nghiên cứu điều trị bệnh đau thắt lưng trong đông y bằng phương pháp cấy chỉ. nghiên cứu chi tiết trên nhiều bệnh nhân
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Đau vùng thắt lưng là một bệnh khá phổ biến và thường gặp Tỷ lệ thay đổi tùy theo từng nước, song nói chung, có tới 70-85% dân số bị ít nhất một lần đau vùng thắt lưng trong đời Tại khoa y học cổ truyền bệnh viện Bãi Cháy trong nhiều năm qua chúng tôi đã thực hiện các phương pháp điện châm , thủy châm, bấm huyệt để điều trị cho nhiều bệnh nhân có bệnh đau thắt lưng do thoái hóa cột sống và đạt được những kết quả điều trị nhất định Chúng tôi thấy phương pháp cấy chỉ vào huyệt đã đem lại hiệu quả giảm đau nhanh
và hồi phục sức khỏe cho bệnh nhân khá tốt Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài áp dụng phương pháp cấy chỉ catgut chromic vào huyệt để điều trị bệnh đau thắt lưng do thoái hóa cột sống với mục tiêu : đánh giá kết quả của phương pháp điều trị và để triển khai áp dụng thêm kỹ thuật mới trong công tác điều trị tại khoa
I.TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Định nghĩa:
Đau vùng thắt lưng là thuật ngữ để chỉ các triệu chứng đau khu trú tại vùng giữa khoảng xương sườn 12 và nếp lằn liên mông, một hoặc hai bên
2 Đặc điểm giải phẫu:
Đọan thắt lưng gồm 5 đốt sống, 4 đĩa đệm và 2 đĩa đệm chuyển đoạn đây là nơi chịu 80% trọng lượng của cơ thể và có tầm hoạt động theo mọi hướng Thần kinh chi phối bao gồm: đám rối thắt lưng được tạo bởi 4 ngành trước của 4 dây sống thắt lưng L1, L2, L3, L4, đám rối cùng được tạo bởi dây thần kinh thắt lưng cùng và ngành trước của các dây cùng S1, S2, S3, S4, dây thần kinh hông to được tạo nên bởi đám rối cùng gồm thân dây thắt lưng cùng (L4, L5) và 3 dây cùng(S1, S2, S3), các dây này đều liên quan đến cấu trúc vùng cột sống thắt lưng cũng như thân đốt sống, đĩa đệm, hình thái ống sống, các khớp đốt sống, dây chằng các cơ cạnh sống , mặt khác còn liên quan đến tư thế vận động của cột sống như ưỡn, cúi và nghiêng quá mức
3 Cơ chế đau ở vùng thắt lưng:
Trang 2- Cơ chế đau chủ yếu ở đây là sự kích thích các nhánh thần kinh cảm giác có nhiều
ở mặt sau thân đốt sống và đĩa đệm ( mặt trước của tủy và đuôi ngựa ), trên dây chằng dọc sau của thân đốt sống, những tổn thương của thân đốt sống ( viêm, u, chấn thương ) và của đĩa đệm ( viêm, thoát vị ) khi chèn ép vào vùng này đều gây đau
- Từ trong ống tủy các rễ thần kinh đi ra ngoài qua các lỗ liên hợp của đốt sống, khi
có các tổn thương chèn ép hoặc kích thích vào các rễ này trên đường đi cũng gây cảm giác đau và rối loạn vận động ( các rễ này là thần kinh hỗn hợp )
- Có một mối liên quan giữa các nhánh thần kinh cảm giác nội tạng và các nhánh của thần kinh của vùng quanh cột sống thắt lưng Điều này giải thích một số bệnh nội tạng có đau lan ra vùng thắt lưng
4 Lâm sàng:
4.1 Cơ năng:
- Triệu chứng đau: Đau có thể lan tỏa toàn bộ cột sống thắt lưng, ở vùng vành đai hoặc một bên Hoặc đau lan về mào chậu hoặc xuống phía dưới xương cùng, hoặc về phía mông Mức độ đau tùy trường hợp.Có thể biểu hiện bởi cảm giác đau, cảm giác nặng hoặc bỏng rát Đau tăng khi vận động hoặc thay đổi tư thế
