1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Mô thực vật

28 1,5K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mô thực vật
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm
Chuyên ngành Sinh học thực vật
Thể loại Bài luận
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mô thực vật

Trang 1

Như vậy, mô đặc trưng về hình thái và cấu tạo do đó có tính di truyền và được dùng trong phân loại

Ðịnh nghĩa về Mô vẫn còn tính tương đối vì trong thực tế cấu trúc cơ thể thực vật đa dạng và phức tạp, còn nhiều hướng thay đổi thích nghi Một trong những khuynh hướng cơ bản của tiến hóa thực vật là sự phân hóa tế bào của cơ thể và sự phân công chức năng giữa chúng, cho phép tế bào hoạt động hiệu quả hơn, làm tăng tính phụ thuộc của phần này vào phần kia của cơ thể Sự tổn thương của một phần có thể làm chết cả cơ thể Ở thực vật sự chuyên hóa để bù lại những khía cạnh thiếu sót đó Các

tế bào trong cơ thể chuyên hóa ở mức độ khác nhau Có những tế bào chuyên hóa cao mất nhân hay không còn thể nguyên sinh sống, và dẫn đến chuyển hóa thuận nghịch Cũng có những tế bào chuyên hóa ít, còn giữ lại thể nguyên sinh sống, có khả năng biến đổi hình dạng, cấu tạo và có khả năng chuyển hóa thuận nghịch Giữa hai thái cực này là những tế bào với mức độ hoạt động trao đổi chất khác nhau và mức độ chuyên hóa cấu trúc chức năng khác nhau

Không có một tiêu chuẩn nào, như cấu trúc, nguồn gốc hoặc chức năng để có thể thường xuyên áp dụng cho định nghĩa về mô Có thể nói một cách khái quát, khoa học về sự cấu tạo và bố trí tương hổ của các mô gọi là mô học Mô có thể không hòan tòan là tế bào sống

2 Quá trình xuất hiện mô

Qúa trình xuất hiện Mô là quá trình tiến hóa của thực vật ở môi trường nước lên môi trường cạn

- Ở đơn bào và đa bào bậc thấp chưa có sự xuất hiện Mô

Trang 2

- Ở đa bào bậc cao như Tảo nâu cơ thể có 2-3 loại tế bào làm các nhiệm vụ khác nhau như: dẫn truyền sơ khai, sinh sản, dinh dưỡng v.v đây là những “mô nguyên thủy” hay “tiền mô”

- Mô xuất hiện khi thực vật “lên cạn”, có những nhóm tế bào tập trung chuyên hóa để đảm đương các chức năng khác nhau

- Thực vật khi sống ở môi trường nước tương đối ổn định, cơ thể ít biến đổi Khi chuyển sang môi trường cạn kém ổn định, các yếu tố môi trường thay đổi, không thuận lợi, vì vậy cơ thể phân hóa để thích nghi với môi trường bằng cách hình thành những nhóm tế bào đảm đương các chức năng khác nhau

Quá trình tiến hóa của Mô là quá trình chuyên hóa ngày càng cao về mặt tổ chức

Như vậy mức độ tổ chức cao đã có mầm mống, tiền đề ngay trong mức độ tổ chức thấp và đồng thời bao gồm các mức độ tổ chức thấp, tạo nên hệ thống tổ chức các cấp bậc lệ thuộc Ðó là biện chứng trong sự phát triển của vật chất sống

3 Phân loại mô

Trong lịch sử phát triển khoa học về Mô có nhiều khuynh hướng phân loại mô

Phân loại mô dựa vào hình dạng (cấu tạo ngoài) Cách phân loại này

không hợp lý vì có những tế bào tuy cùng hình dạng nhưng lại đảm nhận chức năng khác nhau

Phân loại mô dựa vào chức năng: Cách phân loại này tuy có đi sâu nhưng vẫn không thích hợp vì có những tế bào có hình dạng và thực hiện chức năng sinh lý giống nhau, nhưng không cùng nguồn gốc hình thành

Ví dụ : Mô hấp thu, Mô đồng hóa , Mô tiết

Phân loại mô dựa vào sinh lý, cấu tạo và nguồn gốc: Là cách phân loại thích hợp và hợp lý nhất hiện nay

Căn cứ vào lịch sử phát sinh cá thể có thể phân biệt :

- Mô phân sinh: Gồm những tế bào có khả năng phân chia tạo

thành các tế bào mới

- Mô vĩnh viễn: Gồm những tế bào đã phân hóa có nguồn gốc từ

mô phân sinh

Trong các mô này người ta lại phân biệt:

- Mô đơn giản: Là mô gồm những tế bào cùng loại về cả cấu tạo,

chức năng sinh lí và nguồn gốc

Trang 3

- Mô phức tạp: Gồm nhiều loại tế bào phối hợp nhau thực hiện các

chức năng sinh lí chung Như vậy Mô phức tạp bao gồm nhiều

mô đơn giản có cùng nguồn gốc

II Mô phân sinh

Mô phân sinh là mô tập hợp bởi những tế bào có khả năng phân chia

để hình thành tế bào mới

Ðặc trưng của mô phân sinh là không chỉ tạo ra, bổ sung tế bào mới cho cơ thể thực vật mà còn làm chính chúng hoạt động mãi, như vậy có một số tế bào vẫn duy trì khả năng phân sinh trong suốt đời sống cá thể Hiện tượng tập trung chức năng sinh sản tế bào vào một số phần cơ thể gắn với quá trình tiến hóa hoàn thiện chung của thực vật Ở nhiều loài thực vật sinh trưởng là kết quả của hoạt động phân sinh, còn ngược lại ở động vật sự phân sinh các tế bào mới hầu như dừng lại ở giai đoạn trưởng thành nhất định của cá thể

Hình 1: Mô phân sinh chồi ngọn

Hiện tượng tập trung mô phân sinh vào một số phần của cơ thể cây, gần như gắn liền với quá trình phát sinh chủng loại Ở những thực vật bậc thấp nguyên thủy nhất, tất cả các tế bào có bản chất như nhau, tất cả các tế bào đều tham gia vào quá trình trao đổi chất, trao đổi năng lượng, trao đổi thông tin và sinh sản

Trang 4

Hình 2: Mô phân sinh bên: 1 Tầng sinh trụ 2 Tầng sinh vỏ

Thuật ngữ mô phân sinh, nhấn mạnh hoạt động phân chia của tế bào Sự tổng hợp chất sống mới là phần cơ bản của quá trình tạo các tế bào mới bằng sự phân chia Ngoài mô phân sinh, các mô sống khác, cũng có thể sinh ra các tế bào mới, nhưng mô phân sinh là mô có hoạt động phân chia tế bào không có giới hạn vì nó không ngừng bổ sung tế bào cho cơ thể cây, mà còn làm cho chính chúng tồn tại theo tuổi thọ của loài, nghĩa

là, một số sản phẩm của sự phân chia trong các mô phân sinh không phát triển thành các tế bào trưởng thành và vẫn giữ khả năng phân chia trong suốt đời sống cá thể, chúng thuộc mô phân sinh Sự sinh sản tế bào, bao gồm ba yếu tố: sinh trưởng, di truyền và phát triển Nhưng sự sinh sản tế bào xảy ra không có sự sinh trưởng như giao tử, bào tử, hoặc nếu không có

sự sinh trưởng thì tế bào cũng có sự bổ sung thêm ở dạng chất nguyên sinh, chất cấu tạo vách tế bào tăng trưởng: Trong hoạt động phân sinh, quá trình sinh trưởng, có thể phân chia thành hai giai đọan: sinh trưởng với sự phân chia tế bào và sự tăng trưởng có giới hạn, sinh trưởng không có sự phân chia tế bào, nhưng sự tăng trưởng thể hiện rõ rệt Có sự biến đổi dần dần từ giai đoạn này sang giai đoạn khác

Vì các mô phân sinh nằm ở đầu ngọn chồi, ngọn rễ chính, ngọn rễ bên, nên số lượng của chúng trong một cây rất lớn Hơn nữa còn các mô phân sinh khác như tầng sinh mạch, tầng sinh bần, vòng dày gắn liền với quá trình sinh trưởng thứ cấp về chiều dày của trục Hoạt động phối hợp của tất cả mô phân sinh này tạo ra một cơ thể cây phức tạp Các tầng phát sinh, mô phân sinh thứ cấp, bằng cách tăng thể tích của hệ thống dẫn nhựa

và tạo ra mô bảo vệ, mô cơ, đã góp phần sinh trưởng thứ cấp, duy trì mở rộng theo bề ngang của cơ thể cây

Không phải tất cả mô phân sinh ngọn có mặt trên một cây nào đó đều nhất thiết phải hoạt động Chẳng hạn sự hạn chế của mô phân sinh là phụ thuộc vào mối quan hệ giữa chồi chính và chồi bên Hoạt động cuả

Trang 5

các tầng phát sinh cũng thay đổi về mặt cường độ Cả mô phân sinh ngọn

và các tầng phát sinh đều dao động theo mùa trong hoạt động phân sinh của chúng, hoặc giảm bớt hoàn toàn sự phân chia tế bào trong mùa đông ở các vùng ôn đới

1 Sự tiến hóa của mô phân sinh

- Ở thực vật đơn bào và đa bào bậc thấp chưa có mô phân sinh, ở các loại tảo hình sợi tế bào có sự phân cực phân cắt theo một mặt phẳng

