1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

phương pháp cấy chỉ trong đông y

8 428 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 21,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

giải thích huyệt đạo và phương pháp châm cứu cấy chỉ trong đông y

Trang 1

HUYỆT - CHÂM CỨU DÙNG PHƯƠNG PHÁP CẤY CHỈ TRONG ĐÔNG Y Châm cứu là một di sản quý báu của y học cổ truyền.hiện nay đội ngũ y tế vận dụng kết hợp y học hiện đại và y học cổ truyền trong phòng và chữa bệnh

Để biết châm cứu thì phải biết huyệt

Huyệt là nơi hội tụ,ra vào khí huyết

Vị trí:nằm ở trên ,trong da

Có rất nhiều phương pháp tác động lên huyệt

Điện châm.bấm huyệt,cứu ngải,ngâm chân,cấy chỉ

Vậy cấy chỉ là gì?sự ra đời cấy chỉ?những ứng dụng của cấy chỉ?các nước trên thê giới áp dụng cấy chỉ?

Ưu nhược điểm của cấy chỉ

Huyệt là nơi hội tụ,ra vào khí huyết

Vị trí:nằm ở trên ,trong da

Cấy chỉ là phương pháp đưa chỉ tự tiêu vào huyệt của hệ kinh lạc để duy trì sự kích thích lâu dài qua đó tạo tác dụng điều trị như châm cứu

Là phương pháp đặc biệt vì kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại

Cấy chỉ xuất phát từ trung quốc ra đời từ 1960

Việt nam cấy chỉ áp dụng năm 1971

Chỉ có thành phần là gì

Chỉ thành phần là protein

Trang 2

Có nhiều nước trên thế giới áp dụng hungary,pháp,nhật,ý ,phần lan ,nga

Ưu điểm: chi phí thấp

Chỉ cagut cấy vào huyệt sẽ tự tiêu trong vòng 15-20 ngày như vậy mỗi lần cấy chỉ tương đương 15-20 lần châm cứu thông thường, thời gian cho mỗi lần cấy chỉ khoảng 10-20 phút Điều này giúp tiết kiệm thời gian, chi phí cho cả bệnh nhân và thầy thuốc Bên cạnh đó, cái hay của phương pháp này còn nằm ở chỗ có thể chữa nhiều mặt bệnh mãn tính cùng lúc trong 1 lần điều trị.Tôi lấy ví dụ, một bệnh nhân vừa bị đau xương khớp vừa bị bệnh viêm xoang, cấy chỉ sẽ mang lại tác dụng chữa bệnh đồng thời cho cả hai bệnh này.Ngay cả một số bệnh mãn tính không đáp ứng với y học hiện đại và châm cứu thông thường lại hiệu quả không ngờ khi cấy chỉ Nhược điểm:đau

Thực hiện trong phòng vô khuẩn

Cơ chế tác dụng cấy chỉ:

Cấy chỉ có cơ chế tác dụng như châm cứu

a) Phản ứng tại chỗ:

Chôn chỉ vào huyệt là một kích thích gây một cung phản xạ mới có tác dụng ức chế và phá vỡ cung phản xạ bệnh lý: như làm giảm cơn đau, giải phóng sự co cơ, vv…

Những phản xạ đột trục của hệ thần kinh thực vật làm ảnh hưởng đến sự vận mạch, nhiệt, sự tập trung bạch cầu, vv… làm thay đổi tính chất của tổn thương, giảm xung huyết, bớt nóng, giảm đau

Theo nhiều tài liệu sau khi cấy chỉ sự đồng hóa của cơ tăng cao,sự dị hóa giảm đi kèm tăng cao protein và hydratcarbon ở cơ,giảm acid lactic,cũng như giảm sự phân giải acid ở đó

Trang 3

Sau khi cấy chỉ thấy lưới mao mạch tăng,huyết quản tân sinh,lượng máu lưu thông tăng nhiều qua đó cải thiện tuần hoàn vùng cấy chỉ

Cấy chỉ có tác dụng làm khít chặt lại,bên trong lớp cơ còn có thế phát sinh sợi cơ mới

b) Phản ứng tiết đoạn

Khi nội tạng có tổn thương bệnh lý thì có những thay đổi cảm giác vùng da ở cùng một tiết đoạn với nó, ngược lại những kích thích từ vùng da của một tiết đoạn nào

