1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Cấu tạo của tế bào thực vật

17 14,7K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cấu tạo của tế bào thực vật
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên
Chuyên ngành Sinh học
Thể loại bài luận
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 167,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cấu tạo của tế bào thực vật

Trang 1

Cấu tạo của tế bào thực vật

Tế bào thực vật có cấu tạo rất phức tạp, thường gồm

2 thành phần cơ bản sau

đây:

- Chất nguyên sinh: là chất sống của tế bào, có cấu

tạo rất phức tạp, thường

gồm các thành phần cơ bản sau đây: tế bào chất,

nhân, ty thể, lạp thể, thể golgi,

mạng lưới nội sinh chất

- Thành phần không sống: được hình thành do hoạt

động của chất nguyên sinh

tạo nên, bao gồm: vách tế bào, không bào và dịch tế bào, các thể ẩn nhập, chất dự

trữ

2.2.1 Tế bào chất (chất tế bào)

Tế bào chất là chất sống cơ bản, là thành phần cơ bản

và bắt buộc của tế bào, tại

Trang 2

đây xảy ra các quá trình tiêu biểu cho hoạt động sống của tế bào Ở những tế bào còn

non, chất tế '62ào chiếm một phần lớn hay hầu hết khoang tế bào Trong quá trình sinh

trưởng và phát triển của tế bào, dần dần xuất hiện

không bào chứa một chất lỏng gọi

là dịch tế bào, tế bào càng già không bào càng lớn, do

đó chất tế bào về sau chỉ còn

lại một lớp mỏng nằm sát màng

7

a Tính chất lý học

Tế bào chất là một chất lỏng không màu và hơi trong suốt, nhớt, có tính đàn

hồi, không hoà tan trong nước, nặng hơn nước (có tỷ trọng d = 1,04-1,06), có tính

chiết quang hơn nước, khi bị đun nóng tới 50oC -

60oC thì tế bào chất sẽ mất khả

Trang 3

năng sống Tuy vậy, tế bào chất của một số hạt, quả khô và của một số bào tử có thể

chịu được nhiệt độ cao hơn (từ 80oC - 100 oC)

Tế bào chất là một dạng chất keo nhớt, cấu tạo bởi những phân tử hợp lại

thành các hạt rất nhỏ gọi là mixen keo Các mixen

keo mang điện tích cùng dấu sẽ

đẩy nhau và gây chuyển động hỗn loạn gọi là chuyển động Brown Ngoài ra, các

mixen này không tan trong nước thành dung dịch thật

mà chỉ phân tán trong đó

thành các dung dịch giả

Độ nhớt của tế bào chất có thể thay đổi, nghĩa là hệ thống keo của nó vừa có

thể ở trạng thái lỏng (sol) vừa có thể ở trạng thái đặc (gel) Trạng thái sol đặc trưng

Trang 4

cho độ nhớt của chất tế bào, còn trạng thái gel gần với thể rắn hơn, do đó nó đảm

bảo hình dạng ổn định của chất tế bào

b Thành phần hoá học

Tế bào chất có nhiều thành phần hoá học khác nhau, nhưng quan trọng nhất là

protein, không có tế bào chất nào lại vắng mặt protein

- đó là chất cơ bản của của

quá trình sống Ngoài protein, trong tế bào chất còn

có nhiều thành phần hoá học

khác nữa: glucid, lipid, nước Khi nghiên cứu trên nhiều đối tượng khác nhau,

người ta đã thu được những số liệu sau đây về thành phần hoá học của tế bào chất:

nước 75 - 80%, protein:10 - 20%, lipid: 2 - 5%,

glucid: 1 - 2%, muối khoáng: 1%

(theo N.X Kixeleva)

Trang 5

Như vậy, trong tế bào chất nước chiếm 1 tỷ lệ rất lớn (trên dưới 80% chỉ trừ

vài trường hợp như các hạt khô hàm lượng nước có thể hạ xuống 12 - 14%, đứng

sau nước hàm lượng protein cũng chiếm 1 tỷ lệ khá lớn trong tế bào chất)