Ở đa bào bậc thấp hình tản các tế bào nằm theo chiều ngang và dọc

có sự phân cắt theo hai mặt phẳng hình thành tản thực vật Từ tản một lớp

Nhóm tế bào khởi sinh phân chia taọ thành nhóm tế bào phân sinh phân hóa còn gọi là mô phân sinh ngọn hay đỉnh sinh trưởng, phân chia

một thời gian nhất định rồi hình thành các mô vĩnh viễn

2 Cấu tạo tế bào phân sinh

Các tế bào phân sinh có đặc điểm: Màng sơ cấp rất mỏng, chất sống chiếm ưu thế so với chất không sống, không bào rất nhỏ, nhân lớn tròn vì không bị sức ép của không bào Tỷ lệ chất nguyên sinh so với chất dự trữ

% Chứa nhiều cơ quan tử, hoạt động tăng, do đó dẫn đến mâu thuẩn

là tế bào nhỏ, khả năng sinh trưởng lớn, mối liên hệ giữa bề mặt và thể tích

bị phá vở và quá trình phân chia tế bào xảy ra

90

Các mô phân sinh có cấu trúc tế bào khác nhau và về cơ bản không khác với các mô sống trưởng thành Trong thời gian phân bào mạnh, các tế bào phân sinh không có thể vùi thứ sinh và các lạp tồn tại ở giai đoạn tiền lạp thể Chúng có mạng lưới nội chất kém phát triển và trong thể tơ có cấu trúc bên trong ít phức tạp hơn Như vậy mô phân sinh ít phân hóa Những

tế bào ở tầng sinh bần có thể có lục lạp, và ở tầng sinh mạch có thể chứa tinh bột và tanin, mô phân sinh phôi ở trạng thái nghỉ thường chứa các chất dự trữ khác nhau Mức độ không bào hóa ở các tế bào phân sinh rất thay đổi Các tế bào mô phân sinh ngọn chứa thể nguyên sinh đậm đặc Nếu có không bào thì thường khó quan sát dưới kính hiển vi quang học hoặc ở trạng thái phân tán trong tế bào chất Ở mô phân sinh ngọn nhiều cây Quyết và Hạt trần, một số tế bào có không bào rõ rệt Tóm lại, kích thước tế bào, mô phân sinh tỷ lệ thuận với không bào Các tế bào mô phân

Trang 6

sinh, có nhân lớn Nhưng tỷ lệ giữa kích thước tế bào và kích thước nhân

là rất thay đổi trong các mô phân sinh Ở các tế bào phân sinh lớn thì có tỷ

lệ nhân so với tế bào nhỏ hơn tế bào phân sinh nhỏ Hình dạng, kích thước của các tế bào phân sinh cúng rất thay đổi Ở mô phân sinh ngọn, tế bào phân sinh thường có kích thước đồng đều Ở tầng sinh mạch thì các tế bào phân sinh có hình thoi Chiều dày vách tế bào phân sinh cũng khác nhau, thông thường chúng có vách sơ cấp mỏng Ở một số vùng của mô phân sinh ngọn, có thể có vách sơ cấp dày, và vùng lỗ sơ cấp rất rõ Các tế bào phân sinh của tầng sinh mạch đôi khi vách dày rõ rệt với các vùng lỗ cấp một lõm sâu Thông thường ở các mô phân sinh không có khỏang gian bào, nhưng chúng có thể sớm phát triển ở mô phân sinh dẫn xuất như ở rễ cây Những đặc điểm sinh hóa rất khác nhau giữa các tế bào, giữa tế bào

mô phân sinh và mô vĩnh viễn Các mô phân sinh có tốc độ hoạt động trao đổi chất cao, thường có phản ứng mạnh với peroxydaza và thường giảm xuống sau khi phân bào kết thúc

3 Phân loại mô phân sinh

Mô phân sinh được mô tả như những mô tạo hình, thường bổ sung những tế bào mới cho cơ thể cây bằng sự phân chia Một phần sản phẩm của sự phân bào vẫn giữ đặc tính phân chia, tức là tế bào khởi sinh và phần còn lại để phát triển thành các mô khác tức là các tế bào phân sinh dẫn suất của các tế bào khởi sinh Trong quá trình phát triển này, các tế bào mô phân sinh dẫn xuất dần dần biến đổi về mặt hóa học, sinh lý, hình thái và mang các đặc tính tương đối chuyên hóa Nếu các tế bào chuyên hóa, còn sống có thể thay thế hình thái, sinh lý do thay đổi các điều kiện bên ngoài hay bên trong dẫn tới sự phản phân hóa, trở lại khả năng phân chia, tạo thành mô phân sinh phản phân hóa và quá trình phân hóa lại, tạo ra các mô vĩnh viễn

Sự phân hóa mô phân sinh, dựa vào các vị trí của chúng trong cơ thể cây như mô phân sinh ngọn nằm ở chồi ngọn, ngọn rễ và mô phân sinh bên là mô phân sinh sắp xếp song song ở phía bên của cơ quan, như tầng phát sinh bần, tầng phát sinh mạch