đó sẽ có ảnh hưởng đến nội tạng cùng trên tiết đoạn đó (xem sơ đồ Zakhazin - Head)

Việc sử dụng các huyệt ở một vùng da để chữa bệnh của các nội tạng cùng tiết đoạn với vùng này sẽ gây ra một phản ứng tiết đoạn, gây ra các luồng xung động thần kinh hướng tâm Những luồng này sẽ truyền nhịp vào sừng sau tủy sống rổi chuyển qua sừng trước từ đó bắt đầu cung phản xạ ly tâm, một là theo các sợi vận động trở về bộ phận cơ của tiết đoạn được châm, hai là theo các sợi thực vật đến mạch máu và đến các cơ quan, nội tạng tương ứng, làm điều hoà mọi cơ năng sinh

lý như phân tiết dinh dưỡng…

Việc sử dụng phản ứng tiết đoạn có nhiều ý nghĩa thực tiễn lớn vì nó có thể giúp cho người thầy thuốc châm cứu chọn những vùng và huyệt ở một tiết đoạn thần kinh tương ứng với một cơ quan, nội tạng bị bệnh Việc thành lập công thức châm cứu điều trị một số bệnh thuộc từng vùng được tiện lợi và dễ ứng dụng hơn Mặt khác theo quan niệm của phản ứng tiết đoạn giúp người học và ứng dụng châm cứu hiểu và giải thích được phương pháp dùng các du huyệt (ở lưng), mô huyệt (ở ngực, bụng) và các huyệt ở xa (tay, chân) để châm cứu làm giảm đau một số bệnh thuộc nội tạng có cùng tiết đoạn thần kinh chi phối, đặc biệt là dùng các huyệt sát cột sống (Hoa Đà giáp tích) và các bối du huyệt trong châm gây tê để phẫu thuật

c) Phản ứng toàn thân

Trang 4

Qua thực tế lâm sàng chữa bệnh bằng châm cứu người xưa đã đúc kết ra được rất nhiều cách dùng huyệt Một huyệt có thể dùng để chữa nhiều bệnh, một bệnh cũng

có thể dùng nhiều công thức huyệt khác nhau và cũng là một loại bệnh trên cùng một bệnh nhân,nhưng tùy theo thời gian bị bệnh (mùa xuân, hạm thu và đông) và thời gian đến điều trị (sáng, trưa, chiều, tối) mà thầy thuốc châm cứu dùng các huyệt khác nhau (xem thêm tỳ ngọ lưu chú - thời châm cứu học)

Việc sử dụng các huyệt theo các cách dùng huyệt kể trên nhiều khi không nằm tại chỗ cơ quan bị bệnh và cũng có khi không nằm trên các tiết đoạn có liên quan với nơi bị bệnh Các nhà nghiên cứu châm cứu hiện đại cho rằng tác dụng điều trị của châm cứu trong các trường hợp kể trên là thông qua tác dụng gây ra phản ứng toàn thân

Thực chất, bất kỳ một kích thích nào đối với cơ thể cũng đều có liên quan tới hoạt động của vỏ não, nghĩa là có tính chất toàn thân Như vậy, sự phân chia ra phản ứng cục bộ tại chỗ, phản ứng tiết đoạn chỉ có giá trị về sự liên quan cục bộ từng phần cơ thể thông qua hoạt động của tủy

Khi nói tới phản ứng toàn thân, chúng ta cần nhắc lại nguyên lý về hiện tượng chiếm ưu thế vỏ não của Utomski, về cơ năng linh hoạt của hệ thần kinh của Wedensky, về các kích tố (hormon), và các chất trung gian hoá học thần kinh (hisamin, axetylcholin, mocphin-like…)

Điểm quan trọng của phản ứng toàn thân là tác dụng đối với hệ thần kinh trung ương và thông qua hệ này và hệ thần kinh thực vật mà ảnh hưởng đến các cơ quan nội tạng và mọi tổ chức của cơ thể

