Thức ăn gia súc đang là một vấn đề nan giải cho ngành chăn nuôi ở nước ta. Hiện tượng thiếu dinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn tới sự sinh trưởng và phát triển bình thường của gia súc, làm cho gia súc kém phát triển, còi cọc, sức sản xuất giảm sút. Vấn đề bổ sung đạm, vitamin và các muối khoáng trong thức ăn đã trở thành một vấn đề cần đươc quan tâm. Những loại thức ăn giàu đạm như khô dầu lạc, xác mắm, thức ăn hạt bộ đậu… giá thành cao, cho nên tìm các loại thức ăn rẻ tiền, dễ chế biến và bảo quản đảm bảo dinh dưỡng cho gia súc là rất cần thiết. TMột trong những phương hướng hiện nay là dùng vi sinh vật để cải thiện phẩm chất thức ăn, cung cấp thêm các protein, vitamin, enzyme và các chất dinh dưỡng khác bổ sung vào khẩu phần ăn hằng ngày cho gia súc. Việc ứng dụng vi sinh vật vào chế biến thức ăn gia súc đã và đang được các nhà khoa học nghiên cứu và phát triển mạnh mẽ. Vì vậy nhóm em đã chọn đề tài “Ứng Dụng Vi Sinh Vật Trong Sản Xuất Thức Ăn Gia Súc” làm đề tài cho bài tiểu luận của mình.
Trang 1Đề Tài
ỨNG DỤNG VI SINH VẬT TRONG SẢN
XUẤT THỨC ĂN GIA SÚC
GVHD: NGUYỄN THỊ QUỲNH MAI SVTH : NHÓM 4
Tp Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2012
Trang 2BẢNG PHÂN CHIA CÔNG VIỆC
01 LÊ THỊ NGỌC ÁNH 2008110002 Tổng hợp tài liệu, gửi bài cho
giáo viên
Tìm tài liệu phần lịch sử, cơ sở
lí luận khái niệm và phân loại vi sinh vật trong sản xuất thức ăn gia súc
02 NGUYỄN THỊ LÀI 2008110132 Tìm tài liệu phần một số loại vi
sinh vật dùng trong thức ăn gia súc
04 HUỲNH THỊ BÉ TRÚC 2008110328 Tìm tài liệu phần ứng dụng vi
sinh vật trong sản xuất thức ăn gia súc (enzyme, kháng sinh, vitamin)
05 NGUYỄN THỊ KIM
TUYỀN
2008110344 Tìm tài liệu phần các phương
pháp sản xuất thức ăn chăn nuôi
và kết luận
DANH MỤC HÌNH
Trang 32.1 Thức ăn chăn nuôi CN – 51 7
4.1 Nấm men Saccharomyces cerersiae 10
4.2 Men rượu 11
4.3 Men bia khô 15
4.4 Nấm Torula utilis 15
4.5 Một số vi khuẩn cố định đạm 17
4.6 Vi khuẩn lactic 18
4.7 Tảo Spirulina 19
4.8 Một số hình ảnh về nuôi tảo thu sinh khối 21
5.1 Heo ăn chế phẩm vi sinh 23
5.2 Chế phẩm enzyme Probacw 23
5.3 Chế phẩm vitamin cho gia súc 26
5.4 Chế phẩm Dextran 100 26
5.5 Một số chế phẩm vi sinh vật cho gia súc 27
6.1 Ngô sau khi ủ chua 30
6.2 Ủ nóng thực vật làm thức ăn gia súc 31
Trang 4MỤC LỤC
hức ăn gia súc đang là một vấn đề nan giải cho ngành chăn nuôi ở nước ta Hiện tượng thiếu dinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn tới sự sinh trưởng và phát triển bình thường của gia súc, làm cho gia súc kém phát triển, còi cọc, sức sản xuất giảm sút Vấn đề bổ sung đạm, vitamin và các muối khoáng trong thức ăn đã trở thành một vấn đề cần đươc quan tâm Những loại thức ăn giàu đạm như khô dầu lạc, xác mắm, thức ăn hạt bộ đậu… giá thành cao, cho nên tìm các loại thức ăn rẻ tiền, dễ chế biến và bảo quản đảm bảo dinh dưỡng cho gia súc là rất cần thiết
T
Một trong những phương hướng hiện nay là dùng vi sinh vật để cải thiện phẩm chất thức ăn, cung cấp thêm các protein, vitamin, enzyme và các chất dinh dưỡng khác bổ sung vào khẩu phần ăn hằng ngày cho gia súc Việc ứng dụng vi sinh vật vào chế biến thức ăn gia súc đã và đang được các nhà khoa học nghiên cứu và phát triển
mạnh mẽ Vì vậy nhóm em đã chọn đề tài “Ứng Dụng Vi Sinh Vật Trong Sản Xuất
Thức Ăn Gia Súc” làm đề tài cho bài tiểu luận của mình.
