Thí dụ: -Cụt chi -Đục thủy tinh thể -Tổn thương não do đẻ ngạt Từ người khỏe mạnh để không bị bệnh, tai nạn và khiếm khuyết gọi là phòng ngừa tàn tật bước I, bao gồm các biện pháp cơ bản
Trang 1- Chữa các bệnh và chấn thương thông thường
- Cung cấp đủ thuốc thiết yếu
2 Bệnh lí và quá trình tàn tật
2.1 Bệnh
Khi các tác nhân như vật lí, hóa học, sinh học, di truyền…làm thay đổi về sinh hóa, sinh lý của cơ thể gọi là quá trình bệnh lý, bệnh lý thường diễn biến thành bệnh Bệnh là do quá trình bệnh lí tác động vào tế bào, cơ quan, hệ thống cơ quan làm ảnh hưởng ít hoặc nghiêm trọng đến chức năng của cơ quan hay hệ thống
cơ quan của cơ thể, có thể làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng tồn tại của người bệnh
Y học điều trị có thể tác động vào bệnh nguyên để cứu sống và điều trị người bệnh Một trong những khả năng xấu của bệnh là dẫn đến khiếm khuyết
2.2 Khiếm khuyết
Khiếm khuyết (Impairment): là sự mất đi, hoặc bất thường về cấu trúc giải phẫu hoặc chức năng Khiếm khuyết đề cập đến mức độ tổn thương của cơ quan cơ thể
Thí dụ: -Cụt chi -Đục thủy tinh thể -Tổn thương não do đẻ ngạt
Từ người khỏe mạnh để không bị bệnh, tai nạn và khiếm khuyết gọi là phòng ngừa tàn tật bước I, bao gồm các biện pháp cơ bản:
Phòng ngừa khiếm khuyết được gọi là phòng ngừa tàn tật cấp bao gồm:
- Tiêm chủng mở rộng đạt tỷ lệ cao nhất
- Phát hiện sớm, điều trị kịp thời
- Phát triển tốt y học cộng đồng
- Có đầy đủ các điều kiện đảm bảo sức khỏe
- Phát triển ngành phục hồi chức năng, phát hiện tàn tật sớm, tìm nhu cầu phục hồi chức năng, cung cấp kịp thời mắt kính, máy trợ thính, dụng cụ chỉnh hình, xe lăn
để giảm tác động của khiếm khuyết
Trang 22.3 Giảm khả năng
Giảm khả năng (Disability): là bất cứ sự hạn chế hay thiếu (do hậu quả của khiếm khuyết) về khả năng thực hiện một hoạt động theo cách hay trong giới hạn thông thường
Thí dụ:
- Cụt chân: Giảm khả năng tự chăm sóc, vận động
- Tổn thương não: Gây liệt, khó học, khó tiếp thu
- Tổn thương cơ quan thính giác: Câm điếc
Phòng ngừa giảm khả năng: Các biện pháp ngăn ngừa tình trạng khiếm
khuyết dẫn đến giảm khả năng gọi là phòng ngừa tàn tật bước II, bao gồm:
- Các biện pháp phòng ngừa khiếm khuyết
- Giáo dục đặc biệt (giáo dục hoà nhập hoặc giáo dục chuyên biệt cho trẻ bị khiếm khuyết)
- Dạy nghề, tạo việc làm cho người bị khiếm khuyết
- Phát triển áp dụng kĩ thuật phục hồi chức năng cho người khiếm khuyết: ngôn ngữ trị liệu, hoạt động trị liệu, vận động trị liệu, sản xuất dụng cụ trợ giúp, chỉnh hình
2.4 Tàn tật( Handicap)
Là tình trạng bất lợi của một cá nhân, do bị ảnh hưởng của khiếm khuyết hay giảm khả năng mà bị hạn chế hoặc cản trở việc thực hiện vai trò bình thường của mình trong điều kiện tuổi, giới, các yếu tố văn hóa xã hội của người đó
Ví dụ:
- Người chậm phát triển tinh thần không được tham gia đào tạo nghề: tàn tật nghề nghiệp, hoà nhập xã hội
- Người cụt chi: tàn tật vận động, nghề nghiệp
Để phòng ngừa khiếm khuyết, giảm khả năng không trở thành tàn tật gọi là phòng ngừa tàn tật bước III bao gồm các biện pháp phòng ngừa tàn tật bước I, II
3 Phân loại tàn tật
- Tàn tật thể chất ( physically handicap )
+ Vận động: Liệt nửa người doTBMN, bệnh cơ xương khớp, tổn thương thần kinh ngoại biên
+ Cảm giác: Mất cảm giác do bệnh phong, tổn thương thị giác, câm điếc
+ Tổn thương cơ quan nội tạng: Nội tiết, sinh dục, tiết niệu
- Tàn tật do rối loạn tâm thần như tâm thần phân liệt, tự kỉ, kể cả trẻ em chậm phát triển trí tuệ
- Đa tàn tật: người có 2 tàn tật trở lên
4 Nguyên nhân tàn tật
Trang 3- Do bệnh, tuổi cao, tai nạn, chiến tranh, các dị tật bẩm sinh
- Bản thân tàn tật gây tổn thương thứ phát lại dẫn đến tàn tật
- Sự thiếu quan tâm và thái độ sai của xã hội đối với người tàn tật làm tăng tỉ lệ tàn tật hoặc làm tàn tật nặng hơn
5 Hậu quả của tàn tật
Đối với người tàn tật:
- Tuổi thọ thấp
- Tỷ lệ mắc bệnh cao
- Ít có cơ hội học tập, đào tạo
-Thất nghiệp cao, thu nhập thấp, ít có cơ hội lập gia đình
- Thường bị xã hội lãng quên
Đối với gia đình:
- Người tàn tật không tham gia được vào các hoạt động trong gia đình
- Gia đình phải đầu tư nhân lực và tài chính để giúp đỡ người tàn tật
Đối với xã hội:
- Người tàn tật không tham gia sản xuất làm ra của cải cho xã hội
- Xã hội phải điều trị, giúp đỡ và chăm sóc người tàn tật
KẾT LUẬN:
Phòng ngừa tàn tật là mục tiêu, là nhiệm vụ chiến lược của ngành phục hồi chức năng Khi xã hội ý thức được phòng ngừa tàn tật là nhiệm vụ quan trọng của cộng đồng, đồng thời tôn trọng các quyền lợi, nguyện vọng của người tàn tật thì sẽ giảm được tỷ lệ tàn tật và chất lượng cuộc sống của người tàn tật sẽ tốt hơn
Trang 4PHỤC HỒI CHỨC NĂNG
1 Định nghĩa
Phục hồi chức năng gồm các biện pháp y học, xã hội, giáo dục, hướng nghiệp, nhằm hạn chế tối đa giảm khả năng, tạo cho người khuyết tật có cơ hội tham gia các hoạt động để hội nhập, tái hội nhập xã hội, có cơ hội bình đẳng trong cộng đồng xã hội
2 Mục đích
- Phục hồi tối đa khả năng thể chất, tâm lý, nghề nghiệp
- Giúp người tàn tật khả năng tự chăm sóc, giao tiếp, vận động, hành vi ứng xử và
có thu nhập
- Ngăn ngừa các thương tật thứ phát
- Tăng cường khả năng còn lại để hạn chế hậu quả tàn tật
- Thay đổi thái độ, hành vi của xã hội, chấp nhận người tàn tật là thành viên bình đẳng
- Cải thiện môi trường, rào cản để nguời tàn tật hội nhập xã hội như giao thông, công sở, nhà ở, nơi sinh hoạt văn hoá, du lịch thể thao
- Tạo điều kiện để người tàn tật được hội nhập, tái hội nhập xã hội để họ có chất lượng cuộc sống tốt hơn như: vui chơi giải trí, việc làm có thu nhập
3 Các kỹ thuật
Kỹ thuật phục hồi chức năng gồm hai nhóm
3.1 Các kỹ thuật can thiệp phục hồi chức năng cho người tàn tật:
+ Y học: Phẫu thuật chỉnh hình, y học nội khoa, các kỹ thuật chẩn đoán y khoa.+ Sản xuất, cung cấp các dụng cụ chỉnh hình, thay thế như mắt kính, tai nghe, xe lăn, máy phát âm (thường để khắc phục tình trạng khiếm khuyết)…
+ Ngôn ngữ trị liệu: dạy kĩ năng xử dụng tín hiệu có hoặc không có lời trong giao tiếp
+ Hoạt động trị liệu: Hoạt động là cách thức thực hiện một công việc trong các lĩnh vực như chăm sóc bản thân, lao động và giải trí, hoạt động trị liệu ứng dụng các kĩ năng này để điều trị, phục hồi chức năng và phòng bệnh
+ Vận động trị liệu: Áp dụng các kiến thức, kỹ năng vận động vào phòng bệnh, điều trị và phục hồi chức năng
+ Tâm lý trị liệu:
3.2 Các kỹ thuật khác giúp đỡ người tàn tật tham gia hội nhập xã hội.
+ Cán bộ xã hội: Nghiên cứu các khía cạnh xã hội có liên quan đến người tàn tật + Giáo dục đặc biệt: giáo dục hoà nhập, giáo dục chuyên biệt
+ Dạy nghề: tạo việc làm có thu nhập cho người tàn tật
Trang 5+ Cải thiện môi trường như đường đi, nhà ở, phương tiện đi lại để người tàn tật có thể đến những nơi họ cần đến, làm các việc có ích cho cuộc sống của họ.
