- Vùng đất Chí Linh có hệ thống di tích lịch sử văn hoá dầy đặc trên 300 di tích trong đó khu vực Côn Sơn - Kiếp Bạc là một trong những trung tâm tôn giáo tín ngưỡng lớn của vùng đồng bằ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
-
MẠC THỊ NHUNG
KHÔNG GIAN VĂN HÓA CÔN SƠN – KIẾP BẠC
LUẬN VĂN THẠC SĨ Ngành: Việt Nam học
Hà Nội, 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
-
MẠC THỊ NHUNG
KHÔNG GIAN VĂN HÓA CÔN SƠN – KIẾP BẠC
Luận văn Thạc sĩ ngành Việt Nam học
Mã số: 60.22.01.13
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS.NGND Nguyễn Quang Ngọc
Hà Nội, 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn “Không gian văn hóa Côn Sơn – Kiếp Bạc” là một công trình nghiên cứu nghiêm túc, khoa học, và là kết quả của quá trình học tập tại Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển - Đại học Quốc gia Hà Nội của tác giả dưới
sự hướng của các thầy cô bộ môn; sự giúp đỡ của các thầy cô trong ban lãnh đạo
và các phòng ban chức năng của Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển Tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ quý báu đó!
Đặc biệt, tôi xin gửi lời biết ơn chân thành đến GS.TS.NGND Nguyễn Quang Ngọc là giáo viên trực tiếp hướng dẫn luận văn cho tôi, người đã luôn tận tình hướng dẫn, dành nhiều thời gian quý báu để trao đổi và định hướng nghiên cứu cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn này
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ UBND thị xã Chí Linh, BQLDT thị xã Chí Linh – tỉnh Hải Dương, BQLDT Côn Sơn – Kiếp Bạc và người dân ở các thôn trong khu vực Côn Sơn – Kiếp Bạc đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra khảo sát, điền dã thực tế thực hiện đề tài
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè đã luôn động viên và là chỗ dựa tinh thần để tôi học tập và thực hiện thành công đề tài luận văn này!
Tôi xin trân trọng gửi lời tri ân đến tất cả!
Học viên cao học khoá 6 Mạc Thị Nhung
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn: “Không gian văn hóa Côn Sơn – Kiếp Bạc”
là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả được đưa ra trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác Mọi tham khảo trong luận văn đều được trích dẫn rõ nguồn, đảm bảo tính khách quan của tư liệu và bản quyền tác giả
Học viên
Mạc Thị Nhung
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lí do chọn đề tài 3
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Đóng góp của luận văn 9
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 9
6 Bố cục luận văn 10
NỘI DUNG 11
Chương 1: VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ KHU VỰC CÔN SƠN –KIẾP BẠC 11
1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên khu vực Côn Sơn – Kiếp Bạc 11
1.1.1 Vị trí địa lý 11
1.1.2 Tài nguyên thiên nhiên 14
1.2 Quá trình hình thành cộng đồng dân cư khu vực Côn Sơn – Kiếp Bạc 18
1.2.1 Từ những cư dân đầu tiên cho đến thế kỷ X 18
1.2.2 Cộng đồng cư dân Côn Sơn – Kiếp Bạc từ thế kỷ X đến nay 22
Chương 2: DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TIÊU BIỂU, PHONG TỤC, TẬP QUÁN, TÍN NGƯỠNG, LỄ HỘI Ở KHU VỰC CÔN SƠN – KIẾP BẠC 27
2.1 Vài nét về các di tích lịch sử văn hóa 27
2.1.1 Cụm di tích Côn Sơn 27
2.1.2 Cụm di tích Kiếp Bạc 36
2.1.3 Cụm di tích Phượng Hoàng 44
2.1.4 Di tích lịch sử đền Sinh, đền Hóa 53
2.2 Phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lễ hội của nhân dân trong khu vực Côn Sơn – Kiếp Bạc 56
2.2.1 Tổ chức xã hội “làng” trong khu vực 56
2.2.2 Những biểu hiện cụ thể của phong tục, tập quán trong khu vực Côn Sơn – Kiếp Bạc 58
2.2.3 Lễ hội trong khu vực Côn Sơn – Kiếp Bạc 78
Trang 6Chương 3: ĐẶC TRƯNG KHÔNG GIAN VĂN HÓA CÔN SƠN – KIẾP BẠC 85
3.1 Không gian hội tụ địa linh, nhân kiệt 85
3.2 Không gian lịch sử điển hình 91
3.3 Không gian văn hóa tâm linh sâu sắc 101
3.3.1 Chùa Côn Sơn - một trung tâm Phật giáo của xứ Đông 101
3.3.2 Đền Kiếp Bạc – một trung tâm tín ngưỡng của người Việt 103
3.3.3 Đền thờ Chu Văn An – nơi tôn vinh Nho học và giáo dục 107
3.4 Bảo tồn và phát huy giá trị của không gian văn hóa Côn Sơn – Kiếp Bạc 111
KẾT LUẬN 117
TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
- Khu vực Côn Sơn - Kiếp Bạc gắn bó mật thiết với cuộc đời, sự nghiệp của các danh nhân văn hoá nổi tiếng của đất nước như 3 vị Tổ của Thiền phái Phật giáo Trúc Lâm; anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn, Vạn thế sư biểu Chu Văn An, anh hùng dân tộc danh nhân văn hoá thế giới - Nguyễn Trãi, nữ tiến sĩ Nguyễn Thị Duệ… Nơi đây không chỉ là một trong những trung tâm tôn giáo tín ngưỡng lớn mà còn là địa điểm quân sự chốt giữ phía Đông của kinh đô Thăng Long Khu vực Côn Sơn - Kiếp Bạc gắn với các cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại của dân tộc ở nhiều thời kỳ lịch sử đặc biệt là cuộc kháng chiến chống đế quốc Nguyên Mông ở thế kỷ XIII nơi đây còn là vùng đất có cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, núi rừng hùng vĩ, sông ngòi đất đai trù phú giầu sản vật; con người đông đúc trọng hiền tài, hiếu học cần cù lao động Trải qua quá trình tồn tại và phát triển trong nhiều thời kỳ lịch sử Côn Sơn - Kiếp Bạc còn lưu giữ hệ thống di sản văn hoá có nhiều giá trị và bản sắc của vùng đất xứ Đông góp phần làm phong phú kho tàng văn hóa dân tộc
- Hiện nay đất nước ta đang trong quá trình đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong đó nhiệm vụ chấn hưng nền văn hoá của dân tộc, hướng về cội nguồn, phát huy truyền thống yêu nước thì việc nghiên cứu bảo tồn di sản văn hoá, làm sáng tỏ hệ thống di tích lịch sử cùng cuộc đời, thân thế, sự nghiệp của các anh hùng dân tộc, tìm hiểu truyền thống và kinh nghiệm của cha ông để tiếp thêm sức mạnh cho tiến trình hội nhập và phát triển trong giai đoạn hiện nay là việc làm có ý nghĩa thiết thực và cực kỳ quan trọng Việc nghiên cứu hệ thống di tích lịch sử, phân tích những tác động của nó đối với đời sống xã hội hiện tại, đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm bảo tồn phát huy tác dụng của nó trong nền kinh tế trí thức hôm nay là một việc làm cần thiết
và cấp bách
- Khu vực Côn Sơn - Kiếp ngoài giá trị về văn hoá nói chung, còn là một trong những trung tâm văn hoá tâm linh bảo tồn nhiều giá trị văn hoá phi vật thể độc đáo của khu vực đồng bằng Bắc Bộ Chính vì thế việc nghiên cứu tìm hiểu không gian văn hóa Côn Sơn - Kiếp Bạc từ xưa đã được nhiều học giả, các nhà khoa học quan tâm tìm hiểu nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau Nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào mang
Trang 8tính toàn diện; đặc biệt là việc đặt chúng trong mối tương quan so sánh trong một thời gian, không gian, địa lý cảnh quan môi trường; so sánh sự ra đời, phát triển và tính chất thờ tự để nghiên cứu, thấy được tính đặc thù của Côn Sơn - Kiếp Bạc về văn hoá vật thể
và phi vật thể Qua đó góp phần hoạch định nhiệm vụ bảo tồn, tôn tạo, phát huy các giá trị văn hoá của khu di tích phục vụ cho nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của địa phương và khu vực ở giai đoạn hiện tại và tương lai Đề tài khoa học này sẽ thoả mãn nhiệm vụ và yêu cầu nêu trên
- Vùng đất Chí Linh có hệ thống di tích lịch sử văn hoá dầy đặc (trên 300 di tích) trong đó khu vực Côn Sơn - Kiếp Bạc là một trong những trung tâm tôn giáo tín ngưỡng lớn của vùng đồng bằng Bắc Bộ Nơi đây hệ thống giao thông thuỷ bộ về kinh
đô Thăng Long, ra biển, lên biên giới phía Bắc (Lạng Sơn), vào nội địa đều thuận lợi Nơi giao thương buôn bán về kinh tế, hội nhập văn hoá của các vùng miền, là một trong những trung tâm văn hoá quan trọng ở phía Đông của kinh đô Thăng Long Việc nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần làm sáng tỏ những giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể của khu di tích Từ đó vạch ra nhiệm vụ bảo tồn phát huy giá trị di tích góp phần phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Tỉnh và khu vực
Từ ý nghĩa khoa học và tính cấp thiết trên, chúng tôi chọn đề tài: “Không
gian văn hóa Côn Sơn – Kiếp Bạc” làm nội dung luận văn thạc sĩ chuyên ngành
Việt Nam học của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Với những giá trị về văn hóa, lịch sử, khu vực Côn Sơn - Kiếp Bạc đã được nhiều người nghiên cứu, tìm hiểu dưới các góc độ khác nhau
* Nghiên cứu về di tích và danh nhân
Năm 1999 Sở Văn hóa Thông tin Hải Dương xuất bản cuốn Hải Dương di tích
và danh thắng có giới thiệu các di tích trong khu vực Côn Sơn – Kiếp Bạc là: Chùa
Côn Sơn, đền Kiếp Bạc, đền Sinh, đền thờ nhà giáo Chu Văn An
Năm 2000, trong Luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Hán Nôm Khảo sát văn
bia chùa Côn Sơn trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội, của
Nguyễn Văn Nguyên, tác giả đã phiên âm, dịch nghĩa toàn bộ hệ thống văn bia chùa Côn Sơn
Trang 9Năm 2000, Trần Quốc Vượng trong bài viết Đôi điều cảm nhận về khu di
tích Kiếp Bạc trên tạp chí Xưa và Nay đã bước đầu chỉ đặc trưng và mối quan hệ
văn hóa, tín ngưỡng giữa khu di tích Kiếp Bạc, khu di tích Côn Sơn và khu di tích Phượng Hoàng
Năm 2002, Nguyễn Thị Phương Chi trong cuốn Thái ấp điền trang thời Trần
(thế kỷ XIII - XIV) do Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản đã nghiên cứu khá chi
tiết về thái ấp Vạn Kiếp thế kỷ XIII
Năm 2006, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản cuốn Di sản Hán Nôm
Côn Sơn - Kiếp Bạc - Phượng Sơn của Ban quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc, cuốn
sách là tập hợp các tài liệu thư tịch Hán Nôm viết về khu di tích Côn Sơn, Kiếp Bạc, Phượng Hoàng như văn bia, hoành phi, câu đối, ngọc phả
Năm 2006, tác giả Đặng Việt Cường trong bài Vị thế của Côn Sơn – Kiếp
Bạc trong hệ thống di tích tỉnh Đông trên Tạp chí Di sản Văn hóa đã khát quát về