Trang 51 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH
Năm 1974, Paker đã đưa ra khái niệm probiotic để chỉ nhưng vi sinh vật và các chất
làm cân bằng hệ vi sinh vật trong đường ruột của người và vật nuôi, kể từ đó đã có rất nhiều phát hiện về vai trò và tác dụng của vi sinh vật như tăng cường sức khoẻ của hệ tiêu hoá thông qua cân bằng hệ vi sinh vật ruột (Fuller, 1989), tăng miễn dịch, phòng chống bênh ung thư đường tiêu hoá (FAO/WHO, 2001),…Ở nước ta hiện nay, việc sản xuất probiotic để phục vụ chăn nuôi còn rất mới mẻ, bắt đầu được quan tâm trong khoảng một thập kỉ gần đây Năm 1999 Lê Thanh Bình và cộng sự đã sản xuất
ra sản phẩm PRO99 gồm 2 chủng vi khuẩn lactic và nuôi thử nghiệm trên gà Broiler cho thấy quần thể vi sinh vật đường ruột trong gà thay đổi theo hướng tích cực, các
vi khuẩn lactic tang, E.coly giảm rõ rệt trên những con gà được ăn sản phẩm PRO99
Kích thước gà 50 ngày tuổi ở nhóm được ăn thức ăn bổ sung PRO99 cao hơn nhóm
gà không được ăn loại thức ăn trền 10,6% tiếp theo đó, Nguyễn Thị Hồng Hà và
cộng sự cũng đã sản xuất được probiotic bằng 2 chủng bifidobacterium bifidum và
lactobacillus acidophilus có khả năng ức chế vi khuẩn salmonella.
2 KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI THỨC ĂN GIA SÚC
2.1 Khái niệm
Thức ăn chăn nuôi là những nguyên liệu có nguồn gốc động vật,
thực vật, vi sinh vật và hoá học mà có chứa các chất dinh
dưỡng ở đang hấp thụ được và không gây hại đến sức khoẻ
vật nuôi và sản phẩm của chúng
Những nguyên liệu có chứa các chất độc hại có thể chế biến
thành thức ăn chăn nuôi sau khi đã khử hoặc làm vô bổ hết
hoàn toàn các chất gây độc hại cho vật nuôi, và các sản phẩm
của chúng
Vi sinh vật là loài sinh vật đơn giản nhất, được ứng dụng nhiều trong sản xuất thức ăn gia súc Các vi sinh vật probiotic phải là nhưng vi sinh vật (VSV) hữu ích, chúng thường là các vi khuần (VK) (thường là các vk lactic, một số
Trang 6chủng bacillus),nấm men ( chủ yếu là các chủng thuộc loài saccharomyces cerevisiae
3 Phát triển và cạnh tranh được với các vsv có hại trong đường tiêu hoá
4 Có khả năng làm tăng đáp ứng miễn dịch
Chúng được chia làm 3 nhóm chính: vi khuẩn, nấm và vi tảo
2.2 Phân loại
Theo khả năng tổng hợp thì có thể dùng 2 loại VSV sau đây để chế biến thức ăn cho gia súc
Loại VSV dị dưỡng phát triển trên môi trường có chất hữu cơ (nguồn Cacbon hữu
cơ ) cung cấp sẵn Những VSV này gồm: vi khuẩn, men rượu, mấn mốc có khả năng tổng hợp đường và muối chứa nito vô cơ thành protit và lipit
Loại VSV tự dưỡng phát triển trên môi trường không cần có sẵn nguồn Cacbon hữu
cơ, axit amin, và các yếu tố sinh trưởng đăc biệt Những VSV này gồm: tảo, rong đơn
bào, và một số vi khuẩn đặc biệt( như Atozobacter, vi khuẩn nitrat hóa sống trong
đất) có khả năng tổng hợp các nguyên tố khoáng, muối vô cơ, CO2 thành hợp chất hữu cơ, axit amin và ozo, dựa vào tác dụng quang hợp hoặc hóa hợp để tự sinh sống
VSV cung cấp protein và axit amin
Hiện nay người ta đã dùng men rượu (saccharomyces cerevisiae), men bia, men bánh
mì, một số nấm men, nấm mốc có khả năng tổng hợp protit và lipit mạnh (Torula
utilis, Candida utilis,…), và một số loại tảo rong (Chlorella) để sản xuất thức ăn đạm.
