1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BÀI TẬP CÁ NHÂN TUẦN MÔN LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

3 793 6

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 15,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo khoản 4 Điều 164 Bộ Luật tố tụng hình sự thì “ Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được quyết định đình chỉ điều tra của Cơ quan điều tra, nếu thấy quyết định đình chỉ điề

Trang 1

BÀI TẬP CÁ NHÂN TUẦN MÔN LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ Câu hỏi:

Những khẳng định sau đây đúng hay sai, tại sao?

a Viện kiểm sát có quyền hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra của Cơ quan điều tra

b Toà án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm chỉ có thể là Toà án nhân dân cấp huyện

BÀI LÀM

a Khẳng định a: “Viện kiểm sát có quyền huỷ bỏ quyết định đình chỉ

điều tra của Cơ quan điều tra” là Đúng.

Viện kiểm sát ngoài chức năng thực hiện quyền công tố còn có chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp Theo Hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001, chức năng kiểm sát của Viện kiểm sát đã bị thu gọn so với trước đây, chỉ gói gọn trong kiểm sát hoạt động tư pháp của cơ quan điều tra, toà án, cơ quan thi hành án các cấp nhằm bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, tránh bỏ lọt người, lọt tội

Theo khoản 4 Điều 164 Bộ Luật tố tụng hình sự thì “ Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được quyết định đình chỉ điều tra của Cơ quan điều tra, nếu thấy quyết định đình chỉ điều tra có căn cứ thì Viện kiểm sát phải trả lại hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra để giải quyết theo thẩm quyền; nếu thấy quyết định đình chỉ điều tra không có căn cứ thì huỷ bỏ quyết định đình chỉ điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra phục hồi điều tra; nếu thấy đủ căn cứ để truy tố thì huỷ bỏ quyết định đình chỉ điều tra và ra quyết định truy tố Thời hạn ra quyết định truy tố được thực hiện theo quy định tại điều 166 của Bộ luật này”.

Như vậy, trong trường hợp quyết định đình chỉ điều tra của Cơ quan điều tra không có căn cứ thì Viện kiểm sát có quyền huỷ bỏ quyết định đình chỉ

Trang 2

điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra phục hồi điều tra, nếu thấy đủ căn cứ để truy tố thì huỷ bỏ quyết định đình chỉ điều tra và ra quyết định truy tố

Vậy, khẳng định là Đúng.

b Khẳng định b: “Toà án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm chỉ có thể là Toà án nhân dân cấp huyện và Toà án quân sự khu vực” là Sai.

Xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà án có ý nghĩa quan trọng

và là cơ sở để xác định thẩm quyền xét xử của Toà án trong các giai đoạn tiếp theo Thẩm quyền xét xử sơ thẩm là quyền mà pháp luật quy định cho phép Toà án được xét xử sơ thẩm vụ án hình sự căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; đối tượng phạm tội; nơi thực hiện tội phạm hoặc nơi khác theo quy định của pháp luật

Điều 170 Bộ Luật tố tụng hình sự quy định về thẩm quyền xét xử của Toà án các cấp:

“1 Toà án nhân dân cấp huyện và Toà án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội phạm sau đây:

a Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;

b Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh;

c Các tội quy định tại các Điều 93, 95, 96,172, 216, 217, 218, 219, 221,

222, 223, 224, 225, 226, 263, 293, 294, 295, 296, 322 và 323 của Bộ luật hình sự.

2 Toà án nhân dân cấp tỉnh và Toà án quân sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm không thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp huyện và Toà án quân sự khu vực hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án cấp dưới mà mình lấy lên để xét xử.”

Tại khoản 1 điều 170 Bộ Luật tố tụng hình sự, Toà án nhân dân cấp huyện và Toà án quân sự khu vực có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự trừ những tội phạm thuộc khoản a, b, c được quy định tại điều 170 Tại khoản 2 điều này thì Toà án nhân dân cấp tỉnh và Toà án quân sự cấp

Trang 3

quân khu cũng có quyền xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm không thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp huyện và Toà án quân sự khu vực hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án cấp dưới mà mình lấy lên để xét xử Đó thường là:

- Vụ án phức tạp: có nhiều tình tiết khó đánh giá thống nấht về tính chất

vụ án hoặc liên quan đến nhiêu cấp, nhiều ngành

- Vụ án mà bị cáo là Thẩm phán, Kiếm sát viên, sĩ quan Công an, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở cấp huyện, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc ít người

Tại khoản 2 điều 171 Bộ Luật tố tụng hình sự quy định: “Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử ở Việt Nam thì do Toà án nhân dân cấp tỉnh nơi

cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước xét xử Nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng ở trong nước của bị cáo thì tuỳ trường hợp, Chánh án Toà án nhân dân tối cao ra quyết định giao cho Toà án nhân dân thành phố

Hà Nội hoặc Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử.

Bị cáo phạm tội ở nước ngoài, nếu thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự thì do Toà án quân sự cấp quân khu trở lên xét xử theo quyết định của Chánh án Toà án quân sự trung ương” Theo đó, thì Toà án nhân dân cấp

tỉnh hoặc Toà án nhân dân thành phố Hà Nội hoặc Toà án nhân dân thành phố

Hồ Chí Minh cũng có quyền xét xử sơ thẩm trong trường hợp được quy định tại khoản 2 điều 171 Ngoài ra, tại điều 172 cũng quy định thẩm quyền xét xử

sơ thẩm những tội phạm xảy ra trên tàu bay hoặc tàu biển của nước Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc lãnh hải của Việt Nam

Như vậy, không chỉ có Toà án nhân dân cấp huyện và Toà án quân sự

khu vực mới có thẩm quyền xét xử sơ thẩm Vậy, khẳng định là sai.

Ngày đăng: 22/12/2015, 11:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w