những giá trị văn hóa, lịch sử, tôn giáo của khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc
Năm 2006, Tăng Bá Hoành trong nghiên cứu Côn Sơn – Kiếp Bạc quá trình
hình thành và phát triển trên Tạp chí Di sản Văn hóa đã nghiên cứu, giới thiệu lịch
sử hình thành, địa văn hóa, quân sự khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc
Năm 2008, UBND thị xã Chí Linh và Liên hiệp các Hội Khoa học Kĩ thuật
Hải Dương tổ chức hội thảo Chí Linh bát cổ, hội thảo đã nhận được các tham luận
nghiên cứu về các di tích “Huyền Thiên cổ tự”, “Tiều ẩn cổ bích”
Năm 2009, Hoàng Thị Hương trong Luận văn Thạc sỹ Văn hóa học Tìm hiểu
danh nhân Chu Văn An từ góc nhìn văn hóa học đã nghiên cứu danh nhân Chu Văn
An với các hình thức tôn vinh trong truyền thống văn hóa dân tộc
Năm 2010, Nguyễn Khắc Minh bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ khoa học
Lịch sử Khu di tích lịch sử, văn hoá Côn Sơn, Kiếp Bạc - những giá trị lịch sử, văn
hoá Với nguồn tư liệu phong phú, luận án cung cấp nhiều thông tin có giá trị về
vùng đất Chí Linh và khu di tích Côn Sơn, Kiếp Bạc
Năm 2010, Tống Thị Thanh Hải trong Luận văn thạc sỹ khoa Lịch sử, trường
Đại học Sư phạm hà Nội: Tìm hiểu các nhân vật lịch sử tiêu biểu từ thế kỷ XIII - XV
trong đời sống tâm linh của nhân dân huyện Chí Linh - tỉnh Hải Dương đã giới
Trang 10thiệu các di tích, danh nhân, lễ hội trong khu vực Côn Sơn – Kiếp Bạc như đền Kiếp Bạc, chùa Côn Sơn, đền Chu Văn An
Tất cả những tư liệu trên hoặc là đi vào nghiên cứu chi tiết, hoặc là mới dừng lại ở mức độ khái quát về các di tích và giá trị trong không gian văn hóa Côn Sơn – Kiếp Bạc Bên cạnh đó nghiên cứu về danh nhân các danh nhân cũng được một vài tác giả quan tâm đề cập
*Nghiên cứu về phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội
Năm 2009, Viện nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật, Sở Văn hóa Thể thao và
Du lịch Hải Dương, Giáo hội Phật giáo tỉnh Hải Dương đã phối hợp tổ chức Hội
thảo khoa học Bảo tồn và phát huy di sản Đệ tam tổ thiền phái Trúc Lâm Huyền
Quang và Lễ hội chùa Côn Sơn Hội thảo đã nhận được 21 bài tham luận của các tác
giả, trong đó có 4 bài nghiên cứu về lễ hội chùa Côn Sơn
Năm 2009, Nguyễn Khắc Minh trong bài viết Lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc
những kết quả sau 4 năm thực hiện đề án đăng trên tạp chí Thế giới Di sản, số 7
(34) đã đánh giá những kết quả tích cực của Đề án Lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc giai đoạn năm 2006 - 2010 và đề xuất phương án tổ chức cho những năm tiếp theo
Năm 2009, Ban quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc nghiên cứu đề tài khoa
học cấp tỉnh Điều tra, nghiên cứu thực trạng và đề xuất biện pháp bảo tồn, phát huy
các giá trị văn hóa của một số lễ hội tiêu biểu thuộc dòng thiền Trúc Lâm ở tỉnh Hải Dương Đề tài nghiên cứu, giới thiệu một số nghi lễ, trò chơi dân gian diễn ra
trong lễ hội chùa Côn Sơn hiện nay, đồng thời đề xuất các biện pháp để bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của lễ hội chùa Côn Sơn trong tương lai
Năm 2010, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Hải Dương xuất bản cuốn Lễ hội
dân gian tỉnh Hải Dương trong đó có giới thiệu các lễ hội chùa Côn Sơn, lễ hội đền
Kiếp Bạc, lễ hội đền Chu Văn An
Năm 2012, Nguyễn Thị Ngọc Xuân đã giới thiệu về các trò chơi dân gian
tiêu biểu trong lễ hội chùa Côn Sơn qua bài nghiên cứu Trò chơi dân gian trong lễ
hội chùa Côn Sơn đăng trên tạp chí Văn hóa Thể thao và Du lịch số 5 (92) Qua bài
viết, tác giả cũng đề xuất những biện pháp nhằm duy trì, bảo tồn các trò chơi dân gian có nguy cơ thất truyền
Trang 11Năm 2012, Ngô Thị Lượng trong bài viết Đàn Mông Sơn Thí thực trong lễ
hội chùa Côn Sơn đăng trên tạp chí Văn hóa Thể thao và Du lịch số 5 (92), đã bước
đầu nghiên cứu về nội dung và ý nghĩa của đàn Mông Sơn Thí Thực trong lễ hội chùa Côn Sơn
Năm 2012, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Hải Dương đã lập Hồ sơ khoa
học Lễ hội Chùa Côn Sơn đề nghị đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể
quốc gia Nội dung hồ sơ đã nêu khái quát nguồn gốc hình thành, diễn trình lễ hội trước năm 1945 và hiện nay, giá trị tiêu biểu và đề xuất các biện pháp bảo tồn lễ hội chùa Côn Sơn
Năm 2012, Nguyễn Thị Thùy Liên bảo vệ luận văn Thạc sỹ Văn hóa học
trường Đại học Văn hóa Hà Nội Lễ hội đền Kiếp Bạc (xã Hưng Đạo, thị xã Chí
Linh, tỉnh Hải Dương) đã nghiên cứu về lịch sử hình thành, các nghi lễ diễn xướng
và giá trị trị tiêu biểu của lễ hội Kiếp Bạc
Năm 2014, Lê Thị Bé trong luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Văn hóa học
của Học viện Khoa học xã hội Lễ hội chùa Côn Sơn xưa và nay đã nghiên cứu
nguồn gốc hình thành, các nghhi lễ diễn xướng tiêu biểu trong lễ hội Côn Sơn trước năm 1945 đến ngày nay
Các nghiên cứu trên đây đã giới thiệu khái quát về phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội truyền thống ở khu vực Côn Sơn - Kiếp Bạc hiện nay; bước đầu xác định các giá trị tiêu biểu và đề xuất các biện pháp bảo tồn các nghi lễ, trò chơi có nguy cơ thất truyền
Nhìn chung, các nghiên cứu trên đây chỉ đi vào một vài khía cạnh cụ thể về văn hóa vật thể và phi vật thể, việc nghiên cứu không gian văn hóa khu vực Côn Sơn – Kiếp Bạc để từ đó chỉ ra đặc trưng của không gian văn hóa khu vực này vẫn
là đề tài mới mẻ cho các nhà nghiên cứu
3 Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi mong muốn làm sáng rõ được những nét nổi đặc trưng văn hóa khu vực Côn Sơn – Kiếp Bạc trên cơ sở nghiên cứu những di tích, danh thắng, phong tục, tập quán, tín ngưỡng của cư dân nơi đây Yếu tố di tích,
Trang 12yếu tố con người, yếu tố lịch sử, yếu tố văn hóa,… tất cả sẽ được nhìn một cách bao quát trong một không gian văn hóa cụ thể nhằm làm nổi bật giá trị vật chất và tinh thần của vùng đất này Góp phần vào quá trình xây dựng hồ sơ khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc trình UNESCO công nhận Di sản văn hóa thế giới Đề tài mong muốn được góp phần quảng bá hình ảnh khu vực văn hóa độc đáo này tới đông đảo nhân dân cả nước
3.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Không gian văn hóa là một khái niệm mở, nó không đồng nghĩa với không gian di tích Qua quá trình điền dã, tìm hiểu ở địa phương, chúng ta thấy rằng diện tích của khu di tích lịch sử văn hóa Côn Sơn – Kiếp Bạc không lớn, nhưng ảnh hưởng văn hóa của nó thì rất lớn, không chỉ trong quy mô thị xã Chí Linh, quy mô tỉnh Hải Dương mà còn toàn miền Đông Bắc tổ quốc Và đặc biệt, Côn Sơn – Kiếp Bạc có mối quan hệ mật thiết với quần thể di tích ở Phượng Sơn (núi Phượng Hoàng) cả về lịch sử, văn hóa và tôn giáo Vì thế nghiên cứu không gian văn hóa Côn Sơn – Kiếp Bạc nên đặt Côn Sơn – Kiếp Bạc trong tương quan với Phượng Sơn sẽ thấy hết được cái hay, cái ý nghĩa lớn lao của bản thân từng di tích và quần thể di tích, không gian văn hóa khu vực này Côn Sơn – Kiếp Bạc – Phượng Sơn thực chất là không tách rời và đã tạo nên một không gian văn hóa vô cùng đặc biệt
Vì thế, dù tên đề tài nghiên cứu là “Không gian văn hóa Côn Sơn – Kiếp Bạc” nhưng đối tượng nghiên cứu của nó không chỉ là không gian Côn Sơn – Kiếp Bạc
mà nó sẽ bao gồm cả không gian Phượng Sơn
Như ở trên đã nói, đối với người Việt ở Bắc Bộ, ảnh hưởng của Côn Sơn – Kiếp Bạc là rất lớn về nhiều mặt, đặc biệt là văn hóa, lịch sử Văn hóa Côn Sơn –
Kiếp Bạc có sức lan tỏa lớn Bằng chứng là cái ý thức “Tháng Tám giỗ cha…” đã
tồn tại sâu và rộng trong lòng mỗi cư dân Việt qua nhiều thế kỷ Hiện nay, Côn Sơn – Kiếp Bạc đang được xem xét để được công nhận là Di sản văn hóa Thế giới càng chứng tỏ được cái tầm của khu vực này Nhưng do điều kiện có hạn nên chúng tôi chỉ xin phép đi sâu vào tìm hiểu không gian mà ở đó ảnh hưởng của Côn Sơn –
Kiếp Bạc – Phượng Sơn tới đời sống nhân dân là sâu đậm nhất
Trang 13Đối tượng nghiên cứu là khu di tích Côn Sơn, khu di tích Kiếp Bạc, khu di tích Phượng Hoàng thuộc thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương Hệ thống các di tích ở vùng đệm có liên quan trực tiếp như Đền Sinh, Đền Hóa, Chùa Huyền Thiên, Đền thờ bà chúa Sao Sa Các làng, xã có các di tích tọa lạc như làng Vạn Yên, Dược Sơn (xã Hưng Đạo), Chi Ngãi (phường Cộng Hòa), Kiệt Đặc (phường Văn An), An Mô (xã Lê Lợi)
Phạm vi không gian nghiên cứu của luận án là khu vực Côn Sơn - Kiếp Bạc nằm trong các xã, phường Cộng Hòa, Văn An, Hưng Đạo, Lê Lợi thuộc thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương
Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Nghiên cứu di sản văn hóa vật thể (di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật ) Di sản văn hóa phi vật thể (phong tục tập quán, lễ hội, diễn xướng dân gian ) điển hình còn tồn tại đến ngày nay
4 Đóng góp của luận văn
Luận văn là chuyên khảo đầu tiên về không gian văn hóa Côn Sơn - Kiếp Bạc Luận văn tập hợp, hệ thống hoá, phân tích đầy đủ nhất các nguồn tài liệu nghiên cứu về khu vực Côn Sơn - Kiếp Bạc
Luận văn đi sâu phân tích xác định lịch sử hình thành, quá trình tồn tại và phát triển của các làng xã trong khu vực Côn Sơn - Kiếp Bạc Đánh giá những giá trị lịch sử, văn hoá đặc trưng của không gian văn hóa Côn Sơn - Kiếp Bạc
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích đánh giá toàn diện về khu vực Côn Sơn - Kiếp Bạc luận văn đóng góp vào việc hoạch định cho việc quản lý, giữ gìn tu bổ, phát huy tác dụng của các di tích trong giai đoạn hiện tại và tương lai
Luận văn góp phần hệ thống hoá tư liệu lịch sử của địa phương, đóng góp cho việc nghiên cứu, học tập, tham quan du lịch trên địa bàn thị xã Chí Linh nói riêng và khu vực Đông Bắc đồng bằng Bắc Bộ nói chung
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu
Luận văn sử dụng các bộ chính sử như Đại Việt sử ký toàn thư (Ngô Sĩ Liên