Ngoài ra, còn có một số vi khuẩn được dùng đến như vi khuẩn ruột già E coli, vi
khuẩn cỏ khô Bacillus subtilis Aerobader, Aerogenes, Mcrococcus glutamicus.
VSV cung cấp vitamin
hình 2.1: thức ăn chăn nuôi CN-51
Trang 7Cung cấp vitamin B2 có Clostridium acetobutylicum, nang khuẩn Eremothecium,
Ashbyii, Ashbya gossypii.
Cung cấp vitamin B12 có Pronionibacterium frendreighii, Bacillus megaterium,
Streplomyces olivaceus, Bacmethanicus.
Cung cấp provitamin A (β – caroten) có Phycomyces plakeslecanus, Choanephora
cucurbilarrum, và các loại rong Chorella vulgaris, C pyrenoidosa.
VSV sản sinh enzim
VSV sản sinh enzim gồm có: VSV cung cấp amilaza Aspernillus orizae, A.niger
VSV cung cấp proleinaza Bacillus subtilis.
(hygromixin B), S.spheroides và S niveus (novobioxin), S.nourse (nystatin),
S.antibiolicus (oleandomixin), S.ambofacieus (spiramixin), S.fradige (tilozin).
3 CƠ SỞ LÍ LUẬN
Theo kết quả nghiên cứu, cứ 20 -30 phút, vi khuẩn sinh sản ( phân bào ) 1 lần, rong đơn bào ( tảo ) sinh sản mỗi lần thành 4 đến 8 tế bào con, mỗi ngày đêm có thể sinh sản mấy chục lần, men rượu mỗi giờ phân bào một lần VSV còn có khả năng tổng hợp cao: tổng hợp các chất đơn giản trong môi trường thành chất hữu cơ phức tạp Men rượu có thể tổng hợp 80% đạm vô cơ trong môi trường nuôi cấy thành protit trong thời gian ngắn mỗi mét vuông rong tiểu cầu mỗi ngày tổng hợp được 10g protit, tính ra mỗi héc ta một năm thu hoạch được 30 tấn protit, tức là nhiều gấp trăm lần so với lượng protit chứa trong cây lương thực trồng trên một diện tích tương đương
VSV chứa trong tế bào nhiều protit và lipit (10%lipit, 50% protit); ngoài ra, nhiều loài VSV dùng để chế biến thức ăn gia súc( như men rượu, nấm men, rong tiểu cầu, ) còn chứa nhiều axit amin( như lizin, valin, metionin, tryptophan,…) và nhiều vitamin( như A, B1, B2, B12,B6,C, PP) thêm vào đó VSV còn chứa trong tế bào bào
Trang 8nhiều enzim và nhiều yếu tố quan trọng chưa xác định được, trong đó có một số sản sinh ra kháng sinh tố Ngoài ra, thức ăn VSV có thể cung cấp nhiệt năng rất lớn Nhiệt lượng của 1g bột rong tiểu cầu là 5,7 kcal, trong khi ấy mỗi gam sản phẩm cây lương thực chỉ sản sinh 3 kcal( lúa nếp 3,5 kcal, khoai lang 1,5 kcal).