Một cách phân loại mô phân sinh sơ cấp và thứ cấp tùy thuộc bản chất các tế bào sinh ra các mô phân sinh này Mô phân sinh sơ cấp thuộc dòng dõi trực tiếp của tế bào phôi, luôn gắn liền với sinh trưởng Mô phân sinh thứ cấp, có nguồn gốc từ mô vĩnh viễn sơ cấp, rồi lại tiếp tục hoạt động phân sinh Như vậy sự phân loại mô phân sinh sơ cấp và thứ cấp hiện nay có hai quan điểm : dựa vào nguồn gốc và dựa vào thời gian xuất hiện của mô phân sinh trong một cây nào đó, hoặc trong một cơ quan nào đó

Mô phân sinh ngọn là mô phân sinh sơ cấp, mô phân sinh bên là mô phân sinh thứ cấp

Trang 7

Các mô phân sinh dẫn xuất từ mô khởi sinh, đã phân hóa một phần những vẫn còn giữ khả năng phân chia và các mô phân sinh này được tách riêng tùy theo hệ thống mô đã hình thành từ chúng Những mô này là: lớp sinh bì phân hóa thành hệ thống biểu bì, tầng trước phát sinh sinh ra mô dẫn sơ cấp và mô phân sinh cơ bản hình thành hệ thống mô cơ bản

Mô phân sinh lóng dùng để chỉ một vùng mô sơ cấp đang phát triển mạnh, nằm hơi xa mô phân sinh ngọn, nằm xen vào giữa những vùng mô

đã phân hóa ít nhiều Trên cơ sở vị trí, các mô phân sinh lóng thường nhóm họp với mô phân sinh ngọn và mô phân sinh bên Các vùng sinh trưởng lóng chứa các yếu tố mô đã phân hóa và cuối cùng được chuyển hoàn toàn thành các mô trưởng thành Các mô phân sinh lóng là những mô tìm thấy ở các lóng và bẹ ở cây Một lá mầm, đặc biệt là các cây thảo, cỏ tháp bút Phần non nhất của ngọn chồi có nguồn gốc từ mô phân sinh ngọn chưa phân thành lóng Các phần này phát triển qua sự phân chia và

mở rộng của các tế bào ở mấu Các mấu chồng lên nhau, được tách rời nhau bằng sinh trưởng lóng, nằm xen giữa các mấu Đầu tiên các tế bào phân chia ở khắp các lóng non, nhưng về sau hoạt động phân chia được giới hạn vào tương đối hẹp thường nằm ở gốc lóng Sự kéo dài của lá cũng tương tự như vậy và sự phân chia cũng giới hạn vào vùng thấp nhất của bẹ

lá Sau khi lóng và bẹ lá đã hoàn thành sự kéo dài, các phần gốc của chúng vẫn giữ lại tiềm năng sinh trưởng trong một thời gian dài, mặc dù trong chúng đã có tế bào mô cơ và mô dẫn đã phân hóa hoàn toàn

Tất cả các chồi sinh dưỡng đều được phân đốt tạo thành mấu và lóng rồi kéo dài ra Các mấu mang mầm lá đều được sinh ra liên tiếp sát nhau ở ngọn chồi, rồi bị tách xa nhau bằng sự phát triển lóng

3.1 Căn cứ vào nguồn gốc có thể phân biệt

3.1.1 Mô phân sinh sơ cấp

Có nguồn gốc trực tiếp từ tế bào hợp tử, giúp thực vật tăng trưởng theo chiều cao như: mô phân sinh ngọn ở đầu thân, đầu rễ, mô phân sinh lóng v.v Ở các đỉnh sinh trưởng của thân, các tế bào khởi sinh hoạt động phân chia liên tục tạo thành nhóm tế bào phân sinh phân hoá gồm các lớp sinh bì, tầng trước phát sinh và mô phân sinh cơ bản Sau này lớp sinh bì

sẽ hình thành mô bì, tầng trước phát sinh hoạt động tạo thành mô dẫn và

mô phân sinh cơ bản sẽ tạo nên mô mềm cơ bản

Mô phân sinh ngọn ở đầu rễ hoạt động tạo thành chóp rễ và các phần của rễ Tổng quát nó gồm các lớp sinh bì, lớp sinh vỏ và lớp sinh trụ

Chúng ta sẽ nghiên cứu chi tiết cấu tạo của Mô phân sinh ngọn ở đầu thân và đầu rễ khi học phần các cơ quan sinh dưỡng

3.1.2 Mô phân sinh thứ cấp

Trang 8

Mô phân sinh thứ cấp có nguồn gốc từ những tế bào phản phân hóa, hoặc từ tầng trước phát sinh (như tầng phát sinh trụ) có khả năng phân chia giúp các cơ quan thực vật tăng trưởng về bề ngang như: tầng phát sinh vỏ (tầng phát sinh bần, lục bì), tầng phát sinh trụ (tầng phát sinh libe

gỗ hay tượng tầng.)