và sử thần triều Lê), Khâm Định Việt sử thông giám cương mục (Quốc sử quán triều Nguyễn) Đại Việt sử ký tiền biên của Ngô Thì Sĩ, Đại Việt thông sử của Lê Quý
Trang 14Đôn Tài liệu địa lý học lịch sử như Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề, Lịch triều
hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Đại Nam nhất thống chí (Quốc sử quán
triều Nguyễn), Hải Dương phong vật chí (Trần Huy Phác), Chí Linh phong vật chí
Các nguồn tư liệu thành văn lưu trong các di tích như các văn bia, ngọc phả chuông, sắc phong…
Tài liệu thần tích, thần sắc, hương ước về các làng xã trong thị xã Chí Linh hiện còn lưu giữ tại Viện Thông tin khoa học xã hội
Các nguồn tài liệu điền dã thu thập được qua quá trình khảo sát tại xã Hưng Đạo, xã Lê Lợi, phường Cộng Hòa, phường Văn An (thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương)
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp nghiên cứu khu vực học: Đây là phương pháp được sử dụng trước tiên khi thực hiện đề tài này Đó là khoanh vùng cụ thể dựa trên những tiêu chí riêng để tiến hành điều tra, điền dã, thực tế, trực tiếp đi khảo sát các di tích, các khu dân cư trong khu vực Côn Sơn – Kiếp Bạc nhằm thu thập tài liệu
Sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích đối với các văn bản, tài liệu đã được người đi trước nghiên cứu, sử dụng
Sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic, phương pháp so sánh, phương pháp đa ngành, liên ngành để tìm hiểu và rút ra những luận điểm khoa học
6 Bố cục luận văn
Luận văn gồm hai phần chính: chính văn và phụ lục
Phần chính văn ngoài phần mở đầu, kết luận có ba chương nội dung chính:
Chương 1: Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, quá trình hình thành cộng đồng dân cư
khu vực Côn Sơn – Kiếp Bạc
Chương 2: Di tích lịch sử - văn hóa, phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội ở khu
vực Côn Sơn – Kiếp Bạc
Chương 3: Đặc trưng không gian văn hóa Côn Sơn – Kiếp Bạc
Phần phụ lục bao gồm phụ lục hình ảnh và phụ lục văn bản
Trang 15NỘI DUNG
Chương 1: VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ KHU VỰC CÔN SƠN –KIẾP BẠC 1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên khu vực Côn Sơn – Kiếp Bạc
1.1.1 Vị trí địa lý
Côn Sơn - Kiếp Bạc nằm ở phía Đông bắc tỉnh Hải Dương, thuộc thị xã Chí Linh, cách thành phố Hải Dương 35km, cách Hà Nội 75 km Thị xã Chí Linh phía Bắc giáp huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang; phía Nam giáp huyện Nam Sách; phía Đông giáp huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh và huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương; phía Tây giáp huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang, huyện Quế Võ, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh Diện tích tự nhiên của thị xã Chí Linh là 281,898km2, dân số
là 148.337 người, trong đó 98% là dân tộc Kinh, còn lại 2% là các dân tộc Hoa, Sán Dìu, Tày (số liệu năm 2005) Thời Trần, thị xã Chí Linh có tên là Bàng Châu, thời thuộc Minh, Bàng Châu thuộc phủ Lạng Giang và phủ Tân An Thời Lê sơ (đầu thế
kỷ XV) đổi tên gọi Bàng Châu thành Chí Linh [60, tr.362]
Địa hình thị xã Chí Linh nằm trong khu vực cánh cung Đông Triều, có hệ thống đồi núi chạy theo hướng từ Đông bắc sang Tây nam, cao từ 50 - 300m, độ dốc trung bình 25 - 30m Địa hình nơi đây đa dạng phong phú xen lẫn giữa núi đồi, ruộng đồng là những xóm làng đất đai phì nhiêu trù phú Xét về địa lý, phong thuỷ, hình sông thế núi của đất Chí Linh, người xưa có câu ca:
" Đông hướng Sài Sơn thiên lĩnh hội;
Tây lai vụ thuỷ Lục Long chầu"
Tạm dịch là: ở hướng Đông của đất Chí Linh dãy Sài Sơn (núi Yên Tử - vòng cung Đông Triều) hàng nghìn ngọn núi chầu về; ở phía Tây của Chí Linh, nơi
tụ thuỷ - 6 con rồng chầu lại (Lục Đầu Giang)
Về địa thế, mạch núi Đông Bắc từ Tổ sơn Yên Tử, muôn ngọn đổ về Chí Linh quần tụ, tạo thành các huyệt mạch linh thiêng Người xưa đã đặt các huyệt mạch này gắn với 4 linh vật (vùng đất Tứ linh): Long (núi Rồng - Vạn Yên), Ly (núi Kỳ Lân - Côn Sơn), Quy (núi Quy - Vạn Yên), Phượng (núi Phượng Hoàng - Kiệt Đặc) Về hình thế sông, 6 con sông hội tụ ở phía tây đất Chí Linh gồm: sông
Trang 16Lục Nam người xưa gọi là sông Minh Đức (Đức sáng); sông Thương gọi là sông Nhật Đức (Đức của mặt trời - dương); sông Cầu gọi là sông Nguyệt Đức (Đức của mặt trăng - âm); sông Đuống gọi là sông Thiên Đức (Đức của trời); sông Thái Bình còn gọi là sông Phú Lương (thái bình và thịnh vượng) và sông Kinh Thầy là đường kinh lý của Đức Vua cha - Đức Thánh Trần Như thế, đất Chí Linh không chỉ là nơi núi sông hoà hợp, sơn thuỷ hữu tình mà còn là nơi tụ đức của trời đất, tụ nhân, mang đến thái bình thịnh vượng Chính vì thế, người xưa, đặc biệt là những danh nhân, những vương hầu, quý tộc của các triều đại đã chọn đất này làm nơi quy tụ,
ký thác sự nghiệp và cuộc đời
Đền Kiếp Bạc thờ Hưng Đạo Vương được xây dựng ở đầu rồng, tựa núi Trán Rồng, nhìn ra sông Lục Đầu, long mạch quan trọng nhất của đất Chí Linh, được coi
là nơi tối linh Chùa Côn Sơn thờ Tam tổ Trúc Lâm đặt ở miệng con Kỳ Lân (Ly); đền Phượng Hoàng thờ Chu Văn An đặt ở đầu con chim Phượng Những di tích đã được các triều đại phong kiến xếp là những "Đại Già Lam cổ tích" Chí Linh còn có nhiều danh lam cổ tích nổi tiếng như "Chí Linh Bát Cổ" Khu di tích đền Cao thờ Vua Lê Đại Hành và 5 vị tướng họ Vương có công chống Tống ở thế kỷ thứ X; chùa Thanh Mai, nơi tu hành và viên tịch của đệ nhị tổ Trúc lâm Pháp Loa Tôn Giả; núi Bái Vọng nơi đặt mộ của quan Bảng nhãn Nguyễn Phi Khanh, thân phụ của Nguyễn Trãi; chùa Ngũ Đài Sơn; đền Gốm thờ Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư…
Chí Linh có hệ thống giao thông thủy bộ thuận lợi có thể đi ngược về xuôi, ra biển, lên kinh thành Thăng Long đều thuận lợi, vì vậy Chí Linh là chốt giữ trọng yếu phía Đông Bắc của kinh thành Thăng Long Theo thần tích Đình Chí Linh, xã Nhân Huệ, thời Thục Phán An Dương Vương, tướng Cao Lỗ đã xây dựng phòng tuyến quân sự tại Lục Đầu Giang để chống giặc phương bắc Thế kỷ thứ X, Thập đạo tướng quân Lê Hoàn xây dựng phòng tuyến chống Tống ở vùng An Lạc Thế kỷ XI, Lý Thường Kiệt xây dựng phòng tuyến sông Như Nguyệt và căn cứ Vạn Xuân chống Tống ở Lục Đầu Giang Thế kỷ XIII, Hưng Đạo Vương xây dựng căn cứ quân sự Vạn Kiếp chống đế quốc Nguyên Mông ở Lục Đầu Giang Thế kỷ XV, triều đình Lê
- Mạc cho củng cố và mở rộng thành Phao Sơn để khống chế khu vực Lục Đầu Giang Từ thế kỷ XVII đến XVIII, triều Lê đặt tỉnh lị Hải Dương tại thành Vạn (Chí
Trang 17Linh) Hình sông thế núi của Chí Linh không chỉ linh thiêng mà còn hiểm yếu, vì vậy nơi đây thời bình là vùng đất văn vật, các đền miếu quy tụ các bậc vua chúa, văn nhân và nhân dân, phật tử bốn phương hành hương lễ bái; khi đất nước bị họa ngoại xâm, Chí Linh trở thành căn cứ quân sự quan trọng của triều đình
Đất Chí Linh còn lưu giữ biết bao truyền thuyết thần kỳ, nơi đây Phật hiển hiện, Tiên dạo chơi, Huyền Thiên giáng lâm, Phi Bồng tái thế, Nam Tào xuất hiện, Bắc Đẩu về trời Bởi vậy, ở núi Phật Tích có chùa Thanh Mai, trên núi Côn Sơn có Bàn Cờ Tiên, núi Phượng Hoàng có động Huyền Thiên, chân núi Ngũ Nhạc có tảng
đá thờ Phi Bồng nguyên soái; đền Kiếp Bạc tả hữu có đền thờ quan Nam Tào, Bắc
Đẩu Sách Chí Linh huyện sự tích chép: "Kẻ sĩ chuyên cần học tập, nhà nông chăm
chỉ cấy cầy, người làm các nghề thợ, nghề buôn cũng có nhưng không nhiều Ăn mặc, quần áo, đồ dùng thường tiết kiệm Việc cưới xin ma chay giỗ tết giữ đúng lễ dân các nơi nói chung đều thuần hậu chất phác " [14, tr.41] Sách Chí Linh phong vật chí viết " (thời Lý, Trần) đến thế kỷ XIX ở Chí Linh số người đậu Tiến sĩ có 55 người, còn đậu hương cống, võ quan, tam trường thì không kể xiết" [16, tr.3]
Côn Sơn - Kiếp Bạc hình thành khá sớm ở đất Chí Linh, vào thời Trần đã trở thành một địa danh nổi tiếng, được Nhà nước xếp vào hạng "Đại Già Lam" Được xây dựng trên một vùng đất địa linh nhân kiệt, vừa có núi cao, sông sâu vừa
có người tài Nơi đây rồng chầu hổ phục, long phượng trình tường, sơn thanh thuỷ
tú, nhiều cao nhân đại sĩ các thời đại quy ẩn Tam tổ Trúc Lâm dựng chùa cầu phúc; Thánh võ Hưng Đạo Vương dựng phủ đệ Vạn Kiếp dưỡng nhàn; Thánh văn Chu Văn An lấy Phượng Hoàng làm nơi dậy học; Quan Đại Tư Đồ Trần Nguyên Đán mở Động Thanh Hư ở Côn Sơn; Nguyễn Trãi ẩn tàng ở Côn Sơn Tự Non thiêng vẫn còn đấy di tích không phai mờ, biết bao anh hùng hào kiệt đã nghiêng mình trước Côn Sơn hùng vĩ, Kiếp Bạc uy linh, Phượng Sơn kỳ bí Thấm đậm những huyền thoại và lịch sử, trải qua thời gian biết bao những di tích tôn giáo, đền miếu được xây dựng để tưởng nhớ những con người ưu tú, hình thành nên tín ngưỡng dân tộc, bồi đắp cho nền văn hoá Việt Nam qua những năm tháng và còn lại cho đến ngày nay Trong kho tàng di sản văn hoá đó, Côn Sơn - Kiếp Bạc được
Trang 18coi là những trung tâm tín ngưỡng, tôn giáo lớn có giá trị đặc biệt quan trọng của toàn vùng châu thổ sông Hồng và của cả nước
1.1.2 Tài nguyên thiên nhiên
Địa hình Chí Linh chia thành 4 bậc địa hình cảnh quan chính: Đồi núi cao (>300m) ở phía Bắc, đồi núi cao trung bình (100 -290m) ở phía Tây Bắc, đồi núi thấp (10 -90m) chủ yếu ở trung tâm và đồng bằng ở phía Nam Khu vực Côn Sơn – Kiếp Bạc thuộc vùng đồi núi cao trung bình với các núi tiêu biểu như Ngũ Nhạc, Côn Sơn, Phượng Hoàng… Theo như các nhà nghiên cứu địa chất, địa hình khu vực Côn Sơn – Kiếp Bạc được hình thành từ chu kỳ trầm tích Pleistocen thượng
tầng trên có niên đại kéo dài từ 20.000 năm đến nay “Vào đầu Pleistocen, đồng
bằng sông Hồng trong đó có địa phận tỉnh Hải Dương phát triển các tướng cát, sạn aluvi… Dạng địa hình này phân bố ở huyện Chí Linh như khu đền Kiếp Bạc