Về mặt ứng dụng trong nông nghiệp, thức ăn VSV có ý nghĩa lớn, vì nó có tác dụng nâng cao rất nhiều chất lượng của phụ phẩm nông nghiệp (dây lạc, dây lang, thân, lá cây họ đậu, lõi ngô,…)
4 MỘT SỐ LOẠI VI SINH VẬT DÙNG TRONG CHẾ BIẾN THỨC ĂN GIA SÚC
• Có khả năng lên men 13 loại đường, đồng hoá 46 nguồn cacbon
• Sinh sản bằng 3 cách: vô tính ( chủ yếu là nảy chồi ), đơn tính ( bào tử ), và hữu tính
• Có tốc độ sinh trưởng nhanh, khả năng thu sinh khối lớn
• Nguồn dinh dưỡng là các chất phi thực phẩm như dịch thuỷ phân, gỗ, mùn cưa, vỏ bào, và các phụ phẩm ngành công nghiệp, nông nghiệp
• Giá trị dinh dưỡng cao, không gây độc, hàm lượng protein cao từ 40-60%, đặc biệt là acid amin không thay thế được rất cao, đặc biệt là gần giống với protein động vật
• Thành phần vitamin trong nấm men cũng rất cao và hoạt tính của nó cao gấp 2-3 lần vitamin tổng hợp
• Ngoài ra chúng còn chứa nhiều enzyme, kích tố có tác dụng tốt tới quá trình trao đổi chất, không gây độc
3 chủng nấm men chủ yếu được dung trong sản xuất hiện nay là Saccharomyces,
Candida và Torulopsis do khả năng chuyển hoá của 3 chủng này rất cao và đa dạng,
quy trình công nghệ đơn giản
Sản xuất sinh khối nấm men từ nguồn hidratcacbon thông thường
Hình 4.1: nấm men
Saccharomyces cerersiae
Trang 9Nguồn nguyên liệu chủ yếu là rỉ đường, tinh bột, xenlulo, dịch kiềm sunfit ( trong
nước thải nhà máy giấy ), bã rượu…
Rỉ đường -> xử lý-> pha loãng-> thanh trùng ->môi trường dinh dưỡng(nấm men –
>nhân giống )-> nuôi thu sinh khối-> ly tâm ->sinh khối-> sấy khô-> thành phẩm
Sản xuất từ dầu mỏ và khí đốt
Nấm men được sử dụng cho chăn nuôi gia súc, gia cầm dưới dạng bột sinh khối men khô, bổ sung vào khẩu phần thức ăn Chúng bổ sung một lượng lớn protein, góp phần giải quyết thiếu hụt thức ăn đạm trong chăn nuôi
4.1.3.1 Men rượu
Men rượu chứ nhiều protit có giá trị dinh dưỡng cao, nhiều
axit amin cần thiết cho sự sống, một số vitamin nhóm B dễ
biến thành vitamin D ( trong 1kg men rượu có từ 1000 –
5000 đơn vị vitamin D2) và một số nguyên tố khác (như
canxi, phốt pho, kalium)
Người ta đã dùng men rượu và những nguyên tố vi lượng
(như đồng, coban…) để làm tăng sinh trưởng của lợn, mỗi tấn thức ăn được bổ sung 40g men rượu, 10g sunfat đồng, 10g clorua coban, 2g KI, hòa với nước trước khi trộn với thức ăn Nguyên tố vi lượng bổ sung vào men rượu có tác dụng giúp cho sự tổng hợp các loại men trong cơ thể gia súc tiến hành thuận lợi Trong bánh men rượu có
nhiều VSV như nấm men (Saccharomyces cerersiae,Saccharomyces pastorianus), nấm mốc (Amylomyces rouxii, A.rouxianus, Mucor rouxii), và vi khuẩn (Sareina
ventriculi,…) làm nên men gluxit (mono và disaccarit) tạo thành rượu và cacbonic
Trong những năm gần đây việc ứng dụng bánh men rượu để chế biến thức ăn cho gia súc đã được ứng dụng rông rãi từ 1964 đến nay ở nhiều địa phương và cơ sở chăn nuôi (Cao Bằng), Gia Lâm, Đông Anh (Hà Nội), Yên Mỹ,Văn Giang ( Hải Hưng), Kim Anh( Vĩnh Phú), Thuận Thành( Hà Bắc), Đô Lương (Nghệ An)
Men rượu (men thuốc bắc) ủ vào thức ăn như cám gạo theo tỷ lệ 4% so với thức ăn tinh có tác dụng làm biến đổi thành phần hóa học của thức ăn theo chiều hướng tốt,
Hình 4.2: men rượu
Trang 10kích thích khẩu vị làm cho gia súc ăn hết khẩu phần và nâng cao hàm lượng các chất dinh dưỡng Số lượng tế bào nấm men tăng dần, cao nhất sau khi ủ 24 giờ, lượng tế bào tăng tương đối nhanh (12 triệu đến 860 triệu/g thức ăn), từ 36 đến 48 giờ có chiều hướng giảm dần (818 triệu đến 814 triệu/g thức ăn) Các đạm chuyển hóa rõ rệt (đạm phức tạp thành đạm đơn giản, đạm thực vật thành đạm protein của nấm men, đạm vô cơ thành đạm hữu cơ) Lượng đạm tổng số hầu như không biến đổi Từ 0 đến