+ Protein: trong thành phần hoá học của tế bào chất

có 2 loại protein: Protein

đơn giản (holoprotein hay protein) và protein phức tạp (heteroprotein) - đó là

những hợp chất protein kết hợp với các hợp chất khác như: glucid, lipid, axit

nucleic, axit phosphoric

+ Lipid: là những este của glyxerin và axit béo, nó

chiếm hơn 20% khối lượng

khô của tế bào chất, lipid không phải là chất sống mà

là sản phẩm của sự trao đổi

Trang 6

chất, chủ yếu ở trong các chất dự trữ: các giọt dầu,

mỡ thường có trong một số

hạt và quả Trong tế bào chất, lipid có thể kết hợp với protein thành hợp chất

lipoprotein - chất này có mặt trong ty thể, dùng cung

cấp năng lượng Một số hợp

chất lipid cũng gặp trong vách của tế bào và màng nhân

+ Glucid: chiếm khoảng 4 - 6% trọng lượng khô của

tế bào chất, gồm các loại

đường đơn giản (monosaccharide): glucose, ribose,

desoxyribose và những loại

8

đường phức tạp (polysaccharide): Saccharose, tinh

bột và cellulose Các glucidđặc

biệt là monosaccharide có vai trò rất quan trọng trong

sự trao đổi chất của tế

Trang 7

bào, trừ ribose và desoxyribose tham gia vào các chất sống vá có ý nghĩa sinh học

rất quan trọng, các glucid khác tuy không phải là các chất sống thật sự nhưng lại là

một trong những nguồn năng lượng của tế bào

+ Muối khoáng vô cơ: trong tế bào chất, các thành

phần muối vô cơ chiếm 2 -

6 % trọng lượng khô, chúng thường ở dưới dạng các hợp chất muối hoặc có trong

các hợp chất với protein, glucid, lipid Trong tế bào chất, các loại muối thường ở

trạng thái phân ly thành các ion mang điện tích

dương như K +, Mg++, Ca++ , Fe++

và các ion mang điện tích âm như Cl-, N03

-, PO4 3- Ngoài ra còn có một số

nguyên tố vi lượng khác như Cu, Mn, Br

Trang 8

+ Nước: trong tế bào chất, nước chiếm trên dưới 80%

khối lượng của tế bào

chất, nước cần thiết cho 2 quá trình thuỷ phân và oxy hoá thường xuyên xảy ra bên

trong tế bào Trong tế bào chất có 2 dạng nước:

- Nước liên kết: bao quanh các phân tử keo, là điều

kiện để duy trì độ bền của keo

trong chất tế bào, dạng nước này không đóng vai trò dung môi đối với các chất hoà tan

được trong nước Sự mất loại nước này làm cho tế bào và mô bị xẹp đi, do đó loại nước

này rất cần thiết cho sự sống của tế bào, mô

- Nước tự do: là môi trường để thực hiện mọi quá

trình sinh hoá diễn ra trong

tế bào Nó có thể hoà tan muối và các chất khác, dạng nước này chiếm phần lớn

khối lượng nước của tế bào

Trang 9

c Cấu trúc siêu hiển vi của tế bào chất

Khi quan sát tế bào dưới kính hiển vi quang học, ta thấy tế bào chất là một

khối đồng nhất về quang học Tuy nhiên, khi quan sát

tế bào dưới kính hiển vi điện

tử đã cho ta thấy được cấu trúc siêu hiển vi của tế bào chất Tế bào chất của tế bào

thực vật có 3 lớp màng:

- Màng nguyên sinh: có đặc tính cơ bản của chất

nguyên sinh bởi tính thấm

phân biệt và khả năng dịch chuyển tích cực các chất, thậm chí còn chống lại cả

gradiel nồng độ (Clander,1959) Những màng mỏng này khó có thể nhận biết được

bằng kính hiển vi quang học, nhưng ở kính kiển vi điện tử người ta có thể khẳng

Trang 10

định được đặc tính hình thái của chúng

(Mercer,1960) Chúng có thể xuất hiện

những đường đơn hoặc kép tuỳ thuộc vào tiêu bản và mức độ phân tích, màng trong

đôi khi nhỏ hơn màng ngoài (Falk và Sitte,1963)

- Màng không bào: là những phần chất nguyên sinh

bao quanh các không bào

Cả hai lớp màng nguyên sinh và màng không bào đều

có cùng một cấu tạo

phân tử lipoprotein

- Phần cơ bản giữa hai lớp màng có cấu tạo phức tạp Theo K.Pocte và cộng

sự (1943) đã xác định: chúng được cấu tạo từ một hệ thống các xoang, các túi nhỏ

9

và các rãnh có cấu tạo như màng nguyên sinh và

màng không bào Hệ thống đó

Trang 11

được gọi là mạng lưới nội chất Thành mạng lưới nội chất có thể nhẵn hay mang các

hạt riboxom, chúng không bền vững, số lượng và sự phân bố có sự thay đổi trong

quá trình sống của tế bào Mạng lưới nội chất cung cấp cho tế bào một bề dày màng

mỏng bên trong rộng lớn, các enzyme thường phân

bố thứ tự dọc theo các màng đó

và cũng cung cấp cho tế bào một hệ thống các ngăn như tách riêng các sản phẩm

trao đổi chất và có thể được vận chuyển từ phần này đến phần khác của tế bào

Màng nguyên sinh và màng không bào đều rất mỏng,

có độ dày thường từ 7 -

12nm, có cấu tạo bởi 3 lớp phân tử: ở giữa là lớp

phân tử lipid phân cực, còn phía

Trang 12

ngoài là 2 lớp phân tử protein Cả 2 lớp màng này đều giàu lipid và đều có tính bán