3.2 Căn cứ vào vị trí có thể phân biệt

3.2.1 Mô phân sinh ngọn

Mô phân sinh ngọn ở đầu thân hoặc đầu rễ

3.2.2 Mô phân sinh lóng

Mô phân sinh lóng ở các lóng, tăng cường hoạt động phân sinh giúp thân tăng chiều cao nhanh chóng, đó là lọai mô phân sinh hoạt động chậm

và phân hóa từ trên xuống Tùy theo kích thước của lóng đối với mỗi loài nhất định mà mô phân sinh lóng ngừng hoạt động và phân hóa thành tế bào mô vĩnh viễn Sự hoạt động này làm cho nhiều loại hòa thảo sinh trưởng cao rất nhanh, đây là đặc điểm thích nghi sinh học quan trọng 3.2.3 Mô phân sinh bên

Mô phân sinh bên là những mô phân sinh thứ cấp nằm dọc theo trục của thân hoặc của rễ giúp các cơ quan tăng trưởng bề ngang như tầng phát sinh trụ , tầng phát sinh vỏ

Ngoài ra còn có mô phân sinh đặc biệt gọi là thể chai (callus) là một khối tế bào mô mềm có màng sơ cấp dày lên nhanh chóng (hiện tượng tăng sản) để trám vết thương (được ứng dụng để ghép cành)

Cần lưu ý là không phải tất cả các mô phân sinh ngọn trên cây đều cùng hoạt động Ở một số cây sự sinh trưởng của chồi bên bị ức chế chừng nào mà chồi ngọn còn đang phát triển mạnh Hiện nay người ta ứng dụng

để bấm ngọn thân nhằm kích thích các chồi bên phát triển và bấm đầu ngọn rễ để kích thích hình thành nhiều rễ bên

Hoạt động của các mô phân sinh sơ cấp và thứ cấp đều giao động

theo mùa, ví dụ mùa đông giá lạnh thì hoạt động phân sinh bị giảm rõ rệt Tiến hóa về tổ chức ngọn

Số lượng, sự sắp xếp và hoạt động của các tế bào khởi sinh, tế bào

dẫn xuất ở mô phân sinh ngọn đã trải qua những biến đổi sâu sắc

Sau đây là các thuyết về tổ chức ngọn:

+ Thuyết tế bào ngọn: những khám phá về tế bào ngọn ở các ngành Quyết đã dẫn tới quan niệm cho rằng các tế bào ngọn cũng tồn tại ở các thực vật có hạt Người ta giải thích tế bào ngọn như một đơn vị cấu trúc và

Trang 9

hoạt động không đổi của các mô phân sinh ngọn, nó dẫn dắt toàn bộ quá trình sinh trưởng

+ Thuyết phát sinh mô: những phát sinh về sau bác bỏ giả thuyết

về sự có mặt khắp nơi của các tế bào ngọn riêng rẽ và thay vào đó bằng quan điểm nguồn gốc độc lập của các phần khác nhau của cơ thể thực vật Thuyết phát sinh mô do Hanstein (1868,1870) phát triển trên cơ sở các nghiên cứu sâu sắc về ngọn chồi, phôi của cây Hạt kín Theo thuyết này, những phần chính của cây không phải mọc ra từ các tế bào bề mặt mà là từ khối mô phân sinh nằm tương đối sâu, và khối này bao gồm 3 phần, gọi là tầng sinh mô, các phần đó có thể được phân hóa do nguồn gốc của chúng

và do quy trình phát triển Lớp ngoài cùng là tầng sinh bì, tầng thứ hai là tầng sinh vỏ, tạo ra vỏ cây, tầng thứ ba là tầng sinh trụ chiếm toàn bộ khối phía trong của trục Ba tầng này bắt đầu với một hoặc vài tế bào khởi sinh được phân bố trong các lớp chồng lên nhau ở phần xa nhất của các mô phân sinh ngọn Thuyết phát sinh mô, thể hiện rõ ràng ở nhiều rễ, còn ở chồi ngọn không được sử dụng rộng rãi và bị phê phán

