Loài hoang dại của mốc này mọc được trên môi trường tối thiểu gồm nước, muối khoáng NPK, glucose và biotin, vì từ các chất đơn giản này sợi nấm mốc tổng hợp được tất cả các chất phức tạ
Trang 1CHƯƠNG IX
SINH TỔNG HỢP PROTEIN
I Học thuyết trung tâm
II Phiên mã (Transcription)
III Các RNA
IV Dịch mã (Translation)
V Các biến đổi sau dịch mã và sự di
chuyển về mục tiêu
VI Các đột biến gen VII Dòng thông tin
Trang 2I HỌC THUYẾT TRUNG TÂM
(CENTRAL DOGMA)
1 Gen kiểm tra các phản ứng sinh hóa
a Sai hỏng trao đổi chất bẩm sinh
Vào năm 1908, trên cơ sở nghiên cứu
các bệnh do sai hỏng trao đổi chất bẩm sinh (inborn errors of metabolism) bác sĩ A.Garrod, người Anh lần đầu tiên nêu
lên quan điểm rằng sai hỏng của gen dẫn
dẫn đến sai hỏng phản ứng sinh hóa
Trang 3Chu trình
phenylalanine
Trang 4• Bệnh được phát hiện đầu tiên là
ancaptonuria ( black urine disease, black bone disease, or alcaptonuria) , người
bệnh có nước tiểu bị tích tụ nhiều acid
homogentisic chất này bị đen lại khi
gặp không khí nên nước tiểu màu đen
Bệnh có sự di truyền do một gen lặn
Năm 1914 phát hiện thêm ở người bị bệnh này thiếu hoạt tính enzyme oxydase của acid homogentisic dioxygenase (HGD)
Trang 5• Mỗi bệnh trên đây liên quan đến
sai hỏng của một phản ứng sinh học do hậu quả của một enzyme bị mất hoạt tính và sự di truyền của mỗi bệnh đều do một gen lặn Thường enzyme mất hoạt tính làm chất phản ứng bị tích tụ lại nên dư thừa
Trang 6b Giả thuyết 1 gen-1 enzyme
• Năm 1941 G.Beadle và Tatum đã sử dụng
mốc vàng bánh mì Neurospora crassa để
chứng minh gen kiểm tra các phản ứng sinh hóa Loài hoang dại của mốc này mọc được
trên môi trường tối thiểu gồm nước, muối khoáng (NPK), glucose và biotin, vì từ các chất đơn giản này sợi nấm mốc tổng hợp được tất cả các chất phức tạp khác cần thiết cho sự sống như các amino acid, các nucleotide, đường và lipid
Trang 7• Dùng các tia phóng xạ và tử ngoại có thể
gây tạo ra các đột biến sinh hóa mất khả
năng tổng hợp chất này hay chất nọ và được gọi là các đột biến khuyết dưỡng
(auxotroph) Các đột biến này chỉ mọc được trên môi trường tối thiểu khi có thêm vào chất mà đột biến không tổng hợp được Ví dụ các đột biến mất khả năng tổng hợp amino acid arginine được
ký hiệu arg- không mọc được trên môi
trường tối thiểu vì tự nó không tổng hợp được chất này; nhưng chúng mọc được khi có thêm vào arginine
Trang 8• Các đột biến khuyết dưỡng này đa số có
sự di truyền của một gen Từ kết quả
nghiên cứu của mình, Beadle và
Tatum nêu ra giả thuyết 1 gen - 1
enzyme, về sau được cụ thể hóa hơn 1
gen - 1 protein rồi 1 gen - 1 polypeptide, và cuối cùng là 1 gen - 1 đại phân tử sinh học (vì có gen chỉ tổng hợp RNA)
Trang 9• Giả thuyết 1 gen - 1 enzyme có ý
nghĩa lớn, nó cụ thể hóa được các bước trung gian từ gen đến tính trạng