Sau khi châm, từng luồng xung động thần kinh không ngừng được diễn truyền vào tủy sống (Dẫn truyền xung động thần kinh là do các chất axetylcho line…) từ đó dẫn truyền qua bó tủy lên hành não và lên não

Trang 5

Vogralic, Kassin (và nhiều tác giả) nghiên cứu điện não đồ trong khi châm cứu thì thấy điện thế có những biến đổi lan toả, toàn diện và đối xứng toàn thân thường thấy làn sóng delta và têla chậm hơn, có nhiều ca làn sóng không đều nhịp…

Tình trạng tinh thần luôn luôn căng thẳng gây ra các rối loạn tinh thần làm cho quá trình hưng phấn và ức chế của hoạt động thần kinh cao cấp bị rối loạn Châm cứu

có tác dụng điều chỉnh các trạng thái rối loạn đó vì sau một đợt điều trị triệu chứng lâm sàng tốt hơn và điện não đồ biến đổi

Một điểm quan trọng nữa của phản ứng toàn thân là các biến đổi về thể dịch và nội tiết Thường thường trong khi châm và sau một đợt điều trị bằng châm cứu, các thể dịch như sympatine, adrenaline, histamine, axetycholin, mocphine-like (đặc biệt là bEndorphine) cũng có những biến đổi, ảnh hưởng đến các hệ tuần hoàn, hô hấp, tiêu hoá, bài tiết, và sự chuyển hoá các chất

Nhiều tác giả nghiên cứu hoạt động của tuyến yên và thượng thận sau châm thấy rõ tuyến yên tạo ra một kích tố (hormonotrope) làm tăng hoạt động của một số tuyến nội tiết như: tuyến thượng thận, tuyến giáp trạng, tuyến sinh dục… Người ta đã chứng minh được rằng: châm làm cho bạch cầu ái toan giảm 70-80% các trường hợp, châm làm lớp vỏ thượng thận bài tiết ra kích tố corlicosteroid cũng tương tự như tiêm vào cơ thể 20 đơn vị ACTH để kích thích tuyến thượng thận bài tiết chất này Châm các huyệt Đại chuỳ (XIII 14) và Thuy đột (V 10) và cứu giữa các đốt sống lưng có thể làm cho tuyến giáp trạng tạm thời ngừng hút iốt…

* Theo học thuyết thần kinh – nội tiết – thể dịch:

-Châm cứu là một kích thích gây ra một cung phản xạ mới có tác dụng ức chế và phá vỡ cung phản xạ bệnh lý, làm giảm cơn đau, giải phóng sự co cơ Tại nơi châm có những biến đổi, tổ chức tại nơi châm bị tổn thương sẽ tiết Histamin, axetylcholin, cathecholamin nhiệt độ ở da thay đổi, bạch cầu tập trung, phù nề tại chỗ, các phản xạ đột trục làm co giãn mạch máu

Trang 6

-Phản ứng tiết đoạn: thần kinh tủy sống có 31 đôi dây, mỗi đôi dây chia ra làm hai ngành trước và sau chi phối vận động và cảm giác một vùng cơ thể gọi là một tiết đoạn Sự cấu tạo thần kinh này gọi là sự cấu tạo tiết đoạn Khi nội tạng có bệnh, người ta thấy có sự tăng cường cảm giác vùng da cùng tiết với nó như cảm giác đau, thay đổi điện sinh vật Trên cơ sở này Zankharin ( Liên Xô ) và Head (Anh ) đã thiết lập được một giản đồ liên quan giữa vùng da và nội tạng, nếu nội tạng bị tổn thương dùng châm cứu tác động vào vùng da trên cùng một tiết đoạn với nội tạng đó sẽ chữa được bệnh lý ở nội tạng đó

- Nguyên lý về cơ năng sinh lý linh hoạt của hệ thần kinh của Windekski: theo nguyên lý này trong trường hợp thần kinh ở trạng thái yên tĩnh, một kích thích nhẹ thường hay gây ra một phản ứng hưng phấn nhẹ, kích thích mạnh hay gây ra một phản ứng hưng phấn mạnh, nhưng nếu thần kinh ở trạng thái bị hưng phấn do bệnh kích thích mạnh chẳng những không gây ra mạnh mà trái lại nó làm cho hoạt động thần kinh chuyển sang quá trình ức chế nên bớt đau