48 giờ, mức 20mg xê dịch không đáng kể (thấp nhất là 20,03mg, cao nhất là 20,72mg/1g vật chất khô) Từ 0 giờ đến 18 giờ, đạm protein lúc đầu giảm, trái lại lượng phi protein tăng Từ 24 giờ đến 48 giờ, có sự thay đổi trái lại Hàm lượng rượu không nhiều (từ 16,3 đến 20,4mg/1g vật chất khô), và tăng dần theo chiều hướng tăng dần của tế bào nấm men, rượu gây mùi vị thơm ngon
Thực tế cho thấy lợn( từ 60 đến 120 ngày tuổi) ăn men rượu để sinh trưởng tốt, dịch
ở dạ dày tiết ra nhiều hơn so với lợn không ăn men
Lượng axit chung( gồm HCL và axit lactic) trong dịch vị dạ dày ở con lợn ăn men rượu cao hơn con lợn không ăn men Hoạt lực men pepxin của dạ dày ở con lợn ăn men rượu cao hơn con lợn không ăn men, ảnh hưởng tốt đến sự tiêu hóa thức ăn
Tỷ lệ tiêu hóa của thức ăn ủ men rượu có chiều hướng cao hơn thức ăn không có men rượu, nhất là đối với protit và gluxit trong thức ăn, do hoạt lực của men pepxin được tăng cường, ảnh hưởng tốt đến sự phân giải protit và hấp thụ thức ăn Riêng tỷ lệ tiêu hóa chất mỡ và chất xơ thì chênh lệch không đáng kể
Lợn từ 60 đến 180 ngày tuổi được ăn bằng thức ăn ủ men rượu tăng trọng nhiều hơn lợn không ăn men rượu (trên 20%), lông mượt, da mịn có màu phớt hồng, thịt chắc
Số lượng hồng cầu, bạch cầu, huyết cầu tố giữa 2 lô chênh lệch rõ rệt Thức ăn tiêu tốn để tăng 1kg thịt hơi ở lô ăn men rượu ít hơn lô không ăn men rượu, mức độ cảm nhiễm giun sán ở lô có ăn men rượu ít hơn hẳn lô không ăn men rượu
Bánh men rượu thuốc bắc ở các địa phương miền bắc được chế từ mội trường hỗn hợp rất phức tạp gồm có bột gạo và nhiều vị thuốc bắc (từ 3 đến 23 vị) Trong đó có rất nhiều chủng nấm men, nấm mốc và các VSV khác Để đáp ứng nhu cầu sản xuất
ở các địa phương cần đơn giản hóa môi trường nhân giống men rượu có thể rút bớt một số vị thuốc bắc chỉ lấy một số vị và lấy một vị làm đơn vị tính theo từng công thức mà không ảnh hưởng đến chất lượng của men rượu
Trang 11Có thể sản xuất bánh men rượu bằng lá vải thiều, lá nhãn, bồ kết…
Để sản xuất men rượu với quy mô lớn hơn, phải có một môi trường nuôi cấy và nhân giống đơn giản hơn với những vật liệu dễ kiếm, bằng cách phân lập và giám định các chủng nấm men trong bánh men rượu lấy từ các địa phương và chọn những chủng có hoạt tính tốt, phát triển nhanh, có giá trị dinh dưỡng cao toàn diện, có khả năng đồng hóa mạnh các chất đường bột và khoáng
Một số nấm men có hoạt lực cao là: chủng TX 256, QT 256, V.G.L024
Chủng TX 256 phát triển những khuẩn lạc tròn, đường kinh 1- 2mm màu trắng đục, mặt lồi lên, nhẫn, ướt, có mùi thơm, tế bào hình trứng trên 6µm, sinh chồi, Gam dương
Chủng QT 256 phát triển khuẩn lạc tròn, đường kính 3mm, hình thái tương tự khuẩn lạc TX 256, mùi rượu, hơi chua, tế bào hình trứng trên 6mm, sinh chồi, Gam dương.Chủng V.G.L 024 có khuẩn lạc tròn, đường kính 3-5mm, màu trắng, ruột rỗng, khuẩn lạc hình gân cưa Bào tử hình trứng trên 4 micron, sinh sản theo lối khuẩn ty giả, bắt màu không đều, gram dương
Cả 3 chủng này đều phát triển dễ dàng trên môi trường cám hấp và kết hợp nuôi cấy
cả 3 chủng trên một môi trường thức ăn gia súc (cám hấp) thì chúng sẽ phát triển mạnh hơn là khi nuôi cấy từng chủng một, và lượng tế bào sẽ tăng gấp 10 lần so với bánh men thuốc bắc Sau khi ủ được 24 giờ, số lượng tế bào đạt tới 1.340 triệu và sau khi nuôi cấy từ 3 - 5 ngày (trong môi trường cám hấp ở nhiệt độ thích hợp 30 – 320C)
số lượng tế bào tăng gấp 200 lần so với số lượng cấy ban đầu
