Một số vấn đề liên quan về quản lý phối hợp giữa Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với nhà trường trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh THPT 21... Thực trạng công tác GDĐĐ ở Trường THPT Nguy
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với tất cả lòng chân thành và tình cảm của mình, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể các Thầy giáo, Cô giáo trong trường Đại học Giáo dục – ĐHQG Hà Nội cùng toàn thể các thầy cô đã tham gia giảng dạy ở lớp Cao học QLGD K11 Các Thầy cô đã tận tình truyền đạt cho chúng em những kiến thức kinh nghiệm vốn có của mình và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng em trong thời gian học tại trường
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hậu, Người
đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
để em có thể đạt được kết quả tốt đẹp như ngày hôm nay
Xin chân thành cám ơn Ban giám hiệu và các thầy cô giáo, các em học sinh, phụ huynh học sinh trường THPT Nguyễn Khuyến thành phố Hải Phòng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi có những tư liệu để hoàn thành luận văn Cám ơn gia đình và ban bè, các đồng nghiệp đã động viên tiếp thêm nghị lực cùng tôi hoàn thành khoá học và luận văn này
Do khả năng và thời gian có hạn mặc dù đã cố gắng nhiều, song luận văn chắc chắn không tránh khỏi sai sót Em rất mong được sự chỉ dẫn góp ý của các nhà khoa học, của các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp và những ai quan tâm đến những vấn đề trong luận văn này Xin chân thành cám ơn!
Hà Nội, ngày 11 tháng 11 năm 2013
HỌC VIÊN
Hà Đức Huy
Trang 3DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4HTGDQD Hệ thống giáo dục quốc dân
Trang 5DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1: Thực trạng thực hiện các nội dung và hình thức giáo dục đạo
Bảng 2.2 Kết quả hạnh kiểm học sinh nhà trường từ năm học 2010 –
Biểu đồ 2.1: So sánh chất lượng GDĐĐ học sinh của trường THPT
Nguyễn Khuyến từ năm học 2010 – 2011 đến năm học 2012 – 2013 52 Bảng 2.3: Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh về mức độ
Biểu đồ 2.2: So sánh nhận thức của các cán bộ quản lý, giáo viên, học
Bảng 2.4 Nhận thức về vai trò của Đoàn TN phối hợp với nhà trường
Biểu đồ 2.3: So sánh nhận thức về vai trò của Đoàn TN phối hợp với nhà
Bảng 2.5: Khảo sát thực trạng xây dựng kế hoạch GDĐĐ cho HS 55 Biểu đồ 2.4: Khảo sát thực trạng xây dựng kế hoạch GDĐĐ cho HS 56 Bảng 2.6 Thực trạng phối hợp xây dựng lực lượng GDĐĐ cho HS 57 Bảng 2.7 Thực trạng đoàn thanh niên phối hợp các lực lượng chỉ đạo các
Bảng 2.8: Thực trạng cơ sở vật chất trường, lớp học (năm học 2012-2013) 63 Bảng 2.9: Khảo sát việc kiểm tra đánh giá giáo dục đạo đức học sinh 64 Biểu đồ 2.5: Khảo sát việc kiểm tra đánh giá giáo dục đạo đức học sinh 65 Bảng 3.1: Lực lượng làm công tác giáo dục đạo đức cho học sinh 77 Bảng 3.2: Hệ thống CSVC cần khai thác để phục vụ hoạt động giáo dục
đạo đức cho học sinh trường THPT Nguyễn Khuyến TP Hải Phòng 78 Bảng 3.3: Kết quả khảo nghiệm về tính cần thiết và tính khả thi của biện
pháp quản lý HĐGDĐĐ cho HS của Hiệu trưởng trường THPT Nguyễn
Khuyến, TP.Hải Phòng
100
Biểu đồ 3.1 Tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 102
Trang 6CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHỐI HỢP GIỮA
ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH VỚI NHÀ
TRƯỜNG TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
6
1.3 Một số vấn đề liên quan về quản lý phối hợp giữa Đoàn TNCS Hồ Chí
Minh với nhà trường trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh THPT 21
Trang 71.3.1 Mục tiêu, nội dung giáo dục đạo đức 21
1.3.4 Vai trò của học sinh trong giáo dục đạo đức 26 1.3.5 Vai trò của Đoàn trong giáo dục đạo đức cho học sinh 27 1.4 Quản lý phối hợp giữa Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với nhà trường trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh THPT 28 1.4.1 Quản lý sự phối hợp trong việc xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức
1.4.2 Phối hợp xây dựng lực lượng trong hoạt động GDĐĐ cho học sinh
1.4.3 Đoàn thanh niên chủ động phối hợp các lực lượng chỉ đạo các hoạt
1.4.4 Đoàn thanh niên tham gia huy động các nguồn lực phục vụ hoạt
1.4.5 Quản lý phối hợp kiểm tra, đánh giá công tác giáo dục đạo đức cho
39
2.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội của huyện Vĩnh Bảo - Hải Phòng 39
Trang 853
2.5.1 Nhận thức của các cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh về công tác
2.5.2 Thực trạng phối hợp xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức cho học
2.5.3 Thực trạng phối hợp xây dựng lực lượng GDĐĐ cho học sinh 56 2.5.4 Thực trạng đoàn thanh niên phối hợp các lực lượng chỉ đạo các hoạt
2.5.5 Thực trạng công tác huy động các nguồn lực cho hoạt động giáo dục
2.5.6 Thực trạng quản lý phối hợp trong kiểm tra, đánh giá công tác giáo
Trang 9Tiểu kết chương 2 68
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ PHỐI HỢP GIỮA ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH VỚI NHÀ TRƯỜNG TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGUYỄN KHUYẾN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
70
3.1 Định hướng hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ
3.1.2 Tăng cường công tác tuyên truyền và nâng cao nhận thức cho các lực lượng về vai trò của Đoàn trong hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT
3.3 Biện pháp tăng cường quản lý phối hợp giữa Đoàn TNCS HCM với
3.3.1 Xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh theo định hướng phát triển công tác đoàn ở trường THPT 73 3.3.2 Bồi dưỡng nhận thức và năng lực cho các chủ thể tham gia hoạt
3.3.3 Xây dựng lực lượng trợ lý thanh niên làm nòng cốt trong các hoạt
3.3.4 Đa dạng hoá các loại hình hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
Trang 103.3.5 Tăng cường cơ sở vật chất và thiết bị phục vụ hoạt động giáo dục
3.3.6 Phối hợp với chương trình hành động của huyện đoàn giáo dục đạo
2.1.2 Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo thành phồ Hải Phòng 105 2.1.3 Đối với trường THPT Nguyễn Khuyến TP Hải Phòng 105
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, giáo dục và đào tạo là yếu tố quan trọng bậc nhất, hàng đầu để thúc đẩy nhanh nền kinh tế đất nước phát triển Giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) có chức năng nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Chỉ có GD&ĐT mới
có thể phát huy tiềm năng của con người và phát triển con người Việc phát triển khai thác tốt tài nguyên người là đảm bảo chắc chắn nhất cho sự phồn thịnh của mỗi quốc gia Nghị quyết hội nghị TW lần thứ 2 của Ban chấp hành Trung ương
Đảng cộng sản Việt Nam khoá VIII đã khẳng định: “Thực sự coi GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế – xã hội”
Đất nước ta đang từng ngày đổi mới, sự nghiệp CNH – HĐH đất nước đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của đất nước Để có được những thành quả đó, nhân dân ta đã đóng góp bằng tất cả những
nỗ lực của mình; trong đó, sự đóng góp của lực lượng thanh niên giữ một vai trò rất đáng kể, là lực lượng nòng cốt, xung kích trong mọi lĩnh vực Trong công cuộc đổi mới của đất nước, giáo dục được xem là quốc sách hàng đầu, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao Trong Luật Sửa đổi và bổ sung một số điều của Luật
Giáo dục (2009), tại Điều 2 xác định: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành
và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[24.tr 25] Giáo dục và đào tạo nguồn
nhân lực có chất lượng cao phục vụ đất nước không chỉ là vai trò của ngành GD
mà của toàn XH, trong đó tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đóng vai trò rất quan trọng, đặc biệt là việc giáo dục và đào tạo ĐV, TN Bên cạnh đó, với mục tiêu
tổng quát của chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam là: “Giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo thế hệ thanh niên Việt Nam phát triển toàn diện, trở thành nguồn nhân lực trẻ có chất lượng cao và phát huy vai trò xung kích, sáng tạo của thanh niên trong
Trang 12sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” đòi hỏi tổ chức Đoàn cần phải
ra sức đầu tư để thực hiện vai trò và trách nhiệm của mình
Đánh giá thực tra ̣ng giáo du ̣c , đào ta ̣o Nghi ̣ quyết TW 2 khóa VIII nhấn
mạnh: “Đặc biê ̣t đáng lo ngại là một bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái về đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiê ̣p vì tương lai của bản thân và đất nước Trong những năm tới cần tăng cường giáo dục tư tưởng đạo đức, ý thức công dân, lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh…tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động
xã hội, văn hoá, thể thao phù hợp với lứa tuổi và với yêu cầu giáo dục toàn diện”
Mặt trái của cơ chế mới cũng ảnh hưởng tiêu cực đến sự nghiệp GD , trong đó sự suy thoái về đa ̣o đức và những giá tri ̣ nhân văn tác động đến đại đa số TN và
HS như: có lối sống thực dụng, thiếu ước mơ và hoài bão, lập thân, lập nghiệp; những tiêu cực trong thi cử, bằng cấp, chạy theo thành tích Thêm vào đó, sự du nhập văn hoá phẩm độc hại thông qua các phương tiện như phim ảnh, games, mạng Internet… làm ảnh hưởng đến những quan điểm về tình bạn, tình yêu trong lứa tuổi TTN và HS, nhất là các em chưa được trang bị và thiếu kiến thức về vấn
đề này
Thực trạng công tác GDĐĐ ở Trường THPT Nguyễn Khuyến huyện Vĩnh Bảo thành phố Hải Phòng trong thời gian qua cho thấy công tác này còn nhiều hạn chế; việc xây dựng kế hoạch GDĐĐ chưa cụ thể, chưa phù hợp với đặc điểm tình hình của nhà trường và yêu cầu của ngành mà thường xây dựng chung với kế hoạch chuyên môn; nội dung các hoạt động GDĐĐ thực hiện ở mức độ trung bình; các phương pháp GDĐĐ chưa được tốt; vai trò các LLGD chưa có sự phối hợp nhịp nhàng, thống nhất và đồng bộ dẫn đến chất lượng các hoạt động GDĐĐ cho HS chưa đạt được mục tiêu GD đặt ra
Vì những lý do trên tác giả lựa chọn đề tài “Biện pháp quản lý phối hợp
giữa Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh với nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Nguyễn Khuyến TP.Hải Phòng”
Trang 132 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, phân tích, đánh giá thực trạng đề xuất một số biện pháp quản lý phối hợp giữa Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Nguyễn Khuyến TP Hải Phòng giai đoạn hiện nay
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý phối hợp giữa Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh THPT
3.2 Khảo sát và đánh giá thực trạng công tác quản lý phối hợp giữa Đoàn TNCS
Hồ Chí Minh với nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh tại trường THPT Nguyễn Khuyến TP.Hải Phòng
3.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý phối hợp giữa Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với nhà trường trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Nguyễn Khuyến thành phố Hải Phòng giai đoạn hiện nay
4 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
4.1 Khách thể: Quản lý trường trung học phổ thông
4.2 Đối tượng nghiên cứu:
Quản lý phối hợp giữa Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT Nguyễn Khuyến TP.Hải Phòng
5 Vấn đề nghiên cứu
Đề tài tập trung vào nghiên cứu hai vấn đề cơ bản sau:
- Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh THPT
- Biện pháp quản lý phối hợp giữa Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh
6 Giả thuyết khoa học
Chất lượng giáo dục đạo đức ở trường THPT Nguyễn Khuyến TP Hải Phòng còn có khiếm khuyết là do hạn chế trong sự phối hợp giữa Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với nhà trường Vì vậy, nếu triển khai đồng bộ những biện pháp quản lý phối hợp giữa Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với nhà trường trên nền tảng các chức năng quản lý phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Đoàn và đặc điểm của
Trang 14nhà trường sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Nguyễn Khuyến TP Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay
7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu, khảo sát đánh giá thực
trạng và đề xuất các biện pháp quản lý phối hợp giữa Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với nhà trường trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Nguyễn Khuyến TP.Hải Phòng giai đoạn hiện nay
- Địa bàn: Trường THPT Nguyễn Khuyến huyện Vĩnh Bảo TP Hải Phòng
- Thời gian: Giai đoạn 2010 – 2013 và những năm tiếp theo
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
9 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện việc nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng và kết hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu sau:
9.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý phối hợp giữa Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh THPT
- Nghiên cứu các văn bản, nghị quyết của Đảng, các văn bản của Nhà nước,
Bộ GD & ĐT, UBND thành phố, Sở GD & ĐT Hải Phòng về trường THPT, các lĩnh vực tổ chức bộ máy, cơ chế phối hợp Trong đó văn bản trọng yếu là Điều lệ trường THPT
- Nghiên cứu các Chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; Sở Giáo dục và Đào tạo, Thành đoàn Hải Phòng; Huyện uỷ, Đoàn thanh niên Huyện Vĩnh Bảo về công tác giáo dục đạo đức cho học sinh
- Các tài liệu có liên quan đến đề tài
Trang 159.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi ý kiến của cán bộ quản lý, học sinh, giáo viên, bí thư các chi đoàn học sinh trong toàn trường, cha mẹ học sinh, Bí thư Đoàn các trường THPT trên địa bàn huyện, cán bộ cơ quan Huyện đoàn Vĩnh Bảo
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: lấy ý kiến của một số chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục thông qua các bài viết liên quan đến công tác giáo dục thanh niên, đặc biệt là giáo dục đạo đức cho thanh niên
9.3 Nhóm phương pháp thống kế
- Thống kê, xử lý các số liệu thu thập bằng phần mềm SPSS (để thống kê và phân tích kết quả điều tra)
10 Cấu trúc luận văn
Trong luận văn, ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục còn gồm 03 chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý phối hợp giữa Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với
nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh THPT
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý phối hợp giữa Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
với nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh tại trường THPT Nguyễn Khuyến TP.Hải Phòng
Chương 3: Biện pháp quản lý phối hợp giữa Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với nhà
trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Nguyễn Khuyến thành phố Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay
Trang 16Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, xuất hiện từ buổi bình minh của lịch
sử loài người Nó được hoàn thiện, phát triển trên cơ sở các chế độ kinh tế - xã hội nối tiếp nhau từ thấp đến cao, đỉnh cao của nó là đạo đức XHCN, đạo đức cộng sản, điều mà chúng ta đang phấn đấu thực hiện
Vai trò động lực tinh thần to lớn của đạo đức đối với sự phát triển, tiến bộ
xã hội được nhiều nhà khoa học hiện nay thừa nhận và được các quốc gia quan tâm sâu sắc
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Ở phương Tây, nhà triết học Socrate (469 – 399 TCN) cho rằng cái gốc của đạo đức là tính thiện, bản tính con người vốn thiện, nếu tính thiện ấy được nuôi dưỡng, phát triển thì con người sẽ có hạnh phúc Theo ông, chuẩn mực đạo đức phải được nhận thức bằng lý tính kết hợp với phương pháp nhận thức khoa học
Đối với nền văn minh phương Đông thì vấn đề GDĐĐ đã được quan tâm từ
rất sớm Khổng Tử (551-479 TCN) mà tư tưởng của ông đã trở thành một “Đạo”
có ảnh hưởng sâu rộng không chỉ ở Trung Quốc mà ở nhiều quốc gia Ông đề cao
đường lối “đức trị” để trị quốc an dân, phát triển đất nước Theo quan điểm “ Ngũ thường” của ông thì yếu tố đạo đức được đặt lên hàng đầu “ Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín” Ông coi Nhân là gốc rễ của các đức khác, và xây dựng học thuyết “Nhân -
Lễ - Chính danh” Ông được người đời tôn làm “Vạn thế sư biểu”
Aristoste (384-322-TCN) cho rằng không phải hy vọng vào Thượng đế áp đặt để có người công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất mới tạo nên được con người hoàn thiện trong quan hệ đạo đức
Nhiều nhà tâm lý học và GD học trên thế giới cũng đã đề cập và nghiên cứu
về GDĐĐ Trong số đó tiêu biểu là nhà GD học và tâm lý học Liên Xô A.X
Trang 17Makarenco, ông nêu lên nguyên tắc GDĐĐ trong tập thể và thông qua tập thể Nguyên tắc đó của ông đã trở thành một trong bốn con đường GD được sử dụng rộng rãi hiện nay [1]
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước
Đất nước Việt Nam trải qua hàng nghìn năm văn hiến đã xây dựng mô hình
GD kế thừa những tinh hoa của nhân loại, đạo đức và tài năng là hai yếu tố căn bản của nhân cách con người, trong đó cha ông ta lựa chọn đạo đức là gốc rễ,
“Tiên học Lễ, hậu học Văn” Những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực, phẩm chất
đạo đức cá nhân và đạo đức xã hội hiện thực đang tác động mạnh mẽ, thường xuyên đến các quan hệ ứng xử giữa người và người, cá nhân và xã hội nhằm hướng con người tới cái chân, thiện, mỹ, chống cái ác, cái xấu, cái giả, đưa XH ta đạt mục tiêu cao cả: Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ , văn minh
Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Có tài mà không có đức thì là người vô dụng” Người coi trọng mục tiêu, nội dung GDĐĐ trong các nhà trường như:
“Đoàn kết tốt”, “Kỷ luật tốt”,“Khiêm tốn, thật thà dũng cảm”,“Con người cần có bốn đức: cần - kiệm - liêm - chính, mà nếu thiếu một đức thì không thành người”
Kế thừa tư tưởng của Người, từ lâu đã có nhiều giáo trình đạo đức học được biên soạn, góp phần đáng kể cho việc định hướng GDĐĐ cho HS GDĐĐ cho HS, đặc biệt là học sinh THPT là một nội dung được quan tâm và nghiên cứu của nhiều tác giả Các tác giả như GS Đào Duy Anh, GS Cao Xuân Huy, GS Vũ Khiêu đều có những điểm chung khi nghiên cứu về con người Việt Nam và GDĐĐ ở nhà trường chúng ta hiện nay Đặc biệt, chương trình khoa học cấp nhà nước KX – 07 thuộc nhóm nghiên cứu của GS.TS Nguyễn Quang Uẩn, GS.VS Phạm Minh Hạc đã tập trung nghiên cứu về con người Việt Nam trong bối cảnh
xã hội chuyển sang nền kinh tế thị trường, mở cửa, đổi mới đã xác định đặc trưng nhân cách con người Việt Nam dựa trên quy mô khảo sát lớn; Các tác giả như GS Hoàng Đức Nhuận, PGS.TS Phạm Khắc Chương đã có nhiều đóng góp về lý luận đạo đức và GDĐĐ trong nhà trường hiện nay Cũng nghiên cứu về công tác GDĐĐ cho HS, tác giả Lê Trung Trấn, Nguyễn Dục Quang đề nghị cần phải đổi
Trang 18mới hoạt động GDĐĐ theo nguyên tắc phù hợp với sự phát triển mới của xã hội,
có hệ thống, tiếp cận phức hợp xuất phát từ học sinh
Công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay đòi hỏi phải coi trọng nhân tố con người, coi trọng tài năng, sức khoẻ và phẩm chất đạo đức, chăm lo GD thế hệ trẻ, nhất là HS, SV đáp ứng nhu cầu những giai đoạn phát triển mới của đất nước Đó
là nhiệm vụ của toàn xã hội và việc quản lý phối hợp giữa nhà trường với gia đình
và xã hội là một nguyên tắc cơ bản đảm bảo sự thành công của công tác GD
Nghiên cứu về QLGD luôn được các học giả trong và ngoài ngành GD quan tâm, các công trình nghiên cứu GD của các nhà khoa học hàng đầu Việt Nam như:
“Cơ sở khoa học quản lý giáo dục” của tác giả PGS Nguyễn Minh Đạo, “Những khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục” của tác giải GS Nguyễn Ngọc Quang,
“Quản lý, quản lý giáo dục tiếp cận từ những mô hình” của tác giả PGS Đặng Quốc Bảo, “Lý luận quản lý giáo dục” của tác giả GS Nguyễn Thị Mỹ Lộc thực
sự là những công trình nghiên cứu đầu ngành và căn bản về QLGD, mang lại những hiệu quả nhất định cho công tác QLGD nói chung và công tác trong QL nhà trường nói riêng
Thông báo kết luận 242-TB/TW ngày 15/4/2009 của Ban Chấp hành TW thông báo kết luận của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW 2 (khoá VIII) và phương hướng phát triển giáo dục đào tạo đến năm 2020 khi nói về vấn
đề yếu kém của giáo dục đào tạo đã nêu: “Việc GD tư tưởng đạo đức, lối sống, về truyền thống văn hoá, lịch sử dân tộc, về Đảng, về quyền lợi và nghĩa vụ cho HS, sinh viên chưa được chú ý đúng mức cả về nội dung và phương pháp; GD phổ thông mới chỉ quan tâm nhiều đến “dạy chữ”, chưa quan tâm đúng mức đến “dạy người”, kỹ năng sống và “dạy nghề cho thanh niên”
Thực tế hiện nay, mọi gia đình đều mong muốn con em mình học đến nơi đến chốn, cố gắng tạo điều kiện cho con em học tập Tuy nhiên, cũng còn tồn tại một bộ phận không nhỏ các gia đình ít quan tâm, thậm chí không quan tâm việc
GD con em
Về phía xã hội, mọi người đều mong muốn có những công dân tốt, không vi phạm đạo đức, kỷ luật, sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật Bộ GD&ĐT
Trang 19có cuộc vận động “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” Tuy nhiên việc phối hợp giữa nhà trường – gia đình – xã hội còn nhiều lúng túng, cần phải tiếp tục nghiên cứu
Chính vì vậy, trong những năm qua đã có nhiều tác giả nghiên cứu sự kết hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội nhằm nâng cao chất lượng giáo dục cho HS như đề tài nghiên cứu khoa học của GS.Hà Thế Ngữ, GS Nguyễn Đức Minh, GS Đặng Vũ Hoạt, PGS Hà Nhật Thăng, GS Nguyễn Quang Uẩn đã đề cập đến vai trò hết sức quan trọng của sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường với xã hội để nâng cao hiệu quả GD cho HS từ những năm 80 của thế kỷ XX
Vào những năm 90 của thế kỷ XX phải kể đến một công trình nghiên cứu
Mô hình liên kết các lực lượng GD của Thành uỷ Hà Nội do tập thể các GS, PGS như Hà Nhật Thăng, Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Quang Uẩn phụ trách tiến hành trong
5 năm (1985 - 1990) với mục tiêu tổ chức, chỉ đạo liên kết các lực lượng nhằm xây dựng môi trường GD ở các cấp từ thành phố xuống cộng đồng dân cư
Những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu của “Trung tâm nghiên cứu GDĐĐ công dân” của Viện khoa học giáo dục Việt Nam, một số luận văn, luận án Những công trình trên chủ yếu tập trung phân tích ý nghĩa, yêu cầu của việc liên kết các lực lượng xã hội nhằm thực hiện chương trình hoạt động GD ngoài giờ lên lớp ở trường phổ thông, ở một góc độ nào đó các công trình ấy đã đề cập đến vấn đề quản lý phối hợp, nhưng chưa bàn cụ thể xác định các biện pháp quản lý GDĐĐ cho HS THPT
Trong công tác QL của ngành GD, ngày 23 tháng 12 năm 2008, Bộ trưởng
Bộ GD&ĐT đã ban hành Chỉ thị số 71/2008/CT-BGDĐT về tăng cường phối hợp nhà trường với gia đình và xã hội trong công tác giáo dục trẻ em, học sinh, sinh viên Để triển khai chỉ thị của Bộ trưởng Bộ GD & ĐT và trước thực tế về tình hình GDĐĐ của HS hiện nay, đã có nhiều hội nghị, hội thảo được tổ chức và đã đưa ra những giải pháp để phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội nhằm nâng cao hiệu quả của công tác GDĐĐ cho HS Ngày 26 tháng 11 năm 2009, Bộ
GD & ĐT đã tổ chức Hội thảo khoa học “Về giải pháp nâng cao hiệu quả công tác GDĐĐ, lối sống, phòng chống tội phạm, bạo lực trong học sinh phổ thông” Hội
Trang 20thảo được nhiều học giả và cán bộ QLGD cùng các giáo viên tham gia nhằm tìm
ra các giải pháp để GDĐĐ cho HS Một trong những giải pháp chung được rút ra
từ hội thảo đó là tăng cường mối quan hệ, phối hợp giữa nhà trường với gia đình
và xã hội trong việc QL và GD HS
Nghiên cứu công tác quản lý phối hợp giữa Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với nhà trường trong GDĐĐ cho HS trường THPT Nguyễn Khuyến thành phố Hải Phòng là một bước tiếp tục nghiên cứu QLGD và áp dụng vào thực tiễn của một
cơ sở GD nhằm góp phần nâng cao chất lượng GD toàn diện cho HS đáp ứng yêu cầu của đất nước trong thời kỳ mới
1.2 Một số khái niệm cơ bản có liên quan
1.2.1 Quản lý và chức năng quản lý
1.2.1.1 Khái niệm về quản lý
Quản lý ra đời nhằm tạo ra một hiệu quả lao động cao hơn so với việc làm của từng cá nhân riêng lẻ của một nhóm người khi họ tiến hành các công việc có mục tiêu chung với nhau Quản lý là một khái niệm rộng và thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, do vậy có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng)
kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [7, tr.9]
Các nhà lý luận quản lý quốc tế như Frederick Winslow Taylor (Mỹ - 1856
- 1915), Henri Fayol (Pháp - 1841- 1925), Max Weber (Đức- 1864 - 1920), Mary Parker Follett (Mỹ - 1868 - 1933) đều đã khẳng định: QL là khoa học đồng thời là nghệ thuật
Theo Các Mác: “Bất cứ một lao động mang tính chất xã hội trực tiếp hay lao động cùng nhau, được thể hiện ở quy mô tương đối lớn, đều cần đến mức độ nhiều hay ít của sự QL, nhằm thiết lập sự phối hợp giữa những công việc cá nhân
và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh từ vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất, khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của nó Một người chơi vĩ cầm riêng lẻ tự điều khiền mình, còn dàn nhạc thì cần người chỉ huy” [6, tr.38]
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo thì: “Quản có nghĩa là giữ; Lý là chỉnh sửa
Trang 21Vậy quản lý là làm cho ổn định và phát triển, sao cho trong quản có lý, trong lý có quản Trong ổn định tạo mầm mống cho sự phát triển, trong phát triển giữ được hạt nhân cho ổn định” [3, tr.5]
Nói về hoạt động quản lý, định nghĩa kinh điển nhất phải kể đến là: “Quản
lý là một quá trình tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [3, tr.3]
Ngày nay, khái niệm về quản lý được định nghĩa một cách cụ thể hơn như
là một quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra Trong quá trình này người quản lý là nhân vật có trách nhiệm phân bố nhân lực, các nguồn lực khác, chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phận hay toàn bộ tổ chức để tổ chức này hoạt động có hiệu quả và đạt đến mục đích của tổ chức
Như vậy, từ các định nghĩa trên về quản lý ta có thể rút ra nhận xét sau:
Về bản chất của hoạt động quản lý gồm hai bộ phận đó là chủ thể quản lý
và khách thể quản lý Hai bộ phận này có liên quan mật thiết với nhau, không tách rời nhau Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân hay nhóm người có chức năng quản lý, điều hành tổ chức, làm cho tổ chức vận hành đạt được mục tiêu đề ra Khách thể quản lý là những người thừa hành nhiệm vụ trong tổ chức, chịu sự tác động, chỉ đạo của chủ thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung Chủ thể quản lý làm nảy sinh tác động quản lý, còn khách thể quản lý sản sinh ra vật chất tinh thần
có giá trị sử dụng, đáp ứng nhu cầu con người, đáp ứng mục đích chủ thể quản lý
1.2.1.2 Chức năng cơ bản của quản lý
Chức năng của QL là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ định của chủ thể QL lên đối tượng QL Đó là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể
QL phải tiến hành trong quá trình QL Có bốn chức năng cơ bản của quản lý đó là:
+ Kế hoạch hoá
+ Tổ chức
+ Chỉ đạo
+ Kiểm tra
Trang 22Các chức năng trên đan xen nhau, tác động bổ sung lẫn nhau để hoàn thiện quá trình quản lý
- Chức năng kế hoạch hoá: Là căn cứ vào thực trạng ban đầu của tổ chức và căn cứ vào nhiệm vụ được giao mà vạch ra mục tiêu của tổ chức trong từng thời
kỳ, từng giai đoạn, từ đó tìm ra con đường, biện pháp, cách thức đưa tổ chức đạt mục tiêu
- Chức năng tổ chức: Là sắp xếp, sắp đặt một cách khoa học những yếu tố, những con người, những dạng hoạt động thành một hệ thống toàn vẹn nhằm đảm bảo cho chúng tương tác với nhau một cách tối ưu
- Chức năng chỉ đạo: Là phương thức tác động của chủ thể QL nhằm điều hành tổ chức, nhân lực đã có của tổ chức vận hành theo đúng kế hoạch đã đề ra và đảm bảo các hoạt động của tổ chức diễn ra trong trật tự, kỷ cương nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức
- Chức năng kiểm tra: Là những hoạt động của chủ thể QL tác động đến khách thể quản lý nhằm đánh giá và xử lý các kết quả vận hành của tổ chức
Các chức năng quản lý tạo thành một chu trình quản lý Trong đó, từng chức năng vừa có tính độc lập tương đối, vừa có quan hệ biện chứng với nhau Trong quá trình quản lý thì yếu tố thông tin luôn có mặt trong tất cả các giai đoạn với vai trò vừa là điều kiện, vừa là phương tiện để tạo điều kiện cho chủ thể quản
lý thực hiện các chức năng quản lý và đưa ra được các quyết định quản lý Mối quan hệ giữa các chức năng của quản lý được thể hiện qua sơ đồ sau: [23,tr.184]
Sơ đồ 1.1: Quan hệ giữa các chức năng quản lý
Trang 231.2.2 Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục (QLGD) là hoạt động QL trong lĩnh vực GD với nhiều cấp độ khác nhau trong hệ thống GD của một đất nước, một quốc gia nhằm thực hiện có hiệu quả mục đích và các mục tiêu GD của đất nước đó, quốc gia đó Khái niệm QLGD, cho đến nay có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng cơ bản đều thống nhất với nhau về nội dung và bản chất Để hiểu rõ hơn về khái niệm QLGD chúng
ta cùng tham khảo một số quan điểm sau:
Tác giả Đặng Quốc Bảo thì cho rằng: “QLGD là hoạt động điều hành phối
hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh mẽ công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” [3,tr.14 ]
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “QLGD là tổ chức các hoạt động dạy học
Có tổ chức được các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới quản lý được giáo dục, tức là
cụ thể hoá đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước” [17, tr 9]
- Từ những định nghĩa trên cho ta thấy, bản chất của QLGD là quá trình tác động có định hướng của chủ thể QL lên các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động GD nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu GD đề ra Trong đó:
+ Chủ thể QL: Bộ máy quản lý của các cấp
+ Khách thể QL: Hệ thống GD quốc dân, các trường học
+ Quan hệ QL: Đó là những mối quan hệ giữa người học và người dạy, quan hệ giữa người QL và người dạy, người học; quan hệ giữa giáo giới, cộng đồng, nhà trường, của toàn bộ hệ thống GD
+ Các thành tố đó là: Mục tiêu GD; nội dung GD; phương pháp GD; lực lượng GD (người dạy); đối tượng GD (người học), phương tiện GD (điều kiện)
Như vậy có thể hiểu QLGD là sự tác động có ý thức, có hệ thống, có kế hoạch của chủ thể QLGD các cấp khác nhau tới toàn bộ hệ thống GD nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở quy luật của quá trình GD về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm lực của trẻ em QLGD không chỉ đòi hỏi tính khoa học mà còn phải có nghệ thuật bởi vì đặc trưng cơ bản của
Trang 24QLGD là QL con người Sản phẩm đầu ra của quá trình QLGD chính là nhân cách của người học theo mục tiêu GD
1.2.3 Quản lý nhà trường
Nhà trường có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng đối với xã hội cũng như hệ thống GD quốc dân Có thể nói nhà trường là vầng trán của cộng đồng, nơi dẫn
dắt trí tuệ của cộng đồng, là thành tố cơ bản tạo nên HTGDQD
Nhà trường chính là nơi tiến hành các hoạt động GD nhằm thực hiện mục tiêu GD mà xã hội đòi hỏi Trong nhà trường thì công tác QL và điều hành nhà trường của Hiệu trưởng là yếu tố quyết định đến thành công và phát triển của nhà trường Người Hiệu trưởng phải vừa là Thủ trưởng vừa là Thủ lĩnh để có thể tập hợp, gắn kết, điều hành có hiệu quả các nhân tố cấu thành nên nhà trường Làm cho các nhân tố này phát huy được hết sức mạnh của mình nhưng đồng thời chúng
hỗ trợ nhau, tác động đến nhau cùng phát triển theo mục tiêu chung của nhà trường đã đề ra
Theo tác giả Phạm Minh Hạc thì: ”Quản lý trường học, thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ, với từng học sinh” [18, tr.30]
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: "Quản lý trường học là hoạt động của các
cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh
và các lực lượng giáo dục khác cũng như huy động tối ưu các ngồn lực giáo dục
để nâng cao chất lượng giáo dục và đạo tạo trong nhà trường" [35, tr 205]
Tác giả Trần Kiểm thì cho rằng: " Quản lý trường học có thể hiểu là một hệ
thống những tác động sư phạm hợp lý và có hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể GV, HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm huy động
và phối hợp sức lực, trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động của nhà trường hướng
vào việc hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu dự kiến" [20, tr.27]
Quản lý nhà trường là công tác QL của Hiệu trưởng trên mọi hoạt động diễn
ra trong nhà trường như QL tổ chức giảng dạy, học tập, GDĐĐ và các hoạt động
Trang 25GD khác theo mục tiêu, chương trình GD, QL tài chính, nhân lực, hành chính và
QL môi trường GD
1.2.4 Đạo đức
Khái niệm: Đạo đức là một hiện tượng xã hội phức tạp Để hiểu rõ khái
niệm này có thể tiếp cận trên nhiều góc độ khác nhau
Dưới góc độ triết học: "Đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất
của ý thức xã hội, bao gồm những nguyên lý, quy tắc, chuẩn mực, điều tiết hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng Căn cứ vào những quy tắc ấy, người ta đánh giá hành vi, phẩm giá của mỗi người bằng các quan niệm về thiện ác, chính nghĩa và phi nghĩa, nghĩa vụ và danh dự”[28, tr.45]
Dưới góc độ đạo đức học: "Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc
biệt, bao gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội" [19, tr.12]
Dưới góc độ Giáo dục học: "Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội là hệ
thống các quan niệm về cái thiện, cái ác trong các mối quan hệ của con người với con người" [34, tr.170, 171]
Bàn về đạo đức không thể không nói đến các quan niệm đạo đức của Hồ Chủ Tịch Người quan niệm đạo đức là Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm Đó là đạo đức cách mạng, đạo đức mới, đạo đức vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của lòng người Theo Người, đức là sự thống nhất tư tưởng và phong cách sống
Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau về đạo đức, nhưng có thể khái quát
chung về đạo đức như sau: "Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội"
Như vậy, về bản chất đạo đức là những nguyên tắc chuẩn mực trong quan
hệ xã hội được hình thành và phát triển trong cuộc sống, được xã hội thừa nhận và
tự giác thực hiện
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh những quan hệ XH hiện thực được hình thành trên cơ sở kinh tế Vì vậy mỗi hình thái kinh tế, xã hội hay
Trang 26mỗi giai đoạn lịch sử đều định hình những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức tương ứng
Đạo đức biểu hiện ở hành vi, thói quen, tập quán sống nên nó thường xuyên biến đổi theo tiến trình phát triển của nhân loại trên 2 phương diện lịch sử và đồng đại Nghĩa là có những giá trị đạo đức của ngày hôm qua song hôm nay có thể bị coi là phản giá trị hay phi đạo đức Hoặc ở dân tộc này, giai tầng này được coi là giá trị đạo đức chính thống quan trọng, song ở dân tộc khác, giai tầng khác lại quan niệm ngược lại Do đó, đạo đức có tính giai cấp, tính dân tộc và tính thời đại
1.2.5 Giáo dục đạo đức
1.2.5.1 Khái niệm giáo dục đạo đức
"Giáo dục đạo đức là quá trình tác động tới người học để hình thành cho
họ ý thức, tình cảm và niềm tin hành vi, đích cuối cùng quan trọng nhất là tạo lập được những thói quen hành vi đạo đức" [34,tr.172]
Giáo dục đạo đức về bản chất là quá trình biến hệ thống các chuẩn mực đạo đức, từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá nhân, thành những đòi hỏi bên trong của cá nhân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được GD
GDĐĐ có mối quan hệ chặt chẽ với GD chính trị tư tưởng vì GD chính trị
tư tưởng có tác dụng xây dựng cơ sở thế giới quan Mác-Lênin và định hướng chính trị xã hội theo quan điểm và đường lối của Đảng Cộng sản, cho ý thức và hành động đạo đức
GDĐĐ còn gắn bó chặt chẽ với việc GD pháp luật Giáo dục pháp luật có nhiệm vụ giới thiệu cho người học các chuẩn mực về Luật pháp của Nhà nước, các quyền lợi và nghĩa vụ của người công dân Việt Nam, do đó có tác dụng củng
cố phương thức luận cứ các chuẩn mực đạo đức và thúc đẩy việc thực hiện các yêu cầu đạo đức
1.2.5.2 Mục tiêu của giáo dục đạo đức
Giúp cho mỗi cá nhân nhận thức đúng các giá trị đạo đức, biết hành động theo lẽ phải, công bằng và nhân đạo, biết sống vì mọi người, vì gia đình, vì sự tiến
bộ xã hội và phồn vinh của đất nước Trong đó mục tiêu quan trọng nhất của GDĐĐ là tạo lập được những thói quen hành vi đạo đức
Trang 271.2.5.3 Nhiệm vụ của giáo dục đạo đức
Giáo dục đạo đức trong nhà trường là một bộ phận cực kỳ quan trọng của quá trình sư phạm Để giáo dục những phẩm chất đạo đức, cần giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề nhằm giúp người được GD có ý thức về phẩm chất đó, có thái độ đúng đắn tích cực và có thói quen, hành vi tương ứng GDĐĐ có nhiệm vụ:
Giáo dục ý thức đạo đức: Giáo dục ý thức đạo đức là cung cấp cho người
được giáo dục những tri thức cơ bản về phẩm chất đạo đức và các chuẩn mực đạo đức trên cơ sở đó giúp họ hình thành niềm tin đạo đức
Giáo dục tình cảm niềm tin đạo đức: Giáo dục tình cảm đạo đức là khơi dậy
ở người được giáo dục những rung động, xúc cảm đối với hiện thực xung quanh, biết yêu, ghét rõ ràng, có thái độ đúng đắn đối với các hiện tượng phức tạp trong đời sống xã hội và tập thể
Giáo dục hành vi thói quen đạo đức: Giáo dục hành vi thói quen đạo đức là
một quá trình tổ chức luyện tập, rèn luyện đạo đức trong học tập, trong sinh hoạt
và trong cuộc sống nhằm tạo được hành vi đạo đức đúng đắn, trở thành phẩm chất của nhân cách và từ đó có thói quen đạo đức bền vững
1.2.6 Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong trường THPT
1.2.6.1 Tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh:
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh được thành lập ngày 26 tháng 3 năm 1931, là một tổ chức chính trị - xã hội của Thanh niên Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, phấn đấu và rèn luyện Đoàn bao gồm những thanh niên tiên tiến, phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Được xây dựng, rèn luyện và trưởng thành qua các thời kỳ đấu tranh cách mạng, Đoàn đã tập hợp đông đảo thanh niên phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, cống hiến xuất sắc cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Bước vào thời kỳ mới, Đoàn tiếp tục phát huy những truyền thống quý báu của dân tộc và bản chất tốt đẹp của mình, kế tục trung thành, xuất sắc sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; thường xuyên bổ sung lực lượng trẻ cho Đảng; tổ chức động viên đoàn
Trang 28viên, thanh niên cả nước đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng Cộng sản Việt Nam, là lực lượng xung kích cách mạng, là trường học xã hội chủ nghĩa của thanh niên, đại diện chăm lo và bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của tuổi trẻ; phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh; là lực lượng chính trị trong phong trào thanh niên và trong các tổ chức thanh niên Việt Nam” [15, tr.9, 10]
Tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh có các nhiệm vụ:
- Đoàn kết, tập hợp rộng rãi các tầng lớp thanh niên
- Tuyên truyền, giáo dục đoàn viên, thanh niên
- Tổ chức các hoạt động, các phong trào hành động cách mạng
- Tham gia xây dựng Đảng, bảo vệ Đảng, xây dựng, bảo vệ chính quyền nhân dân và các đoàn thể nhân dân là trách nhiệm và quyền lợi của ĐV, TN và tổ chức Đoàn; là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên của các cấp bộ Đoàn
- Phụ trách Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh
Từ ngày 26/3/1931 đến nay, để phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của từng thời
kỳ cách mạng, Đoàn đã đổi tên nhiều lần:
Từ 1931 - 1936: Đoàn TNCS Việt Nam, Đoàn TNCS Đông Dương
Từ 1936 - 1939: Đoàn Thanh niên Dân chủ Đông Dương
Từ 1939 - 1941: Đoàn Thanh niên phản đế Đông Dương
Từ 1941 - 1955: Đoàn Thanh niên cứu quốc Việt Nam
Từ 1955 - 1970: Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam
Từ 1970 - 1976: Đoàn Thanh niên lao động Hồ Chí Minh
Từ 12/1976 đến nay: Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
1.2.6.2 Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong trường THPT:
Về vị trí, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là thành viên trong hệ thống tổ chức của nhà trường, góp phần cùng nhà trường thực hiện tốt mục tiêu GD Đoàn trường THPT hoạt động dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Chi bộ Đảng nhà trường và Quận, Huyện Đoàn nơi trường trú đóng Tổ chức Đoàn là nơi trực tiếp giáo dục, rèn luyện thực hiện quyền làm chủ và bảo vệ quyền lợi chính đáng của ĐV, HS
Trang 29Tại khoản 3 Điều 97 của Luật Giáo dục đã qui định “Đoàn TNCS Hồ Chí Minh có trách nhiệm phối hợp với nhà trường giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng; vận động đoàn viên, thanh niên gương mẫu trong học tập, rèn luyện và tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục”
Tại khoản 2 Điều 22 Điều lệ Trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học (Ban hành kèm theo Thông tư số: 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)
cũng khẳng định “Công đoàn, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh và các tổ chức xã hội khác trong nhà trường hoạt động theo quy định của pháp luật nhằm giúp nhà trường thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục”
Như vậy, những quy định về tổ chức và hoạt động của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cũng khẳng định rõ chức năng và nhiệm vụ của đoàn là: Tổ chức, vận động, thu hút ĐV, HS tích cực tham gia các hoạt động nhằm góp phần giữ vững và nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện của nhà trường phổ thông thông qua phong trào thi đua “dạy tốt và học tốt”, xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực, hoạt động thực tiễn xã hội Đoàn trong trường THPT có nhiệm vụ GD chính trị tư tưởng, đạo đức, nếp sống cho HS; tổ chức tốt các hoạt động vui chơi giải trí, các hoạt động xã hội góp phần xây dựng nhân cách, đạo đức cách mạng cho ĐV, HS Bên cạnh đó, Đoàn trong trường THPT cần thường xuyên làm tốt công tác xây dựng Đoàn, có trách nhiệm GD, giúp đỡ TN trở thành ĐV Thường xuyên xin ý kiến của Chi bộ về các mặt công tác của mình Luôn tranh thủ sự giúp đỡ của BGH, Chi ủy và Công đoàn nhà trường, Hội đồng sư phạm, Hội phụ huynh HS đối với hoạt động của Đoàn
1.2.7 Phối hợp, quản lý phối hợp
Theo từ điển Việt Nam: “Phối hợp” là bố trí cùng nhau làm theo một kế hoạch chung để đạt một mục đích chung
Theo tác giả Mary Parker Follett: “Quản lý là một quá trình động, liên tục,
kế tiếp nhau chứ không tĩnh tại Bởi một vấn đề đã được giải quyết, thì trong quá trình giải quyết nó, người QL sẽ phải đương đầu với những vấn đề mới nảy sinh”
Trang 30Bà nhấn mạnh “Lôi cuốn người thuộc cấp tham gia giải quyết vấn đề; và tính động của sự QL thay vì những nguyên tắc tĩnh”
Bằng quan sát trực tiếp hoạt động của người QL, Bà đi đến kết luận rằng sự phối hợp (coordination) là điều kiện sống còn của QL hiệu quả Bà đề xuất 4 nguyên tắc phối hợp mà người QL cần áp dụng, bao gồm:
(1) Sự phối hợp sẽ được thực hiện hữu hiệu nhất khi những người chịu trách nhiệm ra quyết định có sự tiếp xúc trực tiếp
(2) Sự phối hợp giữ vai trò rất quan trọng suốt giai đoạn đầu của hoạch định và thực hiện các dự án
(3) Sự phối hợp cần nhằm đến tất cả các yếu tố trong mỗi tình huống cụ thể (4) Sự phối hợp phải được tiến hành liên tục
Như vậy sự phối hợp theo M Follett là một quá trình thực hiện liên tục các hoạt động cần thiết như tiếp xúc trực tiếp giữa chủ thể quản lý với các đối tượng quản lý, sự phối hợp được thực hiện trong giai đoạn đầu của chức năng kế hoạch, phối hợp phải thực hiện toàn diện tới các yếu tố trong hoạt động và phối hợp liên tục tránh đứt đoạn theo kiểu “đánh trống, bỏ dùi”
Trong nhà trường, hoạt động QL bao gồm nhiều nội dung, trong đó QL hoạt động phối hợp các LLGD cho HS là một trong những nội dung quan trọng
Mục tiêu của QL phối hợp là làm cho quá trình giáo dục vận hành đồng bộ, hiệu quả, tạo ra bầu không khí hăng hái và thuận lợi để nâng cao chất lượng GD
HS trong nhà trường với gia đình và ở khắp mọi nơi ngoài xã hội
Quản lý phối hợp giữa Đoàn với nhà trường là sự kết hợp, tác động qua lại
và cộng tác một cách biện chứng Một mặt nhà trường đóng vai trò chủ đạo trong việc triển khai các chức năng quản lý (kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra) đối với các hoạt động GD HS; mặt khác Đoàn trường thực hiện các hoạt động giáo dục ĐVTN thông qua các hoạt động đặc thù nhằm giúp nhà trường thực hiện các mục tiêu, nguyên lý GD mà nhà trường đặt ra trong năm học một cách toàn diện
và hiệu quả
Như vậy, quản lý phối hợp là một quá trình thực hiện sự phối hợp (theo nghĩa có tiếp xúc trực tiếp để làm đúng vai trò của từng lực lượng một cách toàn
Trang 31diện và liên tục) trên nền tảng thực hiện các chức năng quản lý kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra nhằm thực hiện một cách có hiệu quả các hoạt động và đạt tới mục tiêu của tổ chức một cách tốt nhất
1.3 Một số vấn đề liên quan về quản lý phối hợp giữa Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với nhà trường trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh THPT
1.3.1 Mục tiêu, nội dung giáo dục đạo đức
Hoạt động GDĐĐ trong xã hội ta hiện nay nói chung và trong nhà trường nói riêng là hướng tới việc thực hiện phát triển toàn diện nhân cách cho người học
Mục tiêu của hoạt động GDĐĐ là làm cho quá trình GDĐĐ vận hành đồng
bộ, hiệu quả để nâng cao chất lượng GDĐĐ Mục tiêu hoạt động GDĐĐ bao gồm: Thông báo kế hoạch, chương trình hành động đến các thành viên trong trường, xác định cơ cấu bộ máy, bố trí các bộ phận và các cá nhân cho đúng người, đúng việc, quy định chức năng, quyền hạn trách nhiệm cho từng người, từng bộ phận, tiếp nhận và phân phối các nguồn lực theo cấu trúc bộ máy, xác lập
cơ chế phối hợp giữa các bộ phận và các thành viên
Chỉ huy điều hành: Là việc xác lập quyền chỉ huy và sự can thiệp của người
lãnh đạo trong toàn bộ quá trình QL, huy động mọi lực lượng vào việc thực hiện
kế hoạch và điều hành nhằm đảm bảo cho mọi hoạt động diễn ra trong kỷ cương, trật tự
Nội dung của việc chỉ đạo: Chỉ huy, ra lệnh, động viên, khuyến khích thường xuyên, kịp thời theo dõi và giám sát, điều chỉnh, sửa chữa, bù đắp, chỉnh lý
Kiểm tra: Chức năng này diễn ra ở mọi giai đoạn của quá trình quản lý
nhưng thực hiện tập trung cao nhất ở giai đoạn cuối cùng của quá trình quản lý Nội dung của việc kiểm tra bao gồm: Đánh giá tiến độ, tốc độ, nhịp độ của quá trình QL so với kế hoạch, xác định chính xác mức độ đạt được so với các mục tiêu đã đặt ra, phát hiện những lệch lạc, sai sót cũng như những nguyên nhân của chúng, phát hiện những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn cần tiếp tục giải quyết, rút ra những bài học kinh nghiệm cho việc quản lý tiếp theo
Nội dung hoạt động giáo dục đạo đức:
Trang 32Chỉ đạo công tác xây dựng kế hoạch GDĐĐ, đảm bảo cho kế hoạch phải vừa
bao quát vừa cụ thể phù hợp với từng đối tượng khác nhau, kế hoạch phải khả thi
Triển khai chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch theo đúng nội dung yêu cầu và
tiến độ, thường xuyên kiểm tra uốn nắn những lệch lạc, bổ sung và điều chỉnh cho phù hợp với tình hình cụ thể
Tổng kết, đánh giá, khen thưởng, trách phạt kịp thời nhằm động viên các lực
lượng tham gia QL và tổ chức GDĐĐ
Nội dung quản lý GDĐĐ cụ thể được lựa chọn tuỳ theo mục tiêu đề ra và được thực hiện theo kế hoạch đã định
1.3.2 Các hoạt động giáo dục đạo đức
Hoạt động GDĐĐ là sự kết hợp hài hoà chặt chẽ các hình thức, phương pháp, biện pháp tổ chức quá trình GDĐĐ phù hợp với đặc trưng của nhà trường nhằm thực hiện có hiệu quả nhất các nhiệm vụ GD để đạt được mục tiêu GDĐĐ Đối với nhà trường THPT có những hoạt động GDĐĐ cơ bản sau:
+ Giáo dục đạo đức thông qua dạy học
+ Giáo dục đạo đức thông qua tổ chức các hoạt động đa dạng và phong phú + Giáo dục đạo đức trong tập thể và bằng tập thể
+ Tự rèn luyện và tu dưỡng đạo đức
* GDĐĐ thông qua tổ chức các hoạt động đa dạng và phong phú:
Con người lớn lên và trưởng thành cùng với hoạt động, vì thế đưa HS vào các hoạt động đa dạng và phong phú là một con đường GDĐĐ có hiệu quả Con đường GD này được thực hiện thông qua các hoạt động như lao động hướng nghiệp, hoạt động nghệ thuật, hoạt động thể thao, các hoạt động XH như: bảo vệ môi trường, đền ơn đáp nghĩa…qua những hoạt động này giúp HS hình thành ý thức tự giác, phát triển được tiềm năng trí tuệ, sáng tạo trong lao động, biết trân trọng của cải vật chất do lao động mà có được, hình thành và phát triển các đức tính tốt đẹp như biết bảo vệ môi trường, tích cực rèn luyện thân thể, giao tiếp có văn hoá, biết cảm nhận cái đẹp, biết tạo ra những điều tốt đẹp cho bản thân và xã hội GD cho HS ý thức và năng lực tham gia các hoạt động XH, qua các loại hình hoạt động và giao lưu, từ đó nhận thức được ý nghĩa, giá trị cuộc sống Qua các
Trang 33hoạt động của XH một cách tích cực, giúp cho các em có khả năng “miễn dịch” với những cái gọi là phản giá trị đi ngược lại những chuẩn mực đạo đức do XH quy định
* Giáo dục đạo đức trong tập thể và bằng tập thể:
Đây là con đường rất hiệu quả để GDĐĐ học sinh vì nhân cách con người chỉ được hình thành và phát triển khi họ được tham gia vào các hoạt động xã hội, vào các mối quan hệ giao lưu và hợp tác với người khác Tập thể là nơi HS học tập và giao lưu với bạn bè; với nhà trường, đây vừa là môi trường vừa là phương tiện để GDĐĐ cho HS Muốn vậy, nhà trường phải xây dựng được các tập thể vững mạnh, mỗi lớp học phải có tổ chức, kỷ luật nghiêm, có truyền thống tốt đẹp, biến những yêu cầu của nhà trường, giáo viên thành yêu cầu của tập thể HS đồng thời tác động đến từng cá nhân để tạo được sự cộng hưởng tích cực, dư luận lành mạnh thúc đẩy sự phát triển nhân cách cho HS
* Tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức:
Tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống của mỗi cá nhân Nó chính là việc tự nhận thức về bản thân, biết được ưu điểm, khuyết điểm của mình, biết mình cần cái gì và mình sẽ đi theo hướng nào…Vì vậy
GV cần giúp HS tự xây dựng các kế hoạch rèn luyện và tu dưỡng đạo đức cho mình một cách phù hợp Định hướng uốn nắn các lệch lạc trong tư tưởng của HS, biến các yêu cầu GD thành yêu cầu tự GD cho HS Động viên khích lệ kịp thời các biểu hiện tích cực để phát huy các đức tính tốt đẹp của bản thân HS
* Giáo dục đạo đức thông qua dạy học:
Đây là con đường giáo dục cơ bản và hiệu quả nhất trong nhà trường phổ thông bởi vì:
+ Quá trình dạy học được diễn ra trong một môi trường đặc biệt và thuận lợi
đó là nhà trường Nơi có đầy đủ các phương tiện học tập, môi trường sư phạm thích hợp để HS cùng nhau học tập, rèn luyện “Nét chữ - Nết người”
+ Trong nhà trường HS được trang bị các kiến thức phổ thông tinh tuý của loài người, được sắp xếp một cách khoa học, có hệ thống, mang tính kế thừa và phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh phổ thông Đặc biệt việc
Trang 34truyền thụ kiến thức cho HS được tổ chức thực hiện, xử lý thông qua lăng kính của những nhà sư phạm được đào tạo chính quy, cơ bản về chuyên môn, nghiệp
vụ, không chỉ dạy chữ mà còn dạy các em làm “Người”
Như vậy, có thể nhận thấy các con đường GDĐĐ không phải là riêng rẽ, tách rời mà là một hệ thống gắn bó chặt chẽ, hữu cơ với nhau, chúng gắn bó, tác động lẫn nhau, hỗ trợ bổ sung cho nhau để cùng đạt được mục tiêu GDĐĐ đã đề
ra Vì vậy nhà GD phải biết phối hợp các con đường GDĐĐ với nhau một cách hiệu quả nhất, đây chính là nghệ thuật trong GD
1.3.3 Lực lượng giáo dục đạo đức
1.3.3.1 Nhà trường
- Để công tác GDĐĐ cho học sinh THPT được thực hiện tốt cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ phận trong nhà trường như sau:
+ Giáo dục thông qua môn giáo dục công dân Về phía nhà trường, bộ môn
giáo dục công dân cần được tổ chức tốt với tư cách là một môn học chính thức của chương trình đào tạo, có giáo viên bộ môn, có thời khóa biểu và có kiểm tra đánh giá theo quy định của Bộ GD & ĐT Về phía Đoàn trường cần vận động đoàn viên
là lực lượng nòng cốt trong học tập môn này, đồng thời là những tấm gương về đạo đức để học sinh noi theo
+ Giáo dục thông qua giáo viên chủ nhiệm, tập thể giáo viên dạy lớp Nhà
trường thực hiện phân công giáo viên chủ nhiệm phù hợp để hướng dẫn học sinh, chú ý đến công tác GDĐĐ cho HS; tập thể GV dạy lớp ngoài công tác giảng dạy chuyên môn phải chú ý rèn luyện nhân cách cho HS; GVCN đầu tư hơn công tác GDĐĐ cho HS thông qua các hoạt động bình thường mỗi ngày
+ Giáo dục thông qua hoạt động ngoại khóa, sinh hoạt dưới cờ Nhà trường
tạo điều kiện cho Đoàn trường mạnh dạn tổ chức các hoạt động sinh hoạt dưới cờ như tuyên truyền các khẩu hiệu, bảng tin, hệ thống phát thanh học đường
+ Giáo dục thông qua tổ chức Đoàn TNCS trong nhà trường Nhà trường
tạo điều kiện về chủ trương, cơ chế, thời gian, cơ sở vật chất để Đoàn trường tổ chức các hoạt động giáo dục
Trang 351.3.3.2 Gia đình
Gia đình là hạt nhân của XH, là nơi đặt nền móng đầu tiên cho sự hình thành nhân cách của mỗi cá nhân Trách nhiệm của cha mẹ không chỉ là sinh con, nuôi con mà còn phải GD con trưởng thành, có nhân cách, trí tuệ, có ích cho xã hội Hơn thế nữa việc chăm sóc, nuôi dạy con cái nên người còn là nhu cầu, niềm hạnh phúc của các bậc cha mẹ Trong gia đình tình thương yêu sâu sắc của cha mẹ tạo nên một sức mạnh cảm hoá lớn mà nhà trường, xã hội không thể có được Nhân cách không thể hình thành và phát triển một cách đầy đủ và bền vững nếu không có một môi trường GD gia đình thuận lợi Chính vì lẽ đó GD gia đình chiếm một vị trí quan trọng mà các hình thức GD khác không thể thay thế được
Giáo dục trong gia đình là sự GD nhiều chiều, đa dạng và liên tục hằng ngày, hằng giờ Nó vừa có ảnh hưởng của cá nhân cha mẹ đến con cái (ông bà đến cháu) vừa có ảnh hưởng của cả tập thể gia đình lên từng cá nhân thông qua lối sống, nếp sống ở mỗi gia đình; việc GD trong gia đình không chỉ ở lời nói mà còn bằng cử chỉ, hành động, thái độ, tình cảm, làm gương…của ông bà, cha mẹ đối với con cháu
Như vậy, GD gia đình có ý nghĩa rất to lớn đối với việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ Nền tảng đạo đức gia đình tạo cho trẻ có được những phẩm chất quý báu như tính trung thực, sống có trách nhiệm với bản thân và gia đình, biết phân biệt điều tốt, cái xấu, biết yêu thương nhường nhịn, biết đùm bọc lẫn nhau… Những phẩm chất đó là tiền đề vững chắc giúp trẻ trưởng thành, biết điều chỉnh hành vi của mình phù hợp với chuẩn mực xã hội
1.3.3.3 Xã hội
Môi trường sống, điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội có tác động không nhỏ đến sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ Tác động của môi trường sống (nông thôn, miền núi, thành phố), mặt trái của cơ chế thị trường như lối sống thực dụng vì lợi ích vật chất, lối sống ích kỷ, vô cảm với mọi người… dẫn đến những biểu hiện lệch lạc về chuẩn mực, giá trị đạo đức cho các em
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, các em có điều kiện tiếp xúc với nhiều nguồn thông tin, khoa học kỹ thuật, văn hoá xã hội nên có những
Trang 36hiểu biết rất phong phú về mọi mặt của đời sống xã hội Bên cạnh những hiểu biết
có lợi thì còn vô vàn những thông tin có tác động xấu đến nhân cách của các em Mặt khác những biểu hiện tiêu cực trong xã hội, trong cộng đồng dân cư mà các
em tiếp xúc là những tác động tiêu cực làm méo mó những điều tốt đẹp mà các em được cha mẹ và nhà trường giáo dục, vì vậy đã tạo nên những khó khăn không nhỏ cho quá trình GDĐĐ học sinh Cơ sở vật chất, phương tiện, địa điểm phục vụ các hoạt động vui chơi, giải trí lành mạnh cho thanh thiếu niên còn nhiều hạn chế,
có lúc, có nơi còn thiếu hụt trầm trọng cũng là một nguyên nhân ảnh hưởng không nhỏ đến GDĐĐ cho các em Như vậy, các cấp chính quyền, đoàn thể, các lực lượng GD trong xã hội cần nắm vững đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, cũng như những nhu cầu chính đáng của các em để tạo điều kiện thuận lợi về môi trường, cơ
sở vật chất, điều kiện kinh tế để công tác GDĐĐ cho các em có hiệu quả cao nhất theo các chuẩn mực đạo đức của xã hội
Công tác quản lý GDĐĐ cho HS THPT cần có sự phối hợp giữa các lực lượng như gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó sự phối hợp giữa nhà trường với tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là rất quan trọng, đặc biệt là tổ chức Đoàn trường
Công tác phối hợp này được quy định trong các Nghị quyết liên tịch giữa
Bộ GD & ĐT với Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Nghị quyết liên tịch giữa Sở GD & ĐT và Thành Đoàn Hải Phòng nằm trong chương trình công tác của Sở GD & ĐT quy định cho các trường THPT thực hiện và phòng chủ quản là phòng công tác học sinh, sinh viên
1.3.4 Vai trò của học sinh trong giáo dục đạo đức
Trong công tác GDĐĐ, cùng với sự vào cuộc mạnh mẽ của các lực lượng làm công tác GD thì một yếu tố vô cùng quan trọng và có vai trò quyết định đó là
ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của mỗi học sinh trong quá trình GD Nó chính là việc tự nhận thức về bản thân, biết được ưu điểm, khuyết điểm của mình, biết mình cần cái gì và mình sẽ đi theo hướng nào Vì vậy trong quá trình thực hiện công tác GD thì nhà QL cần đặc biệt chú ý tới việc giúp HS tự xây dựng các
kế hoạch rèn luyện và tu dưỡng đạo đức cho mình một cách phù hợp Định hướng
Trang 37uốn nắn các lệch lạc trong tư tưởng của HS, biến các yêu cầu GD thành yêu cầu tự
GD của HS Động viên khích lệ kịp thời các biểu hiện tích cực để phát huy các đức tính tốt đẹp của bản thân học sinh Giáo dục học cũng đã khẳng định, học sinh
có vai trò tự quyết định, quyết định trực tiếp chất lượng GD của chính mình
1.3.5 Vai trò của Đoàn trong giáo dục đạo đức cho học sinh
Đoàn TNCS HCM là một thành viên trong hội đồng GD của nhà trường, đoàn thanh niên có nhiều thế mạnh trong việc phối hợp cùng các đoàn thể trong nhà trường để GD tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, pháp luật cũng như kỹ năng, thái độ nghề nghiệp cho HS
Trong xu thế “mở” của GD hiện đại, những kiến thức mang tính hàn lâm qua bài giảng của các thầy cô giáo là yếu tố “cần” song chưa “đủ” trong công tác
GD toàn diện Với tính chất đặc thù trong hoạt động của mình, tổ chức đoàn trong nhà trường có vai trò rất lớn trong các hoạt động GD chính trị, truyền thống, đạo đức, lối sống; ý thức chấp hành pháp luật, kỹ năng sống và ý thức công dân trong
HS Xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm của công tác Đoàn và phong trào thanh niên trường học, trên cơ sở chương trình công tác của Đoàn Huyện và Thành phố, Đoàn trường phải chủ động xây dựng kế hoạch hoạt động Trước hết là tăng cường phối hợp và vận dụng nhiều hình thức linh hoạt để tuyên truyền các chỉ thị nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước đến với HS Hoạt động của tổ chức đoàn phải bám vào nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường và các cuộc vận động của ngành để nâng cao chất lượng GD toàn diện, trong đó chú trọng việc
GD nâng cao nhận thức chính trị, rèn luyện đạo đức, lối sống và bồi dưỡng kỹ năng sống cho TN Thông qua các hoạt động, diễn biến tư tưởng của ĐVTN được bộc lộ, trên cơ sở đó tổ chức đoàn nắm bắt kịp thời, kiến nghị với BGH, chi đảng
bộ cơ sở có kế hoạch xử lý kịp thời, không để những luồng dư luận trái chiều của các lực lượng thù địch thâm nhập học đường
Trên thực tế, hoạt động của Đoàn trường phụ thuộc rất nhiều vào sự năng động và trình độ tổ chức của Bí thư Đoàn trường - người “thủ lĩnh” của đoàn trong trường học, cộng với sự lãnh đạo sát sao của Chi bộ đảng, sự ủng hộ về mọi mặt của BGH cũng như các đoàn thể trong nhà trường Sự “đồng bộ” đó sẽ giúp sức
Trang 38rất nhiều cho hoạt động của đoàn với tư cách là nơi đoàn kết tập hợp ĐVTN HS
và là một LLGD quan trọng của nhà trường
1.4 Quản lý phối hợp giữa Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với nhà trường trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh THPT
1.4.1 Quản lý sự phối hợp trong việc xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh THPT
Trong chu kỳ QL, kế hoạch hoá là khâu đầu tiên của một chu trình Mọi hoạt động QL đều được bắt đầu từ khâu xây dựng kế hoạch Kế hoạch được thể hiện ở tất cả các lĩnh vực hoạt động của XH Trong GD, kế hoạch được thể hiện như một bản thiết kế các hoạt động cho một cơ sở hay toàn bộ hệ thống GD, trên
cơ sở đó, chủ thể QL tổ chức, điều hành và điều chỉnh các hoạt động nhằm đạt tới mục tiêu dự kiến
Để bản kế hoạch GDĐĐ đảm bảo tính khả thi, trong quá trình quản lý sự phối hợp xây dựng kế hoạch, nhà quản lý cần chú ý:
+ Phân tích thực trạng GDĐĐ của ngành, tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, của nhà trường, địa phương trong thời gian vừa qua Đặc biệt nhấn mạnh việc phân tích thực trạng quản lý phối hợp giữa Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với nhà trường trong GDĐĐ cho HS, qua đó đánh giá được mặt mạnh, mặt yếu, những việc làm được, chưa làm được của hoạt động GDĐĐ, chỉ ra được nguyên nhân của thành công và hạn chế trong hoạt động GDĐĐ
+ Mọi kế hoạch cục bộ cần được lồng ghép trong kế hoạch chung Việc lồng ghép thể hiện ở sự thích ứng với mục đích và nhiệm vụ của chương trình, thể hiện ở mối quan hệ ngang và dọc của một tổ chức và trong sự tác động tương hỗ lẫn nhau giữa các kế hoạch cục bộ
+ Xác định các điều kiện phục vụ cho hoạt động giáo dục như nhân lực, cơ
sở vật chất, tài chính, quỹ thời gian
+ Xây dựng chính sách, cơ chế hoạt động, phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong trường và ngoài trường
1.4.2 Phối hợp xây dựng lực lượng trong hoạt động GDĐĐ cho học sinh THPT
Trang 39Hiện nay, trước yêu cầu đổi mới sự nghiệp GD phục vụ cho công cuộc CNH, HĐH đất nước, để đào tạo cho xã hội các thế hệ trẻ hoàn thiện về đạo đức, trí tuệ, tinh thần và thể chất chuẩn bị cho các em trở thành người chủ nhân của đất nước, nhà trường với Đoàn trường và xã hội phải được phối hợp chặt chẽ, thường xuyên, thống nhất Để sự phối hợp có hiệu quả, cần thiết có sự QL để điều chỉnh các mối quan hệ phù hợp nhằm phát huy tối đa thế mạnh của mỗi LLGD để đạt kết quả cao nhất quá trình phối hợp GD, trong đó nhà trường phải giữ vai trò chủ đạo
Xây dựng mối liên hệ giữa các LLGD nhằm tạo ra môi trường sư phạm thống nhất, lành mạnh, hạn chế được những tác động tiêu cực trực tiếp tới quá trình hình thành và phát triển nhân cách cho HS
Việc phối hợp xây dựng lực lượng muốn đạt hiệu quả thì nhà QL cần thực hiện tốt một số nội dung sau:
+ Quán triệt mục tiêu, yêu cầu, của kế hoạch GDĐĐ đến tất cả các lực lượng tham gia làm công tác GDĐĐ;
+ Tổ chức thảo luận, xây dựng biện pháp thực hiện kế hoạch, sắp xếp bố trí nhân sự, phân công trách nhiệm quản lý, thực hiện cho từng lực lượng cụ thể Huy động các điều kiện về tài chính, cơ sở vật chất, thời gian, vạch rõ lộ trình cũng như tiến độ thực hiện kế hoạch GDĐĐ cho từng lực lượng tham gia;
+ Giao nhiệm vụ cụ thể cho các bộ phận, từng cá nhân tham gia hoạt động GDĐĐ thực hiện các công việc theo kế hoạch đã đề ra;
+ Đôn đốc, đảm bảo các khâu trong kế hoạch GDĐĐ diễn ra đúng hướng, đúng kế hoạch;
+ Phối hợp tốt các LLGD trong quá trình GD sao cho đạt hiệu quả cao nhất
1.4.3 Đoàn thanh niên chủ động phối hợp các lực lượng chỉ đạo các hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT
Trong Luật GD (2005) tại khoản 3 Điều 97 có nêu: “Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh có trách nhiệm phối hợp với nhà trường giáo dục thanh thiếu niên, nhi đồng; vận động đoàn viên, thanh niên gương mẫu trong học tập, rèn luyện và tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục”
Trang 40Thật vậy, việc GDĐĐ nhân cách cho thế hệ trẻ là một quá trình lâu dài liên tục, diễn ra ở nhiều môi trường khác nhau, liên quan rất nhiều đến các mối quan
hệ xã hội phức tạp Vì thế, việc GD nói chung và GDĐĐ cho HS nói riêng luôn đòi hỏi có sự phối hợp, kết hợp của nhiều lực lượng đoàn thể xã hội và nhất là đòi hỏi sự quan tâm thực sự sâu sắc của mọi người trong xã hội Với vị trí và trách nhiệm của mình, tổ chức Đoàn trong nhà trường hơn bao giờ hết phải chủ động phối kết hợp một cách chặt chẽ, thường xuyên, liên tục, kịp thời với các lực lượng làm công tác GDĐĐ cho HS ở trong nhà trường, gia đình, xã hội
Ý nghĩa sâu sắc của việc phối hợp giáo dục đã được Bác Hồ chỉ ra từ lâu:
“ Giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội
và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn Giáo dục trong nhà trường dù tốt đến mấy, nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn” (Trích bài nói tại Hội nghị cán bộ
Đảng trong ngành giáo dục tháng 6/1957)
Với nhà trường Đoàn trường phối hợp với nhà trường chỉ đạo GVCN cùng
với đội cờ đỏ theo dõi, kiểm tra những việc thực hiện của HS về:
- Giờ giấc học tập, ý thức thái độ học tập trong lớp, kết quả học tập của từng ngày và hằng tuần;
- Ứng xử trong quan hệ bạn bè, thái độ với các thầy cô giáo, ý thức trách nhiệm với tập thể lớp;
- Việc thực hiện nếp sống văn minh, ăn mặc, nói năng, đầu tóc, vệ sinh môi trường, bảo vệ của công;
- Tham gia hoạt động văn hoá văn nghệ, thể dục, thể thao;
- Tham gia sinh hoạt đoàn thể và các phong trào thi đua
Những biểu hiện tốt và những biểu hiện chưa tốt của HS phải được GVCN tập hợp, đánh giá cuối mỗi tuần học Kịp thời tuyên dương hoặc chỉnh đốn, phê bình trong tiết sinh hoạt lớp, sinh hoạt Đoàn Ghi vào sổ theo dõi của GVCN để nhà trường kiểm tra, nắm bắt tình hình đạo đức của HS