4 Các hình thức phục hồi chức năng
4.1 Phục hồi chức năng tại trung tâm:
Người tàn tật đến các trung tâm có cán bộ chuyên khoa và thiết bị phục hồi chức năng đầy đủ
- Ưu điểm: Kỹ thuật phục hồi chức năng tốt, cán bộ đựơc đào tạo chuyên khoa sâu
- Nhược điểm:
+ Người tàn tật phải đi xa, giá thành cao
+ Số lượng người tàn tật được phục hồi chức năng ít, không đạt mục tiêu hoà nhập
xã hội
Vì vậy các trung tâm phục hồi chức năng là nơi đào tạo, nghiên cứu khoa học, là nơi có trang bị kĩ thuật cao để chẩn đoán và phục hồi chức năng cho những trường hợp tàn tật nặng
4.2 Phục hồi chức năng ngoài trung tâm:
Là hình thức PHCN mà cán bộ chuyên khoa cùng phương tiện đến địa phương người tàn tật sinh sống để phục hồi
4.3 Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng (PHCN DVCĐ)
Là chiến lược phát triển cộng đồng về lĩnh vực phục hồi chức năng, bình đẳng phúc lợi và hội nhập xã hội của mọi người tàn tật Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng được triển khai với sự hợp tác của người tàn tật, gia đình họ và cộng đồng Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng thể hiện quyền của người tàn tật được bảo đảm
Trang 6+ Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng là một yếu tố trong chiến lược chăm sóc sức khoẻ ban đầu, có thể lồng ghép vào công tác CSSKBĐ tại cộng đồng, giải quyết được vấn đề nhân lực, ngân quỹ và quản lý.
5.Nguyên tắc phục hồi chức năng
- Đánh giá cao vai trò của người tàn tật, gia đình và cộng đồng
- Phục hồi tối đa khả năng bị giảm của người tàn tật và khả năng tham gia các hoạt động trong các lĩnh vực tự chăm sóc, tạo ra của cải và vui chơi giải trí, làm cho chất lượng cuộc sống tốt hơn
- Phục hồi chức năng dự phòng là nguyên tắc chiến lược trong phát trển ngành phục hồi chức năng
để giảm gánh nặng về chi phí
b Đòi hỏi sự chăm sóc có hiệu quả:
Người tàn tật được chăm sóc ở gia đình và cộng đồng Họ muốn tự chăm sóc với tự cải tiến môi trường thích hợp Kỹ thuật phục hồi chức năng thích nghi được phổ biến, người tàn tật được phục hồi chức năng tại nhà có cơ hội được hòa nhập
c Nhờ khoa học y tế phát triển người tàn tật được sống lâu hơn, người tàn tật nếu
được hòa nhập chất lượng cuộc sống tốt hơn, độc lập hơn hoặc tự lập hoàn toàn
d Hòa nhập xã hội:
Phục hồi chức năng dựa vào gia đình và tự chăm sóc có hiệu quả đã được thừa nhận Các bệnh mãn tính như viêm khớp, tai biến mạch não, đau lưng thì tự chăm sóc ở nhà có hiệu quả hơn so với việc chăm sóc tại viện, đặc biệt về mặt nhân văn Quá trình hình thành ý tưởng hòa nhập xã hội của người tàn tật tạo tiền
đề chiến lược phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng ngày nay đã được cả thế giới biết đến
6.2 Bước đầu đề xuất một số nội dung của quá trình hòa nhập xã hội:
Về chất lượng cuộc sống của người tàn tật, nội dung cơ bản trong quá trình hòa nhập xã hội của người tàn tật là rất quan trọng và là mục tiêu chiến lược trong
Trang 7hoạt động chuyên ngành phục hồi chức năng Tuy vậy chúng ta chưa có những nghiên cứu đầy đủ về vấn đề này
Trang 8II Các thương tật thứ phát thường gặp.
1.Teo cơ:
Là tình trạng giảm kích thước, thể tích của bắp cơ, giảm sức mạnh, sức bền của cơ thường do mất thần kinh chi phối hoặc do không cử động
- Teo cơ do không cử động
Thường gặp ở những bệnh nhân do phải bất động kéo dài, cơ ở trạng thái không chịu trọng lực (sau gãy xương cần cố định) sẽ nhỏ và yếu đi
- Teo cơ do mất thần kinh chi phối( tổn thương đám rối hoặc đứt dây thần kinh ) Loại teo cơ này là nghiêm trọng cần phải phẫu thuật để nối lại dây thần kinh chứ không thể phục hồi được bằng luyện tập Tuy nhiên vẫn phải tập cho bệnh nhân để duy trì tầm vận động khớp
do chấn thương tủy sống, trẻ bại não Co rút có thể gây biến dạng khớp ở tư thế gấp hoặc duỗi Cần phân biệt co rút với co cứng Nếu bệnh nhân bị co rút thì áp dụng kỹ thuật ức chế co cứng, không có kết quả
Phòng ngừa co rút:
- Đặt tư thế đúng và vận động sớm cho bệnh nhân
- Khi khớp chưa bị hạn chế vận động: tập chủ động theo tầm vận động khớp
- Hạn chế tầm vận động, co rút nhẹ: tập chủ động, kéo giãn cuối tầm phối hợp với nhiệt trị liệu
- Co rút nặng hạn chế tầm vận động: tập kéo giãn kết hợp nhiệt trị liệu, có thể kết hợp với sử dụng máng, nẹp sau kéo giãn
3 Loét do đè ép
Trang 9Là tình trạng tổn thương hoại tử khu trú ở da và tổ chức dưới da khi có sự đè
ép gây thiếu máu tổ chức
Đây là một thương tật thứ cấp khá phổ biến, đặc biệt gặp nhiều ở bệnh nhân liệt tủy, đột quỵ Tần suất gặp trên 28% bệnh nhân điều trị nội trú Đặc biệt ở bệnh nhân liệt tủy sống, tỷ lệ này cao tới 24-85% Các vùng hay bị loét: vùng gáy, xương cùng, mấu chuyển lớn, ụ ngồi, gót chân, mắt cá chân
Phòng ngừa loét do đè ép:
-Phát hiện sớm nguy cơ tổn thương da
+ Cần chú ý đến những bệnh nhân có nguy cơ cao như hôn mê, liệt tủy, đa chấn thương, bệnh nhân cần bất động kéo dài
+ Các vùng bị tì đè như bả vai, chẩm, cùng cụt, mắt cá ngoài
+ Các dấu hiệu của loét: da tấy đỏ, trắng nhợt, phỏng nước, loét…
Là tình trạng giảm mô xương tương đối so với thể tích giải phẫu của xương,
mô xương giảm nhưng tỷ lệ chất vô cơ và hữu cơ của xương không thay đổi gặp ở bệnh nhân nằm bất động lâu ngày (loãng xương toàn thể), hoặc các vùng chi thể bất động lâu ngày (loãng xương khu trú)
-Biểu hiện lâm sàng:
+ Đau trong xương, dễ gãy.
+ Phản xạ loạn dưỡng giao cảm (hội chứng Sudeck) hay gặp ở bệnh nhân sau bất động gẫy xương chi trên, ngoài ra gặp ở bệnh nhân liệt nửa người do TBMN Biểu hiện: đau tại chỗ, sưng, hạn chế tầm vận động khớp, da hơi đỏ và rối loạn vận mạch, loạn dưỡng da, teo cơ XQ giảm độ cản quang
- Các biện pháp phòng ngừa:
+ Nếu bệnh nhân hợp tác tự vận động được hướng dẫn vận động chủ động Bệnh nhân hôn mê, liệt không vận động được cần vận động thụ động Một số trường hợp cần hướng dẫn bệnh nhân co cơ tĩnh
5.Nhiễm trùng
Trang 10Bệnh nhân thường gặp nhiễm khuẩn phổi, tiết niệu, da…do nằm lâu làm ứ đọng dịch tiết, kết hợp với điều kiện vệ sinh kém, sức đề kháng của bệnh nhân giảm.
Các biện pháp phòng ngừa:
+ Nhiễm trùng đường hô hấp: cho bệnh nhân ngồi dậy, vận động sớm, hướng dẫn cách thở, cách ho, khạc đờm, thực hiện vỗ rung khi có ứ đọng đờm rãi Đặt dẫn lưu
tư thế khi có viêm phổi thùy Dùng kháng sinh, long đờm, vitamin…
+ Nhiễm trùng tiết niệu: cho bệnh nhân ngồi dậy, vận động sớm, uống nhiều nước, hướng dẫn bệnh nhân tiểu, vệ sinh đúng cách, dùng kháng sinh
6 Các biến chứng tim mạch
+ Rối loạn tái phân bố dịch cơ thể: khi bệnh nhân nằm không còn áp lực thủy tĩnh, lượng máu ở hai chân (khoảng 700ml) sẽ chuyển về tim và phổi tăng cung lượng tim và tần số tim và tăng bài tiết nước tiểu làm giảm thể tích huyết tương
+ Hạ huyết áp tư thế: sự tái phân bố dịch cơ thể là nguyên nhân gây hạ huyết áp tư thế
Để phòng ngừa có thể cho bệnh nhân đứng trên bàn nghiêng, mỗi lần khoảng 20 phút, cần đạt 750
+ Rối loạn điều hòa tim mạch: là tình trạng giảm khả năng hoạt động chức năng của hệ tim mạch giảm do bất động Các bài tập làm tăng sự chịu đựng của hệ tim mạch đối với vận động sẽ kiểm soát được các rối loạn này
+ Huyết khối: hiện tượng giảm thể tích huyết tương cộng với ứ trệ tuần hoàn làm tăng nguy cơ đông máu (hay gặp ở bệnh nhân tổn thương tủy sống giai đoạn cấp hoặc sau phẫu thuật), có thể dùng thuốc chống đông: aspirin, heparin, flavix…Kết luận:
Các thương tật thứ phát có thể gặp ở bất cứ người bệnh nào và bất cứ chuyên khoa nào Phòng ngừa thương tật thứ phát cần được thực hiện sớm để điều trị có kết quả
