1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ĐỀ CƯƠNG MÔN LUẬT HÌNH SỰ

29 306 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 294 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm: Luật hình sự là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt nam, bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật do cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ban hành quy định những hành v

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG MÔN LUẬT HÌNH SỰCâu 1 Khái niệm, đối tượng, phương pháp điều chỉnh và nhiệm vụ của Luật hình sự Việt Nam?

TRẢ LỜI:

a Khái niệm:

Luật hình sự là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt nam, bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật do cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ban hành quy định những hành vi nguy hiểm cho xã hội nào là tội phạm và hình phạt đối với những tội phạm ấy; những vấn đề liên quan đến việc quyết định hình phạt, miễn trách nhiệm hình sự và hình phạt

b đối tượng điều chỉnh của luật hình sự:

Đối tượng điều chỉnh của Luật hình sự Việt nam là các quan hệ xã hội phát sinh giữa Nhà nước và người phạm tội do có việc thực hiện tội phạm, tức là thực hiện hành vi xâm hại đến các quan hệ

xã hội và gây ra hoặc có thể gây ra thiệt hại cho các quan hệ đó

Chủ thể tham gia quan hệ pháp luật hình sự bao gồm: Nhà nước và người phạm tội Hai chủ thể này có các quyền và nghĩa vụ pháp lý khác nhau, đó là:

- Nhà nước: tham gia các quan hệ này thông qua các cơ quan chuyên trách của mình là cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án

Nhà nước có quyền: điều tra, truy tố và xét xử người phạm tội, buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm mà họ thực hiện theo trật tự được pháp luật quy định Nhà nước

có nghĩa vụ: bảo đảm sự tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của người phạm tội, quyết định những biện pháp xử lý tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện và nhân thhân người phạm tội

- Người phạm tội: có nghĩa vụ chấp hành những biện pháp cưỡng chế được quy định trong chế tài của quy phạm pháp luật hình sự mà nhà nước áp dụng đối với họ, đồng thời người đó có quyền yêu cầu nhà nước tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Sự kiện pháp lý phát sinh: khi người phạm tội thực hiện tội phạm

Phương pháp quyền uy là phương pháp sử dụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh quan hệ pháp luật hình sự - quan hệ giữa Nhà nước và người phạm tội

Nội dung của phương pháp quyền uy là: Nhà nước có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế được luật hình sự quy định theo một trật tự nhất định đối với người phạm tội mà không bị cản trở hay phụ thuộc vào ý chí và hành động của cá nhhân hay tổ chức nào Người phạm tội phải chấp hành đầy đủ những biện pháp mà Nhà nước đã áp dụng đối với họ, trách nhiệm của ngươì phạm tội về tội phạm mà họ thực hiện là trách nhiệm trước nhà nước Trách nhiệm đó là trách nhiệm cá nhân, do chính người phạm tội gánh chịu một cách trực tiếp, chứ không thể chuyển hay uỷ thác cho một người nào khác

d Nhiệm vụ của Luật hình sự:

Bộ luật hình sự có nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội; đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm

Câu 2 Khái niệm, nội dung và ý nghĩa của các nguyên tắc Luật hình sự Việt Nam Hệ thống các nguyên tắc của pháp luật hình sự.

TRẢ LỜI:

Trang 2

a Khái niệm các nguyên tắc Luật hình sự:

Các nguyên tắc của Luật hình sự Việt Nam là những tư tưởng, nguyên lý cơ bản được ghi nhận, thể hiện trong các quy phạm pháp luật hình sự, thực tiển áp dụng pháp luụât hình sự phản ánh những quy luật kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và những quan niệm về đạo đức và pháp luật của nhân dân đối với việc quy định tội phạm và hình phạt và nhũng vấn đề khác liên quan đến tội phạm và hình phạt

b Nội dung các nguyên tắc:

Tuỳ thuộc vào tính chất và nội dung, các nguyên tắc của Luật hình sự Viện Nam đước phân thành hai nhóm: các nguyên tắc pháp lý chung và các nguyên tắc pháp lý chuyên ngành

- Các nguyên tắc pháp lý chung: Là các nguyên tắc đặc trưng chung cho tất cả các ngành luật, trong đó có Luật hình sự

Các nguyên tắc pháp lý chung trong Luật hình sự bao gồm: Nguyên tắc dân chủ XHCN; nguyên tắc nhân đạo XHCN; nguyên tắc pháp chế XHCN; nguyên tắc kết hợp hài hoà chủ nghĩa yêu nước

và đoàn kết quốc tế; nguyên tắc chỉ chịu trách nhiệm đối với hành vi phạm tôị cụ thể; nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật

- Các nguyên tắc pháp lý chuyên ngành: Là những nguyên tắc đặc trưng riêng cho ngành luật hình

sự Các nguyên tắc chuyên ngành bao gồm: nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm hình sự và hình phạt; nguyên tắc trách nhiệm cá nhân; nguyên tắc trách nhiệm trên cơ sở lỗi; nguyên tắc phân hoá trách nhiệm tuỳ thuộc vào các tình tiết của việc thực hiện tội phạm; nguyên tắc cá thể hoá trách nhiệm và hình phạt; nguyên tắc công bằng

c Ý nghĩa:

các nguyên tắc của Luật hình sự có ý nghĩa quan trọng đối với thực tiễn : thực tiễn lập pháp hình

sự và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự.; các nguyên tắc của luật hình sự là những giá trị tư tưởng, luận điểm tồn tại một các khách quan, được hình thành trong quá trình phát triển của xã hội, do các điều kiện lịch sử cụ thể của đời sống xã hội quy định; các nguyên tắc của luật hình sự mang tính giai cấp

Câu 3 Các nguyên tắc chung của Luật hình sự?

Trong Luật hình sự Việt Nam nguyên tắc này được thể hiện ở các mặt sau:

- Luật hình sự Việt nam bảo vệ chế độ xã hội và nhà nước của nhân dân lao động, thể hiện ý chí, lợi ích của nhân dân;

- Tôn trọng và bảo vệ các quyền dân chủ của công dân ;

- Bảo đảm mọi công dân tự mình hoặc thông qua các cơ quan, tổ chức khác nhau tham gia xây dựng và áp dụng pháp luật hình sự

- Luật hình sự không phân biệt đối xử, không quy định những đặc quyền, đặc lợi cho riêng tầng lớp hoặc cá nhân nào

b Nguyên tắc nhân đạo XHCN:

- Các quy phạm pháp luật của Luật hình sự phản ánh ý thức pháp luật và các quan niệm đạo đức của dân tộc ta có mục đích, nội dung nhân đạo sâu sắc và được bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp nhân đạo và luôn được thể hiện rõ nét trong chính sách hình sự của Nhà nước ta qua mọi giai đoạn phát triển

- Nguyên tắc này thể hiện ở chỗ đối với người đã phạm tội thì xã hội, Nhà nước không có mục đích trả thù, mà ngược lại tạo mọi điều kiện có thể được để người đó cải tạo tốt, trở lại làm ăn lương thiện, có ích cho xã hội Các hình phạt chỉ được áp dụng đến mức độ cần thiết tối thiểu cho

sự cải tạo và giáo dục

- Luật hình sự VN khoan hồng đối với những người nhất thời phạm tội ít nghiêm trọng, với người

tự thú, thật thà khai báo, tố giác đồng bọn, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại;