+ Thuyết áo - thể của Schmidt (1924) đó là kết quả khảo sát trên các ngọn chồi của cây Hạt kín Theo thuyết này có hai vùng mô nằm trong

mô phân sinh ngọn: vùng áo gồm một hoặc nhiều lớp Ở cây hai lá mầm

có từ một đến năm lớp áo, cây một lá mầm có từ một đến bốn lớp áo Vùng thể gồm một khối tế bào được bao phủ bởi vùng áo Các kiểu phân chia tế bào tương phản ở vùng áo và vùng thể đã dẫn tới việc phân định phân giới rõ rệt giữa hai phần này Các lớp vùng áo có kiểu phân chia giao tầng Các tế bào vùng thể phân chia theo các mặt phẳng khác nhau và

sự phát triển thể tích của toàn bộ khối thể Mỗi lớp của vùng áo và vùng thể đều có những tế bào khởi sinh riêng Số lượng lớp của tế bào khởi sinh bằng số lượng lớp vùng áo cộng thêm một, tức là lớp tế bào khởi sinh của vùng thể Quan niệm áo - thể đã được phát triển cho cây Hạt kín, nó tỏ ra

không thích hợp cho mô phân sinh ngọn cây Hạt trần

III Mô bì (mô che chở)

1 Nguồn gốc và chức năng mô bì

Mô bì bao gồm những tế bào đã chuyên hóa, bao bọc mặt ngoài hay lót mặt trong của cơ thể thực vật Mô bì có chức năng che chở bảo vệ cây,

đồng thời bảo đảm mối liên hệ với môi trường bên ngoài cơ thể

Trong một số trường hợp mô bì còn có chức năng hấp thụ, như ở rễ

Mô bì sơ cấp có nguồn gốc từ lớp nguyên bì (mô phân sinh biểu bì)

Mô bì thứ cấp hình thành từ tầng phát sinh vỏ Tầng phát sinh vỏ có thể

Trang 10

hình thành từ các tế bào mô mềm, cũng có thể do trụ bì, hạ bì hay biểu bì phản phân hóa hình thành

Một đặc điểm cần lưu ý là hệ thống các tế bào mô bì thường thay đổi

về nguồn gốc, thành phần và chức năng sinh lý khác nhau

2 Phân loại mô bì

Căn cứ vào nguồn gốc của mô bì có thể phân biệt:

2.1 Mô bì sơ cấp (biểu bì)

Gồm những tế bào bao quanh các phần non của các cơ quan, là những tế bào sống có vách xenlulô dày không đều tùy vị trí và môi trường tiếp xúc, ví dụ màng ngoài biểu bì dày hơn màng trong, tế bào biểu bì có đặc điểm chứa chất sống trong suốt và ánh sáng có thể xuyên qua vào đến các tế bào của mô đồng hóa

Ở một số cây ở nước hay cây ưa bóng tế bào biểu bì có chứa lục lạp

để tăng cường khả năng quang hợp Tế bào biểu bì có khả năng phân chia thẳng góc bề mặt do đó thường chỉ gồm một lớp tế bào Ở một số cây thuộc chi Ficus biểu bì có thể có nhiều lớp

Các tế bào biểu bì xếp sát nhau không chừa khoảng hở gian bào, các vách bên thường khớp với nhau một cách vững chắc, trên vách ngoài của biểu bì thường được phủ các chất như cutin, sáp, silic Lớp cuticun hạn chế sự thoát hơi nước, không dẫn nhiệt, điện và bảo vệ chống sự phá hoại của vi khuẩn

Ở những thực vật thủy sinh biểu bì không có lớp cuticun, những cây chịu hạn thường có lớp cuticun dày ngăn cản sự thoát hơi nước (thuốc bỏng, xương rồng ) Lớp cuticun do chất nguyên sinh tạo thành từ các chất lipit thấm qua màng tế bào

b

a

2 1

Hình 3: Biểu bì lá Lẻ bạn a Ảnh cắt ngang; b Ảnh nhìn từ bề mặt

1.Vách ngoài; 2.Vách bên; 3.Vách trong; 4.Lỗ khí

Trang 11

Hình 4: Lông che chở 1 Lông đơn bào ở Lá sắn; 2 Lông đa bào một dãy ở thân Bí ngô

3 Lông đa bào hình sao ở lá Dương xỉ; 4.Lông đa bào phân nhánh ở Kẻ hoa đào

Hình 5: Lông tiết ở: 1.Cây bắt ruồi; 2 Thân Bí ngô

Lông đơn bào do tế bào biểu bì kéo dài ra, ví dụ ở Mía, Ngái Còn lông đa bào do sự phân chia của tế bào biểu bì để hình thành, ví dụ ở Bí, Mướp Khi còn non lông là những tế bào sống nhưng khi già đó là những

tế bào chết chứa đầy không khí (có màu trắng bạc) Lông có khi đặc trưng cho cả loài, chi, họ cho nên có ý nghĩa chẩn đoán và phân loại

- Lông che chở: có tác dụng ngăn cản sự thoát hơi nước, màu trắng sáng giúp phản tác một phần nhiệt, ánh sáng mạnh đốt nóng cơ thể Ngoài

ra, lông che chở còn có tác dụng chống hạn bằng cách giữ ẩm ở các khoảng trống chân lông