và ngăn ngừa biến chứng của bệnh
Trang 11ĐO TẦM VẬN ĐỘNG KHỚPMỤC TIÊU
1 Nêu mục đích của đo tầm vận động khớp.
2 Nêu các nguyên tắc của đo tầm vận động khớp.
3 Trình bày tiến trình của đo tầm vận động khớp.
NỘI DUNG
I Đại cương
Đo khớp (joint measurement) là một tiến trình lượng giá chủ yếu trong những trường hợp rối loạn chức năng thể chất và hậu quả của nó là làm giới hạn tầm vận động khớp, ví dụ như trong những trường hợp viêm khớp, gãy xương, bỏng, và tổn thương bàn tay Tầm vận động khớp (ROM: Range of Motion) là cung của một cử động qua đó một khớp phải hoàn thành ROM thụ động là cung
cử động của khớp mà sự di động của nó là do một ngoại lực ROM chủ động là cung cử động của khớp mà sự di động của nó là do sự co cơ tác động lên khớp đó Thông thường, ROM thụ động là hơi lớn hơn ROM chủ động Dụng cụ để đo ROM là khớp kế (goniometer)
Mục đích của đo ROM là để:
(1) Xác định hạn chế mà nó ảnh hưởng đến hoạt động, hay có thể tạo ra sự biến dạng
(2) Xác định tầm độ cần thêm vào để làm gia tăng khả năng hoạt động chức năng, hay làm giảm sự biến dạng
(3) Lưu trữ như là một số liệu để xác định sự tiến triển hay thoái triển
(4) Đo lường sự tiến bộ của một cách khách quan
(5) Xác định những mục tiêu điều trị thích hợp
(6) Chọn lựa những biện pháp điều trị thích hợp, những kỹ thuật đặt tư thế,
và những chiến lược khác để làm giảm đi những sự hạn chế
(7) Xác định nhu cầu về sử dụng nẹp và những dụng cụ hỗ trợ
II Những nguyên tắc của đo khớp
Người khám nên biết về số đo ROM trung bình, khớp hoạt động như thế nào, cách đặt tư thế người bệnh và vị thế của khớp cần đo Trước khi đo, người khám nên yêu cầu người bệnh di động phân đoạn khớp cần đo thực hiện cử động trong ROM có thể có - nếu như sức mạnh cơ từ bậc Khá (bậc 3) trở lên - và quan sát cử động xảy ra Người khám cũng nên di đông thụ động phân đoạn khớp cần đo
để thấy và cảm nhận khớp di động như thế nào, và ước lượng ROM của nó
Trị số bình thường của ROM thay đổi từ người này sang người khác Do vậy, nên so sánh với trị số tầm hoạt động của khớp đối bên Nếu điều này không
Trang 12thể thực hiện được, ví dụ như trong trường hợp đoạn chi, thì nên so sánh với trị số trung bình tầm hoạt động của khớp đó Người khám cũng nên xem xét bệnh án và hỏi bệnh nhân về sự hạn chế hiện tại và những hạn chế khác gây nên bởi những tổn thương cũ Các khớp không được cưỡng bức khi sự kháng cản xuất hiện ở ROM thụ động Đau có thể làm hạn chế ROM và tiếng lục cục có thể nghe thấy khi cử động khớp trong một số trường hợp.
III Phương pháp đo khớp
Có nhiều hệ thống để ghi nhận số đo khi tiến hành đo tầm hoạt động khớp Trong cuốn sách này, chúng tôi chỉ khảo sát duy nhất một hệ thống Hệ thống này được gọi là “hệ thống zero trung tính” Với hệ thống này, tư thế giải phẫu để khởi đầu đo là zero độ trung tính, không kể thước đo ghi nhận bao nhiêu độ Với hệ này,
tư thế giải phẫu để khởi đầu đo là zero độ trung bình, không kể thước đo ghi nhận bao nhiêu độ Với hệ thống này, tư thế khởi đầu để đo cử động của khuỷu tay là 00 chứ không phải là 1800 như thước đo ghi nhận; tư thế của cổ chân là 00 chứ không phải là 900 Số cung độ mà phân đoạn khớp di động được sẽ được cộng thêm vào
từ 00
IV Khớp kế
Thước đo khớp hay khớp kế (goniometer) được dùng để đo tầm vận động khớp Thước được làm bằng kim loại hay plastic và có nhiều cỡ Từ goniometer xuất phát từ tiếng Hy Lạp, gonio có nghĩa là góc và metron có nghĩa là đo lường
Do vậy, theo nghĩa đen thì goniometer có nghĩa là đo góc
Khớp kế gồm có một thanh cố định (nhánh gần) và một thanh di động (nhánh xa) Thanh cố định có gắn một thước đo góc nhỏ hình bán nguyệt hay hình tròn có khắc cung độ, từ 00 cho đến 1800 cho thước hình bán nguyệt hay từ 00 cho đến 3600 cho thước hình tròn Thanh di động được gắn vào tâm hay trục của thước
đo và hoạt động giống như kim đồng hồ Khi thanh di động quay quanh thước đo, đỉnh của thanh sẽ chỉ vào số độ trên thước đo
Trang 132 Duỗi quá bất thường của khuỷu có thể được ghi bằng cách ghi số độ của duỗi quá trước vị thế khởi đầu trung bình Số lượng của cử động trước vị thế 00 được ghi với dấu trừ.
Bình thường: 00 đến 1400
Duỗi quá bất thường: -200 đến 00 đến 1400
Số đo trung bình của ROM bình thường sẽ được liệt kê dưới đây Cần chú ý
là những cử động của khớp vai (khớp ổ chảo – cánh tay) được đi kèm với cử động của xương vai Cử động của khớp ổ chảo – cánh tay bị lệ thuộc rất nhiều vào khả năng di động của xương vai; nhờ nó mà khớp vai có khả năng linh hoạt cao và tầm vận động rộng Mặc dầu không thể đo cử động của xương vai bằng khớp kế, nhưng người khám nên đánh giá khả năng di động của xương vai trước khi tiến hành đo khớp vai Nếu các cơ của xương vai ở tình trạng co cứng (spasticity) hay co rút vai Nếu các cơ của xương vai ở tình trạng co cứng (spasticity) hay co rút (contracture)
và khớp vai bị di động trong ROM đòi hỏi phải có sự chuyển động của xương vai –
ví dụ như gập hay dang vai trên 900 – thì tổn thương khớp có thể xảy ra
VI Kết quả lượng giá là cơ sở cho kế hoạch điều trị
Những nguyên nhân thường gặp gây nên sự hạn chế tầm vận động của khớp bao gồm co rút da do mô kết dính hay mô sẹo, yếu cơ, sự co cứng, sự dịch chuyển của sụn sợi hay sự xuất hiện của những vật thể lạ trong khớp, sự tắt nghẽ hay sự phá hủy xương, và sự co rút của mô mềm như gân, cơ, hoặc ngắn dây chằng Tiếp theo sau đo khớp, người khám nên phân tích những kết quả trong mối tương quan với những yêu cầu trong cuộc sống người bệnh Điều quan tâm đầu tiên của người khám nên chỉnh sửa những ROM và tầm độ ở dưới giới hạn chức năng Rất nhiều hoạt động thông thường trong cuộc sống hàng ngày (ADL: Activities of Daily Living) không cần đòi hỏi phải có một ROM toàn vẹn
ROM chức năng nghĩa là số lượng tầm vận động khớp cần để thực hiện ADL thiết yếu mà không phải cần đến các dụng cụ đặc biệt Do đó, điều quan tâm đầu tiên của cuộc trị liệu sẽ là cố gắng làm gia tăng những ROM mà nó đang làm hạn chế việc tự chăm sóc và những công việc gia đình để đạt đến “tầm vận động chức năng” Ví dụ, một sự giới hạn đáng kể của cử động gập khuỷu sẽ ảnh hưởng đến khả năng ăn uống và vệ sinh răng miệng Do vậy, điều quan trọng là gia tăng tầm độ gập khuỷu đến với ROM chức năng
Trang 14Gập 0 0 đến 170 0 Dang, nghiêng ngoài, hơi Duỗi 0 0 đến 50 0
Nâng, hơi xoay lên Đối
Duỗi 0 0 đến 60 0 Hạ, khép, nghiêng lên Các ngón *
Dang 0 0 đến 170 0 Xoay lên, nâng Gập MP 0 0 đến 90 0
Khép 0 0 Hạ, khép, xoay xuống Duỗi quá MP 0 0 đến15 0 - 45 0
Dang ngang 0 0 đến 400 0 Khép, giảm sự nghiêng ngoài Gập PIP 0 0 đến 110 0
Gập DIP 0 0 đến 80 0
Khép ngang 0 0 đến 130 0 Dang, nghiêng ngoài Dang 0 0 đến 25 0
Hông
Gập 0 0 đến 120 0
Xoay trong Khép, giảm sự nghiêng ngoài (gối gập)
Nguồn: Viện Hàn lâm các Phẫu thuật viên Chỉnh hình Hoa Kỳ: cử động khớp:
phương pháp đo và ghi, Chicago, 1965; Viện Hàn lâm các Phẫu thuật viên chỉnh hình Hoa Kỳ, và Esch D và Lepley M: Lượng giá cử động khớp: các phương pháp lượng giá và ghi chép Minneapolis, 1974, Viện Đại học Minnesota Press
DIP: khớp liên đốt xa; MP:khớp bàn - đốt; PIP: khớp liên đốt gần
Trang 15Tương tự như vậy, sự giới hạn trầm trọng của sấp cẳng tay sẽ ảnh hưởng đến nhiều sinh hoạt như ăn uống, tắm rửa, gọi điện thoại, chăm sóc trẻ, mặc quần áo
Để ngồi thoải mái, ROM của khớp hông tối thiểu phải từ 00 đến 900; do vậy, nếu cử động gập hông bị hạn chế thì mục tiêu đầu tiên là gia tăng nó đến được 900 Lẽ tất nhiên, nếu đã đạt được ROM chức năng người điều trị phải vạch kế hoạch điều trị tăng tiến để gia tăng ROM đến trị số bình thường
Trong một vài trường hợp, sự hạn chế ROM có thể là vĩnh viễn, và sẽ không
có khả năng để làm tăng được ROM Trong những trường hợp như vậy, người điều trị phải dùng các biện pháp khác nhằm bù trừ cho sự mất ROM Chúng có thể là các dụng cụ trợ giúp như là được hay bàn chải có cán dài
Trong nhiều bệnh lý khác như bỏng hay viêm khớp, sự mất ROM có thể dự báo trước Khi đó, mục tiêu điều trị sẽ là ngăn ngừa sự giới hạn khớp với nẹp, đặt
tư thế, các bài tập vận động, các hoạt động, và áp dụng những nguyên tắc bảo vệ khớp trước khi tình trạng đó xảy ra
Những nguyên nhân gây hạn chế ROM và tiên lượng về sự gia tăng được ROM sẽ đề xuất những biện pháp điều trị Nó có thể là những bài tập kéo giãn (stretching) chủ động hay thụ động, bài tập đề kháng (resistive excercise), tập mạnh (strengthening) nhóm cơ đối kháng, những hoạt động đòi hỏi sự chuyển động chủ động của khớp bị ảnh hưởng trong tầm độ tối đa có thể đạt được, nẹp (splints), và đặt tư thế (positioning) Để làm gia tăng ROM đôi khi phải phẫu thuật hay kéo giãn với gây mê Cũng có thể kéo giãn bằng tay kết hợp với nhiệt và xoa bóp
VII Tiến trình đo khớp
Trị số trung bình của mỗi khớp đã được liệt kê ở bảng 1, nhưng người khám phải luôn ghi nhớ rằng, những số đo trên là trị số đo trung bình, và rằng, có một sự biến độ rất lớn về số đo ROM từ cá thể này sang cá thể khác
ROM bình thường bị ảnh hưởng bởi tuổi tác, giới tính và những yếu tố khác như lối sống và nghề nghiệp Vì vậy, những hình ảnh minh họa trong các bài đo khớp cụ thể không phải luôn luôn biểu thị cho số đo trung bình đã được liệt kê
Thước đo khớp trong hình minh họa được đặt để người đọc có thể dễ dàng nhìn thấy vị thế đúng Tuy nhiên, người khám không phải luôn luôn ở tư thế tốt nhất cho việc đo lường Với mục đích là làm cho hình minh họa được rõ ràng, người khám đã được đẩy sang một bên và có thể chỉ dùng một tay để cầm thướng đo
Cách đo trong đó người khám giữ thước đo và nâng đỡ phần chi thể được đo được quy định bởi nhiều yếu tố như là mức độ yếu cơ, có hay không có đau khớp ROM được đo là thụ động hay chủ động Người khám và đối tượng nên ở trong tư
Trang 16thế thoải mái nhất, đặt thước cho đúng, và sự ổn định phải thật vững để phần chi thể được đo thực hiện đúng động tác trong mặt phẳng của nó.