Trang 3

- Trong hệ thống hình phạt của luật hình sự Việt Nam có nhiều loại hình phạt không tước tự do Hình phạt tù chung thân và tử hình chỉ được phép áp dụng trong những trường hợp đặc biệt nghiêm trọng và phạm vi áp dụng cũng có những giới hạn nhất định.

c Nguyên tắc pháp chế XHCN:

- Nguyên tắc pháp chế là nguyên tắc quan trọng trong sinh hoạt xã hội và tổ chức hoạt động của Nhà nước Đây là nguyên tắc hiến định;

- Tội phạm, hình phạt và các biện pháp pháp lý hình sự phải được quy định trong Luật hình sự;

- Phải xác định được ranh giới giữa tột phạm và các vi phạm pháp luật khác;

- Việc quy định tội phạm mới, hình phạt mới, sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ tội phạm hay hình phạt phải được tiến hành theo đúng quy định của pháp luụât;

- Việc xét xử phải đúng người, đúng tội;

- Pháp luật hình sự phải được hiểu và áp dụng thống nhất trên phạm vi lãnh thổ Việt nam;

- Không áp dụng các nguyên t8c1 tương tự về luật trong luật hình sự

d Nguyên tắc kết hợp hài hoà chủ nghĩa yêu nước và đoàn kết quốc tế:

Luật hình sự Việt Nam đấu tranh không khoan nhượng đối với mọi hành vi phạm tội, xử lý kiên quyết những người có hành vi xâm phạm các lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, xâm phạm đến công cuộc xây dựng CNXH ở Việt nam Cùng với việc bảo vệ lợi ích quốc gia như vậy luật hình sự Việt Nam còn chú ý đến các lợi ích quốc tế điều này thể hiện ở chỗ:

- Luật hình sự Việt Nam trừng trị các hành vi phá hoại hoà bình, gây chiến tranh xâm lược, chống loài người và can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác;

- Luật hình sự Việt Nam ghi nhận và đảm bảo thực hiện các cam kết quốc tế của Nhà nước trong cuộc đấu tranh chung của loài người tiến bộ chống các hành vi gây chiến tranh, chống các tội ác diệt chủng, diệt sinh cũng như các tội phạm có tính chhất quốc tế khác

e Nguyên tắc chịu trách nhiệm chỉ đối với hành vi phạm tội cụ thể:

Pháp luật nước ta chỉ quy định trách nhiệm pháp lý đối với hành vi cụ thể xâm hại đến các quan hhệ xã hội được pháp luật bảo vệ trong lĩnh vực hình sự, nguyên tắc này thể hiện ở chỗ pháp luật hình sự Việt nam chỉ quy định trách nhiệm hình sự dối với hành vi phạm tội cụ thể của con người thể hiện ở sự xâm hại đến các quan hệ xã hội

g Nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trớc pháp luật:

Nội dung nguyên tắc này thể hiện tập trung ở chỗ những người thực hiện tội phạm bình đẳng với nhau trước pháp luật hình sự và phải chịu trách nhiệm hình sự không phân biệt dân tộc, nam, nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú và các tình tiết khác

Câu 4 Các nguyên tắc chuyên ngành của Luật hình sự Việt Nam?

TRẢ LỜI:

a Nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Nguyên tắc này gắn liền với nguyên tắc pháp chế và nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật

Pháp luật hình sự nước ta xuất phát từ luận điểm cho ràng người có lỗi trong việc thực hiện hành

vi phạm tội buộc phải chịu trách nhiệm hình sự Do đó trong các quy phạm của phần các tội phạm đối với từng loại tội phạm, nhà làm luật qui định loại và mức hình phạt cụ thể với tính cách là hậu quả pháp lý tất yếu của việc thực hiện tội phạm đó Việc miễn trách nhiệm hình sự và hình phạt chỉ được áp dụng trong những trường hợp do luật quy định

Về mặt thực tế nguyên tắc này được các cơ quan điều tra, truy tố và xét xử, đưa vào đời sống bằng việc phát hiện chính xác, nhanh chóng và xét xử công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không

để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội

b Nguyên tắc trách nhiệm cá nhân:

nguyên tắc này có nghĩa là người phạm tội chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mà chính người

đó chứ không phải do người khác hoặc tập thể gây ra Chỉ người nào phạm một tội đã được bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự

c Nguyên tắc trách nhiệm trên cơ sở lỗi:

Nội dung này thể hiện ở chỗ chỉ người nào có lỗi trong việc thực hiện tội phạm (cố ý hoặc vô ý) mới phải chịu trách nhiệm hình sự và hình phạt Không thể truy cứu một người nào đó trách

Trang 4

nhiệm hình sự về hành vi gây nguy hiểm cho xã hội nếu không xác định được rằng người đó có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó Lỗi sẽ không có nếu hành vi được thực hiện trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc trong những trường hợp loại trừ lỗi.

d Nguyên tắc phân hoá trách nhiệm tuỳ thuộc vào các tình tiết của việc thực hiện tội phạm:

Tội phạm có thể được thực hiện trong những tình tiết rất khác nhau Những tình tiết cơ bản trong

số đó ảnh hưởng đến việc xác định mức độ nguy hiểm cho xã hội cuả hành vi và trách nhiệm của người phạm tội thông thường, các tình tiết đó đặc trưng cho phương pháp thực hiện tội phạm hoặc hậu quả của nó, cho nhân thân của người phạm tội, động cơ phạm tội… Tuỳ thuộc vào các tình tiết mà nhà làm luật quy định trách nhiệm hình sự khác nhau đối với nhiều loại tội phạm

e Nguyên tắc cá thể hoá trách nhiệm và hình phạt:

Nguyên tắc cá thể hoá trách nhiệm và hình phạt đòi hỏi khi xác định trách nhiệm và hình phạt phải cân nhắc các tình tiết của tội phạm đã thực hiện, các đặc điểm nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng có trong vụ án

g Nguyên tắc công bằng:

Nguyên tắc này thể hiện ở các khía cạnh:

Xác định rõ ranh giới giữa hành vi bị coi là tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật khác để từ đó quy định các biện pháp xử lý tương ứng

Thực hiện nhất quán quan điểm phân hoá trách nhiệm hình sự đối với tội phạm;

Hệ thống các hình phạt được qui định phải có các thang bậc tương ứng với các thang bậc nghiêm trọng của các loại tội phạm

Câu 6 Đạo luật hình sự VN Hiệu lực của đạo luật hình sự VN về không gian và thời gian? TRẢ LỜI:

a KN đạo luật hình sự VN:

Đạo luật hình sự là văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ban hành theo một trật tự được luật qui định, thể hiện ý chí chung về mặt NN và lợi ích của nhân dân lao động, chứa đựng những qui phạm pháp luật về các nguyên tắc và luận điểm cơ bản chung của pháp luật hình sự VN, xác định những hành vi nguy hiểm cho xã hội nào là tội phạm, những hình phạt và các biện pháp tác động hình sự đối với những người phạm tội, cũng như những điều kiện miễn trách nhiệm hình sự và hình phạt

b Cấu tạo của đạo luật HS:

Qui phạm pháp luật hình sự là qui tắc xử sự được Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện bằng cách áp dụng hình phạt đối với người phạm tội

