BÀI LÀM a Bất kỳ người nào phạm tội nghiêm trọng, phạm tội đặc biệt nghiêm trọng đều bị áp dụng biện pháp tạm giam Khẳng định sai Vì: Căn cứ khoản 2 Điều 88 Bộ Luật tố tụng hình sự: “ …Đ
Trang 1BÀI TẬP CÁ NHÂN TUẦN SỐ 1
Bài 2 Những khẳng định sau đây đúng hay sai, tại sao?
a Bất kỳ người nào phạm tội rất nghiêm trọng, phạm tội đặc biệt nghiêm trọng đều bị áp dụng biện pháp tạm giam.
b Không chỉ Tòa án mới có quyền xử lý vật chứng.
Trang 2BÀI LÀM a) Bất kỳ người nào phạm tội nghiêm trọng, phạm tội đặc biệt nghiêm trọng đều bị áp dụng biện pháp tạm giam
Khẳng định sai Vì:
Căn cứ khoản 2 Điều 88 Bộ Luật tố tụng hình sự: “ …Đối với bị can, bị cáo
là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác, trừ những trường hợp sau đây:
a) Bị can, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã
b) Bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác và tiếp tục phạm tội hoặc cố ý gây cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra truy tố, xét xử c) Bị can, bị cáo phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng nếu không tạm giam đối với họ có thể gây nguy hại cho an ninh quốc gia”
Như vây, không phải bất kỳ người nào phạm tội rất nghiêm trọng đặc biệt nghiêm trọng đều bị áp dụng biện pháp tạm giam, pháp luật quy định nếu bị can,
bị cáo là phụ nữ có thai, hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng, và không thuộc các trường hợp được quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 8 thì không tạm giam
mà áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác
Quy định trên đây xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo của Nhà nước nhằm bảo
vệ phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con nhỏ và người già yếu, người bị bệnh nặng Đồng thời cũng xuất phát từ đặc điểm của các đối tượng trên và mục đích tạm giam Mục đích của tam giam là thống nhất, ngăn chặn không để bị can, bị cáo có điều kiện tiếp tục phạm tội hoặc có hành vi gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án Bị can, bị cáo là phụ nữ có thai, người đang nuôi con nhỏ, người già yếu, người bị bệnh nặng là những đối tượng đang cần sự chăm sóc, bảo vệ của
Trang 3người khác, và rất khó để có thể tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội cũng như gây khó khăn cho hoạt động điều tra
Quy định tại khoản 2 Điều 88 Bộ luật tố tụng hình sự một mặt thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước, mặt khác trên thực tế các đối tượng thường lợi dụng quy định này để trốn tránh việc tạm giam, tù giam, đối phó với các cơ quan tiến hành tố tụng.Tình trạng phổ biện hiện này đó là là việc bị can, bị cáo là phụ
nữ đã phạm tội rất nghiêm trọng, hoặc đặc biệt nghiêm trọng nhưng lại có thai để được tại ngoại, đến khi hết thời hạn được áp dụng các biện pháp khác thì các đối tượng này lại tự đặt mình vào trường hợp được hưởng quyền ưu đãi đặc biệt trên.1
Theo quan điểm cá nhân, quy định tại khoản 2 Điều 88 nên được bổ sung hoàn thiện hơn, cần quy định các trường hợp bị can, bị cáo nếu cố tình lợi dụng việc có thai, nuôi con dưới ba sáu tháng tuổi nhằm cản trở hoạt động tố tụng thì vẫn phải áp dụng biện pháp tạm giam
Tóm lại, không phải bất kỳ người nào phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng đều bị áp dụng biện pháp tạm giam, trường hợp ngoại lệ đó là phụ
nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới ba sáu tháng tuổi, người già yếu, người
bị bệnh nặng có nơi cư trú ổn định và không thuộc các trường hợp thuộc điểm a,
b, c khoản 2 Điều 88 Bộ luật tố tụng hình sự Vì vậy, khẳng định trên là sai.
b Không chỉ có Tòa án mới có quyền xử lí vật chứng
Khẳng định trên là đúng vì:
Căn cứ Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: “ Việc xử lí vật chứng do cơ quan điều tra quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm
phạm tội buôn bán, sử dụng ma túy(http://vietbao.vn/An-ninh-Phap-luat/Dung-ke-lien-tuc-de-de-tri-hoan-tu-toi/55065138/218/)
Tại Lao Cai, có đến 50 người nợ án ma túy chủ yếu là phụ nữ đang mang thai hoặc nuôi con nhỏ dưới ba sáu tháng tuổi (http://vietbao.vn/Xa-hoi/De-con-lien-tuc-chieu-ne-an-tu-dac-dung/ 20723254/157/)
Trang 4sát quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Tòa án hoặc Hội đồng xét xử quyết định ở giai đoạn xét xử Việc thi hành các quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản.”
Từ quy định trên có thể thấy rằng tùy theo tính chất của vật chứng và giai đoạn tố tụng mà vụ án được đình chỉ, thẩm quyền xử lý vật chứng thuộc về cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án Nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra hoặc xét thấy xử lí vật chứng không ảnh hưởng đến giải quyết vụ án thì
cơ quan điều tra quyết định xử lý vật chứng; nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố hoặc xét thấy việc xử lý vật chứng không ảnh hưởng đến việc giải quyết
vụ án thì Viện kiểm sát quyết định xử lý vật chứng; Tòa án hoặc hội đồng xét xử quyết định xử lý vật chứng tại giai đoạn xét xử Do vậy không chỉ có Tòa án mới
có quyền xử lý vật chứng, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cũng có quyền xử lý vật chứng nếu xét thấy việc xử lý là cần thiết và không ảnh hưởng đến các hoạt động khác
Vật chứng là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng để giải quyết vụ án hình sự và ở từng giai đoạn khác nhau thì việc xử lý vật chứng thuộc về các cơ quan khác nhau Quy định này là hợp lí bởi lẽ xuất phát từ chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng trong từng giai đoạn cụ thể, vật chứng được thu thập, có giá trị trong hoạt động tố tụng nào thì sẽ do cơ quan đó quyết định xử lí mà không làm ảnh hưởng đến đến quá trình giải quyết vụ án Sẽ
là vô lý nếu như vụ án đã bị đình chỉ ở giai đoạn điều tra nhưng việc xử lý vật chứng lại do Tòa án quyết định bởi lẽ trong giai đoạn điều tra Tòa án sẽ không
có thẩm quyền về mặt pháp lí cũng như không thể xem xét giá trị chứng minh của vật chứng đối với các hoạt động tố tụng khác
Tóm lại, không chỉ Tòa án mới có quyền xử lý vật chứng, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có quyền xử lý vật chứng trong từng giai đoạn tố tụng cụ thể Khẳng định đã nêu ra là đúng
Trang 5DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ luật tố tụng hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2003
2 Giáo trình Luật tố tụng hình sự, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công
an nhân dân, năm 2009
3 Giáo trình Luật tố tụng hình sự, khoa Luật trường Đại học quốc gia, nxb Đại học quốc gia, năm 2006
4 http://vietbao.vn/Xa-hoi/De-con-lien-tuc-chieu-ne-an-tu-dac-dung/
20723254/157/
5 http://vietbao.vn/An-ninh-Phap-luat/Dung-ke-lien-tuc-de-de-tri-hoan-tu-toi/55065138/218/
6 http://luathinhsu.wordpress.com/2011/02/21/ban-ve-khai-niem-vat-chung-trong-luat-to-tung-hinh-su-viet-nam/