Tiến trình tổng quát:
(1) Đặt đối tượng trong tư thế phù hợp, thoải mái và được thư giãn
(2) Giải thích và thực hiện động tác mẫu cho đối tượng biết mình sẽ làm gì, tại sao, và bạn mong họ sẽ hợp tác như thế nào?
(3) Bộc lộ khớp được đo
(4) Xác định các điểm mốc xương của khớp cần đo
(5) Ổn định những khớp gần với khớp được đo
(6) Di chuyển thụ động phần chi thể qua hết tầm vận động để ước tính ROM
có thể có và cảm nhận sự di động của khớp
(7) Đặt phần chi thể trở lại vị thế ban đầu
(8) Tại vị trí ban đầu, đặt trục của thước đo trùng với trục của khớp Đặt nhánh cố định ở phần gần hay trùng với xương đứng yên; và nhánh di động ở phần
xa hay là phần xương di động Tránh để đỉnh của nhánh di động di chuyển ra khỏi cung bán nguyệt bằng cách luôn luôn hướng mặt cung của thước ra khỏi hướng cử động
(9) Ghi chép trị số của vị thế khởi đầu và tháo bỏ thước đo Không cần phải
cố gắng giữ thước đo di chuyển cùng với cử động của phần chi thể qua suốt tầm vận động
(10) Người khám nên giữ phân đoạn trên và dưới khớp được đo một cách chắc chắn và nhẹ nhàng di động khớp qua suốt tầm vận động có thể có để xác định ROM thụ động đầy đủ Không được ấn mạnh khớp Quan sát xem có dấu hiệu đau đớn hay khó chịu không Trừ khi có những chỉ định khác, nên do ROM thụ động
(11) Đặt lại thước đo và ghi chép số cung độ ở vị thế cuối cùng
(12) Tháo thước đo và nhẹ nhàng đặt phần chi thể về vị thế nghỉ
(13) Ghi chép vào hồ sơ các trị số của cung độ vận động cũng như bất kỳ dấu hiệu nào phát hiện được trong khi đo
THỬ CƠ BẰNG TAYMỤC TIÊU
1 Liệt kê những nguyên nhân gây yếu cơ
Trang 172 Xác định kế hoạch tập luyện đưa vào lực cơ
3 Trình bày những hạn chế của thử cơ bằng tay
4 Trình bày cách xác định đúng bậc cơ thử
5 Trình bày tiến trình thử cơ bằng tay
I LƯỢNG GIÁ SỨC MẠNH CƠ
Nhiều giảm khả năng thể chất có nguyên nhân là yếu cơ Sự mất đi sức mạnh cơ có thể gây nên những sự hạn chế từ nhẹ cho đến trầm trọng trong cuộc sống hàng ngày Những sự hạn chế này tùy thuộc vào mức độ yếu cơ, sự yếu cơ là tạm thời hay vĩnh viễn Do vậy, người điều trị phải lượng giá sức mạnh cơ để có thể vạch kế hoạch điều trị thích hợp nhằm cải thiện sức mạnh cơ hoặc bù trừ cho
sự suy yếu đó nếu như lực cơ không thể cải thiện được
1 Những nguyên nhân gây nên yếu cơ
Những giảm khả năng, trong đó sự suy yếu sức mạnh cơ là những triệu chứng cơ bản hoặc là kết quả trực tiếp của bệnh tật hay là tổn thương, bao gồm: (1) những rối loạn nơron vận động dưới, như là bệnh lý thần kinh ngoại biên và tổn thương dây thần kinh ngoại biên; (2) những bệnh lý nguyên phát của cơ như loạn dưỡng cơ (muscular dystrophy), bệnh nhược cơ tăng tiến (myasthenia gravis); và (3) những bệnh thần kinh trong đó nơron vận động dưới bị ảnh hưởng như là xơ cứng cột bên (amyotrophic lateral sclerosis) hay xơ cứng rải rác (multiple sclerosis)
Những giảm khả năng trong đó sự suy yếu lực cơ gây nên bởi sự không dùng (disuse) hay bất động (immobilization) hơn là bởi hậu quả trực tiếp của quá trình bệnh, bao gồm: bỏng, đoạn chi (amputation), chấn thương bàn tay (hand trauma), viêm khớp, gãy xương, và một loạt những trường hợp chỉnh hình khác
2 Mục đích của lượng giá sức mạnh cơ
Thử cơ, đặc biệt là lượng giá những cơ riêng lẻ, là điều thiết yếu để chẩn đoán một vài tình trạng bệnh lý thần kinh – cơ, như là những tổn thương thần kinh ngoại biên và tổn thương tủy Ở những trường hợp tổn thương dây thần kinh ngoại biên hay tổn thương rễ thần kinh, mẫu yếu cơ có thể giúp xác định dây thần kinh rễ thần kinh nào bị ảnh hưởng, và sự ảnh hưởng đó là một phần hay toàn bộ Lượng giá cẩn thận có thể giúp xác định tầm mức bị thương tổn của tủy sống Do vậy, thử
cơ đi kèm với khám cảm giác có thể là một phương tiện chẩn đoán quan trọng trong bệnh lý thần kinh – cơ
Mục đích của lượng giá sức mạnh cơ là : (1) xác định số lượng lực cơ có thể
có và từ đó tạo dựng một nền tảng (baseline) để điều trị: (2) thấy được sự yếu cơ
đã hạn chế ADL như thế nào; (3) ngăn ngừa những biến dạng có thể có do sự mất cân bằng lực cơ; (4) xác định nhu cầu về dụng cụ trợ giúp như là một biện pháp bù
Trang 18trừ; (5) giúp để chọn các hoạt động trong khả năng của người bệnh; và (6) lượng giá hiệu quả của quá trình điều trị.
