Câu 1: Các thành phần của hệ thống khí hậu Khí hậu được hình thành là do sự tương tác giữa các thành phần của khí quyển, của bề mặt TĐ dưới tác động của năng lượng bức xạ. Gồm 5 thành phần: khí quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển, băng quyển. Năm thành phần này có mối tương tác qua lại với nhau trong quá trình hình thành hệ thống khí hậu. 1. Khí quyển • Được cấu tạo bởi hỗn hợp một số chất khí (không khí), ngoài ra, trong khí quyển còn chứa một số chất lỏng và chất rắn ở trạng thái lơ lửng gọi là sol khí. • Có tác dụng ngăn cản bức xạ tử ngoại và năng lượng nhiệt lớn của Mặt trời để bảo vệ sự sống trên Trái đất, đồng thời tạo lên sự trao đổi năng lượng giữa nó với bề mặt Trái đất và với không gian vũ trụ để tạo ra những hệ quả trong đó chính là chế độ thời tiết, khí hậu, có vai trò, tác động lớn tới các quyển còn lại. • Khí quyển chứa hơi nước và là nơi diễn ra các quá trình trong vòng tuần hoàn nước trên toàn cầu • Sự biến đổi của khí quyển sẽ gây ảnh hưởng lớn tới các thành phần còn lại. 2. Thủy quyển • Gồm nước mặn và nước ngọt, trong đó, nước mặn hay nước trên các đại dương chiếm tới ¾ diện tích bề mặt TĐ và chiếm tới 97% tổng lượng nước có trên hành tinh. Nước ngọt chỉ chiếm một phần rất nhỏ nhưng lại đóng vai trò đb quan trọng là duy trì sự sống trên TĐ. • Sự bốc hơi là nhân tố tác động chủ yếu của thủy quyển lên khí quyển, tạo ra độ ẩm không khí, hơi nước trong không khí hình thành gang thủy và cung cấp một lượng nhiệt lớn chi khí quyển từ quá trình ngưng tụ. • Các chế độ dòng chảy, giáng thủy…có ảnh hưởng làm thay đổi địa hình bề mặt TĐ và các thành phần khác. 3. Sinh quyển • Bao gồm toàn bộ sự sống trên TĐ. • Sinh quyển có vai trò quan trọng đối với khí hậu, bởi vì chúng làm thay đổi tính chất của bề mặt đệm như độ gồ ghề, màu sắc,... dẫn tới làm thay đổi hệ số hấp thụ và hệ số phát xạ bức xạ. Vì vậy, sinh quyển sẽ làm thay đổi cán cân bức xạ. • sinh quyển còn làm thay đổi khả năng giữ nước và bốc thoát hơi của bề mặt. • Có khả năng thay đổi thành phần không khí, đb là nồng độ CO2 qua quá trình quang hợp, hô hấp… 4. Thạch quyển • Thạch quyển bao gồm toàn bộ phần đất, đá trên Trái đất. • Sự nóng lên và lạnh đi nhanh chóng trong ngày cũng như trong năm của thạch quyển dẫn tới sự khác biệt về phân bố nhiệt độ giữa các mặt đệm khác nhau. Đấy là nguyên nhân trực tiếp sinh ra các dòng không khí trên Trái đất, tuy nhiên các dạng địa hình khác nhau của thạch quyển cũng làm thay đổi các dòng không khí này. • Do dạng địa hình của thạch quyển mà các hải lưu trên trong các đại dương cũng bị thay đổi, như chúng tạo ra các dòng bờ đông và bờ tây,... • Thạch quyển còn trao đổi động lượng, nhiệt lượng, sol khí với khí quyển, đặc biệt là trong lớp biên khí quyển 5. Băng quyển • Là tất cả các vùng có băng tuyết bao phủ quanh năm trên TĐ. • Dù chỉ chiếm một phần rất nhỏ trên TĐ nhưng đây là nguồn tích trữ nước ngọt quan trọng, sự thay đổi trong băng quyển gây ảnh hưởng tới địa hình (thạch quyển) và lượng nước (thủy quyển) và