1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

ứng dụng vi sinh vật trong sản xuất thức ăn gia súc

33 7,4K 115
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ứng Dụng Vi Sinh Vật Trong Sản Xuất Thức Ăn Gia Súc
Tác giả Lê Thị Ngọc Ánh, Nguyễn Thị Lài, Nguyễn Thị Trúc Mai, Huỳnh Thị Bé Trúc, Nguyễn Thị Kim Tuyền
Người hướng dẫn GVHD: Nguyễn Thị Quỳnh Mai
Trường học Trường Đại Học Công Nghiệp Thực Phẩm TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Công Nghệ Sinh Học
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2012
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thức ăn gia súc đang là một vấn đề nan giải cho ngành chăn nuôi ở nước ta. Hiện tượng thiếu dinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn tới sự sinh trưởng và phát triển bình thường của gia súc, làm cho gia súc kém phát triển, còi cọc, sức sản xuất giảm sút. Vấn đề bổ sung đạm, vitamin và các muối khoáng trong thức ăn đã trở thành một vấn đề cần đươc quan tâm. Những loại thức ăn giàu đạm như khô dầu lạc, xác mắm, thức ăn hạt bộ đậu… giá thành cao, cho nên tìm các loại thức ăn rẻ tiền, dễ chế biến và bảo quản đảm bảo dinh dưỡng cho gia súc là rất cần thiết. TMột trong những phương hướng hiện nay là dùng vi sinh vật để cải thiện phẩm chất thức ăn, cung cấp thêm các protein, vitamin, enzyme và các chất dinh dưỡng khác bổ sung vào khẩu phần ăn hằng ngày cho gia súc. Việc ứng dụng vi sinh vật vào chế biến thức ăn gia súc đã và đang được các nhà khoa học nghiên cứu và phát triển mạnh mẽ. Vì vậy nhóm em đã chọn đề tài “Ứng Dụng Vi Sinh Vật Trong Sản Xuất Thức Ăn Gia Súc” làm đề tài cho bài tiểu luận của mình.

Trang 1

Đề Tài

ỨNG DỤNG VI SINH VẬT TRONG SẢN

XUẤT THỨC ĂN GIA SÚC

GVHD: NGUYỄN THỊ QUỲNH MAI SVTH : NHÓM 4

Tp Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2012

Trang 2

BẢNG PHÂN CHIA CÔNG VIỆC

01 LÊ THỊ NGỌC ÁNH 2008110002  Tổng hợp tài liệu, gửi bài cho

giáo viên

 Tìm tài liệu phần lịch sử, cơ sở

lí luận khái niệm và phân loại vi sinh vật trong sản xuất thức ăn gia súc

02 NGUYỄN THỊ LÀI 2008110132  Tìm tài liệu phần một số loại vi

sinh vật dùng trong thức ăn gia súc

04 HUỲNH THỊ BÉ TRÚC 2008110328  Tìm tài liệu phần ứng dụng vi

sinh vật trong sản xuất thức ăn gia súc (enzyme, kháng sinh, vitamin)

05 NGUYỄN THỊ KIM

TUYỀN

2008110344  Tìm tài liệu phần các phương

pháp sản xuất thức ăn chăn nuôi

và kết luận

DANH MỤC HÌNH

Trang 3

2.1 Thức ăn chăn nuôi CN – 51 7

4.1 Nấm men Saccharomyces cerersiae 10

4.2 Men rượu 11

4.3 Men bia khô 15

4.4 Nấm Torula utilis 15

4.5 Một số vi khuẩn cố định đạm 17

4.6 Vi khuẩn lactic 18

4.7 Tảo Spirulina 19

4.8 Một số hình ảnh về nuôi tảo thu sinh khối 21

5.1 Heo ăn chế phẩm vi sinh 23

5.2 Chế phẩm enzyme Probacw 23

5.3 Chế phẩm vitamin cho gia súc 26

5.4 Chế phẩm Dextran 100 26

5.5 Một số chế phẩm vi sinh vật cho gia súc 27

6.1 Ngô sau khi ủ chua 30

6.2 Ủ nóng thực vật làm thức ăn gia súc 31

Trang 4

MỤC LỤC

hức ăn gia súc đang là một vấn đề nan giải cho ngành chăn nuôi ở nước ta Hiện tượng thiếu dinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn tới sự sinh trưởng và phát triển bình thường của gia súc, làm cho gia súc kém phát triển, còi cọc, sức sản xuất giảm sút Vấn đề bổ sung đạm, vitamin và các muối khoáng trong thức ăn đã trở thành một vấn đề cần đươc quan tâm Những loại thức ăn giàu đạm như khô dầu lạc, xác mắm, thức ăn hạt bộ đậu… giá thành cao, cho nên tìm các loại thức ăn rẻ tiền, dễ chế biến và bảo quản đảm bảo dinh dưỡng cho gia súc là rất cần thiết