- Hạn chế vận động cột sống: cúi ngửa khó khăn, dáng đi gù hoặc ưỡn
4.2 Thực thể:
- Thay đổi hình dạng cột sống: có thể thấy gù, vẹo, ưỡn cột sống khi quan sát bệnh nhân ở tư thế thẳng đứng
- Co cứng cạnh cột sống: quan sát bệnh nhân ở tư thế đứng thẳng hoặc nghiêng, cơ bên nào bị co sẽ nổi vồng lên, sờ nắn thấy khối cơ căng chắc
- Điểm đau cạnh cột sống: ấn hoặc gõ trên mỏm gai đốt sống bệnh nhân để tìm điểm đau, trường hợp tổn thương rễ thần kinh thường có điểm đau ở đốt sống tương ứng
- Điểm đau cạnh sống: trường hợp tổn thương rễ thần kinh sẽ có điểm đau tương ứng
Trang 3- Tầm hoạt động của cột sống thắt lưng ( nghiệm pháp schoober ): chỉ số schoober bình thường 14/10- 15/10
- Chỉ số bàn tay - đất: bệnh nhân đứng thẳng, giữ thẳng hai gối từ từ gập người chạm hai tay xuống đất
4.3 X quang:
Có thể thấy hình ảnh thoái hóa đốt sống, hẹp khe khớp, đặc xương, cầu xương, nứt đốt sống ( gai đôi ), cùng hóa, thắt lưng hóa…
5 Quan điểm của YHCT về đau thắt lưng:
* Khái niệm: đau thắt lưng là một chứng bệnh thường gặp thuộc phạm vi chứng tý được mô tả theo bệnh danh là yêu thống
- Bệnh danh là do căn cứ vào vị trí hoặc nguyên nhân của chứng bệnh mà đặt tên Các chứng bệnh được mô tả thuộc phạm vi chứng tý Tý có nghĩa là tắc, chứng tý theo YHCT là một chứng bệnh mà đặc điểm chủ yếu là đau các cơ xương khớp do khí huyết không thông gây bế tắc kinh lạc
- Nguyên nhân gây ra chứng tý là do dinh vệ hư, tấu lý không chặt, phong hàn tà thừa cơ xâm nhập vào cơ thể, kinh mạch bị tắc trở không được lưu thông gây đau
- Hành tý: chủ yếu là do phong tà gây ra với tính chất đau di chuyển không có điểm đau cố định, vận động đau tăng lên, nghỉ ngơi giảm đau
- Thống tý: chủ yếu do hàn tà gây ra Với tính chất đau dữ dội, đau buốt như xuyên kèm theo co rút gân, đau nhiều về đêm và mùa đông thời tiết lạnh, giảm đau khi chườm nóng
- Trước tý: chủ yếu do thấp tà gây ra, với tính chất đau nhức nhối, mỏi, cảm giác nặng nề, tê dại, lâu ngày có thể teo cơ, bệnh nhân thích xoa bóp, ngại vận động, khi thời tiết có độ ẩm cao thì đau tăng
* Về nguyên nhân cơ chế bệnh sinh: theo YHCT chia thành 3 thể chính:
Trang 4- Ngoại nhân: do tà khí bên ngoài phong hàn thấp xâm nhập váo cơ thể thừa lúc tấu
lý sơ hở xâm nhập kinh túc thái dương bàng quang và kinh túc thiếu dương đởm gây nên bệnh
+ Phong tà có tính chất di chuyển và xuất hiện đột ngột vì thế mà yêu thống cũng xuất hiện đột ngột, diễn biến nhanh và đau lan truyền theo đường đi của kinh túc thiếu dương đởm, kinh túc thái dương bàng quang
+ Hàn tà: có tính chất ngưng trệ làm cho khí huyết kinh lạc bị tắc nghẽn, mặt khác bệnh nhân có tình trạng khí huyết ứ trệ ở kinh lạc thì càng dễ có điều kiện để phát bệnh Tính chất co rút của hàn tà là rất căng, gây co rút gân cơ, ngoài ra gây cảm giác đau buốt như xuyên Hàn hóa nhiệt thì bệnh nhân có cảm giác nóng rát nơi đau
+ Thấp tà: gây nên một số triệu chứng có đặc trưng như: cảm giác tê bì, nặng
nề, rêu lưỡi nhờn, chất lưỡi bệu
-Nội nhân: do chính khí hư, cơ thể bị hư yếu, rối loạn chức năng của các tạng phủ nhất là tạng can và tạng thận Can tàng huyết , can chủ cân có liên quan biểu lý với đởm, chức năng của tạng can hư, can không tàng được huyết, không nuôi dưỡng được cân, dẫn đến huyết bị suy kém, cân yếu mỏi hoặc co rút