sinh quyển. Các hệ con tuy khác nhau về thành phần cấu tạo, thuộc tính vật lí. Cấu trúc và tính chất nhưng lại liên kết với nhau bởi các dòng năng lượng, khối lượng và động lượng tạo nên một hệ thống rộng lớn gọi là hệ thống khí hậu. Ba quá trình hình thành khí hậu trên TĐ: quá trình tuần hoàn ẩm, quá trình tuần hoàn nhiệt và hoàn lưu chung của khí quyển. Các quá trình này tương tác với nhau: • chế độ nhiệt của mặt đệm, và dẫn đến là chế độ nhiệt của khí quyển, chịu ảnh hưởng của lượng mây ngăn cản thông lượng trực xạ Mặt trời. • Sự hình thành mây là một trong những khâu của tuần hoàn ẩm. Nhưng chính sự hình thành mây cũng phụ thuộc vào điều kiện của mặt đệm và khí quyển lại phụ thuộc vào bình lưu nhiệt, nghĩa là phụ thuộc vào hoàn lưu chung khí quyển. • Hoàn lưu chung khí quyển tạo nên sự vận chuyển độ ẩm và lượng mây. Chính vì vậy mà ảnh hưởng đến tuần hoàn ẩm và qua đó ảnh hưởng đến điều kiện nhiệt.
Trang 1KHÍ HẬU ĐẠI CƯƠNG
Câu 1: Các thành phần của hệ thống khí hậu
Khí hậu được hình thành là do sự tương tác giữa các thành phần của khí quyển, của bề mặt TĐ dưới tác động của năng lượng bức xạ Gồm 5 thành phần: khí quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển, băng quyển Năm thành phần này có mối tương tác qua lại với nhau trong quá trình hình thành hệ thống khí hậu
1. Khí quyển
• Được cấu tạo bởi hỗn hợp một số chất khí (không khí), ngoài ra, trong khí quyển còn chứa một số chất lỏng và chất rắn ở trạng thái
lơ lửng gọi là sol khí
• Có tác dụng ngăn cản bức xạ tử ngoại và năng lượng nhiệt lớn của Mặt trời để bảo vệ sự sống trên Trái đất, đồng thời tạo lên sự trao đổi năng lượng giữa nó với bề mặt Trái đất và với không gian vũ trụ
để tạo ra những hệ quả trong đó chính là chế độ thời tiết, khí hậu, có vai trò, tác động lớn tới các quyển còn lại
• Khí quyển chứa hơi nước và là nơi diễn ra các quá trình trong vòng tuần hoàn nước trên toàn cầu
• Sự biến đổi của khí quyển sẽ gây ảnh hưởng lớn tới các thành phần còn lại
2. Thủy quyển
• Gồm nước mặn và nước ngọt, trong đó, nước mặn hay nước trên các đại dương chiếm tới ¾ diện tích bề mặt TĐ và chiếm tới 97% tổng lượng nước có trên hành tinh Nước ngọt chỉ chiếm một phần rất nhỏ nhưng lại đóng vai trò đb quan trọng là duy trì sự sống trên TĐ
• Sự bốc hơi là nhân tố tác động chủ yếu của thủy quyển lên khí
quyển, tạo ra độ ẩm không khí, hơi nước trong không khí hình thành
Trang 2gang thủy và cung cấp một lượng nhiệt lớn chi khí quyển từ quá trình ngưng tụ
• Các chế độ dòng chảy, giáng thủy…có ảnh hưởng làm thay đổi địa hình bề mặt TĐ và các thành phần khác
3. Sinh quyển
• Bao gồm toàn bộ sự sống trên TĐ
• Sinh quyển có vai trò quan trọng đối với khí hậu, bởi vì chúng làm thay đổi tính chất của bề mặt đệm như độ gồ ghề, màu sắc, dẫn tới làm thay đổi hệ số hấp thụ và hệ số phát xạ bức xạ Vì vậy, sinh
quyển sẽ làm thay đổi cán cân bức xạ
• sinh quyển còn làm thay đổi khả năng giữ nước và bốc thoát hơi của
bề mặt
• Có khả năng thay đổi thành phần không khí, đb là nồng độ CO2 qua quá trình quang hợp, hô hấp…