Kết quả:
+ Lượng đạm protein có xu hướng giảm dần
+ Lượng đạm amin có xu hướng tăng dần
+ Lượng tế bào tăng cao nhất sau 24 giờ, sau đó giảm dần
+ Axit su khi ủ 24 giờ mới hình thành
+ Nhiệt độ tăng lên khoảng 34 – 350C, rồi giảm xuống 33 – 340C và duy trì ở mức này
Một số chủng nấm men khác như:
Trang 12+ Chủng TH 27 thuộc giống Trichosporon có khả năng phát triển nhanh trên môi
trường tinh bột, đồng thời cũng phát triển trên môi trường đường, không có khả năng lên men rượu mạnh
+ Chủng TH 265 thuộc giống Saccharomyces có khả năng phát triển rất nhanh
(không kém Torula) trên môi trường tinh bột, môi trường đường và có khả năng lên men rượu khá mạnh tạo mùi vị thơm mát của rượu nếp
Trên môi trường cám sau 48 giờ số lượng tế bào của mỗi chủng đạt hàng chục triệu
tế bào trong 1 ml, nếu cấy chung 2 chủng thì tổng số tế bào trong đơn vị thể tích vượt quá số lượng tế bào so với cấy riêng lẻ từng giống cộng lại, mà lại tận dụng những đặc tính tốt của 2 chủng TH 27 và TH 265 trên môi trường cám, nếu có bổ sung một lượng sunfat đạm và supe lân thì tốc độ phát triển càng mạnh và không cần nấu chín thức ăn khi ủ men
4.1.3.2. Men bia
Men bia, Saccharomyces cerevisiac, là một loại vi sinh vật có
khả năng tổng hợp protic, vitamin và kích thích tố, lại có khả
năng sinh trương nhanh , nuôi cấy dễ dàng nên nó đã được làm
thức ăn cho gia súc rất tốt thành phần hóa học của men bia gồm
Trang 13Có thể chế biến men bia bằng bột khoai lang, cám, nước vo gạo đặc và một số chất dưới thể canh trùng dịch hoặc đóng bánh và cấy men vào các loại thúc ăn gia súc (như bột ngô, lõi ngô, khoai lang củ, khoai lang nước )
4.1.3.3. Nấm men Torula utilis
Loại nấm men thuộc lớp nang khuẩn Ascomyceles giống như men bia, nhưng khác họ, trong tế bào nhiều protic và vitamin, nên trong nhưng năm gần đây dùng để chế biến
thức ăn trong gia súc.Torula utilis phát triển tốt trong môi trường có đường làm nguồn cacbon trong dung dịch các loại đường Men này sinh sản rất nhanh, nên chỉ cần một thời gian ngắn là có thể tích luỹ một lượng protic rất lớn
Người ta đã dùng các loại phế phẩm trong công nghiệp chế tạo đường (như bã mía,
rỉ đường ), các chất bột các loại củ, và các sản phẩm phụ công nghiệp có nhiều sợi
xơ (như rơm rạ, bã giấy ), để làm nguyên liệu đường hóa cung cấp chất đường nuôi
torula utilis Để thủy phân chất xơ (xenlulose) người ta dùng cao áp và axitsunfuarit
biến chất sợi xơ thành đường cấp năm (pento), cấp sáu (hexo), rồi đem lọc và trung
hòa dùng để nuôi cấy Torula utilis, môi trường nuôi cấy gồm những dung dịch đường
thủy phân sunfat đạm và supe lân.Khi nuôi cấy nên giữ nhiệt độ 28-30, cung cấp đủ ôxy,quấy trộn đều thì chỉ trong vòng 10-24giờ quá trình lên men sẽ hoàn thành, hình thành một chất đặc như keo (1ml men có 1 tỷ vi sinh vật) Trong thực tiễn sản xuất
có các loại phế phẩm như bã mía, thân cây ngô, bí ngô, bột khoai, dong riềng để
đường hóa thành nguyên liệu cấy Torula utilis trong chum, vại Sau khi cấy khoảng
10 giờ có thể cho gia súc ăn trực tiếp hoặc đem cấy vào thức ăn cho lợn đã nấu chín (cám, bột ngô, khoai lang…) rồi ủ cho lên men ở nhiêt độ 26 đến 28°C trong khoảng
4 - 5 ngày trước khi cho ăn
4.2 Vi khuẩn
Là một nhóm sinh vậtđơn bào, có kích thước nhỏ (kích thước hiển vi) và có cấu trúc tế bào đơn giản không có nhân, bộ khung tế bào và các bào quan như ty thể và lục lạp
Hình 4.4: nấm Torula
utilis
Trang 14 Là nhóm hiện diện đông đảo nhất trong sinh giới Chúng hiện diện khắp nơi trong đất, nước và ở dạng cộng sinh với các sinh vật khác.