- Thận chủ cốt tủy Thận tàng tinh, sinh tinh huyết, lưng là phủ của thận Thận có quan hệ biểu lý với phủ bàng quang Thận hư, xương cốt yếu, huyết ít đều có ảnh hưởng tới lưng góp phần gây chứng yêu thống
-Bất nội ngoại nhân: do bê vác vật nặng sai tư thế, do sang chấn làm huyết ứ, khí trệ dẫn tới bế tắc kinh khí của kinh bàng quang, kinh đởm gây nên đau và hạn chế vận động
* Biện chứng theo YHCT:
Đau thắt lưng thuộc phạm vi chứng yêu thống và được chia thành 4 thể: thể hàn thấp, thể huyết ứ, thể thấp nhiệt, thể can thận hư Trên lâm sàng được chia thành 2 thể:
-Thể can thận hư: nguyên nhân là do chức năng can thận bị suy kém, phong hàn thấp thừa hư xâm nhập vào kinh bàng quang hoặc kinh đởm làm kinh khí bị bế tắc, sự lưu thông của khí huyết không bình thường, khí huyết không điều hòa gây đau và hạn chế vận động
Trang 5Thấp lâu ngày không giải được sẽ hóa hỏa mặt khác kinh cân bị thiếu dưỡng sẽ dẫn đến cân mềm yếu, teo nhẽo
Biểu hiện lâm sàng: sau khi nhiễm phải phong hàn thấp bệnh nhân bị đau vùng thắt lưng có thể lan xuống mông, vận động khó khăn, đau tăng khi trời lạnh và ẩm thấp, chườm nóng dễ chịu, chân tay lạnh ẩm, có thể sợ lạnh, chân có cảm giác nặng nề Thích ăn nóng hoặc uống nước ấm, đại tiện bình thường hoặc phân nát, tiểu tiện trong, rêu lưỡi trắng nhớt, mạch phù hoặc phù hoạt Bệnh lâu ngày thấp hóa hỏa sẽ ảnh hưởng đến can thận và
tỳ, lúc đó các triệu chứng đau lưng và ù tai, mỏi gối hoa mắt chóng mặt sẽ xuất hiện rõ, kèm theo các triệu chứng người mệt mỏi ăn ngủ kém,teo cơ, đại tiện táo, tiểu tiện vàng, rêu lưỡi vàng, chất lưỡi đỏ, mạch hoạt sác hoặc trầm tế sác
Pháp điều trị: bổ can thận, khu phong, tán hàn, kiện tỳ, trừ thấp, thông kinh, hoạt lạc
- Thể huyết ứ: nguyên nhân do lao động quá sức hoặc vận động sai tư thế hoặc do bị ngã va đập, bị đánh… gây huyết ứ làm bế tắc kinh lạc sự lưu thông kinh khí không bình thường, khí huyết không điều hòa gây đau và hạn chế vận động
-Biểu hiện lâm sàng: đau dữ dội vùng thắt lưng, có thể lan xuống mông, không đi lại được hoặc đi lại khó khăn, nằm trên giường cứng dễ chịu hơn, đau tăng mỗi khi ho hắt hơi, vận động đi lại đau tăng, ăn ngủ kém, đại tiểu tiện bình thường, chất lưỡi hơi tím, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch sáp
-Pháp điều trị : hành khí hoạt huyết thông ứ
*Điều trị bằng phương pháp không dùng thuốc:
-Xoa bóp bấm huyệt -Châm cứu:YHCT sử dụng phương pháp châm cứu điều trị bệnh yêu thống tuân theo các nguyên tắc sau:
+ Hành khí hoạt huyết để lưu thông khí huyết trong kinh lạc
+Thư cân hoạt lạc làm cho cân dãn duỗi ra +H oạt huyết hóa ứ làm cho huyết lưu thông tốt trong kinh lạc
Trang 6Trên cơ sở đó có rất nhiều kỹ thuật châm cứu được áp dụng bao gồm: thể châm, điện châm, ôn châm, cấy chỉ
Công thức huyệt sử dụng trong châm cứu cũng rất phong phú theo kinh nghiệm của nhiều tác giả song huyệt thường được sử dụng là: thận du, đại trường du, ủy trung, giáp tích L1-S1, các a thị huyệt
*Phương huyệt áp dụng:
-Thể can thận hư:
+châm bổ: thận du, can du, tỳ du, tam âm giao