4. Thạch quyển
• Thạch quyển bao gồm toàn bộ phần đất, đá trên Trái đất
• Sự nóng lên và lạnh đi nhanh chóng trong ngày cũng như trong năm của thạch quyển dẫn tới sự khác biệt về phân bố nhiệt độ giữa các mặt đệm khác nhau Đấy là nguyên nhân trực tiếp sinh ra các dòng không khí trên Trái đất, tuy nhiên các dạng địa hình khác nhau của thạch quyển cũng làm thay đổi các dòng không khí này
• Do dạng địa hình của thạch quyển mà các hải lưu trên trong các đại dương cũng bị thay đổi, như chúng tạo ra các dòng bờ đông và bờ tây,
• Thạch quyển còn trao đổi động lượng, nhiệt lượng, sol khí với khí quyển, đặc biệt là trong lớp biên khí quyển
5. Băng quyển
• Là tất cả các vùng có băng tuyết bao phủ quanh năm trên TĐ
• Dù chỉ chiếm một phần rất nhỏ trên TĐ nhưng đây là nguồn tích trữ nước ngọt quan trọng, sự thay đổi trong băng quyển gây ảnh hưởng
Trang 3tới địa hình (thạch quyển) và lượng nước (thủy quyển) và sinh
quyển
Các hệ con tuy khác nhau về thành phần cấu tạo, thuộc tính vật lí Cấu trúc và tính chất nhưng lại liên kết với nhau bởi các dòng năng lượng, khối lượng và động lượng tạo nên một hệ thống rộng lớn gọi
là hệ thống khí hậu
Ba quá trình hình thành khí hậu trên TĐ: quá trình tuần hoàn ẩm, quá trình tuần hoàn nhiệt và hoàn lưu chung của khí quyển Các quá trình này tương tác với nhau:
• chế độ nhiệt của mặt đệm, và dẫn đến là chế độ nhiệt của khí quyển, chịu ảnh hưởng của lượng mây ngăn cản thông lượng trực xạ Mặt trời
• Sự hình thành mây là một trong những khâu của tuần hoàn ẩm
Nhưng chính sự hình thành mây cũng phụ thuộc vào điều kiện của mặt đệm và khí quyển lại phụ thuộc vào bình lưu nhiệt, nghĩa là phụ thuộc vào hoàn lưu chung khí quyển
• Hoàn lưu chung khí quyển tạo nên sự vận chuyển độ ẩm và lượng mây Chính vì vậy mà ảnh hưởng đến tuần hoàn ẩm và qua đó ảnh hưởng đến điều kiện nhiệt.\
Sự phân bố tổng lượng giáng thuỷ trên Trái đất là kết quả trực tiếp của tuần hoàn ẩm vì sự hình thành giáng thuỷ là một trong những khâu của chu trình này Như vậy là sự hình thành giáng thuỷ phụ thuộc vào:
• Vị trí của nguồn ẩm
• Điều kiện nhiệt của mặt trải dưới và của khí quyển do các quá trình hình thành nhiệt tạo nên
Trang 4Câu 2: Bức xạ thiên văn
- Lượng bức xạ trong một ngày ở giới hạn trên của khí quyển phụ thộc vào thời gian trong năm và vĩ độ địa phương
- Trong cùng một thời gian, ở các vĩ độ khác nhau thì độ dài ngày khác nhau, trong quá trình một năm, độ dài ngày cũng biến đổi khác nhau,
• Nguyên nhân: Cường độ bức xạ thay đổi do TĐ chuyển động xung quanh MT với quỹ đạo hình elip, vì vậy, khoảng cách từ TĐ đên MT thay đổi theo thời gian
• Số giờ nắng thay đổi theo mùa và theo vĩ độ:
Vào những ngày xuân phân và thu phân, bức xạ MT phân bố khá đồng đều trên 2 bán cầu
Số h nắng tăng theo vĩ độ địa lí vào ngày hạ chí nhưng lại giảm theo
vĩ độ vào ngày đông chí
Nhìn chung, số h nắng tăng từ xích đạo về cực ở bán cầu mùa hè và ngược lại ở bán cầu mùa đông Trung bình năm, số h nắng đạt cực đại ở xích đạo và giảm dần về cực