T

Một trong những phương hướng hiện nay là dùng vi sinh vật để cải thiện phẩm chất thức ăn, cung cấp thêm các protein, vitamin, enzyme và các chất dinh dưỡng khác bổ sung vào khẩu phần ăn hằng ngày cho gia súc Việc ứng dụng vi sinh vật vào chế biến thức ăn gia súc đã và đang được các nhà khoa học nghiên cứu và phát triển

mạnh mẽ Vì vậy nhóm em đã chọn đề tài “Ứng Dụng Vi Sinh Vật Trong Sản Xuất

Thức Ăn Gia Súc” làm đề tài cho bài tiểu luận của mình.

Trang 5

1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH

Năm 1974, Paker đã đưa ra khái niệm probiotic để chỉ nhưng vi sinh vật và các chất

làm cân bằng hệ vi sinh vật trong đường ruột của người và vật nuôi, kể từ đó đã có rất nhiều phát hiện về vai trò và tác dụng của vi sinh vật như tăng cường sức khoẻ của hệ tiêu hoá thông qua cân bằng hệ vi sinh vật ruột (Fuller, 1989), tăng miễn dịch, phòng chống bênh ung thư đường tiêu hoá (FAO/WHO, 2001),…Ở nước ta hiện nay, việc sản xuất probiotic để phục vụ chăn nuôi còn rất mới mẻ, bắt đầu được quan tâm trong khoảng một thập kỉ gần đây Năm 1999 Lê Thanh Bình và cộng sự đã sản xuất

ra sản phẩm PRO99 gồm 2 chủng vi khuẩn lactic và nuôi thử nghiệm trên gà Broiler cho thấy quần thể vi sinh vật đường ruột trong gà thay đổi theo hướng tích cực, các

vi khuẩn lactic tang, E.coly giảm rõ rệt trên những con gà được ăn sản phẩm PRO99

Kích thước gà 50 ngày tuổi ở nhóm được ăn thức ăn bổ sung PRO99 cao hơn nhóm

gà không được ăn loại thức ăn trền 10,6% tiếp theo đó, Nguyễn Thị Hồng Hà và

cộng sự cũng đã sản xuất được probiotic bằng 2 chủng bifidobacterium bifidum và

lactobacillus acidophilus có khả năng ức chế vi khuẩn salmonella.

2 KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI THỨC ĂN GIA SÚC

2.1 Khái niệm

Thức ăn chăn nuôi là những nguyên liệu có nguồn gốc động vật,

thực vật, vi sinh vật và hoá học mà có chứa các chất dinh

dưỡng ở đang hấp thụ được và không gây hại đến sức khoẻ

vật nuôi và sản phẩm của chúng

Những nguyên liệu có chứa các chất độc hại có thể chế biến

thành thức ăn chăn nuôi sau khi đã khử hoặc làm vô bổ hết

hoàn toàn các chất gây độc hại cho vật nuôi, và các sản phẩm

của chúng

Vi sinh vật là loài sinh vật đơn giản nhất, được ứng dụng nhiều trong sản xuất thức ăn gia súc Các vi sinh vật probiotic phải là nhưng vi sinh vật (VSV) hữu ích, chúng thường là các vi khuần (VK) (thường là các vk lactic, một số

Trang 6

chủng bacillus),nấm men ( chủ yếu là các chủng thuộc loài saccharomyces cerevisiae

3 Phát triển và cạnh tranh được với các vsv có hại trong đường tiêu hoá

4 Có khả năng làm tăng đáp ứng miễn dịch

Chúng được chia làm 3 nhóm chính: vi khuẩn, nấm và vi tảo

2.2 Phân loại

Theo khả năng tổng hợp thì có thể dùng 2 loại VSV sau đây để chế biến thức ăn cho gia súc

 Loại VSV dị dưỡng phát triển trên môi trường có chất hữu cơ (nguồn Cacbon hữu

cơ ) cung cấp sẵn Những VSV này gồm: vi khuẩn, men rượu, mấn mốc có khả năng tổng hợp đường và muối chứa nito vô cơ thành protit và lipit

 Loại VSV tự dưỡng phát triển trên môi trường không cần có sẵn nguồn Cacbon hữu

cơ, axit amin, và các yếu tố sinh trưởng đăc biệt Những VSV này gồm: tảo, rong đơn

bào, và một số vi khuẩn đặc biệt( như Atozobacter, vi khuẩn nitrat hóa sống trong

đất) có khả năng tổng hợp các nguyên tố khoáng, muối vô cơ, CO2 thành hợp chất hữu cơ, axit amin và ozo, dựa vào tác dụng quang hợp hoặc hóa hợp để tự sinh sống

 VSV cung cấp protein và axit amin

Hiện nay người ta đã dùng men rượu (saccharomyces cerevisiae), men bia, men bánh

mì, một số nấm men, nấm mốc có khả năng tổng hợp protit và lipit mạnh (Torula

utilis, Candida utilis,…), và một số loại tảo rong (Chlorella) để sản xuất thức ăn đạm.