-Lý thuyết về đau của Melzak và Wall: trong trạng thái bình thường các cảm thụ bản thể đi vào sừng sau các tủy sống, ở các lớp thứ ba, thứ tư ( gồm các tế bào của các chất keo và các tế bào chuyển tiếp ) làm cảm giác đau ( hoặc không đau ) được dẫn truyền Tế bào như cánh cửa kiểm soát, quyết định cho cảm giác nào đi qua Ở trạng thái bình thường luôn có những xung động, những xung đông này phát huy ức chế, qua tế bào chuyển tiếp và đi lên với kích thích vừa phải Xung động được tăng cường đến làm hưng phấn tế bào chất tạo keo làm khử cực dẫn truyền và đi lên Trên cơ sở lý thuyết của Melzak và Wall, năm 1971 Shealy chế tạo được một máy luôn kích thích cột sau tủy sống để làm giảm đau trong các bệnh ung thư

-Vai trò thể dịch, nội tiết và các chất trung gian thần kinh: từ năm 1973 nhiều thực nghiệm chứng minh được trong châm cứu và đỉnh cao của nó là châm tê Ngoài vai trò của thần kinh ra còn có vai trò của thể dịch tham gia trong quá trình giảm đau Trong châm cứu chữa bệnh và nâng cao ngưỡng chịu đau trong châm tê phẫu thuật Thường trong khi châm và sau khi đợt điều trị bằng châm cứu các thể dịch như Sympatine, Adrenaline, Histamin, Acetylcholine, Mocphine-line cũng có những biến đổi đến sự tuần hoàn, hô hấp, tiêu hóa, bài tiết và sự chuyển hóa các chất Nhiều tác giả như Utomski, Vogralie, Kassin đã nghiên cứu hoạt động của hệ tuyến yên và tuyến thượng thận Sau châm cứu thấy rõ tuyến yên tạo ra một kích

Trang 7

thích tố ( Hocmonotrope ) làm tăng hoạt động của một số tuyến nội tiết như tuyến thượng thận bài tiết ra kích thích tố Corticosteroit, người ta cũng chứng minh làm bạch cầu ái toan giảm 70%-80% các trường hợp

-Công trình nghiên cứu châm giảm đau, châm tê phẫu thuật của giáo sư Nguyễn Tài Thu cũng cho thấy khi châm tê lượng beta- Endorphin trong máu tăng cao đến 208% so với ban đầu, Acetylcholine và Cathecholamin trong máu cũng tăng cao lên 273% so với mức xuất phát

Chống chỉ định:cơn tăng huyết áp ác tính

Sốt cao

Sản phụ 3 tháng cuối

Dị ứng với chỉ catgut

Chỉ định;

Đau do zona thần kinh

Hen phế quản,viêm mũi dị ứng

Liệt nửa người giai đoạn mãn,bán cấp

Liệt VII

Giảm mỡ bụng

* Dụng cụ:

- Chỉ catgut Plain (catgut norman) số 2 hoặc số 3 thích hợp với loại kim tương ứng

- Kim có thông nòng

- Găng tay vô trùng

- Toan có lỗ, khay, bông, gạc vô trùng

* Tiến hành

- Chuẩn bị bệnh nhân có chỉ định chôn chỉ sau khi đã loại trừ những nhóm không được chôn chỉ

- Chọn huyệt theo phác đồ điều trị từng bệnh

Trang 8

- Vô trùng dụng cụ,

- Cắt ngắn chỉ catgut tùy theo vị trí nông sâu của huyệt và cho vào kim thông nòng

- Sát khuẩn nhanh vùng huyệt cần chôn chỉ

- Châm kim thông nòng có chỉ vào huyệt vị, hướng và vị trí tùy theo mức độ bổ tả

- Bấm cần đẩy chỉ để đưa chỉ vào huyệt

- Sát khuẩn lại và theo dõi bệnh nhân khoảng 15p để đề phòng các biến chứng

Ngày đăng: 28/06/2016, 13:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w