Thông thường, đạo luật hình sự dưới hình thức luật, sắc lệnh, sắc luật hay pháp lệnh hay pháp lệnh chỉ bao gồm một số ít quy phạm qui định về một hay một số tội phạm cụ thể Các văn bản này thường được xây dựng theo cơ cấu chưng, mục và các điều; trong các điều luật lại được phân chia thành những khoản và những điểm nhất định

BLHS về cấu trúc đước chia thành hai phần là phần chung và phần các tội phạm.Phần chung qui định về nhiệm vụ của luật HS, cơ sở của TNHS, các nguyên tắc chung của luật HS, hiệu lực của LHS, về tội phạm, hình phạt và các chế định liên quan đến việc định tội phạm và áp dụng hình phạt …; Phần các tội phạm quy định các tội phạm cụ thể cũng như loại và mức độ hình phạt áp dụng đối với những tội phạm này Cả hai phần này đều liên hệ chặt chẽ với nhau, chúng đều là cơ

sở pháp lí cho việc giải quyết vụ án hình sự cả hai phần nói trên của BLHS đều được chia thành các chương, mỗi chưng có thể chia thành mục và gồm nhiiêù điều luật

Mỗi chương của phần chung quy định về một loạt vấn đề chung của LHS Trong phần chung của BLHS VN năm 1999 có 10 chương ở các điều luụât của phần chung không phân ra phần giỉa định, qui định, chế tài

Trong phần các tội phạm, mỗi chương quy định một nhóm tội phạm cụ thể nhất định Và trong phần các tội phạm của BLHS năm 1999 có 14 chương qui định về 14 nhóm tội phạm khác nhau Trong điều luật của phần này có thể chỉ qui định về một tội phạm song không ít trường hợp tại một điều luật lại qui định nhiều tội phạm khác nhau thuộc cùng một loại tội nhất định

Qui phạm pháp luật HS bao gồm ba phần đó là phần giả định, qui định và chế tài

Phần giả định là phần xác định môi trường tác động của qui phạm PLHS Phần giả định của qui phạm PLHS được nêu ở cả hai phần của BLHS

Trang 5

Phần qui định là phần xác định loại hành vi phạm tội cụ thể Phần qui định của qui phạm PLHS có

3 loại qui định: qui định giản đơn, qui định mô tả, qui định viện dẫn

Phần chế tài là phần xác định loại và mức độ hình phạt cụ thể đối với người thực hiện tội phạm được nêu trong phần qui định của qui phạm PLHS Tội phạm càng nghiêm trọng thì chế tài càng nghiêm khắc Trong LHS VN có hai loại chế tài là chế tài tương đối dứt khoát, và chế tài lựa chọn

c Hiệu lực của đạo luật:

- Hiệu lực về không gian:

Điều 5 BLHS hiện hành quy định hiệu lực của BLHS đối với những hành vi phạm tội trên lãnh thổ VN Điều luật đó quy định:

+ BLHS được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước CHXHCNVN;+ Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước CHXHCNVN thuộc đối tượng được hưởng các đặc quyền ngoại giao hoặc quyền ưu đãi vvà miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật VN, theo các hiệp định quốc tế mà nước CHXHCNVN ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc

tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giãi quyết bằng con đường ngoại giao

Đối với những hành vi phạm tội ngoài lãnh thổ VN, luật hình sự có những quy định riêng biệt tại Điều 6 BLHS như sau:

+ Đối với trường hợp người VN phạm tội ngoài lãnh thổ nước CHXHCNVN có thể bị truy cứu TNHS tại VN theo Bộ luật này Theo nguyên tắc quốc tịch, công dân VN phải tuân thủ pháp luật

VN lúc ở trong nước cũng như khi ở nước ngoài Nếu công dân VN ở nước ngoài thực hiện hành

vi mà luật VN coi là tội phạm thì họ có thể bị xử lý tại VN theo luật hình sự VN;

+ Đối với những người không quốc tịch thường trú tại VN, phạm tội ở nước ngoài thì về nguyên tắc họ vẫn bị xử lí theo luật HS VN;

+ Người nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước CHXHCNVN, có thể bị truy cứu trách nhiệm

Hs theo BLHS VN trong những trường hợp được quy định trong các hiệp định quốc tế mà nước CHXHCNVN ký kết hoặc tham gia

- Hiệu lực theo thời gian:

Thông thường, đạo luật hình sự có hiệu lực thi hành sau khi đạo luật ấy được công bố chính thức.Điều 88 Hiến pháp nước CHXHCNVN quy định: các luật phải được công bố chậm nhất là 15 ngày sau khi đã được Quốc hội thông qua

Việc công bố luật thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước trên cơ sở nghị quyết của Quốc hội Như vậy, có thể nói đạo luật hình sự có thể có hiệu lực kể từ ngày luật ấy được Chủ tịch nước kí lệnh công bố chính thức trên các phương tiện thông tin đại chúng và trong công báo của Nhà nước.Ngoài ra, hiệu lực thi hành của đạo luật hình sự còn được xác định qua những quyết định riêng biệt của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất

Đạo luật hình sự sẽ mất hiệu lực thi hành khi bị bãi bỏ, bị đạo luật khác thay thế hoặc đã hết thời gian có hiệu lực

Theo luật HSVN, đạo luật HS chỉ có hiệu lực đối với những hành vi phạm tội xảy ra trong khi đạo luật đó đang có hiệu lực thi hành

Mặt khác: điều lụât quy định một tội phạm mới hoặc một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới, hoặc hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn TNHS, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xoá án tích và các quy định khác không có lợi cho người phạm tội, thì không được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành

Cùng với quy định trên BLHS năm 1999 còn quy định: Điều luật xoá bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc

mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn TNHS, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xoá án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành

Câu 7 Trách nhiệm hình sự và cơ sở của trách nhiệm hình sự?

TRẢ LỜI:

a KN trách nhiệm hình sự:

- KN trách nhiệm pháp lý:

Trang 6

Theo nghĩa tích cực: trách nhiệm pháp lý là bổn phận là nhiệm vụ của chủ thể quan hhệ pháp luật Theo đó, chủ thể này cần phải thực hiện đầy đủ những nhiệm vụ được giao, sử dụng mọi khả năng nhằm thực hiện tốt những nhiệm vụ đó Ngoài ra trách nhiệm pháp lý còn có thể được hiểu là nghĩa vụ của chủ thể quan hệ pháp luật phải thi hành những yêu cầu mà luật pháp quy định.