Ngoài ra, còn có một số vi khuẩn được dùng đến như vi khuẩn ruột già E coli, vi

khuẩn cỏ khô Bacillus subtilis Aerobader, Aerogenes, Mcrococcus glutamicus.

 VSV cung cấp vitamin

hình 2.1: thức ăn chăn nuôi CN-51

Trang 7

Cung cấp vitamin B2 có Clostridium acetobutylicum, nang khuẩn Eremothecium,

Ashbyii, Ashbya gossypii.

Cung cấp vitamin B12 có Pronionibacterium frendreighii, Bacillus megaterium,

Streplomyces olivaceus, Bacmethanicus.

Cung cấp provitamin A (β – caroten) có Phycomyces plakeslecanus, Choanephora

cucurbilarrum, và các loại rong Chorella vulgaris, C pyrenoidosa.

 VSV sản sinh enzim

VSV sản sinh enzim gồm có: VSV cung cấp amilaza Aspernillus orizae, A.niger

VSV cung cấp proleinaza Bacillus subtilis.

(hygromixin B), S.spheroides và S niveus (novobioxin), S.nourse (nystatin),

S.antibiolicus (oleandomixin), S.ambofacieus (spiramixin), S.fradige (tilozin).

3 CƠ SỞ LÍ LUẬN

Theo kết quả nghiên cứu, cứ 20 -30 phút, vi khuẩn sinh sản ( phân bào ) 1 lần, rong đơn bào ( tảo ) sinh sản mỗi lần thành 4 đến 8 tế bào con, mỗi ngày đêm có thể sinh sản mấy chục lần, men rượu mỗi giờ phân bào một lần VSV còn có khả năng tổng hợp cao: tổng hợp các chất đơn giản trong môi trường thành chất hữu cơ phức tạp Men rượu có thể tổng hợp 80% đạm vô cơ trong môi trường nuôi cấy thành protit trong thời gian ngắn mỗi mét vuông rong tiểu cầu mỗi ngày tổng hợp được 10g protit, tính ra mỗi héc ta một năm thu hoạch được 30 tấn protit, tức là nhiều gấp trăm lần so với lượng protit chứa trong cây lương thực trồng trên một diện tích tương đương

VSV chứa trong tế bào nhiều protit và lipit (10%lipit, 50% protit); ngoài ra, nhiều loài VSV dùng để chế biến thức ăn gia súc( như men rượu, nấm men, rong tiểu cầu, ) còn chứa nhiều axit amin( như lizin, valin, metionin, tryptophan,…) và nhiều vitamin( như A, B1, B2, B12,B6,C, PP) thêm vào đó VSV còn chứa trong tế bào bào

Trang 8

nhiều enzim và nhiều yếu tố quan trọng chưa xác định được, trong đó có một số sản sinh ra kháng sinh tố Ngoài ra, thức ăn VSV có thể cung cấp nhiệt năng rất lớn Nhiệt lượng của 1g bột rong tiểu cầu là 5,7 kcal, trong khi ấy mỗi gam sản phẩm cây lương thực chỉ sản sinh 3 kcal( lúa nếp 3,5 kcal, khoai lang 1,5 kcal).

Về mặt ứng dụng trong nông nghiệp, thức ăn VSV có ý nghĩa lớn, vì nó có tác dụng nâng cao rất nhiều chất lượng của phụ phẩm nông nghiệp (dây lạc, dây lang, thân, lá cây họ đậu, lõi ngô,…)

4 MỘT SỐ LOẠI VI SINH VẬT DÙNG TRONG CHẾ BIẾN THỨC ĂN GIA SÚC

• Có khả năng lên men 13 loại đường, đồng hoá 46 nguồn cacbon

• Sinh sản bằng 3 cách: vô tính ( chủ yếu là nảy chồi ), đơn tính ( bào tử ), và hữu tính

• Có tốc độ sinh trưởng nhanh, khả năng thu sinh khối lớn

• Nguồn dinh dưỡng là các chất phi thực phẩm như dịch thuỷ phân, gỗ, mùn cưa, vỏ bào, và các phụ phẩm ngành công nghiệp, nông nghiệp