có chiều dài 1km, chiều rộng 0.5 km, dọc phía Nam Phao Sơn có chiều dài 3.5 km, rộng 0.3 km, dọc thung lũng hồ Côn Sơn dài 5.5 km, rộng 0.6 km, … rìa đồi thấp vùng Trúc Thôn, Trúc Cương ( Cộng Hòa – Chí Linh),… liên quan địa hình này có sét chịu lửa Trúc Thôn, sỏi, cuội Trúc Cương…) [69, tr.117 -118] Như vậy địa hình
khu vực Côn Sơn – Kiếp Bạc được hình thành ở chu kỳ muộn, đồi núi ở khu vực này chủ yếu là đồi núi trẻ
Nhìn chung địa hình ở đây không chia cắt mạnh nhưng có mật độ chia cắt lớn Trong một khu vực đường kính khoảng 6km mà có núi Phượng Hoàng với 72 ngọn, núi Ngũ Nhạc với 5 đỉnh, núi Trán Rồng với 2 núi tay ngai Nam Tào, Bắc Đẩu, núi Kỳ Lân, núi Rùa,… xen kẽ là những thung lũng như cánh đồng Vạn Yên,
Trang 19những cánh đồng ở xã Lê Lợi, Văn An,… những dòng sông như sông Lục Đầu, sông Vang,… hồ lớn như hồ Côn Sơn (42,8 ha), hồ Mật Sơn (62,5ha), hồ Phượng Hoàng… tất cả đã tạo nên một không gian với cảnh quan ngoạn mục
Sự đa dạng của các loại địa hình làm nên sự đa dạng của các loại cảnh quan cho khu vực Ở đây có cảnh quan đồng bằng thung lũng với các loài động thực vật của đồng bằng như những cánh đồng lúa nước ở thung lũng Trán Rồng, cảnh quan rừng nhiệt đới ở những đồi núi thấp hoặc chân núi cao với các loại cây lá rộng như keo, sơn, bạch đàn…, cảnh quan rừng ôn đới với những rừng thông bát ngát, mát
mẻ trên núi Côn Sơn, núi Phượng Hoàng, cảnh quan sông hồ lắm tôm nhiều cá…
Địa hình cảnh quan của miền bán sơn địa đã khiến cho Côn Sơn – Kiếp Bạc
có vẻ đẹp đẽ, thơ mộng, có nét hùng vĩ, uy nghiêm, có vẻ trầm mặc bí ẩn cuốn hút biết bao tao nhân mặc khách Nhiều danh nhân tiêu biểu qua các thời kỳ lịch sử của dân tộc đã gắn bó với nơi đây như: Nhà quân sự kiệt xuất Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn; Anh hùng dân tộc - Danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Trãi; Nhà giáo Chu Văn An; nữ tiến sĩ nho học Việt Nam đầu tiên Nguyễn Thị Duệ, Những
di sản văn hoá còn lưu giữ đến ngày nay trên đất Chí Linh đều in đậm dấu ấn lịch sử
và trở thành tài sản quý báu của dân tộc
1.1.2.2 Khí hậu
Sách Đồng Khánh địa dư chí có viết về khí hậu Chí Linh như sau “Mùa xuân
mưa nhiều Mùa hè nắng nhiều Mùa thu, mùa đông ít mưa, nhiều ngày trời quang mây tạnh Các xã ven núi rét nhiều hơn nơi khác Đến cuối xuân tiết trời vẫn còn rét Núi Côn Sơn ở xã Chi Ngại, khi trời nóng gắt nhất vào tiết tháng 6, tháng 7 nếu thấy trên đỉnh núi có vệt khí đen bốc lên mờ mờ thì sau đó có mưa Người quanh vùng xem hiện tượng ấy để đoán thời tiết có mưa hay không (tục gọi là vệt Cây Đước) [58, tr.108] Nhìn chung khí hậu khu vực Côn Sơn – Kiếp Bạc là khí hậu
nhiệt đới gió mùa ẩm, một năm phân 4 mùa xuân, hạ, thu, đông rõ rệt, hay một mùa khô và một mùa mưa Mùa mưa ở đây thường đến sớm hơn khu vực khác, bắt đầu
từ tháng 4 với cường độ mưa lớn Lượng mưa trung bình khoảng 1600 mm Độ ẩm trung bình 85 % Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,4 độ Vào mùa đông lạnh, nhiệt độ khu vực xuống thấp, thường có sương muối, sương giá Các hiện tượng
Trang 20thời tiết như giông bão, xói mòn, hạn hán… cũng xảy ra ở đây Theo người dân địa phương, những năm trước đây vào mùa khô hạn, ở Côn Sơn – Kiếp Bạc hay xảy ra nạn cháy rừng, đặc biệt ở rừng thông Gần đây, do ý thức người dân cũng như khách tham quan du lịch, ý thức phòng hộ của cơ quan chức năng được nâng cao nên nạn cháy rừng không xảy ra nữa Cảnh quan môi trường khu vực được đảm bảo hơn Nhìn chung, do có vùng núi cao Tây Bắc Chí Linh và Bắc Giang che chắn nên khí hậu ở khu vực Côn Sơn – Kiếp Bạc tương đối ổn định, thuận lợi cho cây trồng vật nuôi phát triển cũng như sự định cư của con người
đa số là đồi núi thì việc các hồ tồn tại rải rác trong khu vực đã giảm tải nỗi lo cho người dân về vấn đề nguồn nước, đặc biệt vào mùa khô
Tài nguyên nước dưới đất ở khu vực phổ biến là nước ngầm thuộc tầng chứa nước lỗ hổng, áp lực trong trầm tích Pleistocen (kí hiệu là tầng chứa nước qp) Tầng chứa nước qp có mặt ở hầu hết các nơi trên địa bàn Hải Dương Nước trong tầng từ nhạt, lợ, đến mặn Khu vực Côn Sơn – Kiếp Bạc nằm trong diện phân bố của nước
nhạt – là nguồn nước ngầm có chất lượng tốt “Trong những vùng nước nhạt của
tầng chứa nước qp, nước không bị nhiễm bẩn bởi hàm lượng Niterat, niterit, NH4-, BOD, COD, PO4-, các nguyên tố vi lượng độc hại, dư lượng thuốc trừ sâu, phóng
Trang 21xạ đều nằm trong giới hạn cho phép, nước đạt tiêu chuẩn cho ăn uống và sinh hoạt, riêng hàm lượng sắt phải xử lý trước khi đưa vào sử dụng” [69, tr179-180] Điều
này lí giải tại sao trong chùa Côn Sơn có giếng Ngọc, đền Kiếp Bạc có giếng Măt Rồng nước quanh năm trong mát, du khách xa gần đến thăm quan, lễ bái đều muốn uống những ngụm nước trong những giếng này, một phần vì tâm linh, nhưng một phần cũng do chất nước trong sạch, mát lành Cư dân trong khu vực hiện nay vẫn tận dụng khai thác nguồn nước quà tặng của thiên nhiên này
Như vậy có thể thấy nguồn nước trong khu vực không phong phú và đa dạng như ở khu vực đồng bằng phía Nam tỉnh Hải Dương, nhưng nhìn chung lượng nước
và chất nước đáp ứng được nhu cầu tưới tiêu, sinh hoạt của cư dân nơi đây
1.1.2.4 Động thực vật
Là miền trung du nên động thực vật ở Côn Sơn – Kiếp Bạc khá phong phú và
đa dạng Trong đó có nhiều loại quý hiếm và được nhà nước xếp vào hàng những động thực vật quý hiếm cần được bảo tồn
Theo kết quả điều tra năm 2011 và 2012 của Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp với Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) ở 8 xã, phường thuộc thị xã Chí Linh là Hoàng Hoa Thám, Bắc An, Hoàng Tiến, Hưng Đạo, An Lạc, Cộng Hòa, Văn An và Lê Lợi thì có khoảng gần 1.200 loài sinh vật, trong đó có nhiều loài sinh vật có giá trị về bảo tồn nguồn gien và giá trị kinh tế Cụ thể là 645 loài thực vật; 44 loài thú; 147 loài chim;66 loài bò sát, ếch nhái; 208 loài côn trùng; 53 loài thực vật nổi; 36 loài động vật nổi; 53 loài động vật đáy; 53 loài cá Trong số các loài sinh vật điều tra, có 302 loài thực vật có giá trị dùng làm thuốc, 102 loài làm thực phẩm, 112 loài gỗ, 85 loài dùng làm cảnh, 65 loài dùng chế biến sợi Bên cạnh đó, nhiều loài sinh vật có giá trị bảo tồn nguồn gen, được ghi trong Sách đỏ 2007, Danh lục đỏ IUCN 2010 và NĐ 32/2006, bao gồm: 18 loài thực vật, 2 loài thú, 13 loài chim, 10 loài bò sát, 2 loài côn trùng, Đặc biệt, đề tài đã phát hiện ra 2 loài tôm mới cho khoa học, trong đó
có một loài tôm giống Macrobrachium Bate đã được công bố trên tạp chí khoa học của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Trang 221.1.2.5 Tài nguyên khoáng sản
Khoáng sản trong khu vực chủ yếu thuộc nhóm khoáng sản phi kim Bao gồm nhiều loại có trữ lượng lớn và chất lượng tốt như sét chịu lửa, cuội kết thạch anh, cuội sỏi…
Sét chịu lửa phân bố dải rác ở vùng ruộng và gò đồi khắp thị xã Chí Linh, nhưng có ý nghĩa nhất và giá trị nhất là mỏ sét chịu lửa ở Trúc Thôn (thuộc phường Cộng Hòa) Mỏ có quy mô lớn với chiều dài ~ 3000 m, bề dày 15 m, sét có nguồn gốc trầm tích, trữ lượng cung cấp đạt 8478 nghìn tấn Hiện nay mỏ đang được khai thác phục vụ cho các doanh nghiệp sản xuất gốm, sứ như gốm Chu Đậu, gốm sứ Bát Tràng, sứ Hải Dương…
Cuội kết thạch anh: các lớp cuội kết thạch anh nằm ở nhân nếp lõm của hệ tầng Hòn Gai, được phân thành hai dải: dải thứ nhất từ Bến Tắm đến Bắc Đẩu, dài khoảng 7km, có đỉnh núi Ngũ Nhạc cao 238m, rộng khoảng 2km; dải thứ hai từ Mật Sơn đến Phả Lại, dài khoảng 7km, rộng khoảng 3,5 km, có đỉnh núi Phượng Hoàng cao 227m Trữ lượng dự báo khoảng trăm triệu mét khối, được khai thác sử dụng cho công nghệ xây dựng, đá xẻ, trang trí khu vườn hoa, công viên, khu du lịch…
Cuội sỏi: có hai mỏ Trúc Cương và Làng Sui thuộc phường Cộng Hòa Chất lượng cuội sỏi tốt Trữ lượng hai mỏ đạt 2 triệu mét khối Hiện nay nhân dân địa phương đang khai thác làm vật liệu xây dựng và sản xuất thủy tinh
Ngoài những khoáng sản phi kim điển hình trên, trong khu vực còn có một
số loại khác như cao lanh, cát thủy tinh… tuy nhiên trữ lượng không đáng kể
1.2 Quá trình hình thành cộng đồng dân cƣ khu vực Côn Sơn – Kiếp Bạc
1 2.1 Từ những cư dân đầu tiên cho đến thế kỷ X
Hải Dương là một tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ - cái nôi của nền văn minh sông Hồng Các công trình khảo cổ học trên đất Hải Dương đã chứng minh được rằng con người có mặt trên đất Hải Dương từ rất sớm Hang Thánh Hóa
và hang Tối ( núi Nhẫm Dương - xã Duy Tân – huyện Kinh Môn) là di tích khảo cổ học quan trọng của cả nước Tại đây, đã tìm được di cốt hóa thạch của 27 loài động vật như voi, tê giác, hổ, báo, lợn rừng, nhím và đặc biệt tìm thấy khá nhiều răng Pôngô (đười ươi) (có niên đại cách đây 5 -7 vạn năm) Ở Kinh Môn và Chí Linh,
Trang 23nhân dân đã phát hiện rải rác những rìu đá nhỏ dạng Phùng Nguyên Ngoài ra, ở hầu hết các huyện trên địa bàn Hải Dương đều tìm thấy những dụng cụ sản xuất, sinh hoạt, những ngôi mộ cổ thời đại đồ đồng và sơ kỳ đồ sắt, đặc biệt là những ngôi mộ thuộc văn hóa Đông Sơn có quan tài hình thuyền kèm theo những đồ tùy táng ở La Đôi (Nam Sách), Vũ Thượng (Kim Thành), Đông Quan (Gia Lộc), Kiệt Thượng (Chí Linh)… Điều đó chứng tỏ con người đã đến đất Hải Dương ngay từ những ngày sơ khai và góp phần tạo nên nền văn minh sông Hồng rực rỡ Ở khu vực Côn Sơn – Kiếp Bạc chưa có một công trình nghiên cứu nào cụ thể về việc hình thành và phát triển của cộng đồng cư dân nơi đây, nhưng dựa theo những gia phả, những câu chuyện truyền miệng của nhân dân,… có thể khẳng định con người đã đến và định
cư ở đây từ 2000 năm về trước Lịch sử đảng bộ địa phương các xã, phường trong khu vực Côn Sơn – Kiếp Bạc đã viết về những cư dân đầu tiên xuất hiện trên mảnh
đất của họ như sau: “Đất Cộng Hòa thời xa xưa chỉ có cỏ dại, lau sậy mọc um tùm,