3 Sự tương quan giữa ROM khớp và sự yếu cơ
Một tiêu chí được dùng để định bậc sức mạnh cơ là sự di động của khớp mà
cơ tác động; đó là khớp di động qua hết tầm độ, hay chỉ một phần, hoặc không có ROM nào cả Một tiêu chí khác là số lượng kháng cản đặt lên phân đoạn di động một khi cơ làm cho khớp di động qua ROM có thể có Trong trường hợp này, ROM không cần thiết phải là toàn bộ ROM bình thường Cần nhớ lại là, khi đo tầm vận động, đó là đo với ROM thụ động; tuy nhiên ROM thụ động không cho biết sức mạnh cơ Khi tiến hành thử cơ, người khám nên biết được ROM thụ động của người bệnh để xác định bậc cơ đúng Điều có thể có là ROM thụ động bị hạn chế hay nhỏ hơn trị số trung bình của khớp đó nhưng lực cơ lại bình thường Do vậy, điều cần thiết là người khám cần phải đo ROM hay ước lượng ROM thụ động trước khi thử cơ Ví dụ, ROM thụ động của bệnh nhân trong cử động gập khuỷu bị giới hạn 00 đến 1100 vì một gãy xương cũ Nếu người bệnh có thể gập khuỷu đến
1100 và kháng lại được lực cản trung bình trong khi thử cơ, bậc cơ bệnh sẽ là bậc
G Trong trường hợp như vậy, người khám sẽ ghi hồ sơ sự hạn chế của khớp cùng với lực cơ; ví dụ: gập khuỷu 0-1100/G Ngược lại, nếu ROM của bệnh nhân trong
cử động gập khuỷu là 00 đến 1400 và họ gập khuỷu kháng trọng lực chỉ được 1100, bậc cơ sẽ là F – vì khớp chỉ di động được một phần ROM kháng trọng lực Khi người khám xác định ROM có thể có ở người bệnh trước khi thử cơ, người khám
đã có thể định bậc cơ trên nền tảng đó thay vì sử dụng số đo trung bình của ROM như là một tiêu chuẩn
II THỬ CƠ BẰNG TAY
Thử cơ bằng tay (MMT: Manual Muscle Test) là một phương tiện để đo lường sự co cơ tối đa của một cơ hay một nhóm cơ Phương pháp chính xác nhất là thử nghiệm cơ riêng lẻ, nếu gần như là có thể Trong tiến trình này, cơ được tách biệt một cách cẩn thận thông qua việc đặt tư thế đúng, sự ổn định vững chắc, và kiểm soát chặt chẽ mẫu cử động Loại thử cơ này được mô tả bởi Kendall và Mcreary Một phương pháp khác và thường được dùng trong thử cơ bằng tay và đánh giá sức mạnh của một nhóm cơ mà nó thực hiện một cử động đặc thù tại một khớp Loại thử cơ này được mô tả bởi Daniels và Worthingham Và đo cử động thường là đo một nhóm cơ nên giáo trình này, đa phần các động tác thử cơ được
mô tả theo cách thứ hai, ngoại trừ phần thử cơ trong các cử động của cột sống thì lại được tham khảo theo Kendall và McCreary
Thử cơ là một phương tiện lượng giá cơ bản đối với bệnh nhân bị rối loạn nơron vận động dưới, những bệnh lý về cơ nguyên phát, và những trường hợp chấn
Trang 19thương chỉnh hình Tiêu chuẩn dùng để đo lường sức mạnh là dấu hiệu của sự co
cơ, số cung độ của ROM thực hiện được, số lượng lực đề kháng mà cơ có thể kháng cản, kể cả trọng lực
1 Những hạn chế của thử cơ bằng tay
Những hạn chế của thử cơ bằng tay là, nó không thể đo lường được sức bền (endurance) của cơ - số lần mà cơ có thể co ở mức độ tối đa; sự điều hợp cơ (coordination) - những động tác uyển chuyển nhịp nhàng của hoạt động cơ: hay khả năng thao tác vận động (motor performance) của người bệnh - sử dụng những
cơ cho hoạt động chức năng
Thử cơ bằng tay không thể dùng một cách chính xác cho những bệnh nhân
bị co cứng(spasticity) do tổn thương nơron vận động trên, ví dụ như tai biến mạch máu não (CVA: cerebrovascular accident) hay bại não (CP: cerbral palsy) Điều này là do trong những bệnh lý này, cơ thường ở trong trạng thái tăng trương lực (hypertonic) Trương lực cơ và khả năng thực hiện những cử động bị ảnh hưởng bởi những phản xạ nguyên thủy (primitive reflexes) và vị thế của đầu và thận trọng không gian Cử động có khuynh hướng xảy ra trong mẫu đồng vận khối (gross synergistic), và điều này làm cho người bệnh không thể tách biệt cử động của từng khớp riêng lẻ, mà đó là một yêu cầu trong tiến trình thử cơ bằng tay
2 Những kiến thức và kỹ năng cần có để thử cơ bằng tay
Giá trị của thử cơ bằng tay phụ thuộc vào kiến thức và kỹ năng của người khám Quan sát các cử động một cách cẩn thận, sờ nắn cơ một cách chính xác và cẩn thận, đặt tư thế đúng, luôn tuân thủ tiến trình của thử cơ, và kinh nghiệm của người khám là những yếu tố quyết định cho một thử nghiệm chính xác
Để trở nên thành thạo trong thử nghiệm MMT, người khám phải có những kiến thức chi tiết về tất cả những lĩnh vực của hoạt động cơ Các khớp và những cử động của nó, sự phân bố thần kinh cho cơ, điểm bám nguyên ủy và bám tận của cơ, hoạt động của cơ, hướng của các sợi cơ, góc kéo của cơ tại khớp, và vai trò của những cơ trong việc cố định và thay thế là những lĩnh vực quan trọng Người khám phải có khả năng định vị và sờ nắn các cơ; xác định đường lượn (contour) của cơ là bình thường, bị teo (atrophy) hay phì đại (hypertrophy); và phát hiện những cử động và những vị thế bất thường Kiến thức và kinh nghiệm là cần thiết để phát hiện những cử động thay thế, và để đánh giá bậc cơ chính xác
3 Những nguyên tắc tổng quát trong thử cơ bằng tay
3.1 Chuẩn bị cho thử cơ
Khi chuẩn bị để tiến hành thử cơ, người khám nên quan sát đường lượn của những phân đoạn cơ thể, so sánh sự đối xứng của các cơ ở hai bên, và sự hiện hữu
Trang 20của bất kỳ sự teo nhỏ hay phì đại nào đó Khi khám xét ROM thụ động, người khám có thể ước lượng được trương lực cơ Có hay không sự gia tăng hay giảm thiểu sự kháng cản bình thường khi cử động thụ động? Khi xem xét ROM chủ động người khám có thể quan sát được chất lượng của cử động như là tốc độ cử động sự uyển chuyển, sự nhịp nhàng, và bất kỳ một cử động bất thường nào đó, ví
dụ như run (tremor)
Đặt người bệnh ở tư thế đúng là điều tiên quyết cho một sự lượng giá hiệu quả và đúng Đối tượng nên được đặt tư thế một cách thoải mái trên một bề mặt vững chắc Áo quần được sắp xếp hay cởi bỏ để người khám có thể thấy được cơ hay nhóm cơ được thử Nếu như không thể đặt đối tượng trong tư thế đúng thì người khám có thể điều chỉnh tư thế, và khi ấy cần hiệu chỉnh cách đánh giá bậc
cơ Ngoài vấn đề đặt tư thế đúng, sự ổn định vững chắc, sờ nắn các cơ và quan sát
cử động là những điều thiết yếu để cho thử nghiệm có giá trị
3.2 Yếu tố trọng lực ảnh hưởng đến hoạt động cơ
Trọng lực là một dạng đề kháng cho lực cơ Nó được dùng như là một tiêu chuẩn định bậc trong những thử nghiệm của cổ, thân mình và chi thể Điều này có nghĩa là, bậc cơ đặt nền tảng trên việc cơ có thể làm di động phần cơ thể kháng lại trọng lực hay không Những cử động kháng trọng lực xảy ra trong mặt phẳng đứng dọc; đó là cử động đi từ nền nhà đến trần nhà; và nó được dùng cho bậc F, G, và N Thử nghiệm cho những cơ yếu hơn - bậc 0, T, P; thường được thực hiện trong mặt phẳng nằm ngang, nghĩa là cử động song song với mặt đất, nhằm làm giảm sự kháng cản của trọng lực lên lực cơ Tư thế này thường được gọi là tư thế “không trọng lực” mặc dù thực tế là không thể loại bỏ một cách hoàn toàn tác động của trọng lực lên hoạt động của cơ
3.3 Bậc cơ
Trong thử cơ bằng tay, các cơ được định bậc theo những tiêu chuẩn dưới đây:
1 Rất yếu (T: trace) Cơ co nhẹ có thể nhìn thấy hoặc sờ thấy
Trang 21nhưng không có cử động nào xảy ra-2 Yếu trừ (P-) Di động phần chi thể được một phần
ROM không trọng lực
2 Yếu (P: poor) Di động phần chi thể qua hết toàn bộ
ROM không trọng lực2+ Yếu cộng (P+) Di động phần chi thể được một phần
ROM (< 50%) kháng trọng lực; hoặc toàn
bộ ROM không trọng lực với một sự đề kháng nhẹ
3- Khá trừ (F-) Di động phần chi thể được một phần
ROM (>50%) kháng trọng lực
3 Khá (F: fair) Di động phần chi thể qua hết toàn bộ
ROM kháng trọng lực3+ Khá cộng (F+) Di động phần chi thể qua hết toàn bộ
ROM kháng trọng lực với sự đề kháng nhẹ
4 Tốt (G:good) Di động phần chi thể qua hết toàn bộ
ROM kháng trọng lực với sự đề kháng trung bình
(N: normal)
Di động phần chi thể qua hết toàn bộ ROM kháng trọng lực với sự đề kháng tối đa
III TIẾN TRÌNH THỬ CƠ BẰNG TAY
Thử cơ nên tuân thủ tiến trình để bảo đảm sự chính xác và hằng định Tiến trình
mô tả dưới đây được phân thành: (1) tư thế, (2) ổn định, (3) sờ nắn, (4) quan sát, (5) đề kháng, và (6) định bậc
Trước tiên, đối tượng (ĐT) nên được đặt tư thế phù hợp với cơ được thử Người khám (NK) chọn vị chí phù hợp với thử nghiệm Tiếp theo, NK ổn định phần gần của khớp thực hiện cử động để loại bỏ những cử động không mong muốn, tách biệt nhóm cơ được thử để đảm bảo củ động thử nghiệm đúng Tiếp đến, NK mô tả hay thao diễn động tác ĐT thấy và yêu cầu họ thực hiện lại cử động đó; xong đặt lại tư thế khởi đầu NK quan sát một cách tổng thể hình thức và chất lượng của cử động, xem có cử động thế hay không, có khó khăn gì khi thực hiện cử động không để có thể điều chỉnh lại tư thế và sự ổn định Tiếp đến, NK đặc các ngón tay để sờ nắn cơ hay nhóm cơ chủ vận, hoặc là gân bám tận của chúng, rồi yêu cầu ĐT thực hiện lại động tác Một lần nữa, NK quan sát lại cử động để phát hiện cử động thế nếu có và tầm ROM hoàn thành Khi ĐT đã di chuyển phần cơ thể qua suốt ROM có thể có,
NK yêu cầu ĐT giữ ở vị thế cuối tầm NK rời các ngón tay đang sờ nắn cơ, và dùng bàn tay đó để đề kháng theo hướng ngược lại với cử động thử NK luôn phải
Trang 22duy trì sự ổn định trong khi đề kháng Thử nghiệm cơ này dùng kỹ thuật “thử nghiệm gián đoạn” (break test”); đó là sự đề kháng được đặt sau khi ĐT đã đạt được cuối tầm ROM có thể có.