• Giá trị dinh dưỡng cao, không gây độc, hàm lượng protein cao từ 40-60%, đặc biệt là acid amin không thay thế được rất cao, đặc biệt là gần giống với protein động vật

• Thành phần vitamin trong nấm men cũng rất cao và hoạt tính của nó cao gấp 2-3 lần vitamin tổng hợp

• Ngoài ra chúng còn chứa nhiều enzyme, kích tố có tác dụng tốt tới quá trình trao đổi chất, không gây độc

3 chủng nấm men chủ yếu được dung trong sản xuất hiện nay là Saccharomyces,

Candida và Torulopsis do khả năng chuyển hoá của 3 chủng này rất cao và đa dạng,

quy trình công nghệ đơn giản

 Sản xuất sinh khối nấm men từ nguồn hidratcacbon thông thường

Hình 4.1: nấm men

Saccharomyces cerersiae

Trang 9

Nguồn nguyên liệu chủ yếu là rỉ đường, tinh bột, xenlulo, dịch kiềm sunfit ( trong

nước thải nhà máy giấy ), bã rượu…

Rỉ đường -> xử lý-> pha loãng-> thanh trùng ->môi trường dinh dưỡng(nấm men –

>nhân giống )-> nuôi thu sinh khối-> ly tâm ->sinh khối-> sấy khô-> thành phẩm

 Sản xuất từ dầu mỏ và khí đốt

Nấm men được sử dụng cho chăn nuôi gia súc, gia cầm dưới dạng bột sinh khối men khô, bổ sung vào khẩu phần thức ăn Chúng bổ sung một lượng lớn protein, góp phần giải quyết thiếu hụt thức ăn đạm trong chăn nuôi

4.1.3.1 Men rượu

Men rượu chứ nhiều protit có giá trị dinh dưỡng cao, nhiều

axit amin cần thiết cho sự sống, một số vitamin nhóm B dễ

biến thành vitamin D ( trong 1kg men rượu có từ 1000 –

5000 đơn vị vitamin D2) và một số nguyên tố khác (như

canxi, phốt pho, kalium)

Người ta đã dùng men rượu và những nguyên tố vi lượng

(như đồng, coban…) để làm tăng sinh trưởng của lợn, mỗi tấn thức ăn được bổ sung 40g men rượu, 10g sunfat đồng, 10g clorua coban, 2g KI, hòa với nước trước khi trộn với thức ăn Nguyên tố vi lượng bổ sung vào men rượu có tác dụng giúp cho sự tổng hợp các loại men trong cơ thể gia súc tiến hành thuận lợi Trong bánh men rượu có

nhiều VSV như nấm men (Saccharomyces cerersiae,Saccharomyces pastorianus), nấm mốc (Amylomyces rouxii, A.rouxianus, Mucor rouxii), và vi khuẩn (Sareina

ventriculi,…) làm nên men gluxit (mono và disaccarit) tạo thành rượu và cacbonic

Trong những năm gần đây việc ứng dụng bánh men rượu để chế biến thức ăn cho gia súc đã được ứng dụng rông rãi từ 1964 đến nay ở nhiều địa phương và cơ sở chăn nuôi (Cao Bằng), Gia Lâm, Đông Anh (Hà Nội), Yên Mỹ,Văn Giang ( Hải Hưng), Kim Anh( Vĩnh Phú), Thuận Thành( Hà Bắc), Đô Lương (Nghệ An)

Men rượu (men thuốc bắc) ủ vào thức ăn như cám gạo theo tỷ lệ 4% so với thức ăn tinh có tác dụng làm biến đổi thành phần hóa học của thức ăn theo chiều hướng tốt,

Hình 4.2: men rượu

Trang 10

kích thích khẩu vị làm cho gia súc ăn hết khẩu phần và nâng cao hàm lượng các chất dinh dưỡng Số lượng tế bào nấm men tăng dần, cao nhất sau khi ủ 24 giờ, lượng tế bào tăng tương đối nhanh (12 triệu đến 860 triệu/g thức ăn), từ 36 đến 48 giờ có chiều hướng giảm dần (818 triệu đến 814 triệu/g thức ăn) Các đạm chuyển hóa rõ rệt (đạm phức tạp thành đạm đơn giản, đạm thực vật thành đạm protein của nấm men, đạm vô cơ thành đạm hữu cơ) Lượng đạm tổng số hầu như không biến đổi Từ 0 đến