Theo nghĩa tiêu cực: trách nhiệm pháp lí đó là trách nhiệm của một người đối với hành vi vi phạm pháp luật do mình thực hiện

- KN trách nhiệm hình sự:

Trách nhiệm hình sự là một loại quan hệ pháp luật đặc biệt phát sinh khi có hành vi phạm tội xảy

ra giữa một bên là nhà nước và bên kia là người phạm tội, trong đó, Nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền của mình có quyền áp dụng bằng biện pháp cưỡng chế chhế tài hình sự đối với người phạm tội và người phạm tội có nghĩa vụ phải chịu hậu quả bất lợi (được qui định trong chhế tài hình sự) do việc thực hiện hành vi phạm tội

b Cơ sở của trách nhiệm hình sự:

Theo LHS VN, chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS qui định mới phải chịu trách nhiệm

HS Qui định này bao hàm hai nội dung: thứ nhất, chỉ người nào phạm tội mới phải chịu TNHS có nghĩa là bất kỳ ai phạm tội cũng phải chịu TNHS; thứ hai, tội phạm đó phải được BLHS qui định.Như vậy, cơ sở duy nhất làm phát sinh TNHS là tội phạm Tội phạm hiểu theo nghĩa pháp lý hình

sự, là hành vi có đủ yếu tố cấu thành do luật định Các dấu hiệu pháp lý cần và đủ của mỗi tội phạm được qui định trong BLHS được gọi là dấu hiệu cấu thành tội phạm Vậy, cơ sở của TNHS

là cấu thành tội phạm và chỉ dấu hiệu đó mới là cơ sở của TNHS Khi một hành vi hội đủ những dấu hiệu cấu thành tội phạm, thì cơ quan điều tra, truy tố, xét xử thay mặt Nhà nước mới có quyền và cần phải truy cứu TNHS đối với người thực hiện hành vi đó

Với tính cách là cơ sở của TNHS, ý nhĩa của các dấu hiệu cấu thành tội phạm được thể hiện rõ nét thông qua mối quan hệ của từng dấu hiêụ với tội phạm nói chung

Đặc trưng cơ bản của tội phạm cho phép phân định nó với các vi phạm pháp luật khác là tính chất nguy hiểm cho xã hội của nó Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm được xác định trước hết bởi thiệt hại mà hành vi phạm tội gây ra hoặc có thể gây ra cho quan hệ xã hội mà luật HS bảo vệ

- khách thể của tội phạm mmặt khác các quan hệ xã hội – khách thể của tội phạm chỉ có thể bị xâm hại thông qua hành vi cụ thể bằng hành động hoặc không hành động, nhưng nhất thiết phải là

sự biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan Hơn nữa thiệt hại do hành vi gây ra hoặc có khả năng gây ra những thông số biểu hiện hâhụ quả đã xảy ra hoặc có khả năng xảy ra Do vậy cũng không thể có tội phạm nếu không có hành vi và không có hậu quả

Một hành vi chỉ bị coi là nguy hiểm cho xã hội khi nó không phù hợp với lợi ích của nhà nước và

xã hội, khi nó đi ngược lợi ích của nhà nước và xã hội Còn những hành vi phù hợp với lợi ích của nhà nước, của xã hội, thì ngay cả khi nó gây ra những thiệt hại nhất định nào đó, về mặt khách quan, các quan hệ xã hội mà luật HS bảo vệ, thì cũng không phải là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội Chỉ có thể nói đến tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi khi hành vi đó có lỗi Lỗi là yếu tố chủ quan của tội phạm Do đó, không thể truy cứu TNHS đối với bất cứ hành vi nào nnếu không xác định được yếu tố có lỗi

Việc truy cứu TNHS đối với người thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho xã hội thông qua việc áp dụng chế tài hình sự là nhằm mục đích: trừng trị, phòng ngừa tội phạm và giáo dục, cải tạo nhười phạm tội Tuy nhiên, mục đích này chỉ có thể đạt được nếu người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức, có khả năng kiiểm soát hành vi của mình tức là có năng lực trách nhiệm Hs Nnăng lực TNHS ở một mức độ nhất định còn phụ thuộc vào độ tuổi Vì thế những dấu hiệu về chủ thể cũng không thể thiếu được trong cấu thành tội phạm

Một hành vi hội đủ những dấu hiệu trên sẽ bị coi là tội phạm khi, và chỉ khi các dấu hiệu này được qui định cụ thể trong BLHS

Câu 8 Khái niệm tội phạm trong LHS VN Phân biệt tội phạm với các vi phạm pháp luật khác?

TRẢ LỜI:

a Định nghĩa:

Tội phạm là hành vi guy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn

Trang 7

lãnh thổ tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phng2, an ninh, trật tự an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh

dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật XHCN

b Tội phạm khác với những hành vi không phải là tội phạm:

Được phân biệt thông qua bốn dấu hiệu sau của tội phạm:

- Tính nguy hiểm cho xã hội:

Tính nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu cơ bản, quan trọng nhất, quyết định những dấu hiệu khác của tội phạm Hành vi nào đó sở dĩ bị quy định trong LHS là tội phạm và phải chịu TNHS vì nó

có tính nguy hiểm cho xã hội

Nguy hiểm cho xã hội, về khách quan có nghĩa là gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được LHS bảo vệ Đó là những quan hệ xã hội có tính tương đối quan trọng hoặc quan trọng và khi bị xâm hại có thể gây ra những thiệt hại hặc những ảnh hưởng đáng kể cho điều kiện tồn tại và phát triển của chế độ XHCN Điều 8 BLHS Việt Nam đã xác định những quan

hệ xã hội đó là: độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nnền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, tính mạng, sức khoẻ, tự do, danh dự, nhân phẩm, quyền sở hữu tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân …

Những hành vi bị coi là tội phạm, theo LHS VN, phải là những hành vi xâm hại đến các quan hệ

xã hội đã được luật định Việc thừa nhận tính nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu của tội phạm cho phép làm sáng tỏ tính giai cấp trong quan niệm về tội phạm và qua đó cũng cho phép khẳng định thhêm tính giai cấp của LHS nói riêng và pháp luật nói chung

Nguy hiểm cho xã hội với nội dung dầy đủ còn có nghĩa người có hành vi gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội phải có lỗi

Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm không những là căn cứ để phân biệt hành vi là tội phạm với các hành vi vi phạm khác mà còn là cơ sở để đánh giá mức độ nghiêm trọng nhiều hay ít của hành vi phạm tội và qua đó giúp cho việc cá thể hoá TNHS được chính xác

Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm có tính khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà làm luật Với ý nghĩa là thuộc tính khách quan của tội phạm, tính nguy hiểm cho xã hội hoàn toàn có thể được con người nhận thức và nhận thức đúng Do vậy, khi khẳng định hành

vi nhất định là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội thì không có nghĩa đó là sự áp đặt theo ý muốn chủ quan của con người mà đó chỉ là sự xác nhận thực tế khách quan đã được nhận thức qua việc đánh giá nhiều tình tiết khác nhau của hành vi hoặc có liên quan đến hành vi Những tình tiết đó là:

+ Tính chất của quan hệ xã hội bị xâm hại;

+ Tính chất của hành vi khách quan, trong đó bao gồm cả tính chất của phương pháp, thủ đoạn, công cụ và phương tiện phạm tội;

+ Mức độ thiệt hại gây ra hoặc đe doạ gây ra cho quan hệ xã hội bị xâm hại;

+ Tính chất và mức độ lỗi;

+ Động cơ, mục đích của người có hành vi phạm tội;

+ Hoàn cảnh chính trị - xã hội lúc và nơi hành vi phạm tội xảy ra;

+ Nhân thân của người có hành vi phạm tội…

Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm được nhà làm luật cân nhắc và thể hiện khi qui định tội phạm, chế tài và khung chhế tài đối với tội phạm

- Tính có lỗi của hành vi:

Lỗi là thái độ chủ quan của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình đối với hậu quả của hành vi đó thể hiện dưới dạng cố ý hoặc vô ý Người bị coi là có lỗi khi người đó thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội nếu hành vi ấy la 2kết quả của sự tự lựa chọn và quyết định của chủ thể trong khi có đủ điều kiện quyết định thực hiện xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội

Xử sự của người bình thường bao giờ cũng là sự thống nhất của các yếu tố khách quan và chủ quan Hai mặt khách quan và chủ quan của tội phạm có liên hệ chặt chẽ với nhau Không thể có hành vi nguy hiểm cho xã hội mà không có lỗi của người phạm tội