• Góc thiên đỉnh (độ cao mặt trời): là yếu tố quan trọng quyết định sự thay đổi của bức xạ
Cùng một lượng năng lượng đến nhưng góc thiên đỉnh lứn hơn thì
NL dàn trải trên 1 diện tích lớn hơn dẫn đến cường độ bức xạ nhỏ hơn và ngược lại
Góc thiên đỉnh thay đổi là do TĐ quay quanh MT và TĐ thay đổi theo quỹ đạo của nó
- Biến trình năm của bức xạ thiên văn:
• Khu vực ngoại chí tuyến: MT lên thiên đỉnh 1 lần/năm vậy nên có 1
CĐ và 1 CT của bức xạ MT Ở BCB, CĐ xảy ra vào ngày hạ chí,
CT xảy ra vào ngày đông chí Ở BCN thì ngược lại
Trang 5• Khu vực nội chí tuyến (xích đạo và cận xích đạo): có hiện tượng
MT lên thiên đỉnh 2 lần mỗi năm, vì vậy có 2CĐ và 2 CT của bức
xạ MT
Câu 3: Cán cân bức xạ
- Cán cân bức xạ là hiệu giữa bức xạ tổng xạ và bức xạ bề mặt
- Cán cân bức xạ có sự thay đổi theo không gian và theo thời gian
- Sự thay đổi cán cân bức xạ theo không gian
• Tại khu vực vĩ độ 60o thuộc hai bán cầu đến các vĩ độ cao hơn, cán cân bức xạ giảm dần
• Từ khoảng vĩ độ 60o về xích đạo, cán cân bức xạ tăng lên và đạt cực đại ở vùng cận nhiệt
• Có sự phân bố như vậy là do sự quay quanh MT của TĐ theo quỹ đạo và trục nghiêng của nó, cán cân bức xạ giảm dàn từ xích đạo về cực, riêng ở xích đạo do nhiều mây nên cán cân bức xạ nhỏ hơn
vùng cận nhiệt
• Sự phân bố của cán cân bức xạ của hệ MĐ-KQ đã tạo ra quá trình
vc NL hướng cực, tức là NL đc vc từ XĐ về phía cực
- Trên cùng vĩ độ, cán cân bức xạ trên đại dương lớn hơn trên lục địa,
vì đại dương hấp thụ bức xạ nhiều hơn
- Cán cân bức xạ thay đổi theo tg trong năm:
• Trong tháng 12: cán cân bức xạ âm trên phần lớn bán cầu Bắc
Đường đẳng trị số 0 nằm quá phía nam vĩ tuyến 400N Phía bắc vĩ tuyến này, cán cân bức xạ âm Phía nam vĩ tuyến này, cán cân bức
xạ tăng đến đến hết miền nhiệt đới bán cầu Nam sau đó giảm dần về cực
• Trong tháng 6: cán cân bức xạ dương trên toàn bán cầu Bắc Về phía Nam, cân bằng bức xạ chuyển sang giá trị âm
• Sự phân bố cán cân bức xạ gần như đối xứng nhau giữa tháng 6 và tháng 12 (mùa hè và mùa đông)
Trang 6Câu 4: Hoàn lưu chung của khí quyển
- Hệ thống chuyển động khí quyển toàn cầu được hình thành bởi sự đốt nóng của mặt trời không đồng đều giữa các vùng trên bề mặt TĐ được gọi là hoàn lưu chung khí quyển
- Hoàn lưu khí quyển là nhân tố tạo thành khí hậu rất quan trọng, vì
có liên quan đến sự di chuyển của các khối không khí có tính chất vật lí khác nhau: nóng và lạnh, khô và ẩm, ổn định và bất ổn định,
- Hoàn lưu chung khí quyển mang không khí từ miền vĩ độ thấp lên miền vĩ độ cao và ngược lại, và làm cho không khí di chuyển đi rất
xa dọc theo vĩ tuyến,
- Sự nóng lên và lạnh đi ở các nơi khác nhau gây ra sự khác nhau về khí áp, đây là nguyên nhân trực tiếp sinh ra các dòng không khí
- Những dòng không khí không đi thẳng từ vùng áp cao đến vùng áp thấp mà do chuyển động quay của Trái đất nên chúng bị lệch về bên phải của hướng chuyển động ở bán cầu Bắc và về bên trái ở bán cầu Nam
Ở mỗi bán cầu có sự hoạt động của ba vòng hoàn lưu : hoàn lưu Hadley, hoàn lưu cực, hoàn lưu Ferrel.