48 giờ, mức 20mg xê dịch không đáng kể (thấp nhất là 20,03mg, cao nhất là 20,72mg/1g vật chất khô) Từ 0 giờ đến 18 giờ, đạm protein lúc đầu giảm, trái lại lượng phi protein tăng Từ 24 giờ đến 48 giờ, có sự thay đổi trái lại Hàm lượng rượu không nhiều (từ 16,3 đến 20,4mg/1g vật chất khô), và tăng dần theo chiều hướng tăng dần của tế bào nấm men, rượu gây mùi vị thơm ngon

Thực tế cho thấy lợn( từ 60 đến 120 ngày tuổi) ăn men rượu để sinh trưởng tốt, dịch

ở dạ dày tiết ra nhiều hơn so với lợn không ăn men

Lượng axit chung( gồm HCL và axit lactic) trong dịch vị dạ dày ở con lợn ăn men rượu cao hơn con lợn không ăn men Hoạt lực men pepxin của dạ dày ở con lợn ăn men rượu cao hơn con lợn không ăn men, ảnh hưởng tốt đến sự tiêu hóa thức ăn

Tỷ lệ tiêu hóa của thức ăn ủ men rượu có chiều hướng cao hơn thức ăn không có men rượu, nhất là đối với protit và gluxit trong thức ăn, do hoạt lực của men pepxin được tăng cường, ảnh hưởng tốt đến sự phân giải protit và hấp thụ thức ăn Riêng tỷ lệ tiêu hóa chất mỡ và chất xơ thì chênh lệch không đáng kể

Lợn từ 60 đến 180 ngày tuổi được ăn bằng thức ăn ủ men rượu tăng trọng nhiều hơn lợn không ăn men rượu (trên 20%), lông mượt, da mịn có màu phớt hồng, thịt chắc

Số lượng hồng cầu, bạch cầu, huyết cầu tố giữa 2 lô chênh lệch rõ rệt Thức ăn tiêu tốn để tăng 1kg thịt hơi ở lô ăn men rượu ít hơn lô không ăn men rượu, mức độ cảm nhiễm giun sán ở lô có ăn men rượu ít hơn hẳn lô không ăn men rượu

Bánh men rượu thuốc bắc ở các địa phương miền bắc được chế từ mội trường hỗn hợp rất phức tạp gồm có bột gạo và nhiều vị thuốc bắc (từ 3 đến 23 vị) Trong đó có rất nhiều chủng nấm men, nấm mốc và các VSV khác Để đáp ứng nhu cầu sản xuất

ở các địa phương cần đơn giản hóa môi trường nhân giống men rượu có thể rút bớt một số vị thuốc bắc chỉ lấy một số vị và lấy một vị làm đơn vị tính theo từng công thức mà không ảnh hưởng đến chất lượng của men rượu

Trang 11

Có thể sản xuất bánh men rượu bằng lá vải thiều, lá nhãn, bồ kết…

Để sản xuất men rượu với quy mô lớn hơn, phải có một môi trường nuôi cấy và nhân giống đơn giản hơn với những vật liệu dễ kiếm, bằng cách phân lập và giám định các chủng nấm men trong bánh men rượu lấy từ các địa phương và chọn những chủng có hoạt tính tốt, phát triển nhanh, có giá trị dinh dưỡng cao toàn diện, có khả năng đồng hóa mạnh các chất đường bột và khoáng

Một số nấm men có hoạt lực cao là: chủng TX 256, QT 256, V.G.L024

Chủng TX 256 phát triển những khuẩn lạc tròn, đường kinh 1- 2mm màu trắng đục, mặt lồi lên, nhẫn, ướt, có mùi thơm, tế bào hình trứng trên 6µm, sinh chồi, Gam dương

Chủng QT 256 phát triển khuẩn lạc tròn, đường kính 3mm, hình thái tương tự khuẩn lạc TX 256, mùi rượu, hơi chua, tế bào hình trứng trên 6mm, sinh chồi, Gam dương.Chủng V.G.L 024 có khuẩn lạc tròn, đường kính 3-5mm, màu trắng, ruột rỗng, khuẩn lạc hình gân cưa Bào tử hình trứng trên 4 micron, sinh sản theo lối khuẩn ty giả, bắt màu không đều, gram dương

Cả 3 chủng này đều phát triển dễ dàng trên môi trường cám hấp và kết hợp nuôi cấy

cả 3 chủng trên một môi trường thức ăn gia súc (cám hấp) thì chúng sẽ phát triển mạnh hơn là khi nuôi cấy từng chủng một, và lượng tế bào sẽ tăng gấp 10 lần so với bánh men thuốc bắc Sau khi ủ được 24 giờ, số lượng tế bào đạt tới 1.340 triệu và sau khi nuôi cấy từ 3 - 5 ngày (trong môi trường cám hấp ở nhiệt độ thích hợp 30 – 320C)

số lượng tế bào tăng gấp 200 lần so với số lượng cấy ban đầu

Kết quả:

+ Lượng đạm protein có xu hướng giảm dần

+ Lượng đạm amin có xu hướng tăng dần

+ Lượng tế bào tăng cao nhất sau 24 giờ, sau đó giảm dần

+ Axit su khi ủ 24 giờ mới hình thành

+ Nhiệt độ tăng lên khoảng 34 – 350C, rồi giảm xuống 33 – 340C và duy trì ở mức này

Một số chủng nấm men khác như:

Trang 12

+ Chủng TH 27 thuộc giống Trichosporon có khả năng phát triển nhanh trên môi

trường tinh bột, đồng thời cũng phát triển trên môi trường đường, không có khả năng lên men rượu mạnh

+ Chủng TH 265 thuộc giống Saccharomyces có khả năng phát triển rất nhanh

(không kém Torula) trên môi trường tinh bột, môi trường đường và có khả năng lên men rượu khá mạnh tạo mùi vị thơm mát của rượu nếp

Trên môi trường cám sau 48 giờ số lượng tế bào của mỗi chủng đạt hàng chục triệu

tế bào trong 1 ml, nếu cấy chung 2 chủng thì tổng số tế bào trong đơn vị thể tích vượt quá số lượng tế bào so với cấy riêng lẻ từng giống cộng lại, mà lại tận dụng những đặc tính tốt của 2 chủng TH 27 và TH 265 trên môi trường cám, nếu có bổ sung một lượng sunfat đạm và supe lân thì tốc độ phát triển càng mạnh và không cần nấu chín thức ăn khi ủ men

4.1.3.2. Men bia

Men bia, Saccharomyces cerevisiac, là một loại vi sinh vật có

khả năng tổng hợp protic, vitamin và kích thích tố, lại có khả

năng sinh trương nhanh , nuôi cấy dễ dàng nên nó đã được làm

thức ăn cho gia súc rất tốt thành phần hóa học của men bia gồm

Trang 13

Có thể chế biến men bia bằng bột khoai lang, cám, nước vo gạo đặc và một số chất dưới thể canh trùng dịch hoặc đóng bánh và cấy men vào các loại thúc ăn gia súc (như bột ngô, lõi ngô, khoai lang củ, khoai lang nước )

4.1.3.3. Nấm men Torula utilis

Loại nấm men thuộc lớp nang khuẩn Ascomyceles giống như men bia, nhưng khác họ, trong tế bào nhiều protic và vitamin, nên trong nhưng năm gần đây dùng để chế biến

thức ăn trong gia súc.Torula utilis phát triển tốt trong môi trường có đường làm nguồn cacbon trong dung dịch các loại đường Men này sinh sản rất nhanh, nên chỉ cần một thời gian ngắn là có thể tích luỹ một lượng protic rất lớn

Người ta đã dùng các loại phế phẩm trong công nghiệp chế tạo đường (như bã mía,

rỉ đường ), các chất bột các loại củ, và các sản phẩm phụ công nghiệp có nhiều sợi

xơ (như rơm rạ, bã giấy ), để làm nguyên liệu đường hóa cung cấp chất đường nuôi

torula utilis Để thủy phân chất xơ (xenlulose) người ta dùng cao áp và axitsunfuarit

biến chất sợi xơ thành đường cấp năm (pento), cấp sáu (hexo), rồi đem lọc và trung

hòa dùng để nuôi cấy Torula utilis, môi trường nuôi cấy gồm những dung dịch đường

thủy phân sunfat đạm và supe lân.Khi nuôi cấy nên giữ nhiệt độ 28-30, cung cấp đủ ôxy,quấy trộn đều thì chỉ trong vòng 10-24giờ quá trình lên men sẽ hoàn thành, hình thành một chất đặc như keo (1ml men có 1 tỷ vi sinh vật) Trong thực tiễn sản xuất

có các loại phế phẩm như bã mía, thân cây ngô, bí ngô, bột khoai, dong riềng để

đường hóa thành nguyên liệu cấy Torula utilis trong chum, vại Sau khi cấy khoảng

10 giờ có thể cho gia súc ăn trực tiếp hoặc đem cấy vào thức ăn cho lợn đã nấu chín (cám, bột ngô, khoai lang…) rồi ủ cho lên men ở nhiêt độ 26 đến 28°C trong khoảng

4 - 5 ngày trước khi cho ăn

4.2 Vi khuẩn

 Là một nhóm sinh vậtđơn bào, có kích thước nhỏ (kích thước hiển vi) và có cấu trúc tế bào đơn giản không có nhân, bộ khung tế bào và các bào quan như ty thể và lục lạp

Hình 4.4: nấm Torula

utilis

Trang 14

 Là nhóm hiện diện đông đảo nhất trong sinh giới Chúng hiện diện khắp nơi trong đất, nước và ở dạng cộng sinh với các sinh vật khác.