Trang 8

Luật hình sự VN không chấp nhận việc qui tội khách quan, nghĩa là qui TNHS cho người chỉ căn

cứ vào việc người đó đã thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội mà không căn cứ vào lỗi của

họ Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước có mục đích giáo dục người phạm tội, phòng ngừa tội phạm mới, nhưng các mục đích đó chỉ có thể đạt được khi hình phạt được áp dụng đối với người có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội

- Tính trái pháp luật hình sự:

Theo Điều 8 BLHS, hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ có thể bị coi là tội phạm nếu được qui định trong BLHS Vậy tính trái pháp luật hình sự là dấu hiệu đòi hỏi phải có ở hành vi bị coi là tội phạm

Luật hình sự VN coi tính trái pháp luật hình sự là dấu hiệu của tội phạm nhưng không phải là dấu hiệu duy nhất mà chỉ là dấu hiệu biểu hiện mặt hình thức pháp lí của dấu hiệu tính nguy hiểm cho

xã hội – dấu hiệu cơ bản của tội phạm hai dấu hiệu này có quan hệ biện chứng của mối quan hệ giữa nội dung và hình thức

- Tính phải chịu hình phạt:

Tính phải chịu hình phạt là dấu hiệu của tội phạm nhưng không phải là thuộc tính bên trong của tội phạm tính phải chụi hình phạt là dấu hiệu kèm theo của tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự tính chất này không những chỉ thể hiện ở chỗ chỉ hành vi phạm tội mới phải chụi hình phạt mà còn thể hiện ở chỗ tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự là

cơ sở của việc cụ thể hoá tính chụi hình phạt cho từng trường hợp cụ thể Tính chụi hình phạt là dấu hiệu của tội phạm vì nó được xác đnh5 bởi chính những thuộc tính khách quan bên trong của tội phạm chỉ có hành vi phạm tội mới phải chịu biện pháp trách nhiệm là hình phạt; không có tội phạm thì cũng không có hình phạt

Nói tội phạm có tính chịu hình phạt có nghĩa là bất cứ hnàh vi phạm tội nào, do tính nguy hiểm cho xã hội cũng đều bị đe doạ phải chịu hình phạt là biện pháp cưỡng chế nhà nước có tính nghiêm khắc nhất trong hệ thống những biện pháp cưỡng chế nhà nước Nhưng điều đó không có nghĩa là việc áp dụng và thi hành trong thực tế hình phạt cụ thể là có tính chất bắt buộc tuyệt đối cho mọi trường hợp phạm tội Trong thực tế vẫn có trường hợp người phạm tội không phải chịu hình phạt, dó là những trường hợp có tội nhưng được miễn TNHS, được miễn hình phạt hoặc được miễn chấp hành hình phạt

Câu 9 Phân loại tội phạm trong luật hình sự?

TRẢ LỜI:

Tội phạm tuy có chung những dấu hiệu của nó nhưng những hành vi tội phạm cụ thể có tính chất

và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất khác nhau

Phân loại tội phạm được thực hiện trong phần chung và phần các tội phạm của BLHS

Phân loại tội phạm ở phần chung của luật hình sự là việc phân chia tất cả các tôị phạm được quy định trong pháp luật hình sự thành các nhóm dựa trên tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của các tội phạm với việc qui định rõ hậu quả pháp lí đối với các nhóm tội phạm ấy

Phân loại tội phạm ở phần các tội phạm của PLHS là việc phân chia tất cả các tội phạm dựa trên khách thể loại của chúng và được hệ thống hoá theo các chương với một trật tự logic nhất định và với việc qui định rõ hậu quả pháp lí đối với từng tội phạm cụ thể

Phân loại tội phạm trong phần chung đưa ra cơ sở chung nhất cho việc phân hoá trách nhiệm hình

sự và cho việc phân loại tội phạm trong phần các tội phạm của PLHS

Luật hình sự VN – phần chung - phân tội phạm ra làm bốn loại tội phạm khác nhau:

Trang 9

Là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hinh’

.PLHS VN phân loại tội phạm dựa trên tiêu chuẩn về nội dung của tội phạm và mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm được thể hiện trong pháp luật thông qua đơn vị đo lường chính là loại và mức hình phạt

ngoài cách phân loại tội phạm như trên, trong phần chung và phần các tội phạm của pháp luật hình sự VN, dựa vào các căn cứ khác, các tội phạm còn được phân thành các loại khác nhau: như dựa vào hình thức lỗi, tội phạm được phân thành loại tội cố ý, laọi tội vô ý

Việc phân loại tội phạm là cơ sở thống nhất cho việc xây dựng các chế định khác về tội phạm và hình phạt:

- Đối với việc xây dựng chế định chuẩu bị phạm tội

- Đối với việc xây dựng hệ thống hình phạt và điều kiện áp dụng các hình phạt cụ thể

- Đối với việc qui định chế định thời hiệu;

- Đối với việc xác định tái phạm và tái phạm nguy hiểm

Câu 10 Cấu thành tội phạm?

TRẢ LỜI:

a Khái niệm cấu thành tội phạm:

Cấu thành tội phạm là tổng hợp những dấu hiệu chung có tính đặc trưng cho loại tội phạm cụ thể được qui định trong luật hình sự

Cấu thành tội phạm được coi là khái niệm pháp lí của loại tội phạm cụ thể, là sự mô tả khái quát loại tội phạm nhất định trong luật hình sự quan hệ giữa tội phạm với cấu thành tội phạm là quan

hệ giữa hiện tượng và khái niệm Tội phạm là hiện tượng xã hội cụ thể, tồn tại khách quan còn cấu thành tội phạm là khái niệm pháp lí của hiện tượng đó

Để nêu ra các đặc điểm, đặc trưng của các bộ phận của cấu thành tội phạm khoa học luật hình sự

VN sử dụng khái niệm dấu hiệu cấu thành tội phạm Các dấu hiệu như vậy không tồn tại bên ngoài các yếu tố của tội phạm cấu thành tội phạm chứa đựng bốn nhóm các dấu hiệu đặc trưng cho bốn yếu tố của tội phạm: khách thể, chủ thể, mặt khách quan và mặt chủ quan

Các dấu hiệu được mô tả trong cấu thành tội phạm là những dấu hiệu phản ánh nội dung các yếu

tố của tội phạm Nhưng không phải tất cả các dấu hiệu của bốn yếu tố đều được đưa vào cấu thành tội phạm có những dấu hiệu bắt buộc phải có trong tất cả các cấu thành tội phạm; có những dấu hiệu có thể có trong cấu thành tội phạm của tội này nhưng lại không có trong cấu thành tội phạm của những tội khác Những dấu hiệu bắt buộc phải có trong tất cả các cấu thành tội phạm là:

- Dấu hiệu hành vi thuộc yếu tố mặt khách quan của tội phạm;

- Dấu hiệu lỗi thuộc yếu tố mặt chủ quan của tội phạm;

- Dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi thuộc yếu tố chủ thể của tội phạm

Ngoài những dấu hiệu kể trên, những dấu hiệu khác của bốn yếu tố cấu thành tội phạm đều là những dấu hiệu không bắt buộc phải có trong mọi cấu thành tội phạm như dấu hiệu hậu quả, dấu hiệu mục đích phạm tội, động cơ phạm tội

b.Đặc điểm của các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm:

- Các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm đều do luật qui định;

- Các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm có tính đặc trưng;

- Các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm có tính bắt buộc

c Ý nghĩa của cấu thành tội phạm:

- Cấu thành tội phạm là cơ sở pháp lí của trách nhiệm hình sự;

- Cấu thành tội phạm là căn cứ pháp lí để định tội;

- Cấu thành tội phạm là căn cứ pháp lí để định khung hình phạt

Câu 11 Các yếu tố cấu thành tội phạm Phân loại cấu thành tội phạm?

