1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề cương ôn tập môn địa chất biển

23 613 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 52,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 1: Trb các phương pháp nghiên cứu địa chất biển trên thế giới, phạm vi áp dụng, ưu, nhược điểm của từng phương pháp? Nghiên cứu địa chất biển khác với địa chất lục địa là không quan sát trực tiếp được mà chỉ quan sát gián tiếp thông qua các dụng cụ, thiết bị cơ học và điện tử được lắp đặt trên các tàu thuyền chuyên dụng. Nghiên cứu địa chất biển phải sử dụng một hệ phương pháp bao gồm: Phương pháp trắc địa; phương pháp địa chất và phương pháp vật lý 1. Phương pháp trắc địa: Mục tiêu: phương pháp này giúp xác định hướng di chuyển theo tuyến của tàu và toạ độ vị trí của tàu khi lấy mẫu tiến hành khảo sát Việc xác định các điểm khảo sát gần bờ có thể dùng phương pháp trắc địa gốc dựa theo những điểm đã biết trên bờ hoặc dùng ra đa Nhược điểm: Phương pháp này sai số khá lớn dao động từ 300 – 500 m. Hiện nay ở Việt Nam sử dụng máy GPS phatfider với hai trạm theo dõi: Trạm cố định trên bờ và trạm trên tàu, các số liệu đo đạc có thể sử dụng hệ quy chiếu UTM hoặc hệ tọa độ toàn cầu có độ chính xác từ 1050m Phương pháp đo sâu nghiên cứu địa hình đáy biển: Trước năm 1920, để đo sâu người ta dùng dây rọi bằng các buộc một vật nặng vào đầu sợi dây, khi thả sợi dây xuống tới đáy biển ta cảm nhận được và được độ sâu trên dây đã được đánh dấu. Nhược điểm của phương pháp này: + Sai số lớn vì khi thả sợi dây bị tác động bởi dòng chảy biển làm dây tạo thành một cạnh huyền của tam giác vì vậy độ sâu tăng thêm so với độ sâu thực, + Số điểm đo bị hạn chế vì mất nhiều thời gian đo đạc Hiện nay, ngta dùng phương pháp đo sâu hồi âm và ph2 sonar quét sườn a, Phương pháp đo sâu hồi âm: Nguyên tắc: tạo một tia sóng âm hoặc chùm tia sóng âm hướng xuống đáy biển, khi sóng gặp vật cản sẽ phản hồi ngược trở lại. H= 2t×v Trong đó: t là khoảng thời gian khi sóng truyền từ mặt nước xuống đáy biển V: tốc độ của sóng âm trong nước = 1,460 ms H: Chiều sâu đáy biển Ưu điểm: Đo vẽ được địa hình theo từng dải mà tàu đi qua, với độ sâu càng lớn thì dải chùm tia càng lớn và diện tích quét được càng rộng. Nhược điểm: Nhiệt độ nước biển và độ mặn nước biển làm thay đổi tốc độ truyền sóng âm và chúng có tỷ lệ thuận với tốc độ truyền sóng vì vậy tồn tại sai số nhất định. b, Phương pháp sonar quét sườn Để nghiên cứu địa hình cũng như các vật thể dưới đáy biển người ta thường dùng phương pháp Sonar quét sườn bằng cách gắn vào hai thành tàu có các đầu dò dạng như máy quay phim dưới đáy biển nhưng dùng tia ra đa để quét địa hình hai bên thành tàu đi qua, tia sóng phát ra hướng về đáy biển và hình ảnh thu được cho phép nghiên cứu tỉ mỉ cấu tạo đáy biển như: cồn nổi, uốn nếp, đứt gãy và diện phân bố các loại trầm tích, các khối đá.. 2. Phương pháp nghiên cứu địa chất 2.1. Lấy mẫu trầm tích đáy và đá gốc + Cuốc đại dương + Hộp trọng lực + Ống phóng trọng lực + Lưới vét đáy Ưu điểm: Nhanh, gọn, dễ thao tác Nhược điểm: Chỉ lấy được tầng mặt đáy or các tầng có độ sâu nhỏ 2.2. Khoan biển: Dùng để lấy được mẫu trầm tích mặt và đá gốc trong đáy biển, với độ sâu khoảng 1525m người ta thường dùng khoan tự