chim muông thú rừng sinh sống Theo những câu chuyện truyền thuyết thì nơi đây ngay từ những năm đầu Công nguyên đã có người sinh sống Còn theo thư tịch, sách viết về chùa Côn Sơn và gia phả của một số dòng họ thì từ thời Đinh (thế kỉ 10) cách đây 1000 năm, những người về đây sinh sống lập trại ấp với nhiều dòng
họ và tên gọi khác nhau.” [1, tr 9-10] Hay “thời nhà Ngô (939 – 948) có ông Nguyễn Duy Khoản và con trai là Nguyễn Duy Nghiễm đã chiêu binh đánh tan giặc Tầu Giặc tan, bố con ông và một số binh sĩ đã về mảnh đất này khai hoang lập ấp làm ăn sinh sống Từ đó cư dân ở nơi khác cũng đến đây lập nghiệp” [3, tr.12]
“Hưng Đạo là một trong những điểm dân cư hình thành sớm ở Việt Nam” [5, tr.11],
“đất thơm cò đậu, do những tiềm năng to lớn về kinh tế nên từ rất sớm, Hưng Đạo
đã thu hút dân cư từ các nơi về đây lập nghiệp, dần dần các trại ấp, làng xóm ra đời” [5, tr.11] Từ năm 1972 đến nay, Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Viện Khảo cổ
học, Đại học Tổng hợp Hà Nội, Bảo tàng Hải Dương cùng các chuyên gia trong và ngoài nước đã nhiều lần phối hợp với Ban quản lý di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc tiến hành nhiều đợt điều tra, thám sát khảo cổ trong khu vực Côn Sơn – Kiếp Bạc và đã thu được những kết quả mang giá trị lịch sử, văn hóa to lớn Với hàng chục nghìn di vật, hiện vật và sự đa dạng về các loại hình như kiến trúc, Mộ tháp, Kho tàng, Lò
Trang 24gốm, Cư trú… phong phú về chất liệu như đồ gốm, sành, sứ, đá, kim loại,… có ý nghĩa quan trọng trong việc bổ sung, cung cấp trữ liệu thông tin, mang lại giá trị toàn diện và sâu rộng trên nhiều lĩnh vực Nó không chỉ cung cấp nguồn tư liệu gốc
về lịch sử danh nhân, lịch sử khu di tích, vai trò vị thế của khu di tích ở các thời đại
mà nó còn góp phần làm sáng tỏ quá trình hình thành phát triển các khu vực di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc và khu vực cư trú cổ của cư dân địa phương Ở núi Phượng Hoàng, nhân dân đã phát hiện những rìu đá mà theo các nhà nghiên cứu là thuộc văn hóa Phùng Nguyên Tháng 7 – 2000, Bảo tàng lịch sử Việt Nam phối hợp với Ban quản lý di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc tiến hành khai quật ở khu di tích Kiếp Bạc
đã phát hiện ra “dấu tích mộ Hán” ở khu vực Từ Cũ, [7, tr.11], “vò gốm thuộc thời
Hán” ở Viên Lăng [7, tr.15] … Tiến sĩ Lê Duy Mạnh (Phó Ban quản lý di tích Côn
Sơn – Kiếp Bạc) trong quá trình nghiên cứu, điền dã, nghiên cứu ở hai làng Vạn
Yên và Dược Sơn (xã Hưng Đạo) đã cho rằng “từ thế kỉ I – II đã có quá trình khai
phá vùng đất này”, “làng Vạn Yên được hình thành từ rất sớm thuộc về lớp văn hóa Hùng Vương, những cư dân cổ xưa làm nghề đánh cá trồng lúa nước” [25, tr 290];
“vào những năm 60 của thế kỉ trước đã phát hiện một bộ sưu tập đồ đồng Đông Sơn, gồm chậu đồng, nhạc đồng ở chân núi Dược Sơn, chứng tỏ vào những thế kỉ trước Công nguyên mảnh đất này đã có người đến cư trú Như vậy cũng giống như làng Vạn Yên, làng Bạc (Dược Sơn) thuộc về lớp văn hóa Hùng Vương” [25,
tr.294] Tính chất cổ xưa của các làng xã ở đây còn được phản ánh qua hệ thống thờ Thần, Thành hoàng làng Dựa trên những thần tích – sắc phong, những phong tục thờ cúng còn tồn tại đến ngày nay, thì đa số các làng đều thờ Đức Cao Sơn và Đức Quý Minh đại vương – hai vị tướng thời Hùng Vương:
Hương ước làng Kinh Trung (Văn An – Chí Linh) điều 86 mục Tế tự có ghi
“làng có 1 đình thờ Đức Cao San, 2 cái chùa, 1 cái chùa đá, 1 cái chùa dê, 3 cái nghè, nghè Đông, nghè Tây và nghè Bơi” [32, tr.1]
Thần tích – Thần sắc làng Vạn Yên: “ I Làng chúng tôi là làng Vạn Yên, tên
nôm là Kiếp, thuộc tổng Trạm Điền, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương
II Làng chúng tôi thờ hai vị thần Thành Hoàng là:
1 Hiệu thường gọi là Đức Cao Sơn
Trang 252 Hiệu thường gọi là Đức Bản Cảnh” [68, tr.1]
Vị Cao Sơn nhiều làng cùng thờ Chúng tôi biết đich trong tổng chúng tôi có làng Trung Quê, Trạm Điền, nhưng không có giao hiếu và cũng không kiêng kỵ giai gái lấy nhau gì cả” [67, tr.2]
Thần tích – thần sắc làng Đại Bát – tổng Chi Ngãi :“ II Làng chúng tôi thờ 4
vị thần Thành hoàng:
1 Đức Linh Ứng Hiển Liệt
2 Đức Cao Sơn Quý Minh
3 Điện Pháp Địa Kỳ Đại Vương
4.Tam Lang Tràng Cây Sai Đại Vương” [66, tr.1]
Thần tích – Thần sắc làng Tường Thôn – tổng Kiệt Đặc: “II Làng chúng tôi thờ 3 vị thần Thành hoàng:
1.Vị Quốc Phụ Thượng Tể Thần
2.Vị Cao Sơn Quý Minh Thần
3.Vị Chinh Khiết Công Chúa…Thần” [65, tr.1]
Thần tích – Thần sắc làng Mật Sơn – Tổng Kiệt Đặc: “Làng chúng tôi thờ 4
vị thần Thành hoàng: 1.Vị Cao Sơn Quý Minh Tôn Thần…” [67, tr.1]
Trong quá trình điền dã, tìm tòi, nghiên cứu tài liệu, chúng tôi thấy rằng thời
kỳ Bắc thuộc và đầu phong kiến tự chủ, Côn Sơn – Kiếp Bạc ít được nhắc đến trong
sử sách Dấu ấn lịch sử, văn hóa của khu vực trong giai đoạn này được biết đến chủ yếu là một số ít kết quả của khảo cổ học Một số nhà khoa học cho rằng thời kỳ đầu công nguyên, khu vực Côn Sơn – Kiếp Bạc có thể là vùng chiến trường Lãng Bạc
của Hai Bà Trưng, thời Đường chính là Lãng Châu: “Chúng tôi dựa theo sách An Nam tức sự của Trần Phu (sứ thần nhà Nguyên) chép Vạn Kiếp đời Đường là lãng
châu và tiến hành khảo sát khu vực Vạn Kiếp và các vùng lân cận để tìm kiếm mối quan hệ giữa Lãng Châu và Lãng Bạc Khu vực phía trong Vạn Kiếp (tức phía trong Lãng Châu) nay thuộc huyện Gia Lương tỉnh Bắc Ninh, nơi có gò đất cai nổi lên giưa khu đồng trũng nước ngập (đúng như mô tả của Thủy kinh chú và Hậu
Hán thư về vùng Lãng Bạc) Đây chính là đầu mối hội tụ của các luồng đường giao
thông thủy bộ quan trọng nhất nối thông vùng Đông Bắc với trung tâm Mê Linh –
Trang 26Quốc đô của chính quyền Trưng Vương, nơi có “con đường của những kẻ xâm lược” chạy qua Vùng này trực tiếp che chắn cho Luy Lâu (và cả Cổ Loa, Mê Linh)
ở phía sau Tại đây có nhiều truyền thuyết và di tích chiến trường thời kì đầu Công nguyên Kết hợp với nguồn tài liệu thư tịch và khảo sát thực địa, chúng tôi dự đoán vùng Lãng Bạc, nơi Hai Bà Trưng bố trí trận địa đón đánh quân xâm lược Đông Hán không nằm ngoài khu vực phía đông huyện Gia Bình và phía đông bắc huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh ngày nay” [49]
Như vậy, con người đến định cư và khai phá ở khu vực Côn Sơn – Kiếp Bạc
từ rất sớm, ngay từ thuở sơ khai của nước Việt Cũng như đa số cư dân Việt cổ ở đồng bằng sông Hồng, cư dân khu vực Côn Sơn – Kiếp Bạc chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa nước, kết hợp đánh bắt thủy sản Hoạt động của cư dân nơi đây luôn gắn liền và góp phần làm nên lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc
1.2.2 Cộng đồng cư dân Côn Sơn – Kiếp Bạc từ thế kỷ X đến nay
Sang thời Lý - Trần, những dấu tích phản ánh về quá trình phát triển của vùng đất này rất phong phú Tại di tích Xưởng Thuyền nằm giữa cánh đồng Vạn Yên, người ta đã phát hiện nhiều lon sành, vại nhỏ, mảnh chum, ngói, bát, đĩa men, con kê hình vòng có chân, tiền đồng niên hiệu Nguyên Hựu Thông Bảo (Tống Triết Thông 1086 – 1094), Nguyên Phong Thông Bảo (Trần Thái Tông 1251- 1258), ngoài ra còn có cả những lò nung gốm quy mô lớn nhỏ khác nhau Có thể khẳng định, cho đến thời Lý – Trần, Côn Sơn – Kiếp Bạc đã là một khu vực có cư dân tập
trung khá đông, các làng xã mới cũng lần lượt ra đời “Lôi Động cũng có lịch sử
hình thành cách đây 700 năm Một số dòng họ đến đây sinh sống và lập thành làng, lấy tên Sui Những dòng họ đến sau ở phía ngoài gọi là Sui trại Dân số Sui làng và Sui trại cứ lớn dần lên Cách đây 600 năm, Sui trại dân số đã khá đông nên tách ra thành một làng riêng lấy tên gọi là Tiền Định” [1, tr.10] “Thời sơ khai xã Hưng Đạo có các làng Đồng, Đá, Kiếp, Lòn Đến thời Trần thêm một số làng Núi, Trạm, Bạc, Ấp Sâu…” [5, tr.12]
Đặc biệt, Côn Sơn – Kiếp Bạc thời Trần, Lê là nơi ẩn dật của nhiều danh nhân, Nho sĩ: Tam tổ Trúc Lâm đã xây dựng chùa Côn Sơn thành một trong ba trung tâm của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử; Thánh võ Trần Hưng Đạo chọn Vạn
Trang 27Kiếp để dưỡng nhàn; Thánh Văn Chu Văn An lấy Phượng Hoàng làm nơi giảng học; Quan Đại Tư Đồ, Nhà thơ, nhà lịch pháp nổi tiếng Trần Nguyên Đán dựng động Thanh Hư ở Côn sơn làm nơi lui nghỉ; anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi cũng chọn Côn Sơn làm nơi gắn bó suốt cuộc đời Hiện nay các di tích gắn liền với tên tuổi các danh nhân vẫn còn và đang được trùng tu, tôn tạo Kết quả khảo cổ học cũng cho thấy vào thời nhà Trần trong khu vực này đã tồn tại một phủ đệ với quy mô khá lớn, kết cấu chặt chẽ – đó là phủ đệ của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn ở Kiếp Bạc, bên dòng Lục Đầu Giang Trần Quốc Tuấn là Tôn Thất nhà Trần, con An Sinh Vương Trần Liễu, cháu vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh) Quê làng Tức Mạc phủ Thiên Trường thời Trần, nay là thôn Bảo Lộc xã Mỹ Phúc ngoại thành Nam Định Trần Quốc Tuấn sinh năm Bính Tuất - Kiến Trung thứ 2 (1226) Ngay từ nhỏ Ông đã có tư chất hơn người, thông minh tài trí lại được rèn luyện và giáo dục toàn diện nên sớm trở thành người "võ công - văn trị" Vào thế kỷ 13, đế quốc Nguyên - Mông mở rộng chiến tranh chinh phục, gây đau thương tang tóc cho biết bao quốc gia, dân tộc từ Âu sang Á phải chịu cảnh nô
lệ hoặc bị xoá tên trên bản đồ thế giới Năm 1257, quân Nguyên Mông tiến vào nước ta Năm 1258 vua quân nhà Trần đã đánh bại quân Nguyên xâm lược Sau
thắng lợi này, Trần Hưng Đạo được “triều đình điều từ vùng A Sào ( Quỳnh Phụ -
Thái bình) về trấn giữ Vạn Kiếp” [13, tr.149] Tại đây ông cho xây dựng một phủ
đệ và xây dựng một chiến trường rộng lớn chống quân xâm lược Năm 1283, Trần Hưng Đạo được phong Quốc công Tiết Chế tổng chỉ huy Quân đội Từ đó, ông cùng với các vua quan nhà Trần đã chỉ huy quân dân Đại Việt đánh thắng cuộc xâm lược lần hai (1258), lần ba (1285) của đế quốc Mông Nguyên Đó là những thắng lợi vĩ đại và vô cùng hiển hách của dân tộc ta Đất nước thanh bình, Trần Hưng Đạo