TRẢ LỜI:

a Các yếu tố cấu thành tội phạm:

Các yếu tố cấu thành tội phạm là các bộ phận cấu thành tội phạm Theo khoa học luật hình sự VN các yếu tố cấu thành tội phạm bao gồm:

Trang 10

- Khách thể của tội phạm: là quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại không có sự xâm hại quan hệ

xã hội được được luật hình sự bảo vệ thì không có tội phạm trong lý luận về luật hình sự, việc gây thiệt hại đối với khách thể đã được qui định trong luật hình sự được gọi là hậu quả Giữa hành

vi phạm tội đã được thực hiện và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra tốn tại mối quan hệ nhân quả

- Chủ thể của tội phạm: là con người cụ thể có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật

định đã thực hiện hành vi phạm tội Ngoài ra, ở những tội nhất định, còn đòi hỏi chủ thể phải có các dấu hiệu khác, thể hiện những đặc điểm nhất định của chủ thể Bất cứ tội phạm cụ thể nào cũng phải có chủ thể;

- Mặt khách quan của tội phạm: là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm, là những biểu hiện

bên ngoài của tội phạm, là những biểu hiện của tội phạm ra thế giới khách quan, bao gồm: hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả cũng như những điều kiện bên ngoài khác Bất cứ tội phạm cụ thể nào cũng đều phải có những dấu hiệu bên ngoài

- Mặt chủ quan của tội phạm: là mặt bên trong của tội phạm, là trạng thái tâm lí của chủ thể đối

với hành vi phạm tội và hậu quả phạm tội, bao gồm: lỗi, mục đích và động cơ phạm tội bất cứ tội phạm cụ thể nào cũng là hành vi có lỗi Động cơ và mục đích phạm tội là nội dung biểu hiện của mặt chủ quan ở một số tội nhất định

Cấu thành tội phạm bao gồm bốn nhóm các dấu hiệu đặc trưng cho bốn yếu tố trên Mỗi một yếu

tố cấu thành tội phạm bao gồm các dấu hiệu khác nhau Căn cứ vào vai trò của các dấu hiệu đối với cấu thành tội phạm, có thể phân tất cả các dấu hiệu thuộc nội dung các yêú tố cấu thành tội phạm thành hai loại:

- Các dấu hiệu bắt buộc phải có trong mọi cấu thành tội phạm Đó là: Dấu hiệu hành vi thuộc yếu

tố mặt khách quan của tội phạm; Dấu hiệu lỗi thuộc yếu tố mặt chủ quan của tội phạm; Dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi thuộc yếu tố chủ thể của tội phạm

- Các dấu hiệu không bắt buộc phải có trong mọi cấu thành tội phạm: như dấu hiệu hậu quả, dấu hiệu mục đích phạm tội, động cơ phạm tội

Theo luật hình sự VN, bất cứ hành vi phạm tội nào cũng đều là chủ thể thống nhất giữa mặt khách quan và chủ quan – giữa những biểu hiện bên ngoài và những quan hệ tâm lí bên trong, đều là hoạt động của con người cụ thể, xâm hại hoặc nhằm xâm hại những quan hệ xã hội nhất định Sự thống nhất của bốn yếu tố này là hình thức cấu trúc, thể hiện đầy đủ nội dung chính trị, xã hội của tội phạm Nếu về mặt nội dung chính trị, xã hội những hành vi phạm tội có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau thì về mặt cấu trúc, bốn yếu tố cấu thành tội phạm cũng có những nội dung biểu hiện khác nhau Chính sự khác nhau này quyết định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội

b Phân loại cấu thành tội phạm:

- Phân loại theo mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội được cấu thành tội phạm phản ánh: Được phân làm ba loại :

+ Cấu thành tội phạm cơ bản: là cấu thành tội phạm chỉ có dấu hiệu định tội – dấu hiệu mô tả tội phạm và cho phép phân biệt tội này với tội khác;

+ Cấu thành tội phạm tăng nặng: là cấu thành tội phạm mà ngoài dấu hiệu định tội còn có thêm dấu hiệu phản ánh tội phãm có mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội tăng lên một cách đáng kể;+ Cấu thành tội phạm giảm nhẹ: là cấu thành tội phạm mà ngoài dấu hiệu định tội còn có thêm dấu hiệu phản ánh tội phãm có mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội giảm xuống một cách đáng kể

- Phân loại theo đặc điểm cấu trúc của cấu thành tội phạm:

Dựa vào đặc điểm cấu trúc của các dấu hiệu thuộc mặt khách quan có thể chia cấu thành tội phạm thành cấu thành tội phạm vật chất và cấu thành tội phạm hình thức:

+ Cấu thành tội phạm vật chất: là cấu thành tội phạm mà nội dung mặt khách quan của nó luật qui định các dấu hiệu hành vi, hậu quả và mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả

Dấu hiệu hậu quả - và mối quan hệ nhân quả - trong cấu thành tội phạm vật chất được thể hiện ở hai mức độ khác nhau:

Thứ nhất, nếu hành vi đã gây ra hậu quả mà điều luật đã qui định thì mới cấu thành tội phạm;

Trang 11

Thứ hai, nếu hành vi đã gây ra hậu quả mà điều luật qui định thì tội phạm mới được coi là hoàn thành.

+ Cấu thành tội phạm hình thức: là cấu thành tội phạm có một dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi nguy hiểm cho xã hội Đối với các tội phạm có cấu thành hình thức, thì chỉ cần có việc đã thực hiện hành vi khách qun đã được qui định trong điều luật qui định tội phạm, thì hành vi đó bị coi là tội phạm và tội phạm đã hoàn thành

Dựa vào đặc điểm cấu trúc của cấu thành tội phạm, người ta còn phân cấu thành tội phạm thanh một loại cấu thành khác nữa là cấu thành tội phạm cắt xén Đây là một dạng đặc biệt của cấu thành tội phạm hình thức Cũng như trong cấu thành tội phạm hình thức, trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm cắt xén luật chỉ qui định dấu hiệu hành vi, không qui định dấu hiệu hậu quả Nhưng hành vi trong cấu thành tội phạm cắt xén khác với hành vi trong cấu thành tội phạm hình thức Điểm khác nhau đó thể hiện ở chỗ hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm cắt xén chỉ là một bộ phận hay một giai đoạn của hành vi mà người phạm tội mong muốn thực hiện để gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhằm đạt được mục đích nhất định Đối với cấu thành tội phạm cắt xén, thì chỉ cần có việc thực hiện hành vi cắt xén đã được mô tả trong điều luật tương ứng, mà không đòi hỏi phải có việc thực hiện đầy đủ hành vi mà người phạm tội mong muốn, thì hành vi phạm tội đó đã được coi là hoàn thành

- Dựa vào phương thức mô tả các dấu hiệu của cấu thành tội pham: người ta phân thành :

+ Cấu thành tội phạm giản đơn: là cấu thành tội phạm chỉ mô tả một hành vi phạm tội xâm hại đến một khách thể

+ Cấu thành tội phạm phức hợp: là cấu thành tội phạm mô tả nhiều dấu hiệu, yếu tố nào đó

Câu 12 Khách thể của tội phạm Mối quan hệ giữa khách thể của tội phạm và đối tượng tác động của tội phạm?