Vi khuẩn có nhiều hình dạng khác nhau Đa số có hình que, hình cầu, hay hình xoắn; những vi khuẩn có hình dạng như vậy được gọi theo thứ tự là trực khuẩn (bacillus), cầu khuẩn (coccus), và xoắn khuẩn (spirillum) Một nhóm khác nữa
là phẩy khuẩn (vibrio) có hình dấu phẩy.
Sinh trưởng và phát triển mạnh, khản năng cho sinh khối lớn trong thời gian ngắn
Thành phần giá trị dinh dưỡng cao: hàm lượng protein trong tế bào vi khuẩn chiếm 60-70%, có loại lên đến 87%, hàm lượng acid amin cân đối hơn trong nấm men
Có thể sản xuất sinh khối từ xenlulozo ( rơm rạ, bã mía, mùn cưa, dăm bào ….)
Có khả năng sống cộng sinh với nhau (cellulomonas và alcaligenes ) giúp phát triển nhanh hơn, năng suất cao
Các nhà khoa học Mỹ đã phân lập từ bã mía 1 loại vi khuẩn phân giải chất xơ mạnh
đã sử dụng để sản xuất protein từ bã mía, lõi ngô, rơm rạ mà không cần qua khâu thuỷ phân bằng H2SO4, hiệu suất chuyển hoá cao từ 113 – 136 kg bã mía cho 18 – 23kg protein
4.2.2.1. Vi khuẩn cố định đạm Azôtbacter
Vi khuẩn cố định đạm đã được dùng trong chăn nuôi vì có chứa nhiều protit, axit amin và vitamin Tế bào Vi khuẩn cố định đạm Azôtbacter
có chứa 17 dạng axit amin khác nhau Những axit amin này là đơn vị cấu
tạo thành abumin của cơ thể Azôtbacter cố định đạm không khí và biến
đạm đó thành protit Azôtbacter thường chứa vitamin nhóm B như B12, B2, B6 Vitamin B12 có tác dụng kích thích chức năng tạo máu của cơ thể, đặc biệt là tăng số lượng hồng huyết hàm lượng huyết cầu và sắc tố trong máu, mặc khác còn có tác dụng phòng và chống bệnh thiếu máu của gia súc Vitamin nhóm B (B2, B6, B12) có vai quan trọng trong trao đổi abumin và nâng cao tổng hợp abumin, ảnh hưởng tới trao đổi hydrat cacbon, xúc tiến quá trình sinh trưởng của gia súc non
Vi khuẩn cố định đạm đã được ứng dụng để nuôi lợn còn đang bú và sau cai sữa, lợn
vỗ béo, gà đẻ trứng và gà con bằng cách cho thêm vào khẩu phần thức ăn chế phẩm
cố định đạm Azôtbacter (đối với lợn từ 10 - 15 ml/một đàn lợn/1 ngày, 500ml/1 đàn
lợn/tháng, đối với gà cho 2-2.5ml/con/ngày trong một tháng liền) Kết quả cho thấy
Hình 4.5: Một số vi khuẩn cố định đạm
Trang 15lợn ăn vi khuẩn cố định đạm đã tăng trọng vượt đối chứng 0.9-2.3 kg trong một tháng (tăng trọng 12%, giảm mức chi phí thức ăn cho một đơn vị tăng trọng là 14.3%, hạ giá thành thức ăn là 11%, lợn ăn ngon miệng, tỉ lệ cảm nhiễm bệnh kí sinh trùng và bệnh truyền nhiễm giảm đi nhiều Còn gà mái thí đẻ tăng 3 trứng trong một tháng, gà con sức tăng trưởng mạnh, tỉ lệ chết giảm đi nhiều Người ta đã dùng 3 loại
Azotobacter phân lập từ đất , có khả năng cố định đạm cao là: Azotobacter chroococcum, A.agile và A.vinelandii, và một giống Azotobacter phân lập từ ruột lợn