- Lông tiết (lông tuyến): chứa các dịch kiềm hay axit, có vai trò bảo

vệ, một số loại lông ngứa ở một số cây họ Gai - Urticaceae, thành tế bào ngấm silic, trong đó nhiều không bào chứa dịch ngứa, khi chạm vào làm

dễ gãy, bảo vệ cơ thể khỏi bị động vật ăn hại Lông tiết cũng có thể thải ra môi trường ngoài các sản phẩm trao đổi chất của tế bào Ví dụ: lông rau tần, bạc hà hoặc tiết mật ở hoa

Trang 12

- Lông hút: Ở rễ, đóng vai trò hấp thu nước, muối khoáng cho cây 2.1.2 Gai

Hình thành từ biểu bì và vỏ, gồm những bộ phận đa bào tẩm lignin hay silic

1 Khe lỗ khí; 2.Tế bào lỗ khí 3.Hạt lục lạp; 4.Khoang khí

Có nguồn gốc từ nguyên bì hình thành từ tế bào mẹ lỗ khí, cấu tạo lỗ khí gồm:

- Hai tế bào hình hạt đậu có chứa lục lạp và tinh bột, vách trong (vách bụng) dày hơn vách ngoài (vách lưng )

- Vi khẩu (khe lỗ khí) nằm giữa hai tế bào hình hạt đậu có cửa trước

và cửa sau

- Dưới vi khẩu có khoang khí là nơi chứa khí

Lỗ khí có 2 nguồn gốc, nguồn gốc bên và nguồn gốc giữa Lỗ khí có

3 vị trí so với bề mặt biểu bì: nằm ngang, nằm dưới và nằm trên so với bề mặt tế bào biểu bì Khí khổng có ở phần khí sinh của cây, nhiều nhất là ở

lá, tập trung ở biểu bì dưới của lá, chức năng của khí khổng là trao đổi khí

và thoát hơi nước Kích thước và số lượng khí khổng thay đổi ở những môi trường sống khác nhau: Ở môi trường thủy sinh, những thực vật sống ngập chìm trong n ước không có lỗ khí, ở môi trường ẩm ướt lỗ khí nằm trên mặt biểu bì Ở môi trường khô hạn lỗ khí nằm ở mặt dưới Cây ưa sáng có số lượng lỗ khí nhiều hơn cây ưa bóng để thoát hơi nước phát tán

nhiệt

Trang 13

Cơ chế đóng mở lỗ khí:

Khi ở ngoài sáng, các tế bào lỗ khí tiến hành quang hợp nhờ có chứa lục lạp, các sản phẩm quang hợp làm tăng nồng độ của dịch tế bào, quá trình hút nước làm cho tế bào lỗ khí no nước, vách ngoài lỗ khí mỏng nên

căng lên, vách trong lỗ khí dày nên lõm lại làm khe lỗ khí mở ra

Ngược lại khi ở trong tối, đường chuyển hóa thành tinh bột (là chất không có hoạt tính thẩm thấu) làm giảm áp suất thẩm thấu, quá trình mất nước xảy ra làm giảm sức căng của tế bào lỗ khí và khe lỗ khí đóng lại Theo Stefan thì sự đóng mở của lỗ khí do 3 loại phản ứng cơ sở quyết định:

* Mở quang chủ động: như ngày mở, đêm đóng

* Ðóng thủy chủ động: đóng do mất nước (như khi trời nắng gắt)

* Ðóng mở bị động: đóng do ảnh hưởng áp suất căng của các tế bào xung quanh

Dựa vào cách sắp xếp của các tế bào xung quanh lỗ khí, người ta chia làm 5 kiểu sắp xếp lỗ khí như sau:

- Kiểu hỗn bào: Lỗ khí và tế bào quanh lỗ khí sắp xếp lộn xộn

- Kiểu dị bào: Lỗ khí có 3 tế bào xung quanh, 2 tế bào lớn và một

2.2.1 Chu bì

Ở thực vật Hai lá mầm sống nhiều năm, khi cây trưởng thành xuất hiện mô bì thứ cấp gọi là chu bì, cấu tạo từ ngoài vào gồm: Các lớp tế bào bần tẩm suberin không thấm nước, khí, có màu nâu sẫm, giữa là tầng phát

Trang 14

sinh bần vỏ lục còn gọi là tầng phát sinh vỏ, và trong cùng là lớp tế bào vỏ lục

Ở những cây Hai lá mầm sống lâu năm, thường cuối năm đầu tiên tầng phát sinh vỏ được hình thành do sự phản phân hóa của các tế bào biểu

bì, trụ bì hoặc từ các tế bào mô mềm dưới biểu bì Tầng phát sinh vỏ hoạt động kép tạo thành phía ngoài các lớp tế bào bần phía trong là các tế bào

vỏ lục giúp cây tăng trưởng theo chiều ngang Nhưng có trường hợp tầng phát sinh vỏ hoạt động đơn chỉ tạo ra bần mà không tạo ra vỏ lục