hành, và ngày nay trên thềm lục địa Việt Nam chúng ta đã sử dụng các dàn khoan biển để khai thác dầu mỏ. 2.3. Nghiên cứu đáy biển bằng phương pháp lặn có bình khí: Đây là phương pháp được áp dụng rộng rãi ở vùng nước nông với độ sâu tối đa khoảng 50m, để thăm dò và phát hiện bề mặt đáy biển. 2.4. Phương pháp tiện lặn và di chuyển dưới sâu: Sử dụng các tàu ngầm mini hoặc các tàu lặn đã được thiết kế để nghiên cứu đáy biển và nó có thể nặn sâu khoảng 50006000m, nhờ vậy con người đã khám phá được địa chất khoáng sản ở các lòng chảo đại dương. 2.5. Phương pháp đo dòng chảy biển: Để đo dòng chảy biển ở các tầng khác nhau người ta đã sử dụng các dụng cụ đo cơ học hoặc máy tự nghi, và dòng chảy đo được ở dạng tổng hợp của nhiều dòng chảy khác nhau như dòng chảy triều, dòng dư, dòng chảy do song…..đối với các nhà địa chất thì họquan tâm đến dòng chảy đáy để đánh giá hàm lượng hạt trầm tích đáy biển. 3. Phương pháp địa vật lý: 3.1. Phương pháp địa chấn biển Phương pháp thăm dò địa chấn = sóng khúc xạ. Ntắc cơ bản của ph2 này là tiến hành công tác nổ để tạo nên những sóng địa chấn nhằm xđ TP cấu tạo lp vỏ of TĐ Ph2 này ít đc sd do tốn kém mất nhiều time cho nên ngta thg lợi dụng sóng khi động đất để xđ mặt cắt 3.2. Phương pháp trọng lực biển: Thăm dò trọng lực là một phương pháp của Địa vật lý, thực hiện đo Trọng trường Trái Đất để xác định ra phần dị thường trọng lực, từ đó xác định phân bố mật độ của các khối đất đá, giải đoán ra cấu trúc địa chất và tính chất, trạng thái của đất đá. Phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu Vật lý Địa cầu và trong Địa vật lý thăm dò: khảo sát địa chất tổng quát, tìm kiếm dầu khí, tìm kiếm khoáng sản, điều tra địa chất môi trường và tai biến tự nhiên,... trên đất liền và trên biển. 3.3. Phương pháp từ biển: Thăm dò từ là một phương pháp của Địa vật lý, thực hiện đo từ trường Trái Đất để phân định ra phần dị thường từ, từ đó xác định phân bố mức độ chứa các vật liệu từ tính của các tầng đất đá, hoặc định vị các khối từ tính, giải đoán ra cấu trúc địa chất và thành phần, tính chất, trạng thái của đất đá. 3.4. Phương pháp đo xạ dưới biển: Đo theo từng trạm là người ta thả đầu dò xuống đáy biển, đầu dò này được nối với các thiết bị trên thuyển qua đó xác định được giá trị xạ phổ của từng điểm hoặc cách đo liên tục là kéo đầu thu nằm sát đáy biển và kết quả đo xạ dược thể hiện dưới dạng không gian ba chiều hoặc bản đồ đẳng trị. 3.5. Phương pháp địa vật lý giếng khoan (Karotaj) Những phương pháp địa vật lý giếng khoan được thiết kế theo những tích chất vật lý thạch học của đất đá như thế tự nhiên, các bức xạ tự nhiên và kích thích, điện trở suất, mật độ, vận tốc lan truyền sóng đàn hồi,… luôn biến đổi và khác nhau giữa các vỉa đá. Dựa vào các biểu đồ đường cong ghi sự biến đổi các tính chất vật lý – thạch học nói trên trong giếng khoang mà chúng ta có thể xác định được thành phần thạch học, độ dày của vỉa và ranh giới giữa các vỉa cắt ngang qua giếng khoan. Các phương pháp địa vật lý giếng khoan: Thế tự nhiên (PS); điện ( CE); bức xạgamma tự nhiên ( GR); notron( CN); Gama – gama mật độ ( CD); âm học( CA); được sửdụng và kết hợp giữa chúng trong nhiệm vụ chuẩn hóa đại tầng, phân tích tướng và môi trường trầm tích

Trang 1

Câu 1: Trb các phương pháp nghiên cứu địa chất biển trên thế giới, phạm vi áp dụng, ưu, nhược điểm của từng phương pháp?

Nghiên cứu địa chất biển khác với địa chất lục địa là không quan sát trực tiếp được mà chỉ quan sát gián tiếp thông qua các dụng cụ, thiết bị cơ học và điện tử được lắp đặt trên các tàu thuyền chuyên dụng Nghiên cứu địa chất biển phải sử dụng một hệ phương pháp bao gồm: Phương pháp trắc địa; phương pháp địa chất và phương pháp vật lý

1 Phương pháp trắc địa:

- Mục tiêu: phương pháp này giúp xác định hướng di chuyển theo tuyến của tàu và toạ độ vị trí của tàu khi lấy mẫu tiến hành khảo sát Việc xác định các điểm khảo sát gần bờ có thể dùng phương pháp trắc địa gốc dựa theo những điểm đã biết trên bờ hoặc dùng ra đa

- Nhược điểm: Phương pháp này sai số khá lớn dao động từ 300 –

* Phương pháp đo sâu nghiên cứu địa hình đáy biển:

Trước năm 1920, để đo sâu người ta dùng dây rọi bằng các buộc một vật nặng vào đầu sợi dây, khi thả sợi dây xuống tới đáy biển ta cảm nhận được và được độ sâu trên dây đã được đánh dấu.

- Nhược điểm của phương pháp này:

+ Sai số lớn vì khi thả sợi dây bị tác động bởi dòng chảy biển làm dây tạo thành một cạnh huyền của tam giác vì vậy độ sâu tăng thêm

so với độ sâu thực,

+ Số điểm đo bị hạn chế vì mất nhiều thời gian đo đạc

Hiện nay, ngta dùng phương pháp đo sâu hồi âm và ph2 sonar quét sườn

a, Phương pháp đo sâu hồi âm:

Nguyên tắc: tạo một tia sóng âm hoặc chùm tia sóng âm hướng xuống đáy biển,

khi sóng gặp vật cản sẽ phản hồi ngược trở lại

H= 2t×v

Trang 2

Trong đó:

t là khoảng thời gian khi sóng truyền từ mặt nước xuống đáy biển V: tốc độ của sóng âm trong nước = 1,460 m/s

H: Chiều sâu đáy biển

- Ưu điểm: Đo vẽ được địa hình theo từng dải mà tàu đi qua, với độ sâu càng lớn thì dải chùm tia càng lớn và diện tích quét được càng rộng.

- Nhược điểm: Nhiệt độ nước biển và độ mặn nước biển làm thay đổi tốc độ truyền sóng âm và chúng có tỷ lệ thuận với tốc độ truyền sóng vì vậy tồn tại sai số nhất định.

b, Phương pháp sonar quét sườn

Để nghiên cứu địa hình cũng như các vật thể dưới đáy biển người ta thường dùng phương pháp Sonar quét sườn bằng cách gắn vào hai thành tàu có các đầu dò dạng như máy quay phim dưới đáy biển nhưng dùng tia ra đa để quét địa hình hai bên thành tàu

đi qua, tia sóng phát ra hướng về đáy biển và hình ảnh thu được cho phép nghiên cứu tỉ mỉ cấu tạo đáy biển như: cồn nổi, uốn nếp, đứt gãy và diện phân bố các loại trầm tích, các khối đá

2 Phương pháp nghiên cứu địa chất

2.1 Lấy mẫu trầm tích đáy và đá gốc

+ Cuốc đại dương

+ Hộp trọng lực

+ Ống phóng trọng lực

+ Lưới vét đáy

- Ưu điểm: Nhanh, gọn, dễ thao tác

- Nhược điểm: Chỉ lấy được tầng mặt đáy or các tầng có độ sâu nhỏ 2.2 Khoan biển:

Dùng để lấy được mẫu trầm tích mặt và đá gốc trong đáy biển, với độ sâu khoảng 15-25m người ta thường dùng khoan tự hành,

và ngày nay trên thềm lục địa Việt Nam chúng ta đã sử dụng các dàn khoan biển để khai thác dầu mỏ.

2.3 Nghiên cứu đáy biển bằng phương pháp lặn có bình khí:

Đây là phương pháp được áp dụng rộng rãi ở vùng nước nông với độ sâu tối đa khoảng 50m, để thăm dò và phát hiện bề mặt đáy biển

2.4 Phương pháp tiện lặn và di chuyển dưới sâu:

Trang 3

Sử dụng các tàu ngầm mini hoặc các tàu lặn đã được thiết kế để nghiên cứu đáy biển và nó có thể nặn sâu khoảng 5000-6000m, nhờ vậy con người đã khám phá được địa chất khoáng sản ở các lòng chảo đại dương.

2.5 Phương pháp đo dòng chảy biển:

Để đo dòng chảy biển ở các tầng khác nhau người ta đã sử dụng các dụng cụ đo cơ học hoặc máy tự nghi, và dòng chảy đo được ở dạng tổng hợp của nhiều dòng chảy khác nhau như dòng chảy triều, dòng dư, dòng chảy do song… đối với các nhà địa chất thì họquan tâm đến dòng chảy đáy để đánh giá hàm lượng hạt trầm tích đáy biển.

3 Phương pháp địa vật lý:

3.1 Phương pháp địa chấn biển

Phương pháp thăm dò địa chấn = sóng khúc xạ Ntắc cơ bản của ph2 này là tiến hành công tác nổ để tạo nên những sóng địa chấn nhằm xđ TP cấu tạo lp vỏ of TĐ

Ph2 này ít đc sd do tốn kém & mất nhiều time cho nên ngta thg lợi dụng sóng khi động đất để xđ mặt cắt

3.2 Phương pháp trọng lực biển:

Thăm dò trọng lực là một phương pháp của Địa vật lý, thực hiện đo Trọng trường Trái Đất để xác định ra phần dị thường trọng lực, từ đó xác định phân bố mật độ của các khối đất đá, giải đoán ra cấu trúc địa chất và tính chất, trạng thái của đất đá.

Phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu Vật lý Địa cầu và trong Địa vật lý

thăm dò: khảo sát địa chất tổng quát, tìm kiếm dầu khí, tìm kiếm khoáng sản, điều tra địa chất môi trường và tai biến tự nhiên, trên đất liền và trên biển.

3.3 Phương pháp từ biển:

Thăm dò từ là một phương pháp của Địa vật lý, thực hiện đo từ trường Trái Đất để phân định ra phần dị thường từ, từ đó xác định phân bố mức độ chứa các vật liệu từ tính của các tầng đất đá, hoặc định vị các khối từ tính, giải đoán ra cấu trúc địa chất và thành phần, tính chất, trạng thái của đất đá.

3.4 Phương pháp đo xạ dưới biển:

Trang 4

Đo theo từng trạm là người ta thả đầu dò xuống đáy biển, đầu

dò này được nối với các thiết bị trên thuyển qua đó xác định được giá trị xạ phổ của từng điểm hoặc cách đo liên tục là kéo đầu thu nằm sát đáy biển và kết quả đo xạ dược thể hiện dưới dạng không gian ba chiều hoặc bản đồ đẳng trị.

3.5 Phương pháp địa vật lý giếng khoan (Karotaj)

- Những phương pháp địa vật lý giếng khoan được thiết kế theo những tích chất vật lý thạch học của đất đá như thế tự nhiên, các bức xạ tự nhiên và kích thích, điện trở suất, mật độ, vận tốc lan truyền sóng đàn hồi,… luôn biến đổi và khác nhau giữa các vỉa đá.

- Dựa vào các biểu đồ đường cong ghi sự biến đổi các tính chất vật

lý – thạch học nói trên trong giếng khoang mà chúng ta có thể xác định được thành phần thạch học, độ dày của vỉa và ranh giới giữa các vỉa cắt ngang qua giếng khoan.

- Các phương pháp địa vật lý giếng khoan: Thế tự nhiên (PS); điện ( CE); bức xạgamma tự nhiên ( GR); notron( CN); Gama – gama mật

độ ( CD); âm học( CA); được sửdụng và kết hợp giữa chúng trong nhiệm vụ chuẩn hóa đại tầng, phân tích tướng và môi trường trầm tích

Câu 2: Xu thế phát triển của địa chất biển trong nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu các ứng dụng trong tương lai?

Nghiên cứu đặc điểm địa chất và địa chất công trình vùng thềm lục địa phục vụ phát triển kinh tế biển và xây dựng các công trình biển; làm sáng tỏ đới chuyển tiếp giữa đất liền và biển; các hoạt động địa động lực hiện đại và mối quan hệ giữa chúng với nguồn gốc của các tai biến địa chất; phân vùng đặc điểm địa chất và địa chất công trình biển…Nghiên cứu áp dụng các thành tựu mới trong

xử lý và minh giải tài liệu địa chất và địa lý nhằm nâng cao hiệu quả thăm dò dầu khí ở các bể trầm tích thềm lục địa Việt Nam…

Nghiên cứu địa chất và địa chất công trình biển để làm sáng tỏ đặc điểm địa chất biển một cách có hệ thống từ cấu trúc sâu đến cấu trúc nông, liên kết tài liệu nghiên cứu địa chất trên đất liền, ven bờ

và ngoài biển mà còn có tác động trực tiếp đến các hoạt động kinh

tế - xã hội trên vùng biển như thăm dò và khai thác dầu khí, xây dựng công trình biển, quản lý và bảo vệ môi trường biển Bên cạnh

đó, còn đánh giá điều kiện địa chất, các yếu tố biến động đường bờ

Trang 5

biển, phân vùng địa chất công trình các vùng cửa sông, vùng kinh tế biển có nhiều công trình trọng điểm…

Câu 3: Đặc điểm về hình thái, kthc, vị trí của TĐ trong HMT Các ph2 nghiên cứu đó là gì?

- Vị trí của Trái Đất trong hệ mặt trời: Trái Đất ở vị trí thứ 3 trong 9 hành tinh của hệ Mặt Trời ( theo thứ tự xa dần Mặt Trời)

- Về mặt hình thái, TĐ có hình elisoid vs bán kính ở xích đạo lớn hơn bán kính ở cực

- Kích thước của trái đất: Trong thái dương hệ, trái đất với đường kính 12.756 km (hành tinh thứ 3 tính từ mặt trời), không phải là hành tinh nhỏ nhất (mà cũng không là hành tinh lớn nhất).

-Diện tích bề mặt Trái đất: 510,2triệukm2

-Thể tích:1083tỷ m3

- Hình dạng của Trái Đất rất gần với hình phỏng cầu là hình cầu bị nén dọc theo hướng từ địa cực tới chỗ phình ra ở xích đạo Phần phình ra này là kết quả của quá trình tự quay và khiến cho độ dài đường kính tại đường xích đạo dài hơn 43 km so với độ dài đường kính tính từ cực tới cực.

- Nhiệt độ trung bình bề mặt Trái Đất là 16 độ C gồm các chất cơ bản là N2, O2…

- Cấu trúc Trái Đất gồm nhiều lớp: 4 lớp: lớp vỏ, lớp manti, lớp nhân ngoài và lớp nhân trong

Câu 4: Đặc điểm lục địa, địa hình đáy đại dương

Trên cơ sở dấu hiệu cấu trục địa chất – kiến tạo , các đặc trưng vật

lý, đặc điểm hình thái địa hình, P.K.Leontyev đã chia đại dương thế giới thành 4 đơn vị kiến trúc hình thái bậc hành tinh: Rìa lục địa ngập nước, vùng chuyển tiếp, lòng chảo đại dương, dãy núi giữa đại dương.

a) Rìa lục địa ngập nước: Là bộ phận bao quanh các khối lục địa và

hiện nay đang bị nước đại dương bao phủ và độ dốc của nó nghiêng

về phía đáy biển sâu hơn, Rìa lục địa ngập nước lại được chia thành

3 đơn vị nhỏ hơn là thềm lục địa, sườn lục địa, chân lục địa.

- Thềm lục địa: Là đồng bằng ngập nước bao quanh bờ các lục địa

và đảo, là phần đáy biển ven bờ khá bằng phẳng và hơi nghiêng về phía biển khơi, có chiều rộng khoảng vài chục mét đến hàng trăm

km Chiều rộng trung bình của thềm lục địa khoảng 65 km Giới hạn

Trang 6

của thềm lục địa được xác định từ đường mực nước thấp nhất cho đến độ sâu mà tài đó độ dốc của đáy biển tăng lên rõ rệt Theo dấu hiệu địa mạo người ta chia 7 kiểu thềm lục địa:

Thềm lục địa bao quanh các lục địa có băng hà Đệ tứ phân bố chủ yếu ở phía bắc, trên bề mặt của nó tồn tại nhiều rãnh trũng và bãi cạn là dấu vết nạo mòn do băng trước đây.

Thềm lục địa có các bãi cát và rãnh trũng kéo dài phân bố ở các miền đồng bằng thấp trước đây mà không bị đóng băng.

Thềm lục địa liên quan với tác động của dòng chảy ven bờ mạnh, chiều rộng của loại thềm này thường hẹp, do dòng chảy mạnh nên

sự tích tụ trầm tích không đáng kể, đáy thềm thường có đá gốc lộ ra.

Thềm lục địa trước các delta sông lớn có chiều rộng rất đáng kể, gần cửa sông có trầm tích bùn – sét, trên bề mặt có thể còn những thung lũng ngầm.

Thềm lục địa các biển nhiệt đới có các cấu tạo san hô.

Thềm lục địa hẹp cấu tạo bằng đá gốc dọc các miền bờ có núi chạy sát biển

Thềm lục địa cách ly ( gần như các cao nguyên ven rìa)

- Sườn lục địa: Là một bộ phận của rìa lục địa ngập nước, ranh

giới về phía đại dương của thềm lục địa được xác định bởi sự thay đổi độ dốc đột ngột, đẫn đến độ sâu tăng nhanh chóng khu vực này được gọi là mép thềm lục địa.Sườn lục địa có độ sâu từ 200m- 4000m, trong trường hợp rìa thụ động có độ sâu 5000-10.000m Góc nghiên sườn lục địa từ 4-5 0 , bên dưới khu vực này là bộ phận có

đọ nghiêng lớn hơn và được mở rộng cho tới các bồn đại dương được gọi là sườn lục địa Về mặt hình thái các sườn lục địa đều có cấu tạo phân bậc và trên mặt của nó có nhiều các thung lũng sâu được gọi là canhon ngầm

Canho ngầm là một thành tạo địa hình rất đặc trưng cho sườn lục địa, đó là những thành tạo đại hình có dạng thung lũng sâu với độ dốc rất đáng kể (10 0 -15 0 ), trắc diện ngang có dạng chữ V, trắc diện dọc có đọ nghiêng lớn( 0.1- 0.04)

Độ dốc trung bình của sườn lục địa thay đổi trong phạm vi 4 0 -7 0 Có thể chia ra 3 kiểu sườn lục địa: dưới dạng đồng bằng tích tụ nghiêng, dưới dạng các khối nhô rõ rệt, dưới dạng kết hợp cả đồng bằng nghiêng lẫn khối nhô.

Trang 7

- Chân lục địa: Là một thành tạo tích tụ trầm tích nằm tại chân

sườn lục địa được sinh ra do dòng bùn, trượt lở ngầm, hoặc do các quá trình khác đem vật liệu từ thềm lục địa, qua sườn lục địa.

Chân lục địa được tạo thành do sự nối liền các hệ thống nón tích

tụ ở cửa canhon ngầm bởi dòng bùn, trầm tích được đưa ra do các dòng chảy đáy từ thềm lục địa phía trong hoặc do sụt lở ngầm.

Hồ biển rìa: Là sự kết hợp của các đồng bằng biển thẳm với các

khối nhô, núi lửa ngầm, thung lũng và các vùng nổi cao dạng đồi.

Cung đảo: Là các khối nâng kéo dài dạng tuyến bị chia cắt bởi

các đứt gãy ngang Núi lửa và những trận động đất phá hủy là nét động lực đặc trưng cho đới này.

Cung đảo đơn: Là loại chỉ có một chuỗi đảo

Cung đảo kép: Là loại có trên hai chuỗi đảo như ở khu vực Indonesia.

Cung đảo lục địa: Là cung đảo có hướng cong lồi về phía đại dương

và có cấu tạo kiểu Trái đất kiểu lục địa.

Cung đảo cận đại dương: Là cung đảo có hướng cong về phía lục địa

và có cấu tạo vỏ Trái đất kiểu trung gian.

Cung đảo đại dương: Là loại không có sự định hướng rõ ràng.

Máng nước sâu: Là những hố sụt kéo dài thường có dạng cánh

cung, nằm dọc theo phía ngoài các cung đảo hoặc là các dãy núi uốn nếp trẻ của bờ lục địa và là những hố sụt sâu và hẹp với những sườn dốc

c) Dãy núi giữa đại dương

Là một đơn vị địa hình kiến tạo cực lớn của Trái đất và là một

hệ thống thống nhất và liên tục Đặc điểm hình thái: Mặt cắt ngang

Trang 8

của dãy núi giữa đại dương là một khối nâng dạng gờ, nét chung của phần lớn các dãy núi là có các thung lũng rift trung tâm- đó là đới đứt gãy chạy theo trục khối nâng.

Các sống núi giữa đại dương chiếm khoảng 1/3 diện tích đại dương và có đại hình khá rõ nét của đại dương thế giới Trên các sống núi nằm ở độ sâu khoảng 5000m, đỉnh núi thường đạt đến độ cao 2500m đôi khi nhô lên khỏi mặt nước biển Đây là đới động bởi hoạt động của địa chấn tăng cao và hoạt động núi lửa mạnh.

d) Lòng chảo đại dương

Lòng chảo đại dương là phần còn lại của đại dương, thông thường nó được phân bố giữa các dãy núi giữa đại dương ở độ sâu trên 3.000 m tương ứng với bậc trắc cao cơ bản thứ 2 của mặt đất Nét đặc trưng của địa hình lỏng chảo đại dương là các đồng bằng rộng lớn và các vùng nâng bị đập vỡ do các đứt gãy lớn Yếu tố địa mạo cơ bản của lòng chảo đại dương là các vùng trũng và đồng bằng của thềm lục địa các đảo Các đồng bằng nghiêng này được phân bố ở chân của các dãy núi và cao nguyên lớn Đáy của các vùng trũng thường nằm ở độ sâu lớn khoảng 5.000-6.000 mét

Trong các hỗ trũng này người ta chia ra 2 kiểu địa hình là đồng bằng biển thẳm bằng phẳng và đồng bằng xen đồi.

Đồi biển thẳm là các khối nâng dạng vòm có độ cao từ 1.000 mét và có chiều rộng đạt từ 1-10 Km.

50-Đồng bằng biển thẳm là bề mặt phẳng lý tưởng với độ nghiêng luôn nhỏ hơn 0.001.

Câu 5: Các tc vật lí của TĐ, ý nghĩa của việc nghiên cứu các dị thg vật lí của TĐ

Trang 9

xích đạo về phía 2 cực nên cường độ trọng lực có xu hướng tăng dần

từ xích đạo về 2 cực Do đk bề mặt TĐ ko phẳng mà lại có những khu vực nhô cao(lục địa) và hạ thấp( đại dương) nên giá trị trọng lực ko chỉ phụ thuộc vào vĩ độ mà còn phụ thuộc vào độ cao bề mặt địa hình TĐ

c, Ứng dụng

Để nghiên cứu cấu trúc sâu của đáy biển, dựa vào phương pháp trọng lực ta sẽ xđ đc mật độ vật chất trong lớp đất đá và phân chia thành các vùng có mật độ khác nhau

2 Tỉ trọng của TĐ

Tỉ trọng tb của TĐ là 5,5g/cm3 Tuy nhiên giá trị tỉ trọng ở các độ sâu khác nhau ko giống nhau cụ thể là tỉ trọng của các tầng đá trong lp vỏ TĐ thay đổi từ 2,7 đến 3,0 g/cm3 trong khi tỉ trọng trong

lp vỏ manti thay đổi từ 3,3 đến 5,5 g/cm3 Do lớp vỏ và lp manti chiếm 3/4 thể tích của TĐ nên để đạt đến giá trị tỉ trọng tb cho cả

TĐ là 5,5 g/cm3 thì tỉ trọng ở phần trung tâm của TĐ phải đạt giá trị 10-13 g/cm3 Giá trị tỉ trọng cao như thế này chỉ có thể đạt đc trong 1 số mtrg vật chất đc tạo thành từ Fe pha trộn vs 1 sô nguyên khác như Ni, S, Si, Oxi,

+ Trong vòng 5 triệu năm trở lại đây, TĐ đã trải qua trên 20 lần đảo

từ và hướng cực hiện nay đã đc duy trì trong khoảng 700000 năm + Htg này đc giải thích do sự thay đổi của các vật chất nóng chảy ở phần ngoài TĐ theo các yêu tố là hướng dòng đối lưu và ngừng đối lưu vật chất

+ Hệ quả khi ko có sự đối lưu này trong 1 time gây ra sự tuyệt chủng của các sv

4 Địa nhiệt

Địa nhiệt của TĐ đc cung cấp từ nhiều nguồn khác nhau như nhiệt tàn dư từ khi TĐ được hình thành, nhiệt do các pứ hóa học sinh ra, nhiệt nhận từ bức xạ Mặt Trời và nhiệt do phân hủy các phân tử

Trang 10

phóng xạ Tùy theo từng vị trí và độ sâu mà vai trò ảnh hưởng của các nguồn nhiệt có khác nhau nhưng nhìn chung nhiệt độ của TĐ có

xu hướng tăng dần theo độ sâu Mức tăng nhiệt độ theo độ sâu là ko đồng nhất.

* Ý nghĩa nghiên cứu các dị thường vật lý của Trái Đất

- Các phép đo gia tốc trọng trường và thế hấp dẫn trên bề mặt Trái Đất để xác định dị thường trọng lực , là nội dung của thăm dò trọng lực , được sử dụng để tìm kiếm các mỏ khoáng sản , cũng như cung cấp thông tin về sự dịch chuyển của các mảng kiến tạo

- Các dòng nhiệt lên bề mặt của Trái Đất là khoảng 4,2 × 10 13 W, và

nó là một nguồn tiềm năng của năng lượng địa nhiệt

- Nếu các sóng đến từ một nguồn cục bộ như một trận động đất , vụ

nổ , các phép đo tại nhiều địa điểm khác nhau cho phép xác định vị trí nguồn Vị trí của trận động đất cung cấp thông tin về kiến tạo mảng và đối lưu manti

- Quan sát các sóng địa chấn là nguồn thông tin về các khu vực mà sóng đi qua Nếu mật độ hoặc thành phần đá thay đổi đột ngột thì xảy ra sóng phản xạ Phản xạ có thể cung cấp thông tin về cấu trúc gần bề mặt Những thay đổi trong hướng đi, gọi là khúc xạ , được sử dụng để suy ra các cấu trúc sâu của Trái Đất

- Sử dụng sóng địa chấn với nguồn sóng tự nhiên hay nhân tạo để nghiên cứu cấu trúc thạch quyển và thủy quyển , là nội dung các phương pháp thăm dò địa chấn.

- Động đất gây nguy hiểm cho con người Hiểu được cơ chế của nó, tùy thuộc vào loại động đất (ví dụ, nội mảng kiến tạo hoặc tiêu điểm sâu), có thể dẫn đến các ước tính tốt hơn về nguy cơ động đất và cải tiến trong kỹ thuật công trình chịu động đất

- Là cơ sở cho một loạt các phương pháp thăm dò điện, để nghiên cứu thạch quyển và thủy quyển với nhiều chủ đích.

- Từ hóa của các khoáng vật trong các loại đất đá được sử dụng để

đo chuyển động của các lục địa Nó cũng là cơ sở của thăm dò từ ,

Trang 11

thông qua đo đạc và xác định dị thường từ để giải đoán ra cấu trúc, thành phần, tính chất, trạng thái của đất đá trong thạch quyển , phục vụ nghiên cứu địa chất , môi trường và tìm kiếm khoáng sản

- Một phần nước thấm xuống đất trở thành nước ngầm , và dòng chảy nước ngầm dẫn đến những hiện tượng như thấm lọc, tăng độ dẫn điện của nước, làm cho phương pháp địa vật lý điện và điện

từ hữu ích cho việc theo dõi lưu lượng nước ngầm.

Câu 6: Các quyển of TĐ và mối tương tác giữa các quyển này vs nhau

a, Trái Đất có cấu trúc phân quyển , gồm các quyển ngoài (gồm khí quyển, thủy quyển, sinh quyển và thổ quyển) và các quyển trong ( thạch quyển là lớp vỏ Trái Đất có vỏ lục địa và vỏ đại dương, đến lớp cùi Manti và nhân.)

* Thạch quyển ( hay còn gọi là quyển đá) vì vật chất cấu tạo nên

quyển này chủ yếu tồn tại ở trạng thái cứng ( các loại đá) Ít hơn là trầm tích chưa tạo đá và vỏ phong hóa do phá hủy đá; là lớp vỏ cứng ngoài cùng nhất của các hành tinh có đất đá Trên Trái Đất , Thạch quyển bao gồm lớp vỏ và tầng trên cùng nhất của lớp phủ( lớp phủ trên hoặc thạch quyển dưới) , được kết nối với lớp vỏ Thạch quyển bị chia nhỏ ra thành các mảng khác nhau gồm 7 mảng chính : ( Thái Bình Dương, Âu – Á, Châu Phi, Châu Úc, Bắc Mỹ, Nam

Mỹ, Nam Cực) và 6 mảng phụ : (Mảng Philipin, Mảng ả Rập, Mảng Caribe ( Trung Đông Mỹ), Mảng Nasca ( Tây Chi Lê), Mảng Cocos ( Đông Xomali), Mảng Scotia ( Đông Nam Mỹ).

Đặc trưng phân biệt của thạch quyển không phải là thành phần của

nó Dưới ảnh hưởng của các ứng suất dài hạn và cường độ thấp gây

ra các chuyển động kiến tạo địa tầng, thạch qyển phản ứng về cơ bản như là lớp vỏ cứng trong khi quyển astheno ( quyển mềm ) có tác dụng như là một chất lỏng có độ nhớt nhẹ Cả lớp vỏ và tầng trên của lớp phủ trôi trên quyển mềm có “ độ dẻo” cao hơn.

Độ dày của thạch quyển dao động từ khoảng 1,6 km ở các sống lưng giữa đại dương tới khoảng 130 km gần lớp vỏ đại dương cổ.Độ dày của mảng thạch quyển lục địa là khoảng 150 km.

Ngày đăng: 16/06/2016, 22:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w