diễn ra như thế nào Do đó hai ông Beadle và Tatum đã nhận được giải Nobel về công trình này
Trang 102 Học thuyết trung tâm (Central
dogma)
a Sự liên quan đồng tuyến tính giữa DNA và protein
• Mãi đến năm 1953, mô hình cấu trúc DNA
của Watson - Crick được nêu lên và cũng năm
này Sanger lần đầu tiên tìm ra trình tự các
amino acid của một protein có phân tử không lớn
là insulin (chỉ có 51 amino acid) Các nghiên cứu tiếp theo đã làm sáng tỏ mối quan hệ gen-
protein
Trang 12• Các mức cấu trúc không gian khác nhau của
phân tử protein được xác định một cách tự động
bởi trình tự sắp xếp của các amino acid theo đường thẳng tức cấu trúc bậc một
• Như vậy, việc xác định di truyền phân tử
protein ở trạng thái tự nhiên có đầy đủ hoạt
tính sinh học quy lại ở xác định cấu trúc bậc một là đủ Mặt khác, bốn loại nucleotide của DNA cũng xếp theo đường thẳng và trình tự sắp xếp của chúng cũng phản ánh một thông tin nhất
định
Trang 13• Việc nghiên cứu các đột biến
hemoglobine liên quan đến các bệnh
thiếu máu làm sáng tỏ mối quan hệ DNA - protein Nghiên cứu hàng trăm đột biến loại này cho thấy mỗi đột biến liên quan với một thay đổi amino acid nhất định trên mạch polypeptide của hemoglobine
Trang 14• Ví dụ: ở bệnh thiếu máu hồng cầu hình
liềm, người bệnh do đột biến làm thay đổi amino acid ở vị trí thứ 6 của mạch như sau:
Vị trí: 1 - 2 - 3 - 4 - 5 - 6 - 7 - 8
• Hemoglobine bình thường: Glu
• Hemoglobine người bệnh: Val
• Giữa DNA và protein rõ ràng có sự liên quan
đồng tuyến tính (tức sự thay đổi các nucleotide trên mạch thẳng của DNA dẫn đến các thay đổi
amino acid trên mạch thẳng của phân tử
protein)
Trang 15b Vài đặc điểm của tổng hợp protein
Tổng hợp protein trong tế bào có các đặc điểm :
• Các phân tử thông tin như acid nucleic và
protein được tổng hợp theo khuôn
• Sinh tổng hợp protein tách rời về không gian với
DNA Nhiều quan sát cho thấy tổng hợp protein có thể xảy ra khi không có mặt DNA
Trang 16Tảo xanh đơn bào Acetabularia khi bị cắt mất phần chứa nhân vẫn tổng hợp được protein và sống vài tháng nhưng mất khả năng sinh sản
Rõ ràng, nơi chứa DNA mang thông tin di truyền và chỗ sinh tổng hợp protein tách rời nhau về
không gian
• DNA cũng không phải là khuôn trực tiếp để tổng
hợp protein, do đó phải có chất trung gian
chuyển thông tin từ DNA ra tế bào chất và làm khuôn để tổng hợp protein Chất đó phải có cả trong nhân và tế bào chất với số lượng phụ thuộc mức độ tổng hợp protein
Trang 17• Chất trung gian đó chính là RNA qua
hàng loạt sự kiện sau:
- Thứ nhất, RNA được tổng hợp ngay ở
trong nhân có chứa DNA, sau đó nó đi
vào tế bào chất cho tổng hợp protein
- Thứ hai, những tế bào giàu RNA tổng
hợp protein nhiều hơn Ví dụ: Các tế
bào tổng hợp nhiều protein như ở gan, lá lách, tuyến tơ của tằm chứa RNA nhiều hơn so với tế bào ít tổng hợp protein như ở thận, tim, phổi