+Châm tả các huyệt: giáp tích L1-S1, a thị huyệt
+Nhĩ châm: thần môn, giao cảm, cột sống thắt lưng
-Thể huyết ứ: châm tả các huyệt giống thể can thận hư thêm các huyệt: huyết hải, cách du
6 Sơ lược lịch sử phát triển châm cứu:
Trong thập kỷ này, nền y học hiện đại phương Tây ngày càng xích lại gần nền y học
cổ truyền phương Đông và hai nền y học đó đang giao thoa với nhau Các nhà Sinh học và
y học phương Tây đã nhận thức nội dung thuyết âm dương của y học cổ truyền phương Đông như hai mặt đối lập của một thể thống nhất trong hoạt động sống của cơ thể và môi trường Bởi lẽ đó, y học hiện đại càng đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn của y học phương Đông
Châm cứu là một phương pháp chữa bệnh của y học phương Đông đã ra đời từ rất lâu Ở Việt Nam, cách đây 4000 năm, vào thời Hồng Bàng, những kinh nghiệm phong phú
về phòng bệnh và chữa bệnh đã được ghi chép khá cụ thể trong cuốn sách “ Lĩnh Nam chích quái ” Hàng chục thế kỷ tiếp theo, ở nước ta châm cứu vẫn song song phát triển với thuốc Nam và mỗi thời kỳ đã xuất hiện những thầy thuốc châm cứu nổi tiếng Sau cách mạng tháng tám thành công Đảng và Chính phủ chủ trương đẩy mạnh công tác kế thừa và phát huy vốn quý của YHCT kết hợp với YHHĐ để phục vụ nhân dân, hình thức châm cứu chữa bệnh ở nước ta ngày càng phong phú như: thể châm, nhĩ châm, thủy châm, điện
Trang 7châm, cấy chỉ vào huyệt cũng được phát triển trong điều trị một số bệnh như hen phế quản, viêm mũi dị ứng, đau thần kinh ngoại biên, đau cột sống, tự kỷ
7.Tóm tắt cơ chế tác dụng của châm cứu
* Theo YHCT: sự mất thăng bằng về âm dương dẫn tới sự phát sinh ra bệnh tật và
cơ chế tác dụng của châm cứu cơ bản là điều hòa về âm dương Bệnh tật phát sinh ra làm rối loạn hoạt động bình thường của hệ kinh lạc, do vậy tác dụng cơ bản của châm cứu là điều chỉnh cơ năng hoạt động của hệ kinh lạc Trong kinh lạc có kinh khí vận hành để điều hòa khí huyết, làm cơ thể luôn luôn khỏe mạnh, chống được các tác nhân gây bệnh Hệ kinh lạc cũng là nơi biểu hiện các trạng thái bệnh lý của cơ thể, đồng thời cũng là nơi tiếp nhận các hình thức kích thích ( dùng châm, cứu, xoa bóp, bấm huyệt, giác ) thông qua các huyệt để chữa bệnh Bệnh tật sinh ra do nguyên nhân bên ngoài ( ngoại nhân- tà khí ) hoặc nguyên nhân bên trong đường kinh, nếu đó là khí thực thì phải loại bỏ tà khí ra ngoài
( dùng phương pháp tả ), nếu do chính khí hư thì phải bồi bổ kinh khí đầy đủ ( dùng
phương pháp bổ )
* Theo học thuyết thần kinh – nội tiết – thể dịch:
-Châm cứu là một kích thích gây ra một cung phản xạ mới có tác dụng ức chế và phá
vỡ cung phản xạ bệnh lý, làm giảm cơn đau, giải phóng sự co cơ Tại nơi châm có những biến đổi, tổ chức tại nơi châm bị tổn thương sẽ tiết Histamin, axetylcholin,
cathecholamin nhiệt độ ở da thay đổi, bạch cầu tập trung, phù nề tại chỗ, các phản xạ đột trục làm co giãn mạch máu