 Vi khuẩn có nhiều hình dạng khác nhau Đa số có hình que, hình cầu, hay hình xoắn; những vi khuẩn có hình dạng như vậy được gọi theo thứ tự là trực khuẩn (bacillus), cầu khuẩn (coccus), và xoắn khuẩn (spirillum) Một nhóm khác nữa

là phẩy khuẩn (vibrio) có hình dấu phẩy.

 Sinh trưởng và phát triển mạnh, khản năng cho sinh khối lớn trong thời gian ngắn

 Thành phần giá trị dinh dưỡng cao: hàm lượng protein trong tế bào vi khuẩn chiếm 60-70%, có loại lên đến 87%, hàm lượng acid amin cân đối hơn trong nấm men

 Có thể sản xuất sinh khối từ xenlulozo ( rơm rạ, bã mía, mùn cưa, dăm bào ….)

 Có khả năng sống cộng sinh với nhau (cellulomonas và alcaligenes ) giúp phát triển nhanh hơn, năng suất cao

Các nhà khoa học Mỹ đã phân lập từ bã mía 1 loại vi khuẩn phân giải chất xơ mạnh

đã sử dụng để sản xuất protein từ bã mía, lõi ngô, rơm rạ mà không cần qua khâu thuỷ phân bằng H2SO4, hiệu suất chuyển hoá cao từ 113 – 136 kg bã mía cho 18 – 23kg protein

4.2.2.1. Vi khuẩn cố định đạm Azôtbacter

Vi khuẩn cố định đạm đã được dùng trong chăn nuôi vì có chứa nhiều protit, axit amin và vitamin Tế bào Vi khuẩn cố định đạm Azôtbacter

có chứa 17 dạng axit amin khác nhau Những axit amin này là đơn vị cấu

tạo thành abumin của cơ thể Azôtbacter cố định đạm không khí và biến

đạm đó thành protit Azôtbacter thường chứa vitamin nhóm B như B12, B2, B6 Vitamin B12 có tác dụng kích thích chức năng tạo máu của cơ thể, đặc biệt là tăng số lượng hồng huyết hàm lượng huyết cầu và sắc tố trong máu, mặc khác còn có tác dụng phòng và chống bệnh thiếu máu của gia súc Vitamin nhóm B (B2, B6, B12) có vai quan trọng trong trao đổi abumin và nâng cao tổng hợp abumin, ảnh hưởng tới trao đổi hydrat cacbon, xúc tiến quá trình sinh trưởng của gia súc non

Vi khuẩn cố định đạm đã được ứng dụng để nuôi lợn còn đang bú và sau cai sữa, lợn

vỗ béo, gà đẻ trứng và gà con bằng cách cho thêm vào khẩu phần thức ăn chế phẩm

cố định đạm Azôtbacter (đối với lợn từ 10 - 15 ml/một đàn lợn/1 ngày, 500ml/1 đàn

lợn/tháng, đối với gà cho 2-2.5ml/con/ngày trong một tháng liền) Kết quả cho thấy

Hình 4.5: Một số vi khuẩn cố định đạm

Trang 15

lợn ăn vi khuẩn cố định đạm đã tăng trọng vượt đối chứng 0.9-2.3 kg trong một tháng (tăng trọng 12%, giảm mức chi phí thức ăn cho một đơn vị tăng trọng là 14.3%, hạ giá thành thức ăn là 11%, lợn ăn ngon miệng, tỉ lệ cảm nhiễm bệnh kí sinh trùng và bệnh truyền nhiễm giảm đi nhiều Còn gà mái thí đẻ tăng 3 trứng trong một tháng, gà con sức tăng trưởng mạnh, tỉ lệ chết giảm đi nhiều Người ta đã dùng 3 loại

Azotobacter phân lập từ đất , có khả năng cố định đạm cao là: Azotobacter chroococcum, A.agile và A.vinelandii, và một giống Azotobacter phân lập từ ruột lợn

là Azotobacter suis để chế Azotobacterin Ngoài ra Azotobacterin cấy vào thức ăn

cho lợn để nâng cao hàm lượng chất đạm thô; nếu để ủ 4 ngày thì hàm lượng protein tăng đến 6%, 5 ngày thì tăng 17.7% Người ta còn chế hỗn hợp vi khuẩn cố định đạm

với các loại men (như Torula utilis), đem nuôi cấy trong môi trường có cám ở nhiệt