về sống tại phủ đệ Vạn Kiếp Vua Trần cho lập Sinh Từ để thờ và Sinh Bi (Bia) ca ngợi công đức của Trần Hưng Đạo ngay từ khi người còn sống Lúc lâm bệnh sắp qua đời, vua Trần về thăm và hỏi về kế sách giữ nước, Trần Hưng Đạo trả lời
"Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước " Khi
qua đời, ông được an táng tại Vạn Kiếp Nhiều năm qua, khu di tích Kiếp Bạc đã được đào thám sát nhiều lần và đã phát hiện nhiều di tích như khu vực Từ Cũ,
Trang 28xưởng Thuyền, hang Tiền, hố Thóc, đường Hành Cung, hố Chân Bia và nhiều di vật như các đồ gốm, vũ khí, tiền đồng, vật trang trí, mộ cổ… Những thành quả khảo cổ học này không chỉ cho ta hình dung một cách rõ nét quy mô, kết cấu phủ đệ của Trần Hưng Đạo ở Vạn Kiếp mà còn cho ta hình dung được về cuộc sống của Trần Hưng Đạo cùng gia đình và cư dân quanh đây Nhân dân sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa, trồng thuốc nam, làm gốm, đánh bắt thủy sản
Thời Trần, Côn Sơn – Kiếp Bạc thuộc huyện Phượng Sơn - lộ Lạng Giang (Bắc Giang) Thời Lê đổi thành huyện Phượng Nhỡn thuộc thừa tuyên Bắc Giang Sau thuộc về trấn Kinh Bắc Trong thời Trần, thiền phái Trúc Lâm ra đời và phát triển mạnh Năm Hưng Long thứ 12 (1304) nhà sư Pháp Loa – Tổ sư thứ 2 của thiền phái này cho xây dựng một liêu (chùa nhỏ) gọi là Kỳ Lân Đến năm Khai Hựu thứ nhất (1329) chùa được xây dựng mở rộng thành Côn Sơn Thiên Tư Phúc tự do Huyền Quang – Tổ sư thứ 3 trụ trì Theo dòng chảy Yên Tử, Côn Sơn trở thành một trong những trung tâm Phật giáo lớn thời Trần và đã quy tụ một lượng Phật tử lớn Cũng từ thời Trần, văn hóa khu vực Côn Sơn – Kiếp Bạc như có sự khởi sắc, là nơi ghi dấu những sự kiện lớn của văn hóa Việt Nam: Đó là một trong những trung tâm của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử; là nơi Trần Hưng Đạo chọn làm đại bản doanh đánh quân Nguyên xâm lược; Côn Sơn – Kiếp Bạc cũng chính là nơi các danh nhân hàng đầu Đại Việt trong các lĩnh vực đã tìm về ở ẩn: danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi, danh nhân quân sự Trần Hưng Đạo, danh nhân giáo dục Chu Văn An… Như một hiện thân của đất lành chim đậu, Côn Sơn – Kiếp Bạc trở thành điểm đến của nhiều người, cả vĩ nhân và thường dân Các vĩ nhân với những lí tưởng sống cao đẹp trung quân, ái quốc, chính nghĩa, nhân nghĩa đã hội tụ soi sáng vùng đất này
Qua thời gian, dân cư khu vực Côn Sơn – Kiếp Bạc từ thưa thớt đã phát triển
dần thành một cộng đồng đông đúc “Trong quá trình hình thành và phát triển,
những năm đầu Chi Ngãi chỉ có một, hai dòng họ với bốn, năm chục hộ gia đình Sau đó số dân tăng dần lên và các dòng họ ở nói khác đến đây sinh cơ lập nghiệp Đến trước cách mạng tháng Tám – 1945, Chi Ngãi đã có 280 hộ với 1120 nhân khẩu” [2, tr.10] Sau Chi Ngãi phải nói đến thôn Lôi Động và Tiền Định (phường
Cộng Hòa) Theo nhân dân ở đây, Thế kỉ XX, Sui làng đổi tên thành Lôi Động
Trang 29Cách đây khoảng 200 năm, một số hộ ở Vĩnh Đại, xã Văn Đức vào phía Bắc và phía Nam đường 18 lập ấp và phát triển thành thôn Bích Động và Đồng Cời ngày nay Thôn Chúc Cương ngày nay, trước kia do một số hộ ở làng Sui ra khai phá, lập ấp
và do dân ở Nam Sách di cư vào mà thành Tiên Sơn (vị trí Côn Sơn ngày nay) chưa chính xác con người đến đây từ bao giờ, nhưng quan tư đồ Trần Nguyên Đán cùng
vợ và cháu ngoại là Nguyễn Trãi đã từng sống ở đây, ngày đó sử sách chỉ ghi là xóm núi Tiên Sơn Đến những năm 1925 – 1930 một số hộ người Thổ và nông dân huyện Nam Sách đã đến Tiên Sơn sinh cơ lập nghiệp, năm 1936 – 1939, một số dân thôn Chi Ngãi cũng vào Tiên Sơn lập trại ấp, lâu dần hình thành nên làng Tiên Sơn Cũng vào những năm 1925 – 1930, một luồng di cư khá lớn từ Nam Sách vào địa phận Cộng Hòa sinh sống lập lên thôn Hàm Ếch ngày nay Tương tự Cộng Hòa, ở
Văn An cư dân cũng có sự thay đổi mạnh mẽ “đến thời thuộc Pháp, cư dân ở Kiệt
Đoài đông lên, một số hộ tách ra thành hai trại mới, sau này thành hai làng Kiệt Đông và Kiệt Tường Cũng thời thuộc Pháp, ngư dân ở Thanh Hóa, Nam Hà về lập trại làm ăn sinh sống sau này thành làng Hữu Lộc, Kinh Trung Vào những năm
1932 – 1935, 1936 -1939 một số hộ ở Kiệt Đoài ra lập trại lấy tên là Trại Sen và Trại Mới; một số hộ Kiệt Thượng ra lập trại Thượng, Trại Chua và Núi Đá” [3, tr.12]
Cùng với thời gian, con người đã sinh sôi, nảy nở, kết hợp với việc tiếp nhận nhiều đợt di cư suốt chiều dài lịch sử, hiện nay Côn Sơn – Kiếp Bạc đã là một
khu vực có cộng đồng dân cư khá đông đúc “Trước Cách Mạng tháng Tám -1945,
cả xã có 510 hộ với trên dưới 2000 nhân khẩu, ngày nay đã tăng lên 1250 hộ với
5300 nhân khẩu” [2, tr.12] Trước cách mạng tháng Tám, cả xã có 556 hộ với 2361 nhân khẩu, năm 1995 toàn xã có 3209 hộ với 11374 nhân khẩu [1, tr.8]… Năm
1999, toàn xã có 12592 nhân khẩu, đến năm 2009 là 14663 nhân khẩu [2, tr.12] …
Mật độ dân số của khu vực Côn Sơn – Kiếp Bạc hiện nay khoảng trên 500 người/km2 – mật độ tương đối cao so với các vùng trung du khác trong cả nước Năm 2010, huyện Chí Linh được công nhận là thị xã Chí Linh Cùng với đó là tốc
độ đô thị hóa, công nghiệp hóa diễn ra càng mạnh trên đất Chí Linh Trong khu vực Côn Sơn – Kiếp Bạc có nhiều đô thị mới được thành lập như khu đô thị, khu công nghiệp Cộng Hòa, khu đô thị Hồ Mật Sơn… Năm 2010, thủ tướng chính phủ đã kí
Trang 30quyết định số 920/QĐ-TTG phê duyệt quy hoạch tổng thể khu di tích lịch sử, văn hóa Côn Sơn – Kiếp Bạc gắn với sự phát triển của thị xã Chí Linh – tỉnh Hải Dương với tổng kinh phí là 1.800 tỷ Năm 2012, khu di tích – danh thắng Côn Sơn – Kiếp Bạc đón nhận bằng di tích Quốc gia đặc biệt, hướng tới di sản thế giới Từ những năm 2010 đến nay, thị xã Chí Linh cũng như khu vực Côn Sơn Kiếp Bạc đang có sự thay đổi mạnh mẽ về diện mạo, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Ngày
25 – 6 – 2015, theo quyết định số: 747/QĐ-BXD Bộ xây dựng công nhận thị xã Chí Linh là đô thị loại III Chí Linh, Côn Sơn – Kiếp Bạc đang thay đổi diện mạo từng ngày Do đó vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa trong khu vực Côn Sơn – Kiếp Bạc đã trở nên vô cùng cần thiết
Tiểu kết chương 1
Côn Sơn – Kiếp Bạc thuộc thị xã Chí Linh – vùng đất linh thiêng của dân tộc Với hình sông thế núi trời ban, cảnh quan ngoạn mục, Côn Sơn – Kiếp Bạc không chỉ mang trong mình những danh lam thắng cảnh, mà nơi đây đã trở thành một khu vực có vị trí chiến lược quan trọng ở vùng Đông Bắc tổ quốc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Qua tư liệu nghiên cứu về địa chất, khí hậu thuỷ văn… cho thấy khu vực Côn Sơn – Kiếp Bạc được hình thành khá sớm trong lịch sử kiến tạo của tam giác châu thổ đồng bằng Bắc Bộ Nơi đây có đất đai tươi tốt, giàu về tài nguyên thiên nhiên, cảnh quan tươi đẹp vừa có núi, có sông, có các đồng bằng thung lũng, có hệ thống môi sinh động thực vật hết sức phong phú, đa dạng Vùng đất này lại có điều kiện thiên nhiên môi trường, khí hậu, nhiệt độ, chế độ nắng mưa… khá ổn định và
ôn hoà, đây là điều kiện thuận lợi để con người sinh sống và phát triển
Qua tư liệu nghiên cứu về lịch sử, văn hóa… cho thấy con người đã đến và định cư ở Côn Sơn – Kiếp Bạc từ rất sớm, từ thuở sơ khai của nước Việt Ban đầu dân cư thưa thớt, qua thời gian, do sự sinh sôi nảy nở, do các luồng di cư từ nơi khác đến, cho đến ngày nay, Côn Sơn – Kiếp Bạc đã trở thành một cộng đồng dân
cư đông đúc Sự tương tác giữa con người với thiên nhiên, với những hoàn cảnh lịch sử, kinh tế và văn hóa xã hội đặc thù đã dần định hình nên ở Côn Sơn – Kiếp Bạc một không gian văn hóa mang những đặc trưng riêng
Trang 31Chương 2: DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TIÊU BIỂU, PHONG TỤC, TẬP QUÁN,
TÍN NGƯỠNG, LỄ HỘI Ở KHU VỰC CÔN SƠN – KIẾP BẠC
2.1 Vài nét về các di tích lịch sử văn hóa
Côn Sơn – Kiếp Bạc có tài nguyên phong phú, dồi dào, cảnh quan tươi đẹp lại ở vị trí cửa ngõ sinh tử phía Đông của kinh đô nước Việt, con người từ thuở sơ khai đã đến khai phá vùng đất này Quá trình đấu tranh xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong lịch sử dân tộc đã để lại cho vùng đất này mật độ di tích lớn, trong đó có nhiều di tích mang giá trị lịch sử - văn hóa lớn Có thể hình dung ra diện mạo phân
bố di tích ở Côn Sơn – Kiếp Bạc như sau: 3 di tích chính tạo thành một tam giác xương sống của sự phân bố các di tích trong khu vực là Chùa Côn Sơn – Đền Kiếp Bạc – Đền thờ Chu Văn An, Nguyễn Thị Duệ, xung quanh các di tích này là hệ thống các di tích vệ tinh tạo nên 3 cụm di tích trong khu vực: cụm di tích Côn Sơn, cụm di tích Kiếp Bạc, cụm di tích Phượng Hoàng Bên cạnh đó, gần khu di tích Côn Sơn có di tích đền Sinh, đền Hóa Gắn với hệ thống di tích là các lễ hội truyền thống tạo nên sự lan tỏa trong không gian linh thiêng Côn Sơn – Kiếp Bạc
2.1.1 Cụm di tích Côn Sơn
Bao gồm các di tích phân bố ở núi Kỳ Lân, núi Ngũ Nhạc gắn liền với tên tuổi của ba vị tổ thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, Quan đại tư đồ Trần Nguyên Đán, Anh hùng dân tộc Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi
2.1.1.1 Chùa Côn Sơn
Chùa Côn Sơn hiện tại thuộc phường Cộng Hòa Chùa được khởi dựng vào
cuối thế kỉ XIII trên núi Côn Sơn, một ngọn núi “có hình dáng con Kỳ Lân, trên có
am Bạch Vân, dưới có cầu Thấu Ngọc” [71, tr.301] Chùa được mở rộng vào năm
1329, được trùng tu tôn tạo ở các thế kỉ XVII, XVIII và mấy chục năm gần đây Chùa từng có quy mô 83 gian, có tượng Phật nghìn mắt nghìn tay (thiên thủ thiên nhãn), Cửu phẩm liên hoa, có 385 pho tượng… thời Trần, kiến trúc chính của chùa
là nội công ngoại quốc Quy mô di tích khá lớn với đầy đủ các công trình kiến trúc