Hoàn lưu Hadley (còn gọi là vòng hoàn lưu tín phong - phản tín
phong)
- Không khí ở xích đạo chuyển động thăng lên rồi thổi theo kinh
tuyến về hai cực
- Dòng trên cao thổi về cực do ảnh hưởng của lực Coriolis làm cho ở BCB bị lệch về bên phải tạo thành hưởng Tây Nam, BCN bị lệch về bên trái tạo thành hướng Tây Bắc
Trang 7- Dòng hướng cực trên cao hội tụ và giáng xuống ở miện cận nhiệt đới
- Khi giáng xuống ở tầng thấp, dòng khí lại phân kì về xích đạo và phía cực
- Dòng hướng về XĐ chịu ảnh hưởng của lực Coriolis, ở BCB bị lệch
về bên phải thành gió ĐB, BCN bị lệch về phía bên trái thành gió ĐN
- Dòng gió thiên đông hướng về xích đạo ở tầng thấp là gió tín phong Dòng thiên tây hướng về phía cực ở trên cao là phản tín phong
Ranh giới giữa hai dòng này vào khoảng 10km ở XĐ và giảm dần
về phía cực, đến vùng cận nhiệt đới, ranh giới này khoảng 3-5km
Hoàn lưu cực
- Trong tầng đối lưu vùng cực đới cũng xuất hiện một vòng hoàn lưu kinh hướng đóng kín Vòng hoàn lưu này cũng có chiều tương tự như vòng hoàn lưu Hadley
- Dòng không khí tầng thấp từ cực đi về phía xích đạo, do tác dụng của lực Coriolis, bị lệch về bên phải nên gió có hướng đông bắc Đới gió ĐB này gặp đới gió TN từ vĩ độ thấp đi lên ở khoảng vĩ tuyến 600N và hội tụ với nhau, chuyển động thăng lên rồi đi về cực tạo thành gió TN ở tầng đối lưu trên Gió TN vùng cực hội tụ với nhau rồi giáng xuống ở cực tạo thành một vòng hoàn lưu khép kín
Hoàn lưu Ferrel(vòng hoàn lưu tầng đối lưu - bình lưu)
- Vòng hoàn lưu này nối hai vòng hoàn lưu Hadley và hoàn lưu cực thành một hệ thống
- Trong tầng đối lưu dưới, vòng hoàn lưu này nằm trong đới từ 30 đến
600N với gió tây thịnh hành, được gọi là đới gió tây vĩ độ trung
bình
Trang 8- Phía trên, trong tầng đối lưu trên gió tây mở rộng, chỉ có một đới gió tây duy nhất phát triển từ xích đạo đến cực
- Khi tới cực, đới gió tây lại hội tụ với nhau rồi chuyển động thăng lên và đến độ cao 16 - 20 km, không khí lại chuyển động về phía xích đạo, tạo thành đới gió đông bắc bao trùm từ cực đến tận xích đạo
- Đến xích đạo không khí lại hội tụ với gió từ bán cầu kia rồi chuyển động giáng xuống tạo thành một vòng hoàn lưu khép kín
- Nửa dưới của vòng hoàn lưu lớn này, thành phần gió tây chiếm ưu thế, còn ở nửa trên thành phần gió đông chiếm ưu thế lại bao trùm toàn bộ bán cầu
- Đối với bán cầu Nam, các đới gió tương ứng hoàn toàn ngược lại với bán cầu Bắc do ảnh hưởng của lực Coriolis tác dụng về bên trái hướng chuyển động
Sự khác nhau giữa vòng hoàn lưu lí tưởng và hoàn lưu thực tế:do các nguyên nhân sau:
- Sự khác nhau cơ bản giữa hoàn lưu lí tưởng và hoàn lưu thực tế là
do chế độ nhiệt bề mặt gây ra
- Hơn nữa, khí xem xét hoàn lưu chung khí quyển đã giả thiết TĐ à đồng nhất (đồng nhất vai trò của biển và lục địa) đồng thời chưa tính đến sự dịch chuyển theo mùa của bức xạ mặt trời Trên thực tế, bề mặt TĐ có sự phân bố đất-biển không đều nên trường áp phức tạp hơn ở trên, do đó, hoàn lưu thực tế cũng khác so với trường hợp lí tưởng