TRẢ LỜI:

a Khách thể của tội phạm:

Luật hình sự Vn trên cơ sở thừa nhận tính giai cấp của pháp luật nói chung cũng như của luật hình

sự nói riêng khẳng định: khách thể bị tội phạm gây thiệt hại là hệ thống những quan hệ xã hội có giai cấp được luật hình sự của chế độ đó bảo vệ

Trong hệ thống những quan hệ xã hội phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị, các quan hệ xã hội có ý nghĩa khác nhau đối với sự củng cố và phát triển của xã hội và được nhà nước bảo vệ bằng những loại qui phạm pháp luật khác nhau với những biện pháp cưỡng chế khác nhau Khách thể bảo vệ của luật hình sự là những quan hệ xã hội được nhà nước xác định cần được bảo vệ bằng những quy phạm pháp luật hình sự Những quan hệ đó sẽ là khách thể của tội phạm trong trường hợp chúng bị gây thiệt hại hoặc bị đe doạ gây thiệt hại ở mức độ nhất định Vậy:

Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại

b Các loại khách thể của tội phạm:

Theo lý luận Luật hình sự, khách thể của tội phạm được phân thành ba loại:

- Khách thể chung của tội phạm: là tổng hợp các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ khỏi sự xâm hại của tội phạm

- Khách thể loại của tội phạm: là nhóm quan hệ xã hội cùng tính chất được nhóm các quy phạm pháp luật hình sự bảo vệ khỏi sự xâm hại của nhóm tội phạm

- Khách thể trực tiếp của tội phạm: là quan hệ xã hội cụ thể bị loại tội phạm cụ thể trực tiếp xâm hại

c Mối quan hệ giữa khách thể của tội phạm và đối tượng tác động của tội phạm:

Đối tượng tác động của tội phạm là bộ phận của khách thể của tội phạm mà khi tác động đến bộ phận này người phạm tội gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho quan hệ xã hội được luật hình

sự bảo vệ

Đối tượng tác động của tội phạm tồn tại dưới các dạng sau: là con người; là đối tượng vật chất cụ thể thuộc thế giới bên ngoài; là hoạt động bình thường của con người khi tham gia các quan hệ xã hội với tư cách là chủ thể của quan hệ xã hội

Xuất phát từ quan niệm như vậy, thì mọi tội phạm đều có đối tượng tác động của mình

Mọi hành vi phạm tội khi tác động đến đối tượng tác động của tội phạm để gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm, thì đồng thời cũng làm biến đổi trạng thái bình thường của đối tượng tác

Trang 12

động Do vậy cần phân biệt sự gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm với những biến đổi cụ thể của đối tượng tác động Trong nhiều trường hợp hành vi phạm tội gây thiệt hại cho quan hệ xã hội

là khách thể của tội phạm, nhưng đối tượng tác động của tội phạm không bị xấu đi so với tình trạng trước khi tác động Trong một số trường hợp hành vi phạm tội gây thiệt hại cho các quan hệ

xã hội là khách thể của tội phạm và đồng thời cũng làm biến đổi trạng thái, huỷ hoại đối tượng tác động Như vậy, trong mọi trường hợp tội phạm bao giờ cũng gây ra hoặc đe doạ gây ra thiiệt hại cho các quan hệ xã hội là khách thể của nó, còn ở đó đối tượng tác động của tội phạm có thể bị gây hư hại và cũng có thể không bị gây hư hại

Đối tượng tác động của tội phạm có thể là sự thể hiện vật chấc của các quan hệ xã hội tương ứng,

là tiền đề vật chất hoặc điều kiện cần thiết của sự tồn tại hoặc phát triển của các quan hệxã hội nhất định Đối tượng của tội phạm có thể là bằng chứng của sự hiện có các quan hệ xã hội với tư cách là khách thể của tội phạm

Câu 13 Mặt khách quan của tội phạm?

TRẢ LỜI:

Bất cứ tội phạm nào khi xảy ra cũng đều có những biểu hiện diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài mà con người có thể trực tiếp nhận biết được Đó là:

- Hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội;

- Hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả;

- Các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội

Tổng hợp những biểu hiện trên tạo thành mặt khách quan của tội phạm Vậy, mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan

Trong cấu thành tội phạm, không phải tất cả các biểu hiện của mặt khách quan là là dấu hiệu của cấu thành tội phạm Hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu được phản ánh trong tất cả các cấu thành tội phạm cơ bản các nội dung biểu hiện khác của mặt khách quan chỉ được phản ánh trong những cấu thành tội phạm nhất định có thể là cơ bản hoặc là cấu thành tội phạm tăng nặng

Mặt khách quan của tội phạm là một trong bốn yếu tố của tội phạm Không có mặt khách quan thì cũng không có các yếu tố khác của tội phạm và do vậy cũng không có tội phạm

Việc nghiên cứu những tình tiết của mặt khách quan của tội phạm có những ý nghĩa thực tiễn sau:

- Trong các cấu thành tội phạm cơ bản, dấu hiệu hành vi thuộc mặt khách quan và có thể một số nội dung biểu hiện khác của mặt khách quan được phản ánh là dấu hiệu bắt buộc Do vậy, việc nghiên cứu các tình tiết thuộc mặt khách quan của tội phạm có ý nghĩa trước hết đối với việc định tội Việc xác định hành vi cụ thể có cấu thành tội phạm hay không thường bắt đầu từ việc nghiên cứu mặt khách quan Chỉ khi đã xác định trong hành vi của con người có những dấu hiệu khách quan của tội phạm thì vấn đề xem xét mặt chủ quan mới được đặt ra

- Trong cấu thành tội phạm tăng nặng của một số tội phạm, biểu hiện của mặt khách quan được phản ánh là dấu hiệu định khung Do vậy ngoài ý nghĩa trong việc định tội, việc nghiên cứu còn

có thể có ý nghĩa trong việc định khung hình phạt

- Trong những tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự được qui định trong BLHS

có nhiều tình tiết thuộc mặt khách quan của tội phạm Do vậy việc nghiên cứu mặt khách quan cuủa tội phạm có ý nghĩa trong việc đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và qua đó

có ý nghĩa trong việc xác định mức độ TNHS của người thực hiện hành vi đó

- Việc nghiên cứu những tình tiết thuộc mặt khách quan của tội phạm trong nhiều trường hợp có ý nghĩa trong việc xác định mặt chủ quan của tội phạm, trước hết là xác định lỗi cũng như đánh giá mức độ lỗi của người phạm tội

Câu 14 Hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm Mối quan hệ giữa hậu quả của tội phạm với hành vi phạm tội?

TRẢ LỜI:

a Hành vi phạm tội:

Trang 13

hành vi phạm tội là sự xử sự cụ thể của con người được thể hiện ra thế giới khách quan dưới những hình thức nhất định gây ra thiệt hại hoặc đe doạ gây thiiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ.