Để tránh gây mệt và mất nhiều thời gian nếu thay đổi vị thế nhiều lần, trong một tư thế nên một lần nhiều cơ hay nhóm cơ với những bậc cơ tương ứng trong tư thế đó Nên theo tiến trình thử từ vị thế nằm ngửa, nằm nghiêng, nằm sấp, và cuối cùng là ngồi
Trang 23VẬN ĐỘNG TRỊ LIỆUMỤC TIÊU Sau khi học xong bài này, sinh viên cần:
1. Nêu được mục đích và tác dụng sinh học của vận động trị liệu.
2. Trình bày được các loại tập và tác dụng của vận động trong phục hồi chức năng.
NỘI DUNG
1 Định nghĩa
Vận động học là môn khoa học nghiên cứu về các mẫu vận động của cơ thể Vận động trị liệu là môn học áp dụng các kiến thức, kỹ năng vận động vào trong công tác phòng bệnh, điều trị và phục hồi chức năng
2 Mục đích
- Với hệ thống cơ xương khớp: làm tăng khối lượng cơ, thể tích và chiều dài cơ, tăng sức mạnh và sức chịu đựng của cơ tại chỗ, tái rèn luyện cơ bị liệt, phục hồi tầm vận động khớp
- Với hệ thần kinh: thông qua vận động và tập luyện giúp tăng khả năng điều hợp các động tác
- Với chuyển hóa chung và toàn thân: Giảm béo, kiểm soát tiểu đường tuýp II, huyết áp, phòng ngừa thương tật thứ phát
3 Các loại co cơ
Co cơ tĩnh
Là loại co cơ mà không làm thay đổi chiều dài cơ, chưa tạo ra được cử động khớp gọi là co cơ đẳng trường Loại co cơ này có tác dụng phòng ngừa teo cơ, loãng xương, biến dạng khớp và ngăn ngừa được các cử động ngoài ý muốn
Co cơ đồng tâm
Là loại co cơ khi lực co mạnh hơn sức đề kháng cử động, làm cho 2 đầu nguyên
ủy và bám tận xích lại gần nhau Trong vận động loại co cơ này là chủ yếu, có tác dụng tạo ra hiệu suất lớn
Co cơ sai tâm
Là loại co cơ khi co tạo ra khoảng cách giữa bám tận và nguyên ủy xa nhau
4 Tác dụng sinh học của vận động trị liệu
- Vận động làm tăng cung lượng tim, làm tăng cung cấp máu cho các hệ thống mao mạch nhờ đó tổ chức được nuôi dưỡng tốt hơn
- Duy trì độ dài bình thường của cơ, phòng chống teo cơ, co rút cơ
- Đảm bảo độ vững chắc và hình thể của các xương, duy trì tầm hoạt động khớp, phòng chống thoái hóa khớp, đề phòng loãng xương
- Điều chỉnh sự điều hợp của các hoạt động thần kinh, phục hồi chức năng vận động
Trang 24- Vận động trị liệu làm tăng chuyển hóa và đào thải chất các chất cặn bã, đốt cháy hoàn toàn các chất hữu cơ thành nước và CO2.
5 Các kỹ thuật vận động thường được áp dụng trong phục hồi chức năng
Sự vận động hoàn toàn của một khớp gọi là tầm vận động, khi cử động của chi thể được thực hiện trong tầm vận động, mọi cấu trúc như: cơ, diện khớp, dây chằng, thần kinh, mạch máu, thần kinh đều tham gia hoặc có ảnh hưởng Để mô
tả tầm vận động của một khớp, các thuật ngữ được dùng như: Gập, duỗi, dạng, khép, xoay Trong phục hồi chức năng các bài tập vận động bao gồm:
- Tập theo tầm vận động khớp (Range of motion exercises)
- Tập kháng trở (Resistance exercises)
- Tập kéo dãn (Stretching exercises)
5.1 Tập theo tầm vận động khớp
- Tập vận động thụ động: Là động tác được thực hiện bởi người điều trị hoặc dụng
cụ, (không có sự co cơ chủ động) tạo ra cử động của một khớp trong tầm vận động
- Chỉ định: Cơ bị liệt hoặc rất yếu (bậc 0-1), bệnh nhân không thể vận động một cách chủ động (hôn mê, liệt hay bất động hoàn toàn, có phản ứng viêm tại chỗ).-Tác dụng:
+ Duy trì tính đàn hồi cơ học của cơ
+ Tăng cường lưu thông của dịch khớp để nuôi sụn qua thẩm thấu
+ Duy trì sự nguyên vẹn của khớp và mô mềm, hạn chế tối thiểu hình thành co rút.+ Chuẩn bị cho tập chủ động
- Tập chủ động có trợ giúp: là động tác tập do người bệnh tự co cơ nhưng có sự trợ
giúp từ một lực bên ngoài bởi người điều trị hay dụng cụ cơ học hoặc tự trợ giúp loại bỏ trọng lực chi thể nhằm thực hiện động tác nhẹ nhàng hết tầm hoạt động Đây là bước đầu tiên trong tái rèn luyện cơ
- Chỉ định: khi người bệnh có yếu cơ bậc 2
- Tác dụng
+ Tăng cường sức mạnh cơ
+ Tăng cường chức năng của hệ tuần hoàn, hô hấp
+ Hỗ trợ và thiết lập mẫu cử động điều hợp
.- Tập chủ động: là động tác tập do chính người bệnh tự co cơ và hoàn tất không
cần có trợ giúp
- Chỉ định: khi có co cơ bậc 3
Tác dụng
+ Như vận động có trợ giúp và một số tác dụng do có sự co cơ
+ Duy trì tính đàn hồi và tính co giãn sinh lý của các cơ tham gia
+ Tăng cường tuần hoàn và ngăn ngừa tạo thành huyết khối
Trang 25+ Phát triển sự điều hợp và kỹ năng vận
- Chống chỉ định: khi tình trạng tim mạch không ổn định
5.2 Tập kháng trở: Là động tác tập do chính bệnh nhân hoàn tất có sự kháng lại bởi
kỹ thuật viên hoặc dụng cụ
- Chỉ định: co cơ bậc 4, 5
- Tác dụng
+ Tăng sức mạnh của cơ (lực tạo ra khi co cơ)
+ Tăng sức bền của cơ (cơ co cường độ thấp trong thời gian kéo dài)
+ Tăng công của cơ ( hiệu suất của cơ )
Thận trọng: với bệnh nhân cao tuổi, loãng xương, bệnh tim mạch, quá mệt mỏi, …
- Chống chỉ định: khi có viêm nhiễm, đau nhiều
5.3 Tập kéo dãn: tập kéo dãn là động tác tập cưỡng bức khi tầm vận động bị hạn chế do kỹ thuật viên hay do dụng cụ cơ học, cũng có thể do bệnh nhân tự kéo dãn
- Chỉ định:
+ Khi tầm vận động bị hạn chế do hậu quả của co rút, dính khớp và hình thành sẹo
tổ chức, dẫn đến các cơ, tổ chức liên kết và da bị ngắn lại so với bình thường
+ Khi co rút gián đoạn các hoạt động chức năng hàng ngày và chăm sóc điều dưỡng
+ Khi cơ bị yếu, tổ chức bị căng cơ yếu cần được kéo dài trước khi cần làm mạnh
+ Các cơ và mô liên kết bị bất động lâu ngày
+ Bệnh nhân bị đau khớp, đau cơ
+ Các mô bị phù
+ Tránh kéo dãn quá mức các cơ yếu
- Chống chỉ định:
+ Khi khối xương giới hạn vận động của khớp
+ Sau một gãy xương mới
+ Viêm cấp tính hoặc nhiễm trùng
+ Có đau nhói và đau cấp tính
+ Có khối máu tụ
Trang 266 Các bài tập vận động trị liệu chức năng
- Tập trên đệm: tập thay đổi tư thế từ nằm sấp qua nằm ngửa, tập thăng bằng khi ngồi, di chuyển, tập mạnh các cơ lưng, bụng, tập điều hợp và khéo léo, tập với bóng để chuẩn bị cho các động tác sau này
- Tập trong thanh song song (với nẹp hoặc không nẹp): tập tăng sức chịu đựng khi đứng, sức nặng cơ thể, tập thăng bằng, tập mạnh chi trên, tập kiểm soát khung chậu, tập sử dụng chân giả, tập dáng đi cơ bản
- Tập thăng bằng với nạng (có hay không có nẹp): tập thăng bằng bên, trước sau, tập kiểm soát khung chậu, cơ lưng, tập đi lạng theo các hướng, tập sử dụng nẹp, tập leo trèo, tập ngã
- Tập di chuyển: tập dáng đi, tập kỹ thuật tự di chuyển trong xe lăn, với lạng nẹp, tập đi nhanh, leo trèo thang gác, tập ngã
- Hoạt động trị liệu: tùy theo các loại khuyết tật sẽ có bài tập hoạt động trị liệu phù hợp
Kết luận
Vận động trị liệu là một trong những kỹ thuật phục hồi chức năng quan trọng