đồ sộ, hoành tráng từ hồ bán nguyệt lên đến đỉnh núi Côn Sơn: tiền đường, thiêu hương, thượng điện, hai dãy tiền hành lang hậu hành lang, cửu phẩm liên hoa, các tòa tháp và am Bạc Vân Chùa hiện nay kiến trúc kiểu chữ công, còn ngói mũi hài
Trang 32và đá tảng hoa sen là di tích thời Trần, dấu ấn kiến trúc thế kỉ XIV, XVII, XVIII, XIX vẫn tầng tầng lớp lớp theo lối cung đình: hồ bán nguyệt, tam quan, gác chuông, Phật điện, Tổ đường, hậu hành lang… hệ thống thờ khá phong phú biểu hiện thế giới phật giáo thu nhỏ với ý nghĩa triết lý nhân sinh, giáo dục hướng thiện khai tâm cho chúng sinh
Chùa Côn Sơn nhìn về hướng Đông Nam, tên chữ là Thiên Tư Phúc tự, nghĩa
là ngôi chùa được trời ban phúc lành Mở đầu cho ngôi chùa là một hồ nước trước đây dưới dạng tự nhiên được coi như lão thủy minh đường Vượt qua một sân rộng đến tam quan với 3 cửa vào Tam quan này ít nhiều theo dáng mẫu của chùa Kim Liên (Hà Nội) với kết cấu hai lớp mái, bốn phía mái ứng với tứ tượng, tám lá mái tượng trưng cho bát quái Sau tam quan là nhất chính đạo, con đường dẫn vào cõi thiêng liêng Từ xa xưa con đường này được để tự nhiên, mộc mạc đặc biệt hai bên trồng thông, cuối đường thông là tòa tháp chuông với kết cấu hai tầng tám mái Ý nghĩa của nó cũng phần nào tương đồng như ở tam quan Trước kia nơi đây đã treo một quả đại hồng chung
Vượt qua gác chuông vào sân với những cây cối linh thiêng như cây đại, cây thông Hiên nay trên sân trước của chùa con nhiều tấm bia quý như Thanh Hư động
vi ký, Côn Sơn tự vi ký, Côn Sơn tư phúc tự vi ký
Từ sân chùa, bước qua bảy bậc đá lên tiền đường, chùa chính xây theo hình chữ Công, gồm tiền đường, nhà cầu, thượng điện Mặt bằng thượng điện đã có từ thời Trần ( thế kỉ XIX) với một số chân tảng đá mài, tòa tiền đường là một kiến trúc
5 gian, hai chái, dựng trên nền cao, được xây kiểu đầu hồi bít đốc tay ngai, với cửa bức bàng theo lối thượng song hạ bản Hai chái lớn bưng tường, mặt trước trổ cửa
sổ hình chữ Thọ để lấy ánh sáng từ ngoài vào Nghệ thuật trang trí trên kiến trúc chủ yếu là “tứ linh quần hùng”, “tứ quý uyên ương”, hàm chứa triết lí nhân sinh sâu sắc Kiến trúc này mới được tu sửa lại trong thời gian gần đây Chúng ta có thể tin được rằng ít nhất từ khoảng thời Mạc trở về trước, trọng tâm chính của chùa là nơi thượng điện hiện nay bởi nơi đây vẫn còn có nền cao hơn hẳn tiền đường và nhà cầu Đó là kiểu thức kết cấu chung của những ngôi chùa hiện còn thấy rải rác khắp châu thổ bắc bộ Tất cả phần cấu trúc bên trên của tòa nhà này đều được làm lại gần
Trang 33như hoàn toàn Chùa theo phái Trúc Lâm, thờ cả Trúc Lâm Tam tổ nên ngoài tính chất Phật đơn thuần, chùa còn mang tính chất đền, như ở mặt bằng đã có sự chuyển hóa, lão thủy thành hồ bán nguyệt và tượng thờ không còn đầy đủ như những ngôi chùa khác
Trong chùa có tượng Đức Ông, tượng Khuyến Thiện, tượng Trừng Ác, tượng Thánh Tăng, Đáng kể nhất là bộ Tam thế, một trong những bộ tượng đẹp nhất nước ta được làm vào thế kỉ XVII Tượng to ngang người thực, ngồi trên đài sen Tiếp dưới các tượng này là bộ Hoa Nghiên tam Thánh, chính tâm là đức Thích Ca cầm bông hoa để nhắc nhở chúng sinh vào chùa thì phải “tự tính trạng viên” Hai bên của tượng Thích Ca là tượng Văn Thù và Phổ Hiền, sản phẩm của nghệ thuật cuối thể kỉ XVII Đằng trước của tượng Hoa Nghiên là hai đại đệ tử của Ngài, đó là
Ca Diếp và Ananđà Ở phía trước là tượng Thích Ca sơ sinh Hiện nay trên tòa thượng điện vẫn giữ được một vài chân tảng đá mài chạm nổi đài sen trơn
Sau Phật điện qua khoảng sân gạch là Tổ đường, kiến trúc kiểu chữ Đinh, gồm tiền bái và hậu đường Trọng tâm của tòa nhà này lấy việc thờ Tam tổ làm trọng, đồng thời kèm theo đó là những vị tổ khác được ngồi ở hàng ghế dưới nhưng lại được đội mũ theo dạng Tỳ lư và cải trang ít nhiều mang tính Đạo giáo Đó là ngoài các vị Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang thì trên ban thờ còn có tượng của đại Tư đồ Trần Nguyên Đán với khuôn mặt đầy nét chân dung, nhiều quý tướng, phục trang có mũ và áo là sản phẩm của nghệ thuật đầu thế kỉ XVIII
Phía sau nhà Tổ là hòn non bộ, trước đây vốn là một ao nhỏ, nước từ mạch núi Kỳ Lân tụ lại trong xanh mát mẻ Đàn rùa tụ hội sinh sống ở đây đã bao đời, bởi vậy có tên là ao Rùa Bên ao Rùa là khu vườn tháp, đáng chú ý là tháp tổ Huyền Quang
Trải qua bao năm tháng chiến tranh, sự phá hủy của thiên nhiên chùa Côn Sơn giờ bé nhỏ hơn rất nhiều so với hình bóng ngôi chùa xưa được ghi trong sử sách và bi kí Nhưng không vì thế mà chùa Côn Sơn và núi rừng nơi đây mất đi vẻ tôn kính thiêng liêng vốn có của nó Với những giá trị văn hóa, lịch sử đặc sắc, chùa Côn Sơn được Nhà nước xếp hạng di tích Quốc gia đặc biệt năm 2012
Trang 342.1.1.2 Đền Ức Trai
Đền Ức Trai thờ anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Trãi (1380 - 1442), nằm trong quần thể khu di tích danh thắng Côn Sơn thuộc phường Cộng Đền được khởi công xây dựng ngày 14 tháng 12 năm 2000, và khánh thành ngày 16 tháng 8 năm Nhâm Ngọ (tức ngày 22 tháng 9 năm 2002
Đền thờ Ức Trai tọa lạc trên một vị thế có thể nói là đắc địa dưới chân núi Ngũ Nhạc Minh đường của đền nhìn thẳng ra hồ Côn Sơn, nơi có núi Phượng Hoàng và núi Hồ Phóng chầu vào Thế của đền thờ Nguyễn Trãi là:
Tựa vào sừng sững tổ sơn
Nhìn ra trập trùng An Lạc
Hữu Bạch Hổ là cổ sơn Kỳ Lân
Tả Thanh Long là Linh sơn Ngũ Nhạc
Liền kề dòng suối ngân nga
Bốn phía rừng thông bát ngát
Ngôi đền xây dựng trên diện tích 10.000m2
với 15 hạng mục công trình: Đường vào đền, nghi môn ngoại, cầu đá, nhà bia, hai nhà tả hữu vu, đền thờ chính, cầu Thấu Ngọc Sau đoạn đường dài 300m, tới nghi môn ngoại đền Ức Trai Nghi môn kiến trúc theo lối thạch thiên trụ sừng sững uy nghi Thạch thiên trụ với những trạm khắc kiến trúc hoa lá Hán tự tinh xảo Ở nghi môn đền có đôi câu đối
Sau nghi môn là khảng sân đá rộng hơn 700m2 có tường bao lam trạm khắc hoa văn hình sóng nước thời Lê Tiếp theo là cầu đá vào đền cong tựa cầu vồng ngũ sắc Cầu dài 17.6m, rộng 6.4m và trụ cầu cao gần 4m vươn mình qua suối Côn Sơn Thành cầu được chạm khắc theo dạng hình sóng nước xen lẫn mô típ tứ bình, tứ quý
Nghi môn nội được xây dựng theo kiểu chồng diêm hai tầng tám mái Kiến trúc trên cánh cửa, bức cuốn, đầu dư là các biểu trưng linh vật sống động
Hai bên là hai dãy nhà bia nói về thân thế, sự nghiệp của Nguyễn Trãi và quá trình xây dựng đền thờ Ức Trai
Giữa hai nhà bia là Tắc môn được thiết kế theo dạng cuốn thư, giữa chạm chữ Thọ Tắc môn làm bằng đá xanh Hai bên phía trên là hai dãy nhà tả, hữu vu làm bằng gỗ lim Bốn hồi nhà là bốn mặt hổ phù dữ tợn ngậm chữ Thọ hình mặt
Trang 35nguyệt tượng trưng cho ý nghĩa cầu mùa, no đủ, mang đến những điều tốt lành cho khách hành hương về di tích
Đền Ức Trai rộng khoảng 200m2, kiến trúc theo hình chữ Công Đền xây dựng theo hướng Nam, đó là hướng của sinh khí, thiện tâm Tổng thể công trình được xây dựng bằng những vật liệu quý hiếm cổ truyền
Ngôi đền được xây dựng theo kiến trúc thời Lê Đề tài trang trí trên các bức cốn, đầu dư, xà nách là “tứ linh hội hợp”, trên các cánh cửa chạm đề tài “tứ quý uyên ương”
Đền thờ bao gồm tiền tế, trung từ và hậu cung Tiền tế ba gian hai chái, chính giữa bài trí ban thờ Công đồng bách quan Bên trái là ban thờ Sơn thần Bên phải là ban thờ Thổ địa Trung từ bài trí ban thờ Lễ trình Tại Hậu cung có tượng thờ chân dung Nguyễn Trãi bằng đồng trong khám thờ uy nghiêm Hai bên tả hữu Hậu cung phối thờ long ngai bài vị thân phụ và thân mẫu của Nguyễn Trãi
Đền thờ Nguyễn Trãi ở Côn Sơn là một sản phẩm văn hóa có giá trị mà nhân dân toàn tỉnh Hải Dương nói chung và nhân dân huyện Chí Linh nói riêng đã đóng góp vào việc tôn vinh danh nhân văn hóa của đất nước Đền thờ Nguyễn Trãi đã đáp ứng được nhu cầu tình cảm, tâm linh của đông đảo các tầng lớp nhân dân địa phương
và cả nước Đền thờ Nguyễn Trãi là niềm tự hào của nhân dân tỉnh Hải Dương và nhân dân cả nước Đây là công trình văn hoá của thời đại chúng ta kính dâng lên người anh hùng kiệt xuất của dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới, để lòng yêu nước, thương dân, tư tưởng nhân nghĩa của Ức Trai sáng mãi cho muôn đời sau
1.1.1.3 Đền Thanh Hư
Đền Thanh Hư thờ Đại Tư đồ Trần Nguyên Đán thuộc quần thể di tích Côn Sơn Trần Nguyên Đán (1325- 1390) hiệu là “Băng Hồ”, con của Uy Túc hầu Trần Văn Bích - chắt của Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải, quê ở xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định Trần Nguyên Đán thuộc họ tôn thất, nên từ sớm được bổ nhiệm làm quan theo quy chế tập chức Cuộc đời, sự nghiệp của ông gắn với công cuộc củng cố, xây dựng vương triều nhà Trần nửa cuối thế kỉ XIV
Hơn 30 năm làm quan, Trần Nguyên Đán là tướng quốc của ba triều vua: Trần
Dụ Tông, Trần Nghệ Tông, Trần Duệ Tông Năm 1369, ông có công dẹp loạn
Trang 36Dương Nhật Lễ, giành lại vương triều Trần, lập Trần Phủ lên ngôi vua (Trần Nghệ Tông) được phong chức Tư đồ phụ chính, tước Chương túc Quốc thượng hầu Trần Nguyên Đán có nhiều công đóng góp trên các lĩnh vực văn hoá, tư tưởng, khoa
học… Ông để lại nhiều trước tác như: Băng Hồ ngọc hác thi tập, Bách Thế thông
khảo, đến nay còn 51 bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục
Cuối thế kỷ XIV, triều Trần suy vong, báo trước sự sụp đổ không còn xa nữa,
Tư đồ Trần Nguyên Đán xin với 2 vua (Nghệ Tông, Duệ Tông) xin từ quan Năm
1385, Đại Tư đồ cùng với gia đình và cháu ngoại là Nguyễn Trãi về sống ở Côn Sơn Trong 5 năm (1385- 1390) ở Côn Sơn ngoài việc vân du sơn thuỷ, suy ngẫm
về lẽ mầu nhiệm của đạo Thiền, ông còn có công dạy cháu ngoại những bài học làm người Những bài học đầu tiên ấy ảnh hưởng sâu sắc đến việc hình thành nhân cách của vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi Năm 1390, Tư Đồ Trần Nguyên Đán mất tại Côn Sơn, vua Trần ra sắc chỉ cho nhân dân địa phương lập đền thờ ông tại khu vực Thanh Hư động Nhiều thế kỷ qua, Thanh Hư động chỉ còn là một khu phế tích, nhưng địa danh Thanh Hư động vẫn hấp dẫn tín đồ, du khách thập phương "Ôn cố tri tân", ngày 02 tháng 6 năm 2004, Uỷ ban nhân dân tỉnh Hải Dương quyết định phục hồi đền thờ quan Tư đồ Trần Nguyên Đán tại Côn Sơn Sau hơn 2 năm xây dựng, ngôi đền khánh thành vào ngày 16 tháng Giêng năm 2006