Trang 18- Thứ ba, về phương diện hóa học RNA giống
DNA: mạch polyribonucleotide thẳng cũng
chứa 4 loại ribonucleotide A, G, C và Uracil (U) Nó có thể nhận được thông tin từ DNA qua bắt cặp bổ sung
• Trong tế bào không tìm thấy chất nào khác
ngoài RNA có thể đóng vai trò trung gian cho tổng hợp protein Mối quan hệ được biểu
hiện như sau:
• DNA mRNA protein
• sao chép phiên mã dịch mãû
Trang 19Học thuyết trung tâm
Trang 20HỌC THUYẾT TRUNG TÂM (The central dogma)
Học thuyết trung tâm cho rằng thông tin trên nucleic acid có thể được tiếp nối liên tục (sao chép) hay chuyển
tiếp (phiên mã và dịch mã), nhưng sự chuyển dạng thông tin thành protein là không thuận nghịch
Trang 21• Đây còn gọi là học thuyết trung tâm hay
tiền đề cơ sở sinh học phân tử được F.Crick
nêu ra từ năm 1956 đến nay căn bản vẫn đúng
• Thông tin di truyền được đi từ DNA qua
RNA rồi đến protein Vào những năm 70
phát hiện quá trình phiên mã ngược từ RNA
tổng hợp nên DNA nhờ enzyme reverse transcriptase Thông tin không thể đi theo
chiều ngược từ protein đến RNA
Trang 22• Năm 1961 F.Crick đã làm thí nghiệm
chứng minh rằng nhóm nucleotide mã hóa
có 3 hay nói cách khác codon gồm 3
nucleotide Tất cả sẽ có 43 = 64 tổ hợp codon
• M.W.Nirenberg và H.Matthaei (Mỹ) đã
dùng enzyme theo phương pháp của Ochoa
tổng hợp RNA nhân tạo Khi dùng chỉ một
loại nucleotide là uracil sẽ nhận được RNA là polyuracil, nếu chỉ adenine sẽ được
polyadenine
3 DNA và mã di truyền (The genetic code)
Trang 23• Năm 1961, khi dùng polyuracil thay cho
mRNA để tổng hợp protein trong hệ thống vô bào (có amino acid, enzyme tổng hợp protein, nhưng không có DNA ) sản phẩm
polyphenylalanin chỉ chứa một loại amino
acid là phenylalanine Điều đó chứng tỏ
codon UUU mã hóa cho phenylalanine Đây
là codon đầu tiên được xác định Nirenberg
và Matthaei cũng chứng minh được rằng
AAA mã hóa cho lysine, GGG cho glycine và CCC cho proline
Trang 24• Vào năm 1964, H.G.Khorana tìm ra phương
pháp tạo mRNA tổng hợp nhân tạo với trình
tự lập lại (như AAG AAG AAG ) và nhờ nó
giải quyết xong các vấn đề còn chưa rõ
• Bảng mã di truyền cho thấy trong 64
codon, có 3 codon UAA, UAG, UGA không mã hóa cho amino acid được gọi là vô nghĩa (non-sense), đồng thời là codon kết thúc
(termination) tức "dấu chấm câu", tức chấm dứt mạch polypeptide
Trang 25- Mã bộ ba (Triplet code)
Start codon (xanh lục) : AUG
Stop codons (đỏ) : UAA, UAG và UGA
Dư thừa (Redundant : chữ thứ 3 (3rd letter)
Mã di truyền (The Genetic Code)
Trang 26• Mã di truyền có tính "suy thoái"
(degeneration) tức một amino acid có nhiều
codon mã hóa, chỉ trừ methionine và tryptophane chỉ có một codon Các codon đồng nghĩa tức mã hóa cho cùng một amino acid thường có hai base đầu tiên giống nhau, nhưng khác nhau ở cái thứ ba Ví dụ: CCU, CCC, CCA và CCG tất cả đều mã hóa cho proline Trên thực tế, U và C luôn luôn tương đương nhau ở vị trí thứ ba, còn A và G tương đương nhau trong 14 trên 16 trường hợp
