệnh sốnglâu nhất trong phân trâu bò và ngắn nhất trong phân gia cầm nuôi lồng Các vi sinh vật khác nhau sẽ có

sức đề kháng khác nhau: Mycobacterium, Brucella, Leptospira thường tồn tại ngoài cơ thể lâu hơn Salmonella và E.coli.

Thời gian tồn tại của một số vi sinh vật trong chất thải (Strauch, 1987):

Salmonella có khả năng sống 286 ngày trong phân trâu bò.

B.abortus sống ít nhất 8 tháng trong phân trâu bò.

Mycobacterium sống dài nhất đến 155 ngày trong phân trâu bò

Mycobacterium 2 năm trong đất.

Leptospira có thể sinh sản trong phân được xử lý hiếu khí.

Virus Aujeszky tồn tại trong phân 3 – 15 tuần.

Trang 13

Virus Marek sống trong phân 7 ngày.

• Virus gây African swine fever 60 – 160 ngày

Virus FMD: 21 – 103 ngày.

Thời gian tồn tại của virus cúm gia cầm H5N1 ở nhiệt độ 4-10oC có khản năng sống tới 4tháng ; 4 tuần ở nhiệt độ 18oC ( 2007); Trong phân và bệnh phẩm gia cầm virus cúm gia cầm

H5N1 sống được 4 ngày ở nhiệt độ 32 -35oC; ở nhiệt độ 4oC sống được 20-35 ngày

Vi khuẩn có nha bào như B.anthrasis, C.tetani có thể tồn tại nhiều năm trong phân, rác và bùn

sa lắng từ chất thải

1.1.Định kỳ vệ sinh tiêu độc, khử trùng được coi là biện pháp hữu hiệu để phòng chống dịch bệnh trong chăn nuôi Thế nhưng, nếu việc thực hiện không đúng cách sẽ gây lãng phí tiền của, công sức mà dịch bệnh vẫn xảy ra [1]

Khái niệm:

Tiêu độc (disinfection): là tiêu diệt, ức chế, loại trừ các vi sinh vật gây bệnh… mục tiêu chủ yếu là tiêu

diệt mầm bệnh nhưng trên thực tế cũng là làm giảm số lượng chung của vi sinh vật Để tiêu độc cầndùng thuốc tiêu độc (disinfectan) Đó thường là các hóa chất và thường để tiêu độc các vật liệu khôngphải là cơ thể người và động thực vật Các chất tiêu độc không diệt được bào tử và một số vi sinh vật

vì vậy không thể dùng để diệt khuẩn.[2]

Khử trùng (sterilization): có nghĩa là tiêu diệt tất cả các vi sinh vật, bào tử, virút, viroid

Vật được khử trùng không còn khả năng gây nhiễm trùng (chỉ tiêu diệt mầm bệnh mà không phải là tất

cả các vi sinh vật) Khử trùng phải đạt yêu cầu bất hoạt không khôi phục lại (irreversible inactivating)

các mầm bệnh, do vậy tác dụng chế khuẩn (Bacteriostatic, ví dụ kháng sinh) không đáp ứng yêu cầu

này Khử trùng có vai trò quan trọng khi các tác nhân gây bệnh có thể tồn tại ở nhiều nơi mà việc tiệttrùng vì nhiều lý do kinh tế và thuẹc tế không thể áp dụng rộng rãi được Có cả hai biện pháp vật lý vàhóa học để khử trùng.[3]

1.2.Nguyên tắc vệ sinh, sát trùng:

• Phải luôn luôn làm sạch tất cả phân và các chất bẩn Khi có phân là có vi sinh vật gây bệnh,

đặc biệt là Salmonella.