Đền Thanh Hư được làm bằng vật liệu quý hiếm Nghi môn cao vời vợi thể hiện quyền uy kết cấu tứ trụ, hai trụ chính đăng đối với nhau qua đường thần đạo vào đền Đỉnh trụ là búp phượng chầu ra bốn hướng đắp tứ linh Đế trụ đắp vỉa dạng
cổ bồng Giữa hai trụ chính là các mái nhà chè, lợp ngói vẩy cá Trụ phụ kết cấu tương tự trụ chính, đỉnh trụ đắp long mã quy chầu, lồng đèn trang trí tứ quý Đền chính kiến trúc theo kiểu chữ đinh gồm: bái đường và hậu cung Bái đường kết cấu
2 tầng 8 mái, lợp ngói vẩy cá Chính giữa bờ nóc là hình hổ phù đội mặt trời bốc lửa, đầu bờ nóc đắp con kìm, hiện thân của con ly với bộ mặt giữ tợn đầy quyền uy Đầu đao tầng mái trên lá kép gồm: rồng, guột mây, cá hóa rồng Tầng mái dưới đắp đao kép tứ linh trong hoạt cảnh đầm ấm biểu hiện sự trường tồn, vĩnh cửu, âm dương hòa hợp
Trang 37Bái đường gồm một gian hai chái, hệ thống của bức bàn trạm hình tiên nữ dâng hoa, đánh đàn Các gian liên kết với nhau bởi hệ thống vì xà tường bao Hai bộ
vì nóc gian chính điện kết cấu giá chiêng, chồng rường con nhị Hệ thống cột bằng
bê tông giả gỗ, chân tảng hoa sen Gian tiền tế bài trí ban thờ công đồng, hai bên là ban thờ gia tiên và sơn thần
Hậu cung xây tường hồi bít đốc gồm một gian hai chái Hệ thống cửa thượng song hạ bản Phía trên hai cửa ngách chạm phượng cuốn thư Trong hậu cung là ban thờ Trần Nguyên Đán, tượng quan Tư đồ thần thái uy nghiêm, nhân từ, vẫn nặng lòng yêu nước thương dân
Các cấu kiện kiến trúc đền quan tư đồ hầu hết được làm bằng bê tông giả gỗ, sơn son thiếp vàng, trừ một số cấu kiện ở mái: hoành, rui, tầu mái, lái mái, âu tầu và
hệ thống cửa được làm bằng gỗ lim, tất cả những họa tiết trang trí, kiến trúc thể hiện
sự tôn quý của ngôi đền
Ngôi đền sừng sững uy nghi, thấp thoáng dưới mái thông cổ thụ, tựa núi Côn Sơn, minh đường nhìn xuống hồ Côn Sơn – nơi tụ phong, tụ thủy, lấy núi An Lạc làm tiền án, dãy An Sinh thế long chầu Ngôi đền đắm mình trong không gian thiên nhiên đầy thơ mộng, có gió thổi, thông reo, suối ngàn vẫy chảy rì rào như đang kể
về một thời cổ tích của hơn 600 năm trước Ngôi đền trầm mặc như vẫn chứa tư tưởng của Băng Hồ tướng công mà thượng hoàng Nghệ Tông đã từng ca ngợi:
Tư Đồ sáng am,
Trên núi thâm nghiêm
Há phải muốn riêng mình vui thú
Chính là để ngụ cái ý lên cao
Ngồi trên bàn đá chính là muốn đặt thế nước yên ổn,
Cúi nhìn dòng nước là muốn bàn sâu vào việc nước,
Nương dưới bóng cây là muốn mở rộng được sự che chở cho dân,
Tựa vào khóm trúc là muốn đến với nhiều hiền sĩ” [77, tr.223]
2.1.1.4 Ngũ Nhạc linh từ
Miếu Ngũ Nhạc được xây dựng trên núi Ngũ Nhạc - nơi có cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, ngoạn mục với rừng thông xanh bạt ngàn, suối trong róc rách quanh năm suốt tháng và khí hậu trong mát, không gian yên bình
Trang 38Miếu Ngũ Nhạc được coi như Đàn Nam Giao của phía Bắc, cái đàn miếu thiêng mà theo sử sách là nơi xưa các vương triều lên đây tế trời đất cầu cho quốc thái dân an Di tích miếu Ngũ Nhạc được xây dựng trên năm đỉnh núi Ngũ Nhạc thuộc thôn An Mô, xã Lê Lợi, thị xã Chí Linh Núi Ngũ Nhạc có chiều dài 4390 m đỉnh cao nhất là 238 m, núi Ngũ Nhạc nằm giữa các ngọn núi: Tây nam giáp núi Côn Sơn/ Kỳ Lân, phía Tây Bắc là dãy núi Rồng, phía Nam là núi Phượng Hoàng, phía đông Ngũ Nhạc là núi Tam Ban cao chọc trời bạt ngàn hoa lá, nơi có chùa cổ Thanh Mai u tịch, thâm nghiêm - nơi tu hành và viên tịch của thiền sư Pháp Loa vị
tổ thứ hai của thiền phái Trúc Lâm
Ngũ Nhạc vốn là tên gọi chung cho năm ngọn núi nổi tiếng của Trung Quốc xuất hiện từ thời Hán Vũ Đế (thế kỷ II – I TCN) là Thái Sơn Đông Nhạc, Hoành Sơn Nam Nhạc, Hoa Sơn Tây Nhạc, Hằng Sơn Bắc Nhạc và Tung Sơn Trung Nhạc Truyền thuyết kể rằng, những ngọn núi này là những vùng đất phúc mà các thần tiên ngự trị, thưởng ngoạn phong cảnh kỳ tuyệt ở chốn trần gian Đây là năm ngọn núi thiêng tượng trưng cho năm phương (tứ phương và trung phương) mỗi phương ứng với một hành (Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ)
Theo thuyết của Đạo giáo Ngũ Nhạc cũng như Tứ Độc (bốn con sông dài nhất) là hai trong số các Địa kỳ của Thiên đình Đạo giáo Vì thế, trên mỗi đỉnh của Ngũ Nhạc đều có một nơi thờ các thần tự nhiên là Ngũ Phương Ngũ lão quân: Thanh Đế ở phương Đông, Bạch Đế ở phương Tây, Xích Đế ở phương Nam, Hắc
Đế ở phương Bắc và Hoàng Đế ở Trung ương (trung tâm) Đây là hiện tượng thần linh hoá ngũ hành thành ngũ phương ngũ thần của Đạo giáo
Trải qua bao năm tháng cùng sự phá hoại của thời gian, mưa nắng, cho đến năm 2004 những miếu thờ trên đỉnh Ngũ Nhạc chỉ còn là những ban thờ lộ thiên kiến trúc đơn sơ bằng đá trát vữa vôi có hình chữ nhật với chiều dài 3m rộng 2m cao 1m Nhận thấy tầm quan trọng của di tích, ngày 8/8/2004, khi cùng các đồng chí lãnh đạo Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Hải Dương và đại diện một số bộ, ngành của trung ương lên thăm Ngũ Nhạc, đồng chí Trương Mỹ Hoa Phó chủ tịch nước đã chỉ đạo cho Đảng bộ và nhân dân Hải Dương nghiên cứu, khẩn trương tôn tạo khu di tích độc đáo này để sớm đưa vào sử dụng, phục vụ nhân dân cả nước và phát huy ý
Trang 39nghĩa văn hoá sâu sắc của di tích; đồng thời giới thiệu với du khách thập phương về vốn văn hoá độc đáo của xứ Đông xưa và nay
Sau hơn một năm thi công, ngày 16 tháng 1 năm Bính Tuất (tức ngày 13/2/2006) lễ khánh thành năm miếu thờ trên núi Ngũ Nhạc cùng hệ thống đường
bộ hành lên núi đã được tổ chức Các ngôi miếu đều quay về hướng Nam - nơi có
hồ Côn Sơn quanh năm nước biếc Công trình được thiết kế, thi công khá công phu Tuy địa hình núi dốc, hiểm trở nhưng đã đạt cả yêu cầu về kỹ, mỹ thuật và phù hợp với cảnh quan môi trường Về kiến trúc: các Ngôi miếu chính được chế tác bằng đá hoa cương lắp ghép mộng chặt, các hệ thống câu đối, đại tự, hoa văn được chạm nổi hoặc chìm trên đá, tường lan can bao quanh chế tác bằng đá hoa cương, nền lát đá
hoa cương, đường đi lên núi 2,6km lát đá hoa cương 600x300x50 mm
Di tích miếu Ngũ Nhạc là công trình xây dựng, tôn tạo đồng bộ từ đường bộ hành đến kiến trúc các ngôi miếu Ở mỗi ngôi miếu đều có những mảng chạm khắc đạt trình độ nghệ thuật cao Thông qua quy mô công trình giúp ta hiểu thêm kiến trúc truyền thống, sự tinh tế trong trang trí, hợp lý trong kết cấu Có thể nói di tích miếu Ngũ Nhạc được khôi phục khá thành công và đáp ứng nguyện vọng, tín ngưỡng tâm linh của đông đảo nhân dân Giờ đây, bên cạnh các công trình: Chùa Côn Sơn, đền thờ Nguyễn Trãi và đền Thanh Hư, các ngôi miếu thờ Thần Năm Phương trên đỉnh núi Ngũ Nhạc đã tạo thêm những nét văn hoá tâm linh độc đáo làm hài lòng du khách thập phương đến chiêm bái khu di tích lịch sử, văn hóa và danh thắng nổi tiếng Côn Sơn - Kiếp Bạc
2.1.1.5 Bàn Cờ Tiên
Từ chùa Côn Sơn leo khoảng 600 bậc đá lên đỉnh núi Côn Sơn, ở đây có khu đất bằng phẳng - được gọi là Bàn Cờ Tiên Theo quan niệm dân gian, Bàn Cờ Tiên là nơi Trời - Đất giao hòa, thần tiên chọn làm nơi giao tiếp với hạ giới Tương truyền, vào những ngày mây trắng bao phủ, tiên trên trời thường bay xuống đánh cờ trên đỉnh Côn Sơn Một hôm đang mải mê đánh cờ, bỗng nghe có tiếng người ồn ào, các
vị liền bay đi để lại bàn cờ đang đánh dở, nên có tên gọi là Bàn Cờ Tiên
Trên Bàn Cờ Tiên phát lộ nền một kiến trúc cổ, hình chữ Công Qua khảo cứu, đó là dấu tích của Am Bạch Vân – một kiến trúc cổ được xây dựng từ thời
Trang 40Trần Am Bạch Vân có nghĩa là am mây trắng, nó minh chứng về am tu hành ở đỉnh núi Côn Sơn thường có mây trắng bao phủ
Năm 1992 Bộ Văn hóa – Thông tin đã cho xây dựng tại đây một "Vọng giang đình" - nhà bia theo kiểu vọng lâu, hai tầng tám mái cổ kính mà nhân dân quen gọi là nhà bia tưởng niệm vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi Trong nhà bia có bia đá khắc ghi về thân thế sự nghiệp của Nguyễn Trãi và lịch sử di tích Côn Sơn Ðứng ở "bàn cờ tiên" ta có thể ngắm nhìn toàn cảnh khu vực Côn Sơn và các vùng tiếp giáp
Bên cạnh những di tích lịch sử - văn hóa trên, trong khu di tích Côn Sơn còn
có những di tích khác như di tích nền nhà cũ của Nguyễn Trãi, Giếng Ngọc, Đăng Minh Bảo Tháp, Thạch Bàn, Cầu Thấu Ngọc, bãi rễ Thanh Hao, hồ Côn Sơn… tất
cả những di tích này đều chứa đựng trong lòng nó những truyền thuyết, huyền thoại gắn với những nhân vật đặc biệt trong lịch sử dân tộc như 3 vị tổ sư Thiền phái Trúc Lâm, quan tư đồ Trần Nguyên Đán, Nguyễn Trãi, chủ tịch Hồ Chí Minh… Những
di tích ấy dù nhỏ bé giữa Côn Sơn đại ngàn nhưng đến ngày nay vẫn được trân trọng lưu giữ, vì nó là dấu vết còn lại của những bậc tiền nhân cái thế, vì nó mang nhiều giá trị lịch sử, văn hóa minh chứng cho những thời kỳ vàng son của dân tộc Qua đó cũng thể hiện tấm lòng trân trọng, biết ơn đối với các bậc tiền nhân của thế
hệ con cháu ngày nay
2.1.2 Cụm di tích Kiếp Bạc
Bao gồm các di tích ở núi Trán Rồng và hai núi tay ngai Nam Tào, Bắc Đẩu
và sông Lục Đầu Các di tích này gắn bó mật thiết với cuộc đời, sự nghiệp của Anh hùng dân tộc, Nhà quân sự kiệt xuất Trần Hưng Đạo
2.1.2.1 Đền Kiếp Bạc
Đền Kiếp Bạc nằm giữa thung lũng Trán Rồng thuộc phần đất đai của hai làng Vạn Yên và Dược Sơn Đền Kiếp Bạc là một hệ thống di tích thờ phụng Trần Hưng Đạo và gia tộc của ngài Đây là ngôi đền được dân ta coi là rất linh thiêng Theo thuật phong thủy đền quay hướng Tây Nam - hướng của yên vị, của trí tuệ; phía trước là dòng sông Thương chảy từ bên phải sang bên trái, chảy thuận chiều về Lục Đầu giang, nghĩa là dòng sông chở đầy sinh lực Vì là nơi tối linh thiêng nên vị