Kỹ thuật viên phục hồi chức năng cần phải có kiến thức về giải phẫu, sinh lý chức năng của các cơ tham gia vận động để tập đúng Bệnh nhân sẽ đáp ứng tốt với tập luyện và điều trị có hiệu quả
Trang 27ĐẠI CƯƠNG VẬT LÝ TRỊ LIỆUCác phương thức vật lí được ứng dụng trong điều trị
+ Điều trị bằng tia tử ngoại (ultraviolet therapy)
+ Điều trị bằng tia LASER (laser therapy)
1 Điện trị liệu:
+ Điều trị bằng dòng điện một chiều đều (dòng galvanic):
+ Điều trị bằng dòng điện xung tần số thấp, tần số trung, điện thế thấp
5 Điều trị bằng tác nhân cơ học (mechanical dynamic therapy)
Trang 28- Nhiệt nóng trị liệu nông
- Nhiệt nóng trị liệu sâu
2 Nhiệt nóng trị liệu nông
Áp dụng ở vùng được che phủ bởi lớp tổ chức liên kết mỏng, nhiệt tác dụng tối
đa ở da và tổ chức mỡ dưới da
2.1 Các phương thức dẫn nhiệt
+Dẫn truyền trực tiếp do tiếp xúc: Túi nóng, Parafin
+ Cơ chế nhiệt đối lưu
Là một trị liệu bằng chất lỏng do sử dụng một thiết bị thổi không khí nóng qua dung dịch có chứa bột cellulose mịn để tạo ra chất lỏng trộn lẫn không khí nóng có nhiệt độ 380-470C để nhúng đầu các chi cần điều trị trong 20-30 phút
+ Phương pháp nhiệt bức xạ: Năng lượng hồng ngoại có thể qua da và chuyển thành nhiệt cho điều trị nông Hồng ngoại được bắt đầu điều trị bằng cách chiếu nguồn điện qua phần bề mặt cơ thể Khoảng cách từ đèn đến bề mặt từ 45-60cm Thời gian điều trị từ 20-30 phút
Trang 29- Tác dụng lên mô cơ: Gia tăng nhiệt độ làm cơ thư giãn và gia tăng hiệu năng co
cơ Các sợi cơ co và giãn nhanh hơn và sự thư giãn các cơ đối kháng cho phép các
cơ chủ vận hoạt động dễ dàng hơn
Toàn thân
+ Khi nhiệt nóng đuợc áp dụng trên một diện rộng, kéo dài Máu ngoại vi nhận nhiệt lượng và chuyển đi khắp cơ thể Máu được sưởi nóng sẽ kích thích trung khu điều hoà thân nhiệt hoạt động tạo ra:
- Giãn mạch toàn thể hệ thống ngoại biên
- Gia tăng hoạt động của tuyến mồ hôi
- Hiệu quả xa hơn là giãn mạch dẫn đến hạ huyết áp cũng như tăng hoạt tuyến mồ hôi làm gia tăng sự thải bỏ chất cặn bã
3 Chỉ định điều trị
Chỉ định tại chỗ:
- Làm tăng tái sinh tổ chức, mau liền vết thuơng hoặc vết loét, làm liền sẹo
- Tăng khả năng chống viêm tại chỗ: Các vết thương nông, nhiễm trùng da, phù nề
do viêm, do ứ trệ tuần hoàn
- Giảm đau: Đau lưng, đau khớp, đau dây thần kinh
- Giãn cơ: Mô cơ được sưởi ấm làm giảm sự co thắt để chuẩn bị cho tập vận động
3 Nhiệt nóng trị liệu sâu
Khi áp dụng phương thức này làm nóng mô ở độ sâu tối đa 3-5 cm mà không làm tăng nhiệt độ ở da và tổ chức dưới da, nhiệt sâu sinh ra nhờ việc chuyển năng lượng thành nhiệt, nhiệt sâu được xử dụng để điều trị các cấu trúc, tổ chức như: cơ, xương, dây chằng, bao khớp
Các nguồn tạo nhiệt sâu gồm: Sóng ngắn(Short wave), vi sóng(micro wave)
và siêu âm(Untrasound)
Trang 303.1 Sóng ngắn và vi sóng
Dòng điện cao tần là dòng điện xoay chiều, có tần số trên 20000 Hz Xung quanh dây dẫn có dòng điện cao tần chạy qua sẽ xuất hiện một từ trường cao tần Dòng điện cao tần và từ trường cao tần tồn tại độc lập trong phạm vi một bước sóng (λ: lamda) Ngoài phạm vi một bước sóng, điện trường và từ trường kết hợp tạo ra sóng điện từ Do có sự liên quan mật thiết giữa điện trường và từ trường cao tần nên thuật ngữ “Điều trị bằng dòng điện cao tần” bao gồm cả điện trường và từ trường cao tần
Dòng điện cao tần không gây kích thích tần kinh, tác dụng chủ yếu của dòng điện cao tần là tạo ra các hiệu ứng kích thích sinh học và hiệu ứng nhiệt
Sóng ngắn xử dụng sóng điện từ có tần số từ 12 – 27 MHz biến đổi thành nhiệt để điều trị Sóng ngắn làm tăng nhiệt độ ở mô sâu tới 4 – 60C
Vi sóng là thuật ngữ chỉ các dao động cao tần hay sóng tối cực ngắn (có λ < 1m) Dải tần số gần ngay bức xạ hồng ngoại (f >30MHz)
Trong y học, thường dùng các bước sóng có bước sóng 12,2 cm; 16,6 cm, 85 cm,
+ Như các loại điện trị liệu
+ Vùng cơ thể có kim loại
+ Đặt máy tạo nhịp
+ Tình trạng kích thích da, niêm mạc
+ Có thai, kinh nguyệt
+ Da ẩm hoặc có vật ẩm ướt vùng điều trị.
3.2 Điều trị bằng siêu âm
Khái niệm về âm và siêu âm:
+ Sóng âm lan truyền dao động trong môi trường đàn hồi dưới dạng sóng dọc (phương dao động của các phần tử trong môi trường đàn hồi trùng với phương
Trang 31truyền của sóng) Các âm có tần số trên 20000 Hz, tai người không nghe được, gọi
là siêu âm, trong kỹ thuật người ta có thể tạo ra siêu âm đạt đến tần số 2.108Hz
Tác dụng sinh học của siêu âm:
Dưới tác dụng của siêu âm, các phân tử trong môi trường đàn hồi dao động tuần hoàn quanh vị trí cân bằng của chúng Sự dao động này gây nên sự biến đổi áp suất trong môi trường cũng có tính chắc tuần hoàn phù hợp với tần số của siêu âm Dao động của siêu âm có dạng sin gây nên sự biến đổi áp suất tại mỗi điểm của môi trường, sự biến đổi áp suất này gây ra trong cơ thể sống: hiệu ứng cơ học, hiệu ứng hoá học và hiệu ứng nhiệt học
Hiệu ứng nhiệt:
Các phần tử của môi trường dao động dưới tác dụng của siêu âm, cơ năng sẽchuyển thành nhiệt năng do ma sát làm tăng nhiệt độ của tổ chức Hiệu ứng nhiệt phụ thuộc vào cường độ và thời gian Siêu âm được hấp thu làm giảm cường độ ở xương, cơ, gân, mô mỡ và da
Hiệu ứng cơ học:
Trong môi trường chất lỏng, trong pha dãn do áp suất giảm thấp đột ngột, làm chất lỏng bị bung ra hình thành tại đó các khoảng nhỏ chứa đầy hơi của chất lỏng Hiện tượng này gọi là hiện tượng tạo lỗ Nếu một cấu trúc nào đó nằm đúng vào chỗ tạo lỗ, cấu trúc đó sẽ bị phá huỷ Ở tổ chức xơ sẹo, sự tạo lỗ sẽ phá đứt các sợi chun, sợi hồ, các sợi fibrin làm sẹo mềm mại
Hiệu ứng hoá học:
Dưới tác dụng của siêu âm, các phân tử trong môi trường chuyển động với tốc
độ lớn, quá trình va chạm và ma sát xảy ra, các phân tử có thể bị kích thích hay ion hoá Hiện tượng này làm tăng tốc độ các phản ứng sinh học, tăng chuyển hoá của
tổ chức
Siêu âm dẫn thuốc:
+ Có thể dùng siêu âm đưa thuốc qua da để điều trị tại chỗ gọi là Phonophoresis,người ta pha các thuốc vào chất tiếp xúc giữa đầu phát siêu âm và da rồi dùng siêu
âm để đưa thuốc vào tại chỗ Các thuốc thường dùng là mỡ hydrocortisol, mỡ nọc rắn, mỡ profenit, mỡ kháng sinh…
2.5 Kỹ thuật diều trị:
+ Siêu âm điều trị có thể dùng sóng liên tục hay ngắt quãng, liều thông thường từ 0,5-2 W/cm2 thời gian điều trị từ 5-10 ngày hàng ngày hoặc cách ngày, liệu trình từ 6-12 lần
+ Siêu âm dẫn thuốc: thường được sử dụng siêu âm có tần số 1-2MHz, cường độ 1-3W/cm2, liên tục hoặc ngắt quãng, 5-7 phút cho một vị trí da điều trị, điều trị ngày một lần trong khoảng 10 ngày
3.1 Chỉ định điều trị bằng siêu âm:
Trang 32- Làm mềm mô sẹo (nông và sâu), co rút khớp.