- Các đới áp thấp và áp cao trên mỗi bán cầu không phải là các đới liên tục mà bị phân chia thành các trung tâm Hai đới áp cao cận nhiệt đới bị các lục địa chia cắt thành các trung tâm nhỏ hơn tồn tại
Trang 9chủ yếu trên các đại dương, còn trên lục địa nó thường bị các áp cao lạnh (mùa đông) hay áp thấp nóng (mùa hè) chia cắt
- Rãnh thấp xích đạo cũng như dải áp thấp vùng vĩ độ cao đều không phải là các dải liên tục Hai áp cao vùng cực không phải lúc nào cũng nằm đúng vùng cực, đặc biệt là áp cao cực Bắc Chẳng hạn về mùa đông ở bán cầu Bắc, nơi lạnh nhất và dẫn đến khí áp cao nhất không phải ở cực Bắc mà ở vùng Siberia và Bắc Mỹ Còn về mùa
hè, nơi nóng nhất và dẫn đến nơi có khí áp thấp nhất không phải là xích đạo mà ở sa mạc Bắc Phi, châu Á và Bắc Mỹ
Câu 5: Hoàn lưu Walker
- Hoàn lưu Walker là hoàn lưu vĩ hướng dọc theo xích đạo Nó đặc trưng bởi sự thăng lên của không khí ở miền tây Thái Bình Dương trong khu vực Indonesia và dòng giáng ở phía đông Thái Bình Dương bên bờ nam Mỹ
- Hoàn lưu W có thể coi là một nhánh dòng thăng của hoàn lưu Hadley
- Gây ra bởi sự chênh lệch nhiệt độ, khí áp giữa hai bờ Đông và Tây TBD
- Đặc điểm:
• Gồm 4 nhánh chuyển động: dòng gió đông tầng thấp, dòng thăng ở miền Tây TBD, dòng gió Tây trên cao và dòng giáng ở bờ Đông TBD
• Chênh lệch nhiệt độ giữa hai bờ Đ và T TBD càng lớn, hoàn lưu W càng mạnh và ngược lại
• Nhiệt độ nước biển giảm dần theo độ sâu, nhiệt độ ở vùng biển phía Tây TBD cao hơn phía Đông tạo ra một lớp nc chuyển tiếp giữa hai
bờ, có độ nghiêng từ Đ sang T gọi là nêm nhiệt Độ nghiêng của
Trang 10nêm nhiệt giảm dần về phía bờ Đ Khi hoàn lưu W mạnh lên, độ nghiêng của nêm nhiệt lớn và ngược lại
• Vài năm một lần, sự cân bằng này bị phá vỡ
- Ảnh hưởng của hoàn lưu W đến Enso:
• Enso chỉ El Nino và La Nino vào dao động của khí áp giữa hai bờ Đ
và T TBD Trong đó:
El Nino là hiện tượng nóng lên dị thường của lớp nước biển bề mặt khu vực trung tâm và phía Đ TBD La Nina là hiện tượng lạnh đi dị thường của lớp nước biển bề mặt khu vực nói trên
Dao động Nam là dao động của khí áp quy mô lớn từ năm này qua năm khác ở hai bờ Đ và T khu vực xích đạo TBD
• Khi hoàn lưu W suy yếu, áp lực của gió Đ lên mặt biển giảm đi, kéo theo sự suy yếu của nc trồi và dòng chảy hướng Tây, nước biển ở vùng bể nóng phía Tây TBD nhanh chóng đổ dồn về phía Đ làm cho nước biển ở khu vực TT và phía Đ TBD nóng lên dị thường Đây chính là hiện tượng El Nino
• Khi hoàn lưu W mạnh hơn bình thường, áp lực gió Đ trên mặt biển tăng lên, hoạt động của nước trồi cũng mạnh hơn, bình lưu lạnh hướng Tây tăng lên làm cho vùng biển trung tâm và phía Đ TBD lạnh đi dị thường, đó chính là hiện tượng La Nina
Câu 6: Sơ đồ cân bằng năng lượng toàn cầu.