thấm chọn lọc: có khả năng để cho nước và các chất hoà tan cần thiết thấm qua, có

tính đàn hồi và có khả năng tái sinh, chúng hợp hành

màng cơ sở của tế bào

Trong phần chất cơ bản, còn một chất nền trong suốt không màu được gọi là

chất nền, là phần nằm ngoài các màng mỏng của

mạng lưới nội chất

d Tính chất sinh lý của tế bào chất

+ Tính thấm chọn lọc

Là khả năng hút được chất này hay chất khác từ môi trường xung quanh vào tế

bào và ngược lại nhả một số chất vào môi trường khi nồng độ dung dịch bên trong

tế bào và ngoài môi trường chênh lệch nhau

Trang 13

Tế bào chất có thể được xem như một màng bán thấm

có tính chọn lọc, nghĩa

là có khả năng cho dung môi thấm qua, còn các chất hoà tan trong không bào không

thể lọt qua được hoặc nếu có thì thấm qua với tốc độ chậm hơn nước rất nhiều

Tính chất này của tế bào chất được thể hiện khá rõ

trong hiện tượng co nguyên sinh

và phản co nguyên sinh của tế bào chất

+ Sự chuyển động của chất tế bào

Sự chuyển động của tế bào chất là đặc tính của các tế bào sống, trong quá trình

chuyển động, tế bào chất đã lôi kéo những nội bào quan, đôi khi cả tế bào chuyển

động theo Sự chuyển động của tế bào chất có thể

quan sát dễ dàng dưới kình hiển

Trang 14

vi quang học, có thể phân biệt 3 dạng chuyển động sau đây của chất tế bào:

- Chuyển động amip: tế bào chất có thể chuyển động

theo nhiều hướng khác

nhau bằng những xúc tu giả, sự chuyển động này kéo theo sự chuyển động của cả tế

bào, thường gặp u7903 các tế bào nấm nhầy

(myxomycetes)

- Chuyển động vòng: chuyển động của tế bào chất

theo một hướng xung quanh

không bào trung tâm, chuyển động như vậy ở các tế bào lân cận thường xảy ra theo

hướng ngược chiều nhau, kiểu chuyển động này

thường gặp trong các tế bào của lá

những cây ở nước như rong Mái chèo (Vallisneria spiralis) và rong Đuôi chồn

(Hydrilla verticillata)

Trang 15

10

- Chuyển động khuếch tán: tế bào chất chuyển động

theo những dải xuyên

qua không bào trung tâm theo các hướng khác nhau

có khi ngược chiều nhau, kiểu

chuyển động này có thể thấy ở lông các loài Thài lài

(Tradescantia) và Bí ngô

(Cucurbita pepo)

Ngoài ra, còn có hình thức chuyển động trung gian giữa kiểu chuyển động

vòng và chuyển động khuếch tán, thường thấy ở tế bào chất của lông rễ các cây ở

nước (hydrocharia) Kiểu chuyển động dao động của

chất tế bào là kiểu đơn giản

hơn cả, đặc trưng cho các loài tảo như closterium, Spirogyra

Trang 16

Về cơ chế và chức năng chuyển động của chất tế bào đến nay vẫn còn chưa

được nghiên cứu kỹ, rất có thể sự chuyển động này giúp cho sự vận chuyển các chất

cần thiết trong chất nguyên sinh

e Sợi liên bào và sự liên lạc giữa các tế bào

Trong những cơ thể thực vật đa bào, tế bào chất của những tế bào ở gần nhau

được liên hệ chặt chẽ với nhau nhờ những sợi mảnh chất tế bào xuyên qua vách tế

bào - gọi là sợi liên bào Chức năng chủ yếu của sợi

liên bào là mang những sản

phẩm trao đổi chất và dẫn truyền kích thích do ảnh hưởng của các nhân tố bên

ngoài, từ chỗ nhận kích thích truyền vào sâu ở bên trong của các cơ quan Như vậy,

Trang 17

giữa các tế bào có sự giao lưu rõ ràng và mối liên hệ thường xuyên

Ngày đăng: 11/08/2012, 22:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w