độ 30-370C trong 5 ngày, rồi cho thêm cám, đóng thành viên men, làm khô ở nhiệt độ 30-37-370C Men này có thể cùng sinh sống thuận lợi với vi khuẩn cố định đạm, đến ngày thứ 5 sau khi lên men, thức ăn có mùi thơm, nếu chua quá thì có thể cho thêm ít cám hoặc hô dầu vào rồi đem nuôi lợn con mới cai sữa bằng cách trộn vào thức ăn (mỗi ngày lợn có thể tăng trọng từ 100 đến 200g)

4.2.2.2. Vi khuẩn Bacillus subtilis

Trực khuẩn cỏ khô (subtilin) là một loại vi sinh vật chứa nhiều đạm, vitamin và chất

kháng sinh, có thể kiềm chế được nhiều loại vi khuẩn như vi khuẩn đường ruột

E.coli, tụ cầu khuẩn, vi khuẩn uốn ván, bạch hầu, lao, và một số virut như virut

cúm…

Ngoài ra nó còn chứa một số enzim như enzim chất đạm, chất mỡ, chất bột, chất xơ

Khi sử dụng Baccillus subtilis người ta cấy thanh trùng hoặc bánh khô vào cám nấu

chín (1 bánh khô nhỏ trộn với 10kg cám), một ngày quấy trộn 2 lần trong 4-5 ngày, sau cùng đem trộn với rau cho lợn ăn.Cho lợn 2-4 tháng tuổi và lợn còi cọc ăn, kết quả cho thấy lợn sinh trưởng tốt, lông mượt, không bị tiêu chảy, tăng trọng nhanh

4.2.2.3. Vi khuẩn lactic, Axidofilin

Canh trùng vi khuẩn lactic gọi là Axidofilin có ảnh hưởng tốt đến sự phát triển của gia súc non, vì Axisofilin co chứa nhiều đạm, đường, mỡ, vitamin và muối khoáng Ngoài ra Axidpfilin còn có tác dụng sát trùng đối với một số vi khuẩn đường ruột như E.coli, trực khuẩn phó thương hàn,… Tác dụng sát trùng này là do sự có mặt của

Trang 16

axit lactic và những chất có tác dụng kháng sinh chữa lợn

 Có chứa chất diệp lục nên có khả năng quang hợp như thực vật

Tảo có giá trị dinh dưỡng cao: hàm lượng protein từ 40 – 50% ( tảo chlorella), 70% ( tảo Spirulina) Hàm lượng acid amin không thay thế chiếm tới 40%, đặc biệt lizin

cao hơn nhiều so với lúa mạch Giá trị vitamin trong tảo cũng rất lớn, hàm lượng vitamin A, B, K và nhiều yếu tố sinh trưởng khác cao hơn nhiều so với các loại thực phẩm khác

4.3.2. Tảo Spirulina

Năm 1967, công ti Sosa Texcoco ( Pháp ) đã đưa Spiriline vào sản xuất theo quy mô

công nghiệp đầu tiên trên thế giới Ở nước ta tảo Spirulina đã được nuôi với quy mô

khá lớn ở Bình Thuận và Bắc Giang

Tảo Spirulina là một loại vi tảo có dạng xoắn hình lò xo, màu xanh lam với kích

thước chỉ khoảng 0,25mm, sống trong môi trường giàu cacbonat, và kiềm (pH từ 8.5 – 9,5 ) Chúng có những đặc tính ưu việt và giá trị dinh dưỡng cao

Hình 4.7: Tảo Spirulina

Ngày đăng: 03/08/2013, 11:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG PHÂN CHIA CÔNG VIỆC - ứng dụng vi sinh vật trong sản xuất thức ăn gia súc
BẢNG PHÂN CHIA CÔNG VIỆC (Trang 2)
Hình 4.8: Một số hình ảnh về nuôi vi tảo thu sinh khối - ứng dụng vi sinh vật trong sản xuất thức ăn gia súc
Hình 4.8 Một số hình ảnh về nuôi vi tảo thu sinh khối (Trang 18)
Hình 5.3: chế phẩm vitamin - ứng dụng vi sinh vật trong sản xuất thức ăn gia súc
Hình 5.3 chế phẩm vitamin (Trang 22)
Hình 5.5: Một số chế phẩm vi sinh cho gia súc - ứng dụng vi sinh vật trong sản xuất thức ăn gia súc
Hình 5.5 Một số chế phẩm vi sinh cho gia súc (Trang 24)
Hình 6.1: Ngô sau  khi ủ chua - ứng dụng vi sinh vật trong sản xuất thức ăn gia súc
Hình 6.1 Ngô sau khi ủ chua (Trang 27)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w