là Azotobacter suis để chế Azotobacterin Ngoài ra Azotobacterin cấy vào thức ăn
cho lợn để nâng cao hàm lượng chất đạm thô; nếu để ủ 4 ngày thì hàm lượng protein tăng đến 6%, 5 ngày thì tăng 17.7% Người ta còn chế hỗn hợp vi khuẩn cố định đạm
với các loại men (như Torula utilis), đem nuôi cấy trong môi trường có cám ở nhiệt
độ 30-370C trong 5 ngày, rồi cho thêm cám, đóng thành viên men, làm khô ở nhiệt độ 30-37-370C Men này có thể cùng sinh sống thuận lợi với vi khuẩn cố định đạm, đến ngày thứ 5 sau khi lên men, thức ăn có mùi thơm, nếu chua quá thì có thể cho thêm ít cám hoặc hô dầu vào rồi đem nuôi lợn con mới cai sữa bằng cách trộn vào thức ăn (mỗi ngày lợn có thể tăng trọng từ 100 đến 200g)
4.2.2.2. Vi khuẩn Bacillus subtilis
Trực khuẩn cỏ khô (subtilin) là một loại vi sinh vật chứa nhiều đạm, vitamin và chất
kháng sinh, có thể kiềm chế được nhiều loại vi khuẩn như vi khuẩn đường ruột
E.coli, tụ cầu khuẩn, vi khuẩn uốn ván, bạch hầu, lao, và một số virut như virut
cúm…
Ngoài ra nó còn chứa một số enzim như enzim chất đạm, chất mỡ, chất bột, chất xơ
Khi sử dụng Baccillus subtilis người ta cấy thanh trùng hoặc bánh khô vào cám nấu
chín (1 bánh khô nhỏ trộn với 10kg cám), một ngày quấy trộn 2 lần trong 4-5 ngày, sau cùng đem trộn với rau cho lợn ăn.Cho lợn 2-4 tháng tuổi và lợn còi cọc ăn, kết quả cho thấy lợn sinh trưởng tốt, lông mượt, không bị tiêu chảy, tăng trọng nhanh
4.2.2.3. Vi khuẩn lactic, Axidofilin
Canh trùng vi khuẩn lactic gọi là Axidofilin có ảnh hưởng tốt đến sự phát triển của gia súc non, vì Axisofilin co chứa nhiều đạm, đường, mỡ, vitamin và muối khoáng Ngoài ra Axidpfilin còn có tác dụng sát trùng đối với một số vi khuẩn đường ruột như E.coli, trực khuẩn phó thương hàn,… Tác dụng sát trùng này là do sự có mặt của
Trang 16axit lactic và những chất có tác dụng kháng sinh chữa lợn
Có chứa chất diệp lục nên có khả năng quang hợp như thực vật
Tảo có giá trị dinh dưỡng cao: hàm lượng protein từ 40 – 50% ( tảo chlorella), 70% ( tảo Spirulina) Hàm lượng acid amin không thay thế chiếm tới 40%, đặc biệt lizin
cao hơn nhiều so với lúa mạch Giá trị vitamin trong tảo cũng rất lớn, hàm lượng vitamin A, B, K và nhiều yếu tố sinh trưởng khác cao hơn nhiều so với các loại thực phẩm khác
4.3.2. Tảo Spirulina
Năm 1967, công ti Sosa Texcoco ( Pháp ) đã đưa Spiriline vào sản xuất theo quy mô
công nghiệp đầu tiên trên thế giới Ở nước ta tảo Spirulina đã được nuôi với quy mô
khá lớn ở Bình Thuận và Bắc Giang
Tảo Spirulina là một loại vi tảo có dạng xoắn hình lò xo, màu xanh lam với kích
thước chỉ khoảng 0,25mm, sống trong môi trường giàu cacbonat, và kiềm (pH từ 8.5 – 9,5 ) Chúng có những đặc tính ưu việt và giá trị dinh dưỡng cao
Hình 4.7: Tảo Spirulina