Hành vi phạm tội có các dấu hiệu nhất định:

- Hành vi phạm tội bao giờ cũng là hành vi có ý thức và có ý chí Đây là dấu hiệu bắt buộc của hành vi phạm tội

- Hành vi phạm tội là hành vi có tính nguy hiểm cho xã hội và trái pháp luật hình sự Tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội là dấu hiệu cơ bản để phân biệt hành vi phạm tội với những hành vi khác

Hành vi phậm tội được thể hiện dưới hai hình thức là: hành động phạm tội và không hành động phạm tội

- Hành động phạm tội là hình thức của hành vi phạm tội làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động gây thiệt hại cho khách thể bằng việc chủ thể làm một việc bị pháp luật hình

sự nghiêm cấm

- Không hành động phạm tội là hình thức của hành vi phạm tội làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động, gây thiệt hại cho khách thể bằng viiệc chủ thể không làm một việc

mà pháp luật yêu cầu phải làm, mặc dù có đủ điều kiện và khả năng để làm

b Hậu quả của tội phạm:

Hậu quả của tội phạm là thiệt hại – sự thay đổi nguy hiểm – do hành vi phạm tội gây ra cho các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ

Hậu quả nguy hiểm cho xã hội là thiệt hại gây ra cho quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, thể hiện dưới các dạng:

- Thiệt hại về vật chất;

- Thiệt hại về thể chất;

- Thiệt hại về tinh thần;

- Các biến đổi khác

Việc nghiên cứu hậu quả của tội phạm có những ý nghĩa thực tiễn sau:

- Đối với tội có cấu thành tội phạm vật chất, việc xác định hậu quả của tội phạm có ý nghĩa đối với việc định tội

- Đối với trường hợp cấu thành tội phạm tăng nặng có dấu hiệu phản ánh hậu quả hoặc mức độ hậu quả, việc xác định hậu quả của tội phạm có ý nghĩa đối với việc định khung hình phạt

- Đối với trường hợp khác, việc xác định mức độ hậu quả cũng luôn cần thiết vì đó là căn cứ để đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và do vậy là căn cứ để quyê7t1 định hình phạt

c Mối quan hệ giữa hậu quả của tội phạm với hành vi phạm tội:

Theo Luật hình sự VN, chỉ có thể truy cứu TNHS một người về hậu quả nguy hiểm cho xã hội với điều kiện nếu như hậu quả đó ở trong mối quan hệ nhân quả với hành động phạm tội hoặc không hành động phạm tội của người đó

Căn cứ vào nội dung của cặp phạm trù nhân – quả theo phép biện chứng duy vật, có thể tóm tắt những căn cứ cho phép khẳng định sự tồn tại quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và hậu quả nguy hiểm cho xã hội đã xảy ra như sau:

- Hành vi trái pháp luật phải xảy ra trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội về mặt thời gian

- Hành vi trái pháp luật độc lập hoặc trong mối liên hệ tổng hợp với một hoặc nhiều hiện tượng khác phải chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả nguy hiểm cho xã hội

- Hậu quả nguy hiểm đã xảy ra phải đúng là sự hiện thực hoá khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả của hành vi trái pháp luật

Vậy, mối quan hệ nhân quả trong luật hình sự là mối quan hệ khách quan giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả đã xảy ra, trong đó hành vi nguy hiểm cho xã hội, xét về mặt thời gian xảy

ra trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội, chuẩn bị và xác định khả năng thực tế bên trong làm phát sinh hậu quả nguy hiểm cho xã hội và là nguyên nhân chính và trực tiếp tất yếu gây ra hậu quả đó

5 Chủ thể của tội phạm?

TRẢ LỜI:

a Khái niệm:

Trang 14

Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể đã cố ý hoặc vô ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được Luật hình sự quy định là tội phạm trong tình trạng có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định do luật định và trong một số trường hợp khác có các dấu hiệu đặc biệt được chỉ ra trong điều luật tương ứng.

b Năng lực TNHS:

Năng lực TNHS là điều kiện cần thiết để có thể xác định con người có lỗi khi họ thực hiện hành

vi nguy hiểm cho xã hội Chỉ người có năng lực TNHS mới có thể là chủ thể của tội phạm

Người có năng lực trách nhiệm hình sự là người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và có khả năng điều khiển được hành vi ấy

Người có năng lực TNHS theo luật HS VN là người đã đạt độ tuổi chịu TNHS và không thuộc trường hợp ở trong tình trạng không có năng lực TNHS

- Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự: 3 BLHS quy định: người ở trong tình trạng không có năng lực TNHS là người đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình

Bên cạnh tình trạng không có năng lực TNHS, luật hình sự Vn còn thừa nhận trường hợp tình trạng năng lực TNHS hạn chế Đây là trường hợp người do mắc bệnh nnên năng lực nhận thức hoặc năng lực điều khiển hành vi đã bị hạn chế Người này không thuộc loại người không có điều kiện để có lỗi nhưng tình trạng tình trạng năng lực TNHS hạn chế có ảnh hưởng nhất định đến mức độ lỗi lỗi của họ cũng là lỗi hạn chế và do vậy, luật hình sự Vn coi tình trạng năng lực TNHS hạn chhế là tình tiết giảm nhẹ

- Người phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất khích thíc mạnh khác, thì vẫn phải chịu TNHS

c Tuổi chịu trách nhiệm hình sự:

Người từ 6 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất ngiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

d Chủ thể đặc biệt của tội phạm:

Chủ thể đặc biệt của tội phạm là người cùng với các dấu hiệu bắt buộc chung của chủ thể của tội phạm còn có các dấu hiệu bổ sung bắt buộc đối với cấu thành tội phạm đó

Việc quy định chủ thể đặc biệt không phải là nhằm truy cứu TNHS người có đặc điểm nhất định

về nhân thân mà vẫn nhằm truy cứu TNHS hành vi nguy hiểm cho xã hội và hành vi đó chỉ có thể được thực hiện bởi người có đặc điểm nhất định về nhân thân Theo luật hình sự VN, những đặc điểm nhất định đó có thể thuộc những loại sau:

- Các đặc điểm liên quan đến chức vụ, quyền hạn;

- Các đặc điểm liên quan đến nghề nghiệp, tính chất công việc ;

- Các đặc điểm liên quan đến nghĩa vụ phải thực hiện;

- Các đặc điểm liên quan đến giới tính, lứa tuổi, quan hệ gia đình;

- Các đặc điểm liên quan đến địa vị pháp lý của một người

e Nhân thân người phạm phạm tội:

Nhân thân người phạm tội trong luật hình sự được hiểu là tổng hợp những đặc điểm riêng biiệt của người phạm tội có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vấn đề trách nhiệm hình sự của

họ

Những đặc điểm đó có thể là tuổi, nghề nghiệp, thái độ làm việc, thái độ trong quan hệ với những người khác, trình độ văn hoá, lối sống, hoàn cảnh gia đình và đời sống kinh tế, thái độ chính trị, ý thức pháp luật, tôn giáo, tiền án, tiền sự,

Câu 16 Mặt chủ quan của tội phạm Lỗi và các hình thức lỗi theo luật hình sự Việt nam Động cơ và mục đích của tội phạm?

TRẢ LỜI:

a Mặt chủ quan của tội phạm:

Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của tội phạm, là thái độ tâm lí của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội do họ thực hiện và với hậu quả do hành vi đó gây ra cho xã hội hoặc đối với khả năng gây ra hậu quả đó

Ngày đăng: 02/06/2016, 10:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w