-Phản ứng tiết đoạn: thần kinh tủy sống có 31 đôi dây, mỗi đôi dây chia ra làm hai ngành trước và sau chi phối vận động và cảm giác một vùng cơ thể gọi là một tiết đoạn Sự cấu tạo thần kinh này gọi là sự cấu tạo tiết đoạn Khi nội tạng có bệnh, người ta thấy có sự tăng cường cảm giác vùng da cùng tiết với nó như cảm giác đau, thay đổi điện sinh vật Trên cơ sở này Zankharin ( Liên Xô ) và Head (Anh ) đã thiết lập được một giản đồ liên quan giữa vùng da và nội tạng, nếu nội tạng bị tổn thương dùng châm cứu tác động vào vùng da trên cùng một tiết đoạn với nội tạng đó sẽ chữa được bệnh lý ở nội tạng đó
- Nguyên lý về cơ năng sinh lý linh hoạt của hệ thần kinh của Windekski: theo
nguyên lý này trong trường hợp thần kinh ở trạng thái yên tĩnh, một kích thích nhẹ thường hay gây ra một phản ứng hưng phấn nhẹ, kích thích mạnh hay gây ra một phản ứng hưng
Trang 8phấn mạnh, nhưng nếu thần kinh ở trạng thái bị hưng phấn do bệnh kích thích mạnh chẳng những không gây ra mạnh mà trái lại nó làm cho hoạt động thần kinh chuyển sang quá trình ức chế nên bớt đau
-Lý thuyết về đau của Melzak và Wall: trong trạng thái bình thường các cảm thụ bản thể đi vào sừng sau các tủy sống, ở các lớp thứ ba, thứ tư ( gồm các tế bào của các chất keo
và các tế bào chuyển tiếp ) làm cảm giác đau ( hoặc không đau ) được dẫn truyền Tế bào như cánh cửa kiểm soát, quyết định cho cảm giác nào đi qua Ở trạng thái bình thường luôn
có những xung động, những xung đông này phát huy ức chế, qua tế bào chuyển tiếp và đi lên với kích thích vừa phải Xung động được tăng cường đến làm hưng phấn tế bào chất tạo keo làm khử cực dẫn truyền và đi lên Trên cơ sở lý thuyết của Melzak và Wall, năm
1971 Shealy chế tạo được một máy luôn kích thích cột sau tủy sống để làm giảm đau trong các bệnh ung thư
-Vai trò thể dịch, nội tiết và các chất trung gian thần kinh: từ năm 1973 nhiều thực nghiệm chứng minh được trong châm cứu và đỉnh cao của nó là châm tê Ngoài vai trò của thần kinh ra còn có vai trò của thể dịch tham gia trong quá trình giảm đau Trong châm cứu chữa bệnh và nâng cao ngưỡng chịu đau trong châm tê phẫu thuật Thường trong khi châm
và sau khi đợt điều trị bằng châm cứu các thể dịch như Sympatine, Adrenaline, Histamin, Acetylcholine, Mocphine-line cũng có những biến đổi đến sự tuần hoàn, hô hấp, tiêu hóa, bài tiết và sự chuyển hóa các chất Nhiều tác giả như Utomski, Vogralie, Kassin đã nghiên cứu hoạt động của hệ tuyến yên và tuyến thượng thận Sau châm cứu thấy rõ tuyến yên tạo
ra một kích thích tố ( Hocmonotrope ) làm tăng hoạt động của một số tuyến nội tiết như tuyến thượng thận bài tiết ra kích thích tố Corticosteroit, người ta cũng chứng minh làm bạch cầu ái toan giảm 70%-80% các trường hợp
-Công trình nghiên cứu châm giảm đau, châm tê phẫu thuật của giáo sư Nguyễn Tài Thu cũng cho thấy khi châm tê lượng beta- Endorphin trong máu tăng cao đến 208% so với ban đầu, Acetylcholine và Cathecholamin trong máu cũng tăng cao lên 273% so với mức xuất phát
8 Vài nét về phương pháp cấy chỉ:
Phương pháp cấy chỉ có xuất sứ từ Trung Quốc, được du nhập vào Việt Nam từ những năm 70 của thế kỷ trước Và được thực hiện tại một số bệnh viện như Viện Châm
Trang 9cứu Trung ương, Viện YHCT Trung ương, bệnh viện quân đội 108, Viện quân y 103, bệnh viện y học dân tộc Hà Nội, bệnh viện y học dân tộc Thái Nguyên điều trị một số bệnh như hen phế quản, viêm loét dạ dày tá tràng, phục hồi di chứng sau đột quỵ