Các tế bào bần là những tế bào hình phiến chữ nhật có cùng vách xuyên tâm dần dần mất hết sinh chất, tẩm suberin và trở thành các tế bào chết, vì vậy các tế bào ở phía ngoài các lớp bần sẽ không nhận được các chất hữu cơ nuôi dưỡng do đó chết dần và bóc đi để lộ các lớp tế bào bần

Ở một số cây ví dụ Quecus suber các lớp tế bào bần dày vài cm dùng làm nút chai, vật cách điện v.v

Các tế bào vỏ lục là những tế bào sống, màng xenlulô, trong có chứa lục lạp

Trên vỏ thứ cấp của thân thường xuất hiện các nốt sần sùi đó là lỗ

vỏ, thường được hình thành dưới các khí khổng ở biểu bì, không có cơ chế đóng mở, ở chỗ hình thành lỗ vỏ tầng phát sinh vỏ lại tạo ra các khối tế bào bổ sung hình cầu, đẩy rách phần vỏ và lồi ra ngoài tạo thành lỗ vỏ, giữa các tế bào bổ sung có các khoảng gian bào chứa và trao đổi khí, thoát hơi nước Như vậy ở vỏ thứ cấp các lỗ vỏ giúp thực vật liên hệ trao đổi với môi trường bên ngoài

2.2.2 Thụ bì

Tầng phát sinh vỏ ở một số cây có vị trí cố định, hằng năm tạo thành những lớp bần mới thay thế cho lớp bần cũ bị tróc đi Nhưng ở nhiều cây thân gỗ sống lâu năm, tầng phát sinh vỏ không cố định và mỗi năm mỗi dời vào trong tạo ra chu bì mới, ngăn cản việc vận chuyển chất dinh dưỡng đến nuôi các tế bào ở bên ngoài Vì vậy, chu bì phía ngoài sẽ bị chết, đó là lớp vỏ chết Tập hợp tất cả các chu bì tạo thành thụ bì

Ngày đăng: 19/08/2012, 21:29

Xem thêm

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Mô phân sinh chồi ngọn - Mô thực vật
Hình 1 Mô phân sinh chồi ngọn (Trang 3)
Hình 2: Mô phân sinh bên: 1. Tầng sinh trụ 2.  Tầng sinh vỏ - Mô thực vật
Hình 2 Mô phân sinh bên: 1. Tầng sinh trụ 2. Tầng sinh vỏ (Trang 4)
Hình thành từ các tế bào mô mềm, cũng có thể do trụ bì, hạ bì hay biểu bì  phản phân hóa hình thành - Mô thực vật
Hình th ành từ các tế bào mô mềm, cũng có thể do trụ bì, hạ bì hay biểu bì phản phân hóa hình thành (Trang 10)
Hình 4: Lông che chở 1. Lông  đơn bào ở Lá sắn; 2. Lông đa bào một dãy ở thân Bí ngô - Mô thực vật
Hình 4 Lông che chở 1. Lông đơn bào ở Lá sắn; 2. Lông đa bào một dãy ở thân Bí ngô (Trang 11)
Hình thành từ biểu bì và vỏ, gồm những bộ phận đa bào tẩm lignin  hay silic. - Mô thực vật
Hình th ành từ biểu bì và vỏ, gồm những bộ phận đa bào tẩm lignin hay silic (Trang 12)
Hình 6: Cấu tạo lỗ khí - Mô thực vật
Hình 6 Cấu tạo lỗ khí (Trang 12)
Hình 9: Thụ bì  Hình 7: Lỗ vỏ ở thân     Hình 8: Lỗ vỏ - Mô thực vật
Hình 9 Thụ bì Hình 7: Lỗ vỏ ở thân Hình 8: Lỗ vỏ (Trang 15)
Hình 10: Một số kiểu mạch - Mô thực vật
Hình 10 Một số kiểu mạch (Trang 17)
Hình 12: Bó xếp chồng chất: Bó dẫn kín ở thân Tre;  b.Bó dẫn hở ở thân Trầu - Mô thực vật
Hình 12 Bó xếp chồng chất: Bó dẫn kín ở thân Tre; b.Bó dẫn hở ở thân Trầu (Trang 20)
Hình 13: Bó chồng chất kép ở thân Bí ngô - Mô thực vật
Hình 13 Bó chồng chất kép ở thân Bí ngô (Trang 20)
Hình 15: Mô mềm dự trữ        khí ở cuống lá Súng - Mô thực vật
Hình 15 Mô mềm dự trữ khí ở cuống lá Súng (Trang 23)
Hình 23: Sợi libe ở thân Dâm bụt - Mô thực vật
Hình 23 Sợi libe ở thân Dâm bụt (Trang 26)
Hình 25: Tuyến tiết - Mô thực vật
Hình 25 Tuyến tiết (Trang 27)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w