- Đau cơ, thần kinh
- Viêm gân, viêm bao hoạt dịch, viêm cơ, viêm xương
- Sau phẫu thuật nối đứt gân, sau gãy xương
3.2.Chống chỉ định:
- Các vùng không được điều tri bằng siêu âm: não, tuỷ sống, cơ quan sinh dục, thai nhi
- Vùng điều trị có mang các vật kim loại, hoặc vật rắn (đinh, nẹp vít…) do chúng
có hệ số hấp thu siêu âm cao
Trang 33ĐIỀU TRỊ BẰNG DÒNG ĐIỆN
I MỤC TIÊU:Sau khi học bài này học viên có thể
1 Nêu được các tác dụng của dòng điện trên cơ thể
2 Đưa ra được chỉ định điều tri bằng dòng điện
3 Xử dụng được các máy điều trị điện trên bệnh nhân
II NỘI DUNG
ĐIỀU TRỊ BẰNG DÒNG ĐIỆN MỘT CHIỀU
( Dòng Galvanic)
1.Định nghĩa.
Dòng điện một chiều là dòng điện có chiều vận động của các điện tử và cường độ dòng điện không thay đổi trong suốt thời gian điều trị
2 Tác dụng sinh học của dòng Galvanic.
Cơ thể người có thể xem như một vật thể xốp được thấm một dung dịch hỗn hợp nhiều chất điện giải, trong đó NaCl chiếm tỉ lệ cao nhất Do cấu trúc màng tế bào và các màng ngăn là màng bán thấm, cho phép các chất điện giải đi qua theo một quy định nghiêm ngặt, bởi vậy cơ thể bị ngăn ra thành nhiều ô với nồng độ các chất điện giải khác nhau trong từng ô Kết quả là dòng điện chạy qua cơ thể không đồng đều ở các vị trí khác nhau Dưới đây là một số tác dụng sinh lí của dòng Galvanic
2.1 Tác dụng do sự tập trung của các ion.
Khi dòng Gavanic qua cơ thể, giữa các điện cực có một điện trường hằng định làm cho tất cả các chất dưới dạng ion di chuyển, đồng thời có sự vận động của phần tử nước Các ion mang điện tích dương đi về cực âm, các ion âm đi về cực dương
2.2 Tác dụng vận mạch:
Dòng Galvanic gây nên sự dãn mạch mạnh giữa hai điện cực Quá trình dãn mạch bao gồm cả ở mạch máu dưới da và các mạch máu nằm sâu trong lớp cơ Hiện tượng này tồn tại trong vài giờ sau đó mất đi
2.3.Tác dụng lên hệ thần kinh:
+ Tác dụng lên hệ thần kinh ngoại vi:
Dòng Galvanic tác dụng trực tiếp lên các thụ cảm thể ở da làm dịu cảm giác đau tại chỗ Ngoài ra, theo cơ chế phản xạ tiết đoạn nó còn làm giảm được đau ở cơ, xương, khớp hoặc các tạng tương ứng
+ Tác dụng lên thần kinh trung ương:
Nếu chiều của dòng điện cùng chiều với đuờng dẫn truyền thần kinh vận động (ví dụ: điện cực dương ở trán, điện cực âm ở hai chân) thì có tác dụng an thần, hạ
Trang 34huyết áp Nếu đặt ngược lại thì có tác dụng hưng phấn thần kinh và tăng nhẹ huyết áp.
2.4 Điện di ion thuốc (còn gọi là điện dẫn thuốc): Là phương pháp đưa thuốc vào
cơ thể bằng dòng điện một chiều Phương pháp này nhằm kết hợp tác dụng của dòng Gavanic và tác dụng của các ion thuốc sẵn có Nguyên tắc chính là các thuốc phân ly dưới dạng ion sẽ được di chuyển đến các điện cực trái dấu Phương pháp này cũng có ích trong mục đích loại bỏ bớt các ion có hại trong cơ thể
Phản ứng dưới các điện cực
Hình: Hiện tượng điện phânNếu đặt điện cực kim loại trực tiếp lên da, cực âm sẽ bị bỏng da do kiềm, cực dương bị bỏng da do axit Để tránh tai biến đó, giữa da và điện cực kim loại cần có một điện cực lót bằng gạc, vải hoặc tấm bọt cao su xốp, các điện cực lót này được làm ẩm để dẫn điện có độ dày khoảng 1-1,5 cm
+ Các thuốc sử dụng bằng đường điện di ion thuốc: Nhìn chung các gốc axit, các á kim thì mang điện tích âm, do đó được đưa vào cơ thể bằng cực (-) Các kim loại mang điện tích dương, do đó được đưa vào bằng cực (+), vì hướng vận động của các ion là về phía điện cực trái dấu
Các alcaloid, các kháng sinh (trừ penicyclin mang điện tích âm nên được đưa vào bằng cực âm); corticoid là các chất mang điện tích dương, nên được đưa vào cơ thể bằng cực dương
3.Chỉ định và chống chỉ định của điều trị bằng dòng điện một chiều đều và điện di ion thuốc:
3.1.Chỉ định:
+ Giảm đau do các bệnh mãn tính: viêm khớp, viêm rễ thần kinh
+ Tăng cường tuần hoàn, dinh dưỡng tại chỗ hay toàn thân
+ Điều hoà quá trình hưng phấn và ức chế của hệ thần kinh trung ương
+ Đưa ion thuốc vào cơ thể, lấy ra các ion có hại
Trang 35Hình: Điện phân thuốc vào khớp gối
+ Dị ứng với thuốc sử dụng làm điện di
+ Bệnh nhân tâm thần kích động, trẻ em (vì không kiểm soát được)
Trang 36ĐIỀU TRỊ BẰNG CÁC DÒNG ĐIỆN XUNG TẦN SỐ THẤP
1.2 Phân loại dòng điện xung
+ Căn cứ vào tần số:
- Dòng điện xung có tần số thấp: 1 đến 1000 Hz
- Dòng điện xung có tần số trung: 1000 đến 20000 Hz
+ Căn cứ vào loại dòng điện:
- Dòng điện xung một chiều
- Dòng điện xung xoay chiều
+ Căn cứ vào chế độ phát xung:
- Dòng điện xung liên tục
- Dòng điện xung ngắt quãng
- Dòng điện xung uốn sóng (biến đổi biên độ theo chu kỳ)
- Dòng điện xung biến đổi về tần số
2 Tác dụng trên lâm sàng
2.1 Tác dụng của kích thích cơ bằng điện
+ Tái rèn luyện cơ: Dòng điện xung tạo ra sự co cơ nhằm phục hồi cảm giác vận động ở những bệnh nhân do bất động lâu ngày co cơ tự ý không thể thực hiện được + Tạo thuận cho sự co cơ: Khi bệnh nhân khó hay không thể co cơ tự ý do đau, chấn thương mới
+ Làm mạnh cơ: Có giá trị ngăn ngừa teo cơ do chấn thương xương khớp phải bất động
+ Tập luyện cho các cơ liệt: Các cơ mà xung động thần kinh không tới được để chi phối, kích thích điện để tập cho cơ liệt chờ sự phục hồi của dây thần kinh
2.2 Tác dụng của kích thích thần kinh cảm giác bằng điện
+ Giảm đau qua cơ chế đóng cổng tại sừng sau tủy gai: tín hiệu đau bị chặn lại tại tủy gai nên ít tới các trung khu thần kinh cao hơn do đó cảm giác đau giảm hoặc mất hẳn
+ Giảm đau qua cơ chế giải phóng endophin: làm giải phóng enkephalin tại tủy gai, phóng thích beta-endophin từ tuyến yên vào dịch não tủy và các morphin nội sinh khác tại mức tủy trên tủy gai Các hóa chất này có tác dụng giảm đau
Trang 37+ Giảm đau qua cơ chế hoạt hóa hệ ức chế đau hướng xuống: ức chế đau hướng xuống theo kiểu “đau ức chế đau”, hệ ly tâm này sẽ đóng cổng đau tại tủy gai dẫn tới tác dụng giảm đau.
3 Chỉ định và chống chỉ định điều trị bằng điện xung
3.1 Chỉ đinh
+ Giảm đau: đau do chấn thương, đau do các viêm mãn tính như viêm khớp dạng thấp, viêm rễ - dây thần kinh
+ Tập luyện tăng sức mạnh cơ, tái rèn luyện cơ sau bất động …
+ Phục hồi liệt, teo cơ do tổn thương thần kinh ngoại vi
3.2 Chống chỉ định
- Vùng đang có chảy máu hoặc đe doạ chảy máu
- Các khổi u kể cả u lành và u ác tính
- Các ở viêm cấp do nhiễm khuẩn, viêm đang tạo mủ
- Lao xương, lao ở khớp
- Viêm tắc động mạch, tĩnh mạch
- Người mang máy tạo nhịp tim
Trang 38+ Làm giảm áp lực nội đĩa đệm, tăng tính thấm vào đĩa đệm.
+ Giải phóng sự khoá cứng của các khớp nhỏ đốt sống, làm tăng tính linh hoạt của cột sống
4.2 Tác dụng trên lâm sàng
+ Làm giãn cơ vùng cột sống, tăng nuôi dưỡng cục bộ
+ Tăng tầm vận động của đoạn cột sống bị hạn chế , khôi phục lại cấu trúc và chức năng bình thường của cột sống
+ Giải phóng sự chèn ép rễ thần kinh do đó giảm đau
+ Tạo thuận lợi cho thoát vị đĩa đệm mới bị ở mức độ nhẹ hoặc vừa trở về vị trí cũ
5 Chỉ định và chống chỉ định:
Chỉ định
+ Thoát vị đĩa đệm cột sống mức độ nhẹ và vừa có hoặc không chèn ép rễ thần kinh
+ Thoát vị đĩa đệm cấp tính Kéo giữ bệnh nhân bất động trên giường
+ Các chứng đau lưng, cổ vai do thoái hoá cột sống, co thắt cơ
Chống chỉ định
+ Trượt đốt sống, tật bẩm sinh làm cột sống biến dạng(vẹo cột sống nặng)
+ Các chấn thương gây tổn thương đốt sống và tuỷ sống
+ Đốt sống bị phá huỷ do lao, loãng xương, ung thư cột sống
+ Tăng huyết áp, bệnh tim mạch…