Vào thập kỷ 70 thế kỷ trước, bệnh viện y học dân tộc Trung ương đã nghiên cứu điều trị viêm loét dạ dày tá tràng bằng phương pháp cấy chỉ Năm 1986-1987 bệnh viện quân đội 108 nghiên cứu cấy chỉ điều trị hen phế quản
Từ năm 1990, bác sĩ Lê Thúy Oanh đã tổ chức cấy chỉ tại Budapest-Hungari và nay
đã thành lập Viện cấy chỉ- phục hồi sức khỏe tại Budapest, điều trị nhiều mặt bệnh khác nhau như di chứng liệt, bại liệt, câm điếc, vô sinh, tiểu đường, u xơ tử cung, ung thư Tại Hungari cấy chỉ đã được coi là một phương pháp điều trị chính thống, được giảng dạy trong trường y khoa Các nhà khoa học Hungari cũng đã công nhận hiệu quả vượt bậc của cấy chỉ so với châm cứu truyền thống
Tại Trung Quốc, có nhiều nghiên cứu áp dụng cấy chỉ điều trị các bệnh đau thắt ngực, tiểu đường, béo phì, động kinh, vữa xơ động mạch, tăng huyết áp đã được báo cáo Hầu hết các nghiên cứu tại Trung Quốc đểu cho thấy cấy chỉ có hiệu quả cao trong điều trị
Tới nay, kỹ thuật cấy chỉ đã có nhiều cải tiến so với trước, góp phần mang lại hiệu quả to lớn trong điều trị, phục hồi chức năng Cấy chỉ thực sự đã trở thành một bước tiến của kỹ thuật châm cứu do những hiệu quả to lớn mà nó mang lại
9.Một số kết quả nghiên cứu liên quan đến đau thắt lưng hông đã được công bố:
-Điện châm điều trị đau thắt lưng do thoái hóa đốt sống thắt lưng của tiến sĩ Vũ Trường Sơn
-Đánh giá hiệu quả việc phối hợp châm cứu và tập vật lý trị liệu vào điều trị đau cột sống thắt lưng do thoái hóa của tiến sĩ Bưu Thị Hiệp
-Đánh giá hiệu quả sử dụng chỉ khâu phẫu thuật cấy ghép vào huyệt đạo điều trị phục hồi chức năng thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng của Quách Tuấn Vinh Tỷ lệ điều trị có đáp ứng ( có kết quả ) chiếm tỷ lệ cao 93,33% Trong đó kết quả tốt ( loại A+B ) chiếm 75%, không có kết quả chỉ chiếm tỷ lệ thấp 6,67%
Trang 10II.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.Đối tượng nghiên cứu:
Tất cả các bệnh nhân có đau thắt lưng do thoái hóa cột sống thắt lưng và đủ các tiêu chuẩn về lâm sàng và cận lâm sàng, được điều trị tại khoa YHCT bệnh viện Bãi Cháy từ tháng 3/2014- 3/2016
Loại trừ các trường hợp đau thắt lưng do lao, ung thư, hoặc có bệnh nội khoa khác như xơ gan, suy tim, suy thận, bệnh ngoài cột sống gây đau lưng như bệnh phụ khoa, tiết niệu
2.Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu theo phương pháp tiến cứu Thử nghiệm lâm sàng theo chiều dọc có so sánh trước, sau điều trị
3.Tiêu chuẩn chọn bệnh:
-Khám xác định bệnh nhân có đau thắt lưng:
+Lâm sàng: đau vùng thắt lưng, đau lan về mào chậu hoặc xuống phía dưới xương cùng, hoặc về phía mông Đau liên tục, tăng khi thời tiết lạnh, đau tăng khi vận động hoặc thay đổi tư thế có thể khám thấy điểm đau cạnh cột sống, có dấu hiệu co cơ một bên hoặc hai bên vùng thắt lưng, hạn chế tầm vận động cột sống: dấu Shoober (+), dấu hiệu bàn tay – đất giảm
+X quang: có hình ảnh thoái hóa đốt sống vùng thắt lưng, hẹp khe khớp, đặc xương, nứt đốt sống ( gai đôi đốt sống ), cùng hóa, thắt lưng hóa
-Lâm sàng theo YHCT: (nghiên cứu trên 2 thể )
+Thể can thận hư +Thể huyết ứ
4 Phương pháp điều trị: