Qua hơn 2 năm triển khai Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại thành phố Hà Nội, vẫn chưa có một nghiên cứu, đánh giá chính thức nào về thực trạng cũng như khó khăn trong công tá
Trang 1Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Lê Ngọc Hùng
HÀ NỘI - 2014
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn
Người hướng dẫn khoa học: GS TS Lê Ngọc Hùng
Phản biện 1: PGS TS Nguyễn Quý Thanh
Phản biện 2: TS Đỗ Thị Vân Anh
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại: Phòng họp Khoa Xã hội học, tầng 2, nhà A, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội vào hồi 14h30 ngày 24 tháng 11 năm 2014
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2014
Tác giả luận văn
Vũ Thị Đậu
Trang 4đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Nhân đây, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn cùng quý thầy cô trong khoa Xã hội học đã tạo điều kiện để tôi học tập và hoàn thành tốt khóa học
Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn quý anh chị và Ban lãnh đạo UBND xã Thụy Hương (huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội) đã tạo điều kiện cho tôi điều tra, khảo sát thực địa để có dữ liệu viết luận văn
Tôi cũng xin cảm ơn Viện Nghiên cứu Khoa học Dạy nghề (Tổng cục Dạy nghề - Bộ Lao động Thương binh và Xã hội) đã cung cấp những số liệu xác thực
và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi hoàn thành luận văn này
Vũ Thị Đậu
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 14
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 14
1.1 Cơ sở lý luận 14
1.1.1 Các lý thuyết xã hội học vận dụng trong nghiên cứu đề tài 14
1.1.2 Các khái niệm 18
1.2 Cơ sở thực tiễn 24
1.2.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về dạy nghề cho lao động nông thôn hiện nay 24
1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu 27
CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38
2.1 Thực trạng dạy nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956 tại xã Thụy Hương 38
2.1.1 Nhận thức, thái độ của lao động nông thôn đối với dạy - học nghề 38
2.1.2 Công tác khảo sát, tư vấn và tuyền sinh nghề 41
2.1.3 Công tác dạy nghề 46
2.1.4 Các mô hình dạy nghề được tổ chức trên địa bàn 50
2.1.5 Một số kết quả dạy nghề trên địa bàn 53
2.2 Các yếu tố tác động đến công tác dạy nghề theo Đề án 1956 tại xã Thụy Hương 57
2.2.1 Yếu tố chủ quan 57
2.2.2 Yếu tố khách quan 67
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC 84
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Cơ cấu kinh tế của huyện Chương Mỹ qua 1 số năm 31
Bảng 1.2 Dự báo lao động việc làm trong các ngành kinh tế quốc dân 32
Bảng 1.3 Dân số, cơ cấu dân số hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và
phi nông nghiệp 33
Bảng 1.4 Tình hình kinh tế của xã Thụy Hương năm 2011 35
Bảng 2.1 Đánh giá của lao động nông thôn về tầm quan trọng của học nghề 40
Bảng 2.2 Nhu cầu học nghề của người dân địa phương 42
Bảng 2.3 Đánh giá về tình trạng cơ cở vật chất phục vụ dạy nghề 48
Bảng 2.4 Các nội dung tuyên truyền 63
Bảng 2.5 Mức độ hữu ích của những thông tin được tuyên truyền về…… …………66
Bảng 2.6 Khó khăn của nông dân trong phát triển nghề 71
Bảng 2.7 Khó khăn của bà con trong sắp xếp thời gian tham gia lớp học nghề 73
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu 1.1 Giải quyết việc làm trong các nhóm ngành năm 2010 32
Biểu 1.2 Lao động việc làm trong các ngành kinh tế quốc dân 34
Biểu 2.1 Nhu cầu chuyển đổi nghề của lao động nông thôn 44
Biểu 2.2 Kết quả thi tốt nghiệp của học viên 47
Biểu 2.3 Mức độ hữu ích của kiến thức nghề được cung cấp 49
Biểu 2.4 Sự tham gia của người dân vào các mô hình dạy nghề 51
Biểu 2.5 Mức độ phù hợp của các mô hình dạy nghề trên địa bàn 52
Biểu 2.6 Đánh giá về trình độ giáo viên dạy nghề……… 58
Biểu 2.7 Đánh giá mức độ tiếp thu các kiến thức nghề được truyền đạt………….59
Biểu 2.8 Các kênh tiếp nhận thông tin về Đề án dạy nghề 61
Biểu 2.9 Mức độ thường xuyên của các thông tin về dạy nghề được tuyên truyền 66
Biểu 2.10 Sự khác biệt giữa nam và nữ trong việc lựa chọn nghề nghiệp 68
Biểu 2.11 Địa phương hỗ trợ cho lao động nông thôn làm nghề 71
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Dạy nghề cho nông dân nói riêng và đào tạo nghề nghiệp để nâng cao chất lượng nhân lực nói chung là chủ đề của xã hội học kinh tế - lao động và xã hội học giáo dục Trên thế giới đã có nhiều đề tài nghiên cứu về dạy nghề cho công nhân, nhân viên làm việc trong các doanh nghiệp, các nhà máy Tuy nhiên, nếu có những nghiên cứu về dạy nghề cho nông dân thì đó là nông dân ở một nước công nghiệp phát triển hoặc một nước đang phát triển - khác với Việt Nam là một quốc gia đang chuyển đổi kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường Do vậy, đề tài về dạy nghề cho nông dân là rất quan trọng và cần thiết về mặt
lý luận, cụ thể là cho môn xã hội học kinh tế, xã hội học nông thôn, xã hội học lao động, xã hội học giáo dục ở Việt Nam hiện nay Lý do chọn đề tài này còn bắt nguồn
từ tình hình thực tiễn ở Việt Nam thời gian gần đây
Thực hiện Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ; thực hiện Nghị quyết Hô ̣i nghi ̣ lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, ngày 27/11/2009 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1956/QĐ-TTg phê duyê ̣t Đề án “Đào ta ̣o nghề cho lao đô ̣ng nông thôn đến năm 2020” Đây là đề án có quy mô, mức kinh phí lớn, thời gian thực hiện dài và có ý nghĩa kinh tế - xã hội và nhân văn sâu sắc, là một trong ba khâu đột phá nhằm phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn
Mục tiêu tổng quát của Đề án là:
- Bình quân hàng năm đào tạo nghề cho khoảng 1 triê ̣u lao đô ̣ng nông thôn, trong đó đào tạo, bồi dưỡng 100.000 lượt cán bộ, công chức xã
Trang 9- Nâng cao chất lượng và hiê ̣u quả đào ta ̣o nghề, nhằm ta ̣o viê ̣c làm, tăng thu nhâ ̣p của lao động nông thôn; góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nông nghiê ̣p, nông thôn
- Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã có bản lĩnh chính trị vững vàng,
có trình độ, năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý hành chính , quản lý, điều hành kinh tế - xã hội và thực thi công vụ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Có thể khẳng định, Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm
2020 chính là một “cú huých” giúp thành phố Hà Nội tăng cường hơn nữa công tác này, mang lại sự đột phá tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, ổn định cuộc sống, giảm nghèo bền vững… Lao động sau khi đào tạo nghề đã tìm được việc làm hoặc tự tạo được việc làm ổn định chiếm khoảng 70% Thành phố đang phấn đấu đến năm 2015, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt trên 30% và trên 50% vào năm 2020, bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho khoảng 10.000 lao động
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn thành phố Hà Nội vẫn còn rất nhiều tồn tại Thực tế hiện nay, hầu hết nông dân, nhất là các chủ hộ, còn nhiều hạn chế về kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp Số nông dân và con em nông dân trong độ tuổi lao động chưa qua học nghề có nhu cầu chuyển đổi ngành nghề hiện tại còn cao, đặc biệt là các địa bàn có số lượng đất nông nghiệp thu hồi lớn Việc giúp nông dân tiếp cận với học nghề đòi hỏi quá trình lâu dài, trong khi mạng lưới cơ
sở dạy nghề phần lớn tập trung ở khu vực đô thị Các trung tâm dạy nghề khác chủ yếu mới thành lập, quy mô nhỏ, thiếu xưởng thực hành, ký túc xá, trang thiết
bị dạy nghề nên chưa đáp ứng được nhu cầu học nghề của đông đảo lao động nông thôn…
Trang 10Qua hơn 2 năm triển khai Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại thành phố Hà Nội, vẫn chưa có một nghiên cứu, đánh giá chính thức nào về thực trạng cũng như khó khăn trong công tác dạy nghề cho nông dân, nhận thức của nông dân về học nghề cũng như chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công tác dạy nghề Các báo cáo, đánh giá về vấn đề này mới chỉ đề cập đến những thông tin
về dạy nghề khá đơn giản, chưa có sự bình luận, khái quát và chuyên sâu; chưa làm cho xã hội nhận thức đúng tầm quan trọng của việc dạy nghề cho lao động nông thôn, khi đất nước ta đang tiến vào một giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội
có tính then chốt: Chuyển từ một nước nông nghiệp sang một nước công nghiệp
Do đó, tôi chọn đề tài “Dạy nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956
qua khảo sát tại xã Thuỵ Hương (huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội) với mong muốn đóng góp thêm nghiên cứu của mình dưới góc độ xã hội học cho một vấn đề hiện đang được cả xã hội quan tâm
2 Tổng quan nghiên cứu
Đào tạo nghề nói chung và đào tạo nghề cho lao động nông thôn nói riêng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa luôn là đề tài được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm bởi đây là vấn đề mang tính xã hội và ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển kinh tế - xã hội Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau:
Nghiên cứu “Thực trạng và giải pháp về lao động và việc làm nông nghiệp
và nông thôn” do ThS Vũ Thị Kim Mão, Viện CS&CL phát triển NN-NT thực
hiện từ năm 2006 – 2007 đã tổng quan về lao động và việc làm khu vực nông nghiệp, nông thôn; tổng kết kinh nghiệm giải quyết việc làm ở một số nước trong khu vực, trên thế giới và bài học cho Việt Nam Bước đầu, đề tài đưa ra các quan điểm và định hướng một số giải pháp chủ yếu nhằm khuyến khích tạo việc làm cho lao động nông nghiệp, nông thôn Việt Nam hiện nay
Trang 11Tác giả Trần Thanh Đức trong Tạp chí nghiên cứu và lý luận tháng 10 năm
2000 đã có bài viết “Nhân tố con người trong lực lượng sản xuất hiện đại”
Trong đó, tác giả đã nhấn mạnh vai trò của yếu tố con người trong lực lượng sản xuất hiện đại cũng như yêu cầu đáp ứng sự đòi hỏi của lực lượng sản xuất và vai trò của đào tạo tri thức, đào tạo nghề
Trong tạp chí Thông tin thị trường lao động, số 2 năm 1999, Hai tác giả Nguyễn Quang Huệ, Nguyễn Tuấn Doanh có bài viết về “Đào tạo nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Các tác giả đã nêu bật xu thế
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và những vấn đề đặt ra cho vấn đề đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH [17, 35-39]
Năm 2000, tác giả Trương Văn Phúc có bài viết đăng trên Tạp chí Lao động xã hội số 11a, với tiêu đề "Thực trạng lực lượng lao động 1996 – 2000 và một số vấn đề cần quan tâm trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực 2000 – 2005” Bài viết đã tập trung phân tích thực trạng lực lượng lao động trên các mặt
và biến động của nó trong giai đoạn 1996-2000; đồng thời phân tích những vấn
đề đặt ra trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực và những yêu cầu cấp thiết, trong đó, vấn đề đào tạo nghề được nhấn mạnh và làm một trong các giải pháp trọng yếu của hệ thống các giải pháp [28,32-36]
Năm 2000, Đại học Kinh tế Quốc dân xuất bản cuốn “Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại trong thời kỳ CNH, HĐH ở Việt Nam” Tuy
cuốn sách tập trung vào các vấn đề của trang trại, nhưng thực trạng về trình độ chuyên môn của chủ trang trại, của các lao động trong trang trại cũng được làm
rõ Qua đó, những vấn đề đặt ra cho việc nâng cao trình độ của các chủ trang trại được nêu ra, đặc biệt là các giải pháp liên quan đến đào tạo cho nhóm đối tượng này được đề xuất [19,42-48] Tuy nhiên, vấn đề này chỉ thể hiện được một bộ phận nhỏ của nguồn lao động nông thôn Vì vậy, xét trên phương diện đào tạo
Trang 12nghề cho lao động nông thôn thì phạm vi đề cập của cuốn sách còn tương đối hạn hẹp
Năm 2001, Nhà xuất bản Nông nghiệp xuất bản cuốn “Việc làm ở nông thôn: Thực trạng và giải pháp” của tác giả Vũ Tiến Quang đã nghiên cứu về vấn
đề việc làm ở nông thôn và đưa ra một số giải pháp Trong đó, nhấn mạnh tới thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, thực hiện chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa, phát triển ngành nghề phi nông nghiệp, hỗ trợ vốn tạo việc làm thông qua hội nông dân, hội phụ nữ…Các giải pháp trên đã góp phần không nhỏ vào quá trình phát triển kinh tế trên địa bàn Song do điều kiện địa lý của mỗi vùng khác nhau, trình độ nhận thức của lao động nông thông cũng chưa đồng đều nên việc áp dụng các chính sách trên vào đời sống chưa thật sự hợp lý và đồng bộ
Năm 2002, GS.TS Phạm Đức Thành và TS Lê Doãn Khải đã xuất bản
cuốn: “Quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở vùng Bắc Bộ nước ta” [48,55-62] Công trình khoa học này đã hệ
thống hoá cơ sở khoa học của quá trình cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong nông nghiệp, nông thôn Việt Nam; đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong nông nghiệp, nông thôn vùng đồng bằng Bắc bộ; đưa ra các quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông nghiệp, nông thôn vùng đồng bằng Bắc bộ đến 2010 Tuy nhiên, công trình nghiên cứu của tập thể tác giả lấy đối tượng chính là cơ cấu lao động và sự tác động là công nghiệp hóa – hiện đại hóa chứ không đề cập đến vấn đề đào tạo nghề với tư cách là đối tượng nghiên cứu chính
Năm 2003, tác giả Nguyễn Thị Ái Lâm hoàn thiện công trình nghiên cứu
với tựa đề “Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo: Kinh nghiệm Đông Á”' Công trình nghiên cứu khá toàn diện về kinh nghiệm phát
Trang 13triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo của các nước Đông Á, trong
đó, kinh nghiệm của Nhật Bản được nghiên cứu và tổng kết rất công phu Những kết quả nghiên cứu có thể tham khảo vận dụng cho đào tạo nghề ở Việt Nam, nhất là kinh nghiệm đào tạo nghề của các doanh nghiệp Nhật Bản [22,25-42]
Năm 2004, PGS.TS Đỗ Minh Cương và TS Mạc Văn Tiến đã xuất bản
cuốn “Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn” Cuốn
sách đã tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận về phát triển lao động kỹ thuật gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động phục vụ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam và
đề xuất định hướng cũng như các giải pháp phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam đến năm 2010 [5,11-40] Đây là cuốn sách có nhiều điểm bổ ích tham khảo cho nghiên cứu về đào tạo nghề cho lao động nông thôn Việt Nam nói chung, vùng đồng bằng Sông Hồng nói riêng Tuy nhiên, công trình nghiên cứu không
đi sâu vào các vấn đề trực diện của đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Luận văn Thạc sĩ “Giải quyết việc làm cho lao động khu vực nông thôn ở
Hà Nội” của tác giả Phạm Thị Thanh Hương (Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng
giảng viên lý luận chính trị) thực hiện năm 2011 đã nghiên cứu, hệ thống hóa cơ
sở lý luận và thực tiễn về việc làm, giải quyết việc làm để làm căn cứ khoa học cho việc đánh giá thực trạng việc làm và giải quyết cho lao động nông thôn trên địa bàn Thủ đô Hà Nội Đồng thời, đề xuất phương hướng và giải pháp giải quyết việc làm cho lao động trên địa bàn
Đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành nghề và tạo việc làm của lao động nông thôn” của hai tác giả Trần Thị Tuyết và
Lê Văn Phùng đưa đến nhiều phát hiện mới về nhân tố ảnh hưởng tới chuyển dịch ngành nghề nông thôn Tuy nhiên, đề tài chưa đi sâu vào nghiên cứu thực trạng của vấn đề này
Trang 14Cuốn sách “Việc làm ở nông thôn Thực trạng và giải pháp” của tác giả Vũ
Tiến Quang (Nxb Nông nghiệp) đã tập trung nghiên cứu về cơ cấu việc làm ở nông thôn và đưa ra các giải pháp giải quyết việc làm cho người nông dân
Công trình nghiên cứu “Sự biến đổi cơ cấu lao động – việc làm ở nông thôn ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” của tác giả Lê Hải Thanh đã
nghiên cứu về thực trạng biến đổi lao động – việc làm của nông dân khu vực ngoại thành của thành phố và đưa ra một số nguyên nhân ảnh hưởng đến quá trình này Đồng thời, đưa ra những dự báo về xu hướng biến đổi trong thời gian tới Tuy nhiên, đề tài chưa tập trung đi sâu để đưa ra các giải pháp giải quyết những tác động tiêu cực của quá trình đô thị hóa
Có thể nói, thời gian qua đã có rất nhiều nghiên cứu về dạy nghề cho lao động nông thôn Và trong các nghiên cứu đó, các tác giả đã đề cập đến những khía cạnh khác nhau của vấn đề đào tạo nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực lao động nông thôn nói riêng trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa Giai đoạn hiện nay, vấn đề dạy nghề cho lao động nông thôn vẫn còn tồn tại rất nhiều bất cập, đặc biệt là dạy nghề theo Đề án 1956 của Thủ tướng Chính phủ Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống tính hiệu quả, những bất cập cũng như tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng tới việc triển khai Đề án; từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của Đề án Đề tài của tác giả kế thừa kết quả từ những nghiên cứu đi trước, đồng thời chỉ ra những cái mới trong dạy nghề cho lao động
nông thôn trong bối cảnh hiện nay
3 Ý nghĩa của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài “Dạy nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956" (Khảo sát tại
xã Thụy Hương, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội) góp phần phân tích,
Trang 15tổng hợp các khía cạnh trên phương diện lý luận nghiên cứu về đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Chương Mỹ, vận dụng các lý thuyết: sự lựa chọn hợp lý, lý thuyết trao đổi xã hội, quy luật cung – cầu cùng với các chuyên ngành: Xã hội học kinh tế - lao động, Xã hội học nông thôn,
xã hội học giáo dục vào nghiên cứu thái độ, hành vi học nghề cũng như đào tạo nghề cho lao động nông thôn, các mô hình cũng như công tác triển khai các chương trình dạy nghề trên địa bàn vì mục tiêu xây dựng nông thôn mới
và phát triển nông thôn bền vững
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đào tạo nghề cho lao động nông thôn không chỉ là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành mà còn là sự quan tâm của toàn xã hội, nhằm góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở nông thôn, đáp ứng yêu CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn Để triển khai thực hiện Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, chúng ta đã và đang triển khai đồng bộ hệ thống các giải pháp, đặc biệt chú trọng tới công tác dạy nghề, tư vấn học nghề, việc làm cho lao động nông thôn vì đây là hoạt động có vị trí, vai trò quan trọng trong việc triển khai thực hiện thành công, có hiệu quả các hoạt động khác của Đề án Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp thêm một cách nhìn mới về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn – một vấn đề đang rất được quan tâm hiện nay Qua đó, ngành Lao động – Thương binh Xã hội cũng như các cơ quan liên quan trên địa bàn thành phố Hà Nội có những đề xuất và xây dựng cơ chế chính sách phù hợp hơn đối với công tác dạy nghề đã và đang được triển khai
4 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu nhận thức, thái độ, sự tham gia các hoạt động dạy nghề và giải quyết việc làm của người lao động nông thôn
Trang 16- Đánh giá thực trạng công tác dạy nghề đã được triển khai trên địa bàn thành phố Hà Nội và xã nghiên cứu
- Đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác dạy nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn thành phố Hà Nội
5 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác dạy nghề cho lao động nông thôn
- Địa bàn nghiên cứu: Xã Thụy Hương, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1/2012 đến tháng 6 năm 2013
6 Câu hỏi nghiên cứu
6.1 Lao động nông thôn tại thành phố Hà Nội nắm bắt được các thông tin cũng
như chính sách đào tạo nghề của Chính phủ như thế nào?
6.2 Các hoạt động dạy nghề theo Đề án 1956 tại xã khảo sát nghiên cứu có tác
động như thế nào tới đời sống của người dân trên địa bàn?
6.3 Dạy nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956 có được xem là nguồn
lực quan trọng tiếp sức cho xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Chương Mỹ?
6.4 Công tác dạy nghề trên địa bàn gắn kết như thế nào với nhu cầu thực tế của
người lao động?
Trang 176.5 Các giải pháp đưa ra nhằm dạy nghề cho lao động nông thôn trong thời gian
tới đạt hiệu quả là gì?
7 Giả thuyết nghiên cứu
7.1 Dạy nghề cho lao động nông thôn tại huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
bước đầu đã tạo được sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội và người lao động ở nông thôn về phát triển nguồn nhân lực xây dựng nông thôn mới
7.2 Các mô hình dạy nghề thí điểm tại địa phương bước đầu đã mang lại sự đột
phá tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống cho người dân
7.3 Nhận thức của lao động nông thôn về học nghề; điều kiện cơ sở vật chất,
thiết bị dạy nghề; giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề, nhân tố giới là những yếu tố quan trọng quyết định tới chất lượng dạy nghề trên địa bàn
7.4 Công tác tuyên truyền, tư vấn học nghề và việc làm cho lao động nông thôn
trên địa bàn đã được triển khai một cách hiệu quả
7.5 Nguồn lực bố trí cho dạy nghề còn hạn chế dẫn đến hiệu quả đầu tư cho dạy
nghề ở nông thôn chưa cao
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Cơ sở lý luận và phương pháp luận
Đề tài áp dụng một số cách tiếp cận trong nghiên cứu xã hội học nông thôn, lao động – việc làm cũng như cách tiếp cận kinh tế học để nghiên cứu nhận thức, thái độ, hành vi và thực trạng hoạt động dạy nghề ở nông thôn
8.2 Một số phương pháp thu thập, xử lý và phân tích tài liệu
Đề tài sử dụng một số phương pháp thu thập thông tin như sau:
- Phương pháp phân tích tài liệu: thu thập thông tin từ các tài liệu, báo cáo
về dạy nghề, các công trình nghiên cứu có liên quan tới vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Trang 18- Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi: phát 200 bảng hỏi cho lao động
nông thôn tại xã Thụy Hương Tiến hành chọn mẫu theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản
- Phương pháp phỏng vấn sâu:
+ Phỏng vấn 8 lao động nông thôn tại xã Thụy Hương theo cơ cấu: Nhóm tuổi, giới tính, nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế hộ gia đình (4 nam, 4 nữ; 4 người độ tuổi 25 – 30, 4 người 35- 40; 2 người kinh tế dưới trung bình, 2 người hộ nghèo, 4 người kinh tế khá)
+ Phỏng vấn sâu: 4 cán bộ xã Thụy Hương, bao gồm:
01: Chủ tịch/ phó chủ tịch xã
01: Cán bộ phụ trách về lao động – việc làm
01: Cán bộ lãnh đạo Hội Phụ nữ
01: Cán bộ lãnh đạo Hội Nông dân
+ Phỏng vấn lãnh đạo Phòng Dạy nghề huyện Chương Mỹ: 01 người
- Phương pháp xử lý và phân tích số liệu:
+ Đề tài sử dụng phương pháp xử lý bảng hỏi bằng chương trình SPSS theo tần suất và tương quan
+ Xử lý kết quả phỏng vấn sâu bằng chương trình NVIVO
Trang 199 Khung lý thuyết
Chính sách của Đảng, Nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Dạy nghề cho lao động nông thôn (Nhận thức, thái
độ, hành vi tham gia)
Điều kiện kinh tế - xã hội và chính sách phát triển của địa phương
Nguồn kinh phí bố trí cho
dạy nghề của địa phương
Điều kiện thổ nhưỡng, tập
quán canh tác, sản xuất
của người dân địa phương
Năng lực của đội ngũ
giáo viên và cán bộ làm
công tác dạy nghề
Các hoạt động tuyên
truyền về dạy nghề cho
lao động nông thôn
Nhận thức của lao động
nông thôn về học nghề
Đặc điểm nhân khẩu
Trang 20Các biến số:
Biến số độc lập: được thể hiện qua:
- Đặc điểm nhân khẩu
Bao gồm: Tuổi; giới tính; nghề nghiệp; điều kiện kinh tế hộ gia đình (giàu –
nghèo – TB); quy mô gia đình để phân tích…
- Nhận thức của lao động nông thôn về học nghề
- Năng lực của đội ngũ làm giáo viên và cán bộ làm công tác dạy nghề
- Điều kiện thổ nhưỡng, tập quán canh tác, sản xuất của người dân địa phương
- Nguồn kinh phí bố trí cho dạy nghề của địa phương
- Các hoạt động tuyên truyền về dạy nghề cho lao động nông thôn
Biến số phụ thuộc
Dạy nghề cho lao động nông thôn với các hình thức tham gia của người lao động thể hiện ở nhận thức, thái độ, hành vi và kết quả dạy nghề
Biến trung gian
Điều kiện kinh tế - xã hội và chính sách phát triển Nông thôn mới và chính sách phát triển kinh tế của địa phương
Biến can thiệp
Chính sách của Đảng, Nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn
10 Kết cấu của luận văn
- Phần mở đầu
- Nội dung chính: 2 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài Chương 2: Kết quả nghiên cứu
- Kết luận và khuyến nghị
Trang 21NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
đó đều qui định hành vi của cá nhân, quyết định sự lựa chọn hành vi của họ [30, tr.447] Theo đó, các chủ thể được xem là có mục đích hay mục tiêu về cái mà hành động của họ hướng tới Các chủ thể cũng được xem là có các sở thích Thuyết lựa chọn hợp lí không quan tâm đến tính chất các sở thích này cũng như các nguồn của chúng Cái quan trọng là hành động được thực hiện để đạt được
các đối tượng phù hợp với hệ thống sở thích của chủ thể
Mặc dù thuyết lựa chọn hợp lí bắt đầu với các mục đích hay dự định của chủ thể, nó phải quan tâm đến ít nhất là hai sự kìm hãm đối với hành động Đầu tiên là sự hiếm hoi của các tiềm năng Các chủ thể có những tiềm năng khác nhau cũng như các cách thâm nhập khác nhau vào các mục tiêu khác nhau Đối với những người có nhiều tiềm năng, thành quả cuối cùng có thể tương đối dễ Tuy nhiên, đối với những người có ít tiềm năng, sự đạt được mục đích có thể khó khăn hoặc là bất khả
Trang 22Một nguồn kìm hãm thứ hai lên hành động của chủ thể đó là các thể chế
xã hội như gia đình, nhà trường, tôn giáo…
Áp dụng quan điểm của thuyết lựa chọn hợp lí vào đề tài, chúng tôi nhằm xem xét sự lựa chọn nghề của lao động nông thôn cũng như sự sắp xếp, bố trí trong đào tạo nghề của các cơ sở dạy nghề, các lớp dạy nghề trên địa bàn Chính quyền địa phương lựa chọn nghề nào là phù hợp để triển khai dạy nghề cho lao động nông thôn, và ngược lại, lao động nông thôn trên địa bàn cũng có sự cân nhắc, tính toán hợp lý để có thể cải thiện điều kiện kinh tế cũng như điều kiện sống sau khi học nghề Do mỗi địa phương có những đặc thù riêng về thổ nhưỡng, tập quán canh tác, sản xuất, văn hoá vùng miền nên lựa chọn nghề để dạy và để học sao cho áp dụng vào đời sống thực tế một cách hiệu quả là cả một
sự cân nhắc lớn đối với chính quyền và bản thân lao động nông thôn
1.1.1.2 Lý thuyết trao đổi xã hội
Định đề về sự hợp lý trong lý thuyết trao đổi xã hội của G Homans chỉ ra rằng, trong việc chọn lựa giữa các hành động có thể lựa chọn, một cá nhân sẽ chọn cái mà, theo nhận thức của anh ta vào lúc đó, giá trị (value) của kết quả, được nhân lên bởi khả năng (probability) của việc nhận kết quả là lớn nhất Định
đề hợp lý báo cho chúng ta, mọi người sẽ thực hiện một hành động hay không dựa vào các nhận thức của họ về khả năng thành công Nhưng cái gì quyết định các nhận thức này? Homans lý luận rằng, nhận thức các cơ hội thành công là cao hay thấp được định hình bởi các thành công trong quá khứ hoặc ít ra là các hoàn cảnh có tính chất tương tự [30]
Lý thuyết trao đổi xã hội nhấn mạnh rằng hành vi lựa chọn luôn được thể hiện trong quá trình trao đổi với người khác; tức là trong quá trình trao đổi, các bên tham gia đều thực hiện hành vi lựa chọn hợp lý không chỉ đối với bản thân
họ mà đối với cả đối tác để sao cho đạt mục đích cao nhất Do vậy, có thể coi
Trang 23dạy nghề là quá trình trao đổi, trong đó người dạy bỏ ra công sức, thời gian và
kiến thức; đổi lại, lấy được sự ủng hộ, sự làm theo của người học là nông dân Vì
dạy nghề có thể được đầu tư bởi Nhà nước nên người dạy có thể không trực tiếp
nhận lại tiền từ phía người học nhưng để đổi lại với người học, họ vẫn nhận được
sự ủng hộ, làm theo của người học Trong khi đó người học cũng bỏ thời gian,
công sức để đến lớp học và đổi lại họ nhận được kiến thức, thay đổi thái độ và
hành vi có thể đem lại lợi ích cho họ trong lao động sản xuất
Áp dụng lý thuyết này vào nghiên cứu, chúng tôi xem xét mục đích học
nghề của lao động nông thôn cũng như các chính sách về dạy nghề của chính
quyền địa phương Lao động nông thôn bỏ ra một quỹ thời gian nhất định để
theo học các lớp dạy nghề, chính quyền địa phương các cấp hỗ trợ học nghề cho
bà con Ví dụ như hỗ trợ về tiền ăn, tiền đi lại hay các chính sách hỗ trợ dành
riêng cho các đối tượng đặc thù (con thương binh, gia đình chính sách, hộ
nghèo ) Ngoài những yếu tố trên, người nông dân sau khi học nghề có thể được
hỗ trợ về giống cây trồng, vật nuôi, trang thiết bị hay được hỗ trợ vốn vay để
phát triển kinh tế Người nông dân đầu tư vào học nghề để có cơ hội được làm
nghề một cách bài bản, cải thiện điều kiện kinh tế và làm giàu ngay trên quê
hương mình Và cũng từ đó, địa phương có cơ hội đổi mới bộ mặt kinh tế; đời
sống của người dân dần được nâng lên Nói cách khác, lý thuyết lựa chọn duy lý
nhấn mạnh cách lựa chọn có tính toán, cân nhắc của cá nhân sao cho đạt mục
đích có hiệu quả nhất Lý thuyết trao đổi xã hội nhấn mạnh nguyên tắc ngang
giá, công bằng trong việc thực hiện hành vi lựa chọn với người khác Ở đây, tính
hợp lý, duy lý, hiệu quả, ngang giá, công bằng được xem xét trong mối quan hệ
với đối tác để đảm bảo hoạt động trao đổi cùng có lợi cho các bên tham gia, cụ
thể là cả người dạy và người học đều cùng có lợi một cách công bằng, hợp lý và
hiệu quả
Trang 241.1.1.3 Tiếp cận theo quy luật Cung - Cầu
Cầu là khối lượng hàng hoá và dịch vụ mà người tiêu dùng mua trong một thời kỳ tương ứng với giá cả, thu nhập và các biến số kinh tế xác định Tiêu dùng bao gồm cả tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng cá nhân
Lượng cầu phụ thuộc vào các nhân tố chủ yếu như thu nhập, sức mua của tiền tệ, giá cả hàng hoá, lãi suất, thị hiếu người tiêu dùng…
Cung là khối lượng hàng hóa, dịch vụ mà các chủ thể kinh tế đem bán ra thị trường trong một thời kỳ nhất định, tương ứng với mức giá cả khả năng sản xuất, chi phí sản xuất xác định
Luật cung – cầu cho biết lượng cung phụ thuộc vào khả năng sản xuất, vào
số lượng và chất lượng các nguồn lực, các yếu tố sản xuất được sử dụng, năng suất lao động và chi phí sản xuất
Áp dụng lý thuyết này vào nghiên cứu, chúng tôi xem xét vấn đề "cung - cầu" ở hai khía cạnh
Một là, trong bối cảnh tình hình kinh tế - xã hội hiện nay, người lao động sống ở nông thôn (chủ yếu là nông dân) cần đổi mới phương pháp trồng trọt, chăn nuôi đã duy trì từ trước tới nay, từ tập quán canh tác tới phương thức sản xuất mới để tiếp cận được kiến thức chuyên môn, biết cách làm nghề, giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất lao động Trong khi các địa phương trong cả nước đang dồn sức xây dựng nông thôn mới thì Hà Nội xác định việc hình thành các
mô hình kinh tế giá trị cao là yếu tố quyết định Sự tồn tại và phát triển của các
mô hình này sẽ giải quyết được nhiều tiêu chí trong xây dựng nông thôn mới như tiêu chí thu nhập, tiêu chí chuyển đổi cơ cấu cây trồng, quy hoạch, văn hóa
Hai là "cung - cầu" trong dạy nghề và học nghề Chính quyền địa phương cần chú trọng lựa chọn những nghề phù hợp để dạy cho bà con Do mỗi địa phương đều có những đặc thù riêng nên để chọn được đúng nghề để đào tạo là
Trang 25vấn đề tương đối khó Và mục tiêu là làm sao để người dân có thể vận dụng chính nghề đã được học một cách bài bản vào thực tế cuộc sống Nếu do cơ cấu trình độ, ngành nghề đào tạo còn chưa phù hợp, chưa bổ sung kịp thời các nghề mới theo yêu cầu của thị trường lao động thì kết quả giải quyết việc làm sau học nghề chưa cao Danh mục các hạng nghề rất đa dạng, chính quyền cần chọn những nghề mà đối với lao động nông thôn là thiết thực nhất, hữu ích nhất Ví
dụ, không thể gọi là hợp lý nếu chọn nghề nuôi trồng thuỷ sản để dạy cho các học viên sinh sống tại vùng đồng bằng, cũng như bất hợp lý trong việc đưa giáo trình dạy về nghề trồng lúa cao sản để dạy cho các học viên sinh sống tại một làng nghề làm mộc và điêu khắc truyền thống Vì vậy, nghề được chọn phải đáp ứng với nhu cầu thiết thực của lao động nông thôn
Từ điển Tiếng Việt (1998) định nghĩa: "Nghề là công việc chuyên làm, theo sự phân công lao động xã hội"
Trang 26Như vậy, có thể hiểu nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong
đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm
ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội
1.1.2.2 Dạy nghề
Hiện nay đang tồn tại rất nhiều định nghĩa về dạy nghề
Tác giả William Mc Gehee cho rằng: :Dạy nghề là những quy trình mà các công ty sử dụng để tạo thuận lợi cho việc học tập có kết quả các hành vi đóng góp vào mục đích và mục tiêu của công ty"
Tác giả Max Forter (1979) đưa ra khái niệm dạy nghề là đáp ứng 4 điều kiện Đó là:
+ Gợi ra những giải pháp cho người học + Phát triển tri thức, kỹ năng và thái độ + Tạo ra sự thay đổi trong hành vi + Đạt được những mục tiêu chuyên biệt
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) định nghĩa: "Dạy nghề là cung cấp cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các công việc liên quan tới nghề nghiệp được giao"
Chương I, Điều 5 Luật Dạy nghề (2006) định nghĩa: Dạy nghề là hoạt
động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học
Qua đó, có thể thấy dạy nghề là khâu quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho người lao động Tuy không tạo ra việc làm ngay nhưng nó lại là yếu tố
cơ bản tạo thuận lợi cho quá trình tìm kiếm việc làm và thực hiện công việc Dạy nghề giúp cho người lao động có kiến thức chuyên môn, kỹ năng và thái độ nghề
Trang 27nghiệp để từ đó họ có thể xin việc làm trong các cơ quan, doanh nghiệp hoặc tự tạo việc làm cho bản thân
Dạy nghề cung cấp cho học sinh những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết của một nghề Dạy nghề hiện nay có 3 cấp trình độ đào tạo là sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề Hình thức dạy nghề bao gồm dạy nghề chính quy và dạy nghề thường xuyên
1.1.2.3 Lao động
Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm biến đổi các vật chất tự nhiên thành của cải vật chất cần thiết cho đời sống của mình Trong quá trình sản xuất, con người sử dụng công cụ lao động tác động lên đối tượng lao động nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho lợi ích của con người Lao động là điều kiện chủ yếu cho tồn tại của xã hội loài người, là cơ sở của sự tiến bộ về kinh tế, văn hoá và xã hội Nó là nhân tố quyết định của bất cứ quá trình sản xuất nào Như vậy động lực của quá trình triến kinh tế, xã hội quy tụ lại là ở con người Con người với lao động sáng tạo của họ đang là vấn đề trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Vì vậy, phải thực sự giải phóng sức sản xuất, khai thác
có hiệu quả các tiềm năng thiên nhiên, trước hết giải phóng người lao động, phát triển kiến thức và những khả năng sáng tạo của con người Vai trò của người lao động đối với phát triển nền kinh tế đất nước nói chung và kinh tế nông thôn nói riêng là rất quan trọng
1.1.2.4 Nguồn lao động nông thôn
Tổng cục thống kê quy định: "Nguồn lao động là những người trong độ tuổi lao động (nam từ 15-60 tuổi; nữ từ 15-55 tuổi) và người trên tuổi lao động đang làm việc" Và "Nguồn lao động nông thôn là một bộ phận dân số sinh sống và làm việc ở nông thôn trong độ tuổi lao động theo qui định của pháp luật có khả năng lao động" Lực lượng lao động ở nông thôn là bộ phận
Trang 28của nguồn lao động ở nông thôn bao gồm những người trong độ tuổi lao động
có khả năng lao động, đang có việc làm và những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm
Tuy nhiên do đặc điểm, tính chất, mùa vụ của công việc ở nông thôn mà lực lượng tham gia sản xuất nông nghiệp không chỉ có những người trong độ tuổi lao động mà còn có những người trên hoặc dưới độ tuổi lao động tham gia sản xuất với những công việc phù hợp với mình Từ khái niệm nguồn lao động ở nông thôn có thể thấy, lao động ở nông thôn rất dồi dào, tuy nhiên đây cũng chính là thách thức trong việc giải quyết việc làm đối với các địa phương
Định nghĩa này nhấn mạnh vào đối tượng trao đổi trên thị trường là dịch vụ lao động, chứ không phải là người lao động
Theo Từ điển kinh tế MIT, thị trường lao động là nơi cung và cầu lao động tác động qua lại với nhau Định nghĩa này nhấn mạnh vào quan hệ trên thị trường lao động cũng là quan hệ cung - cầu như bất kỳ một thị trường nào khác
Theo tìm hiểu một số khái niệm trong văn kiện Đại hội IX của Đảng, thị trường lao động là: "Thị trường mua bán các dịch vụ của người lao động, về thực chất là mua bán sức lao động, trong một phạm vi nhất định Ở nước ta, hàng hóa sức lao động được sử dụng trong các doanh nghiệp tư bản tư nhân, các doanh nghiệp tư bản nhà nước, các doanh nghiệp tiểu chủ, và trong các hộ gia đình neo đơn thuê mướn, người làm dịch vụ trong nhà Trong các trường hợp đó có người
Trang 29đi thuê, có người làm thuê, có giá cả sức lao động dưới hình thức tiền lương, tiền công"[1]
Theo định nghĩa này, thị trường lao động chỉ bó hẹp trong một vài thành phần kinh tế nhất định Toàn bộ các quan hệ lao động trong khu vực kinh tế nhà nước, khu vực kinh tế tập thể, và quan hệ lao động trong khu vực hành chính sự nghiệp được đặt ra ngoài các quy luật của thị trường
Mặc dù có nhiều điểm khác biệt, nhưng các định nghĩa hiện có về thị trường lao động đều thống nhất với nhau về các nội dung cơ bản của thị trường lao động Có thể tóm lược các nội dung này thành một định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về thị trường lao động như sau:
Thị trường lao động (hoặc thị trường sức lao động) là nơi thực hiện các quan hệ xã hội giữa người bán sức lao động (người lao động làm thuê) và người mua sức lao động (người sử dụng sức lao động), thông qua các hình thức thỏa thuận về giá cả (tiền công, tiền lương) và các điều kiện làm việc khác, trên cơ sở một hợp đồng lao động bằng văn bản, bằng miệng, hoặc thông qua các dạng hợp đồng hay thỏa thuận khác
Thị trường sức lao động được cấu thành bởi ba yếu tố là: cung, cầu và giá
cả sức lao động Thị trường lao động có thể hoạt động có hiệu quả chỉ khi các quyền tự do mua, bán sức lao động được đảm bảo bằng luật pháp và bằng hệ thống các chính sách liên quan đến quyền, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia thị trường Thị trường lao động chỉ có thể hình thành khi hội đủ các yếu
tố như:
+ Có nền kinh tế hàng hóa phát triển theo cơ chế thị trường;
+ Có định chế pháp luật cho phép tồn tại thị trường lao động: trong đó người chủ sử dụng có quyền tự do mua bán sức lao động; còn người lao động có toàn quyền sở hữu sức lao động của mình;
Trang 30+ Người lao động không có sở hữu tư liệu sản xuất đủ để đảm bảo các nhu cầu của bản thân và của gia đình;
+ Có hệ thống thể chế thị trường lao động thích hợp để giải quyết các nhu cầu và các quan hệ phát sinh của thị trường như: hệ thống các cơ quan, tổ chức dịch vụ việc làm (các thể chế cần thiết để đảm bảo các giao dịch về sức lao động trên thị trường); hệ thống thông tin về thị trường lao động
1.1.2.6 Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
Tại NQTW7 Khoá VII, Đảng ta đã đưa ra định nghĩa về công nghiệp hóa – hiện đại hóa như sau: công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế
- xã hội, từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra
năng suất lao động xã hội cao
Theo cách hiểu phổ biến hiện nay, hiện đại hóa là quá trình chuyển biến từ tính chất truyền thống cũ sang trình độ tiên tiến, hiện đại Về ý nghĩa kinh tế, hiện đại hóa được giải thích là quá trình chuyển dịch căn bản từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại, bắt đầu từ thế kỷ XVII đến nay và vẫn còn chưa kết thúc Có người chia quá trình hiện đại hóa thành hai giai đoạn: Hiện đại hóa lần thứ nhất tương ứng với thời kỳ công nghiệp hóa cổ điển, và hiện đại hóa lần thứ hai tương ứng với thời kỳ tri thức hóa
Ở nước ta, hiện nay thường dùng cụm từ công nghiệp hóa, hiện đại hóa với cách hiểu là "công nghiệp hóa và hiện đại hóa gắn kết với nhau trong cùng một quá trình, ngay từ đầu và suốt trong các giai đoạn phát triển" Ở đây, công nghiệp hóa được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ giới hạn ở khía cạnh kinh tế,
mà còn cả về mặt xã hội, văn hóa Hiện đại hóa hiểu theo nghĩa thông dụng, thời
Trang 31gian chỉ là thứ nguyên so sánh Nói cách khác, chúng ta đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, song không hoàn toàn như công nghiệp hóa kiểu cổ điển, chỉ chú ý phát triển công nghiệp để tăng cao tỷ trọng công nghiệp trong tổng sản phẩm xã hội, mà đồng thời phát triển công nghệ, thực hiện tin học hóa, từng bước phát triển kinh tế tri thức, nghĩa là thực hiện "công nghiệp hóa kiểu mới" hay nói như văn kiện Đại hội IX là công nghiệp hóa theo hướng hiện đại
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về dạy nghề cho lao động nông thôn hiện nay
Những năm gần đây, do tác động của quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc
độ nhanh trên một số vùng của đất nước đã dẫn đến tình trạng mất cân đối về cung, cầu lao động giữa nông thôn và thành thị Mỗi năm có hàng trăm ngàn lao động phổ thông từ nông thôn đổ xô ra thành phố tìm việc làm Sở dĩ có tình trạng như vậy vì nhiều năm liền chúng ta chưa chú ý đào tạo nghề cho lao động nông thôn một cách bài bản, chưa làm tốt vấn đề phân công lao động trong nông nghiệp
Trong cơ cấu GDP, nông nghiệp vẫn chiếm 25%, trong khi đó ở các nước phát triển, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP chỉ còn 3% Điều này cho thấy để bắt kịp trình độ của thế giới, Việt Nam phải nỗ lực rất nhiều để tạo sự bứt phá mạnh
mẽ, trong đó quan trọng nhất là đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn Thực trạng nông dân hiện nay đa phần sản xuất nhỏ lẻ, kỹ thuật sản xuất thấp, thiếu tổ chức sản xuất với quy mô lớn và đầu tư vốn lớn Yêu cầu hiện đại hóa nông nghiệp và công nghiệp hóa đất nước, nhất định phải tiến hành đào tạo chuyển nghề cho lao động nông thôn và đào tạo nâng cao trình độ cho nông dân, góp phần tạo việc làm cho họ, đặc biệt là những vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ
Trang 32Nghị quyết lần thứ 7, khóa X của Đảng ta đã khẳng định: phát triển nông
nghiệp, nông thôn và nông dân (tam nông) là cơ sở để ổn định chính trị đất nước
trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
Nghị quyết có tầm chiến lược rất quan trọng, đã đề cập toàn diện và đầy đủ các
quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp để giải quyết vấn đề nông nghiệp,
nông thôn và nông dân nước ta Trên cơ sở đó, Chính phủ đã ban hành nhiều
chương trình hành động cụ thể, được cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, nhất là
cư dân nông thôn đồng tình ủng hộ, tích cực đón nhận Sau một số năm thực
hiện, bằng nỗ lực chung của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân,
chúng ta đã đạt được nhiều kết quả tích cực trên cả 8 nhóm giải pháp và các
nhiệm vụ cấp bách Đáng kể là Chính phủ đã ban hành được 31 chương trình, đề
án; các Bộ, ngành đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện; các địa
phương đã quán triệt nghiêm túc Nghị quyết, đề ra nhiệm vụ trong Nghị quyết
đại hội đảng bộ các cấp và có chương trình hành động cụ thể để thực hiện Nhiều
chương trình, đề án, chính sách, nhất là các chương trình, đề án, chính sách liên
quan đến phát triển nguồn nhân lực, trong đó có dạy nghề cho nông dân sau khi
ban hành đã được triển khai và đi vào cuộc sống Chất lượng nguồn nhân lực
nông thôn ngày càng được nâng cao thông qua việc triển khai các chương trình
đào tạo nghề, nhất là Đề án 1956 về đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến
năm 2020
Ở cấp Trung ương: Chính phủ đã tổ chức hội nghị toàn quốc để quán triệt ,
triển khai thực hiê ̣n Quyết đi ̣nh 1956 với các Bô ̣, ngành và địa phương; bổ sung
kinh phí để triển khai thực hiê ̣n Đề án năm 2010 và tổ chức hội nghị giao ban với
các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ở 02 miền Bắc, Nam về tình hình 6
tháng thực hiện Quyết định số 1956/QĐ-TTg Các bộ, cơ quan Trung ương đã
thực hiện nhiệm vụ được giao trong Quyết định 1956/QĐ-TTg, trong đó: đã ban
Trang 33hành một số văn bản hướng dẫn việc thực hiện Quyết định 1956/QĐ-TTg; tuyên truyền, tư vấn về dạy nghề và việc làm cho lao động nông thôn trên các phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương và các bộ, ngành, cơ quan Trung ương; tổ chức các đoàn công tác kiểm tra tình hình triển khai thực hiện Đề án tại 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; phối hợp với các địa phương tổ chức các mô hình dạy nghề, đặt hàng dạy nghề cho lao động nông thôn; tổ chức thí điểm hình thức cấp thẻ ho ̣c nghề nông nghiê ̣p cho lao động nông thôn ; tổ chức xây dựng chương trình, học liệu dạy nghề; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dạy nghề cho giáo viên và người dạy nghề cho lao động nông thôn
Ở địa phương: Tất cả các tỉnh , thành phố trực thuộc Trung ương đã thành
lâ ̣p Ban chỉ đa ̣o Đề án thực hiện Quyết đi ̣nh 1956 do 01 đồng chí Phó Chủ ti ̣ch UBND tỉnh làm Trưởng Ban và lựa cho ̣n huyê ̣n điểm , xã điểm để chỉ đạo triển khai; huy đô ̣ng được sự tham gia các tổ chức chính tri ̣ - xã hội, tổ chức xã hô ̣i - nghề nghiê ̣p, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất , kinh doanh, dịch vụ, cơ sở dạy nghề và lao động nông thôn tham gia các hoa ̣t đô ̣ng của Đề án Khoảng 80% cấp huyê ̣n đã thành lâ ̣p Ban chỉ đa ̣o , nhiều đi ̣a phương thành lâ ̣p Ban chỉ đa ̣o hoă ̣c Tổ công tác thực hiê ̣n Đề án ở cấp xã 95% số tỉnh đã tổ chức Hô ̣i nghi ̣ quán triê ̣t tới cán bô ̣ chủ chốt của các ngành và cấp huyê ̣n ; 76% số tỉnh đã đưa nô ̣i dung đào tạo nghề cho lao động nông thôn vào Nghi ̣ quyết Đa ̣i hô ̣i Tỉnh đảng bô ̣ giai đoa ̣n 2011-2015; 68% số tỉnh đã ban hành Chỉ thi ̣ của Tỉnh ủy /thành ủy về tăng cường chỉ đa ̣o của Đảng trong triển khai thực hiê ̣n Đề án ; nhiều tỉnh có Nghi ̣ quyết chuyên đề của Tỉnh ủy, Hô ̣i đồng nhân dân và Quyết đi ̣nh UBND về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn ; đưa nô ̣i dung triển khai Đề án 1956 vào chương trình làm việc trong các phiên họp của Tỉnh ủy , HĐND, UBND và
cả khi tiếp xúc cử tri, sinh hoa ̣t chi bô ̣
Trang 34Cùng với đó, 70% số tỉnh đã c hỉ đạo xây dựng chuyên mục tuyên truyền ,
tư vấn ho ̣c nghề , viê ̣c làm trên các báo , đài đi ̣a phương ; nhiều huyê ̣n , xã có chương trình giới thiệu về chính sách đào tạo nghề , các mô hình dạy nghề , học nghề hiê ̣u quả phát hàng ngày trên c ác phương tiện truyền thông của xã , thôn để đưa thông tin trực tiếp đến người nông dân, qua đó từng bước tác động đến nhận thức của người dân về chủ trương , chính sách của Đề án Các tỉnh đã tiến hành công tác điều tra, khảo sát nhu cầu ho ̣c nghề của lao động nông thôn, trong đó có
33 tỉnh đã hoàn thành công tác điều tra , tổng hợp nhu cầu ho ̣c nghề và đã xác
đi ̣nh được danh mu ̣c trên 600 nghề có nhu cầu đào tạo 41% tỉnh đã phê duyệt Đề án cấp tỉnh Các tỉnh/thành phố đã thực hiê ̣n rà soát quy hoa ̣ch phát triển mạng lưới cơ sở da ̣y nghề trên đi ̣a bàn Một số tỉnh tập trung chỉ đạo việc thành lập mới trung tâm dạy nghề cấp huyê ̣n, tổ chức dạy nghề cho lao động nông thôn theo chính sách và yêu cầu của Quyết định 1956/QĐ-TTg
Nghị quyết số 26-NQ-TW ngày 5-8-2008 của Ban chấp hành Trung ương (khóa X) về nông nghiệp, nông dân và nông thôn có đề ra: “Giải quyết việc làm cho nông dân là nhiệm vụ ưu tiên xuyên suốt trong mọi chương trình phát triển kinh
tế - xã hội của cả nước; bảo đảm hài hòa giữa các vùng, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị Có kế hoạch cụ thể về đào tạo nghề và chính sách bảo đảm việc làm cho nông dân, nhất là ở các vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất Đẩy mạnh xuất khẩu lao động từ nông thôn… Hình thành Chương trình mục tiêu quốc gia về đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực, bảo đảm hằng năm đào tạo khoảng 1 triệu lao động nông thôn; phấn đấu đến năm 2020 lao động nông nghiệp còn khoảng 30% lao động xã hội; tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo đạt trên 50%”(1)
Trang 35(cũ) và một số huyện phía Đông của Hà Tây (cũ), phần còn lại là địa hình đồi núi thuộc địa phận các huyện Sóc Sơn, Ba Vì, Quốc Oai, Mỹ Đức Với việc sát nhập tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh (tỉnh Vĩnh Phúc) và 4 xã của huyện Lương Sơn (tỉnh Hòa Bình) từ 1/8/2008, Hà Nội ngày nay có diện tích 3.324,92 km², trở thành thành phố có diện tích lớn nhất nước và đứng vào hàng ngũ 17 thủ đô có diện tích lớn nhất thế giới Trong năm 2013, các ngành, lĩnh vực kinh tế đều duy trì tăng trưởng quý sau cao hơn quý trước Tổng sản phẩm trên địa bàn tăng 8,25% - đạt kế hoạch đề ra là từ 8,0-8,5% và cao hơn năm trước (năm 2012 là 8,06%) và bằng 1,53 lần mức tăng chung của cả nước
Theo số liệu thống kê năm 2009 thì dân số của Hà Nội là 6.448.837 người, trong đó đông nhất là người Kinh (99,01%), số còn lại gồm các dân tộc Dao, Mường, Tày Sau một năm mở rộng địa giới hành chính, toàn thành phố có 160.000 lao động không có việc làm, dự báo đến năm 2020 sẽ tăng lên khoảng 242.000 người Bởi vậy, chương trình giải quyết việc làm giai đoạn 2009-2010
và định hướng đến năm 2020, thành phố đặt ra mục tiêu bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho trên 100.000 lao động Để thực hiện những mục tiêu này, thành phố đã triển khai 6 nhóm giải pháp chính Trước hết, tập trung đầu tư phát triển sản xuất tạo việc làm cho người lao động gắn với phát triển bền vững thị trường lao động; đẩy mạnh xã hội hóa lĩnh vực dạy nghề, thực hiện tốt chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn Mặt khác, thành phố quan tâm giải quyết việc làm vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp; đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động; tuyên truyền, nâng cao quản lý nhà nước về lao động việc làm, thông tin thị trường lao động và cải cách hành chính
Thực hiện các giải pháp trên, trong 5 năm trở lại đây, 262 cơ sở, trường dạy nghề trên địa bàn thành phố đã góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng dạy nghề Theo đánh giá của người sử dụng lao động, kỹ năng nghề của
Trang 36lao động Thủ đô qua đào tạo trên 30% đạt khá, giỏi Ngoài ra, thông qua các
"kênh" như: Nguồn Quỹ quốc gia giải quyết việc làm, các phiên giao dịch việc làm, xuất khẩu lao động…5 năm qua, toàn thành phố đã giải quyết việc làm cho 135.800 lao động, đạt 97% kế hoạch; tổ chức được 106 phiên giao dịch việc làm, tuyển dụng được 25.000 lao động; xét duyệt 1.700 dự án vay vốn từ Quỹ quốc gia giải quyết việc làm thành phố với số tiền 295 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho 24.500 lao động
Như vậy, giải quyết việc làm là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác an sinh xã hội, có ý nghĩa to lớn trong việc ổn định đời sống nhân dân
và phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô Sau 5 năm mở rộng địa giới hành chính, UBND thành phố Hà Nội đã huy động nhiều "kênh", triển khai nhiều giải pháp đồng bộ để thực hiện chương trình giải quyết việc làm của thành phố Giai đoạn 2010-2015, các ngành chức năng tiếp tục vào cuộc tích cực hơn nữa với nhiều giải pháp thiết thực để phấn đấu giảm tỷ lệ thất nghiệp là 4,8%; tiếp tục triển khai đào tạo nghề cho lao động nông thôn, góp phần thực hiện hiệu quả công tác giải quyết việc làm trên địa bàn thành phố
1.2.2.2 Huyện Chương Mỹ
Huyện Chương Mỹ gồm có 32 đơn vị hành chính (2 thị trấn và 30 xã) Tổng giá trị sản xuất (giá cố định năm 1994) năm 2010 của huyện đạt 3.966,6 tỷ đồng (99,8 % so với KH, tăng 13,4% so cùng kỳ) Trong đó:
* Sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp: Giá trị sản xuất ngành nông - lâm - ngư
nghiệp ước đạt 697,6 tỷ đồng (99,2 % so với KH, tăng 5,5% so với cùng kỳ); trong đó ngành nông nghiệp đạt 651,4 tỷ đồng; ngành lâm nghiệp đạt 14,5 tỷ đồng; ngành thủy sản đạt 31,7 tỉ đồng Giá trị tăng thêm ngành nông - lâm - ngư nghiệp đạt 378 tỷ đồng (đạt 100,5% so với KH tăng 5,9% so với cùng kỳ)
Trang 37* Về sản xuất Công nghiệp - TTCN: Giá trị sản xuất Công nghiệp -
TTCN-XDCB đạt 2.359 tỷ đồng (100% so với KH tăng 14,8% so với cùng kỳ); trong đó giá trị Công nghiệp - TTCN đạt 1.269 tỷ đồng; xây dựng cơ bản đạt 1.090 tỉ đồng (101,2% so với KH và bằng 119,9% so với cùng kỳ) Giá trị tăng thêm ngành CN-TTCN đạt 719 tỷ đồng và tăng 14,8% so cùng kỳ
Giá trị sản xuất của ngành thương mại - dịch vụ năm 2010 ước đạt 910 tỷ đồng (100% so với KH và bằng 117% so với cùng kỳ); Giá trị tăng thêm đạt 609
tỷ đồng (100% so với KH tăng 16,9% so cùng kỳ)
Toàn huyện hiện có 01 KCN Phú Nghĩa với diện tích 170ha; đã quy hoạch lại các cụm CN trình UBND thành phố, dự kiến xây dựng 04 cụm CN: Ngọc Sơn (31ha), Đông Phú Yên (75ha), Nam Tiến Xuân (50ha), Mỹ Văn (31ha); đã và đang thu hút nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước về đầu tư xây dựng phát triển CN - TTCN có hiệu quả, thu hút 15.000 lao động có việc làm thường xuyên
và hàng vạn lao động thời vụ Trên địa bàn huyện có trên 600 doanh nghiệp TTCN và trên 12.089 cơ sở sản xuất TTCN cá thể đang hoạt động mang lại hiệu quả kinh tế, thu hút lao động trên địa bàn vào sản xuất
CN-Hiện nay toàn huyện có 160 làng có nghề/ 214 làng trong toàn huyện, đạt 74,77%; Trong đó: Làng nghề Mây tre đan là phổ biến nhất: 27 làng, chiếm 87,09 %; còn lại là các làng nghề chế biến nông, lâm sản, làm nón lá, thêu may xuất khẩu, mộc Nghề mây tre giang đan là nghề cổ truyền của huyện, hiện nay
có 32/32 xã, thị trấn có nghề này; thu hút trên 50.000 hộ, trên 120.000 lao động; trong 150 doanh nghiệp có 75 doanh nghiệp tư nhân, Công ty TNHH sản xuất nghề mây tre giang đan Hàng mây tre giang đan của huyện Chương Mỹ đã được phát triển nhiều nơi trong nước và được xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, các nước EU
Trang 38Với thế mạnh là 1 huyện nông nghiệp với nhiều nghề phụ, trong những năm qua, huyện đã có nhiều thay đổi lớn trong hội nhập và phát triển kinh tế Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 5,8 triệu đồng năm 2006 lên 11 triệu đồng năm 2010 (Huyện ủy Chương Mỹ - 2010)
Bảng 1.1 Cơ cấu kinh tế của huyện Chương Mỹ qua 1 số năm
(Số liệu báo cáo tại UBND huyện Chương Mỹ)
Theo số liệu tổng điều tra dân số thời điểm 01/4/2009, tổng số nhân khẩu thường trú trên địa bàn huyện Chương Mỹ là 229.735 nhân khẩu Trong đó, số người trong độ tuổi lao động là 152.582 người, bao gồm: 122.287 người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động (có việc làm là 111.824 người, không có việc làm là 10.463 người), 30.295 trong độ tuổi lao động chưa tham gia lao động (2.043 người không có khả năng lao động, 28.252 người đang học nghề) và số người ngoài độ tuổi lao động là 77.153 người
Năm 2010, huyện đã giải quyết việc làm cho 8.634 lao động (có việc làm
ổn định: 5.099 người; tạm thời: 3.535 người) với cơ cấu chuyển dịch theo hướng
Trang 39tăng dần nhóm ngành Công nghiệp - xây dựng (3.532 lao động, bằng 40,91%); Dịch vụ (3.611 lao động, bằng 41,82%), giảm dần nhóm ngành Nông nghiệp (1.491 lao động, bằng 17,27% Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề mới đạt xấp xỉ 17%
Bảng 1.2 Dự báo lao động việc làm trong các ngành kinh tế quốc dân
Trang 40Qua số liệu thống kê về lao động cho thấy, số người trong độ tuổi lao động chưa có việc làm trên địa bàn còn cao, chiếm tới 8,56% Tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp, số thợ có trình độ tay nghề cao còn ít, không đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp trên địa bàn
Bảng 1.3 Dân số, cơ cấu dân số hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và phi
nông nghiệp
Dân số trên địa bàn huyện 239.170 245.245 251.500
Số người trong độ tuổi lao động 158.848 162.892 167.046
Số người trong độ tuổi lao động có
Lao động ở nông thôn làm trong lĩnh
vực phi nông nghiệp, thương mại,
dịch vụ
25.865 28.500 30.400
Hàng năm, UBND huyện tổ chức dạy nghề ngắn hạn trung bình cho 700 đến 800 lao động Năm 2010 đã dạy nghề cho 870 người, gồm: 06 lớp nấu ăn và giúp việc gia đình (180 học viên); 23 lớp trồng trọt, chăn nuôi, làm hoa và cây cảnh (690 học viên) Số học viên học nghề tại các trường Cao đẳng, Trung cấp nghề ngày càng tăng Tuy nhiên, qua kết quả tổng điều tra dân số, tỷ lệ lao động
đã qua đào tạo của huyện đến đầu năm 2010 chỉ đạt 17% Và bước đầu, công tác dạy nghề trên địa bàn bộc lộ một số hạn chế
Cụ thể, công tác quản lý lao động và giải quyết việc làm còn bất cập chưa kiểm soát được tình hình lao động, việc làm Sự phối hợp giữa các ngành, các cấp chưa thật sự chặt chẽ trong việc phân tích, đánh giá tác động của những chủ trương, chính sách dẫn tới biến động tăng giảm việc làm Bên cạnh đó, ngoài các