- CBNL toàn cầu là cân bằng giữa NL đến từ mặt trời và NL trở về không gian vũ trụ do bức xạ phát xạ của TĐ
Trang 11- Giả sử năng lượng bức xạ mặt trời (bức xạ sóng ngắn) được chia thành 100 đơn vị năng lượng
TĐ hấp thụ 70% năng lượng bức xạ mặt trời đến và phản xạ 30% Trong đó: Bề mặt hấp thụ 50%
Tầng đối lưu hấp thụ 17%
Tầng bình lưu hấp thụ 3%
- Bức xạ mặt đất (bức xạ sóng dài): 110 đơn vị NL
Trong đó: tầng đối lưu hấp thụ 98 đơn vị NL
Tầng bình lưu hấp thụ 2 đơn vị NL Còn 10 đơn vị NL đi ra ngoài
Tầng đối lưu phát xạ 149 đơn vị NL Trong đó: tầng bình lưu hấp thụ 6 đơn vị NL, 54 đơn vị NL đi ra ngoài và bề mặt hấp thụ 89 đơn vị NL
Trang 12Tầng bình lưu phát xạ 11 đơn vị NL Trong đó: tầng đối lưu hấp thụ 5 đơn vị NL, và 6 đơn vị NL đi ra ngoài
- Quá trình phi bức xạ bao gồm quá trình ẩn nhiệt (LE) và hiển nhiệt (SH)
+ quá trình hiển nhiệt: dẫn nhiệt phân tử, rối và đối lưu 5 đơn vị NL + quá trình ẩn nhiệt: bốc hơi, ngưng kết 24 đơn vị NL
- Cân bằng năng lượng toàn cầu
+ tại đỉnh khí quyển: có 100 đơn vị NL đi vào và phát xạ ra ngoài vũ trụ
100-30-10-54-6=0
Năng lượng đi ra bằng năng lượng đi vào Như vậy, NL tại đỉnh khí quyển được cân bằng
+ Ở tầng bình lưu, hấp thụ 3 đơn vị NL của bức xạ mặt trời và hấp thụ 2+6=8 đơn vị NL của tầng đối lưu Và phát xạ 11 đơn vị NL
11-3-8= 0
NL đi ra bằng NL đi vào Như vậy, NL tại tầng bình lưu được cân bằng
+ Ở tầng đối lưu, hấp thụ 17 đơn vị NL của bức xạ mặt trời, hấp thụ 98+5=103 đơn vị NL của bức xạ sóng dài mặt đất Đồng thời , phát
xạ 149 đơn vị NL
17+103-149 = -29
Tại đây câu hỏi được đặt ra là tầng đối lưu chỉ nhận được 120 đơn vị
NL nhưng lại phát xạ 149 đơn vị NL thì 29 đơn vị NL còn thiếu sẽ lấy ở đâu???