• Chỉ dùng thuốc sát trùng sau khi đã làm sạch bề mặt

• Phải để khô hoàn toàn vì vi sinh vật gây bệnh không thể sống trong môi trường khô

1.3.Quy trình vệ sinh, sát trùng:

Bước 1- Làm sạch chất hữu cơ trước khi rửa:

Hầu hết các thuốc sát trùng không có tác dụng diệt khuẩn nếu dụng cụ được sát trùng không sạch

sẽ Đất, rơm, trấu, sữa, máu, phân gây bất hoạt thuốc sát trùng Trước khi rửa bằng nước cần dùngchổi, xẻng hoặc các dụng cụ thích hợp làm sạch các chất hữu cơ bám trên nền chuồng, tường chuồng,trên bề mặt các dụng cụ chăn nuôi

Bước 2 - Rửa sạch bằng nước:

Trang 14

Sau khi vệ sinh cơ học các chất hữu cơ tiến hành rửa sạch bằng nước Đối với dụng cụ, sàn, váchngăn … bị chất bẩn bám chặt bề mặt lâu ngày, cần ngâm nước 1-3 ngày trước khi rửa Đối với một sốchỗ khó rửa (các góc, khe ), phải dùng vòi xịt áp suất cao bằng hơi.

Bước 3 - Tẩy bằng xà phòng, nước vôi hoặc thuốc tẩy:

Dùng nước xà phòng, nước vôi 30% hoặc thuốc tẩy rửa để phun, dội rửa lên nền hoặc ngâm cácdụng cụ chăn nuôi

Bước 4 - Sát trùng bằng thuốc sát trùng:

Dùng thuốc sát trùng với liều lượng phù hợp Cần kiểm tra pH nguồn nước trước khi pha loãng.Không được dùng nước cứng để pha thuốc sát trùng vì sẽ làm giảm hoặc làm mất tác dụng của thuốcsát trùng Dùng nước có nhiệt độ phù hợp để pha loãng thuốc

Lưu ý thời hạn dùng thuốc và thời hạn dùng dung dịch thuốc sát trùng đã pha loãng Cần đảm bảo đủthời gian cho thuốc tiếp xúc với dụng cụ được sát trùng theo hướng dẫn của nhà sản xuất

Khi phun thuốc sát trùng, phải mặc quần áo bảo hộ lao động

Bước 5 - Để khô:

Sau khi khử trùng bằng thuốc, cần phải để khô dụng cụ và trang thiết bị Với chuồng nuôi, thờigian để khô trước khi thả gia súc, gia cầm vào là 1-2 ngày, không được để khô dưới 12 giờ.[4]

1.4 Một số loại thuốc tiêu độc khử trùng dùng trong chăn nuôi:

Cồn Iod: là dung dịch thuốc sát trùng dùng nhiều trong thú y để sát trùng vết thương, vết mổ và điều

trị bệnh viêm tử cung, viêm vú ở nồng độ

Cồn trắng: Phá hủy men hoặc những chất cần thiết để sinh trưởng của tế bào vi khuẩn, từ đó làm vi

khuẩn chết

Thuốc tím: là loại thuốc sát trùng có tác dụng diệt khuẩn mạnh, tẩy uế, tạo màng phủ ngăn cách Phá

hủy các chất hữu cơ (máu, mủ…) làm mất mùi hôi thối và se da Dung dịch đậm đặc có thể gây cháycác tổ chức hữu cơ bề mặt, gây đau, đồng thời tác dụng cầm máu

Vôi bột: Có tính chất sát trùng mạnh, diệt các cầu khuẩn sinh mủ, các liên cầu khuẩn, E.coli, trực

khuẩn đóng dấu lợn, tụ huyết trùng, phó thương hàn…Ứng dụng: Tiêu độc chuồng trại, môi trườngchăn nuôi.[5]

1.5.Tiêu độc, khử trùng cho từng đối tượng:

Đối với chuồng trống:

Bước 1: Làm sạch khu vực chuồng trại

Bước 2: Phun thuốc sát trùng

Đối với dụng cụ chăn nuôi.

Đối với phương tiện vận chuyển

Ngày đăng: 30/06/2016, 17:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w