Trang 27• Trừ một số ngoại lệ nhỏ, mã di
truyền có tính vạn năng
(universal) tức toàn bộ thế giới
sinh vật có chung bộ mã di truyền
•
Trang 28II QUÁ TRÌNH PHIÊN MÃ
• 1 Nguyên tắc chung
Quá trình chuyển thông tin di truyền từ DNA sang RNA gọi là phiên mã RNA được tổng hợp nhờ hệ enzyme RNA-polymerase, đúng ra gọi
chính xác là RNA-polymerase phụ thuộc DNA
(DNA-dependent-RNA-polymerase) Ở đây
DNA còn thể hiện tính chất kỳ lạ là khả năng dị
xúc tác (heterocatalysis) tức làm khuôn tổng hợp
một phân tử khác
RNA polymerase theo mạch khuơn DNA, xúc tác
phản ứng polymer hố tạo liên kết phosphodiester, nối các đơn phân ribonucleotide ATP, GTP, UTP
và CTP tạo mạch RNA bổ sung
Trang 29• Hóa học của tổng hợp RNA rất giống với sao
chép DNA Trong quá trình nối dài (elongation)
mạch RNA, nucleotide mới gắn vào đầu 3’OH của
ribonucleotide trước đó và polymer hoá phóng
thích 2 liên kết phosphate giàu năng lượng
Hướng tổng hợp cũng tương tự từ đầu 5’ –> 3’,
và do vậy mạch khuôn đối song song
(antiparallel) với mạch RNA mới tạo thành, mà
không tạo liên kết hydro giữa 2 mạch Khác với DNA polymerase, RNA polymerase có thể tái
khởi sự tổng hợp mạch mới và không cần mồi
Trang 31Tổng hợp RNA
Trang 32• Quá trình phiên mã trải qua ba giai đoạn là
khởi sự (initiation), nối dài (elongation), kết thúc (termination) biến đổi sau phiên mã (Post-transcription Modification);
• Thực hiện theo các nguyên tắc :
• Chỉ một trong hai mạch của phân tử DNA
được dùng làm khuôn để tổng hợp RNA
• RNA-polymerase bám vào DNA làm tách
mạch và di chuyển theo hướng 3‘ 5' trên
DNA để cho mRNA được tổng hợp theo
hướng 5' 3'
Trang 33Types of RNAs involved in protein synthesis using
genetic information
33
Trang 34RNA có thể ở dạng tự do hoặc gắn với protein thành các phức hợp ribonucleoprotein giữ nhiều vai trò quan trọng trong hoạt động sống của tế bào
Trang 35Loại RNA Chức năng
RNA nhỏ can thiệp, làm dừng biểu hiện gen bằng phân hủy định hướng mRNA và tạo cấu trúc chất nhiễm sắc cuộn chặt
Có nhiều chức năng khác nhau trong tế bào như tạo đầu mút nhiễm sắc thể (telomer), bất hoạt nhiễm sắc thể X, và sự vận chuyển các protein vào lưới nội chất
Trang 36rRNA ribosome
rRNA là thành phần cấu tạo, chiếm phân nửa khối lượng của ribosome Tế bào có
số lượng lớn ribosome nên rRNA chiếm tỉ
lệ cao, có thể đến 75% của tổng RNA
Các ribosome của lục lạp, ti thể và Prokaryotae có hệ số lắng khi ly tâm là 70S, gồm 2 đơn vị:
- đơn vị lớn 50 S có 1 rRNA 23S và 1 rRNA 5S,
- đơn vị nhỏ 30S chỉ có 1 rRNA 16S
Trang 37Các ribosome của Eukaryotae có hệ số lắng khi ly tâm là 80S, gồm 2 đơn vị:
• - đơn vị lớn 60 S có 1 rRNA 28S, 1 rRNA
5,8S và 1 rRNA 5S,
• - đơn vị nhỏ 40S chỉ có 1 rRNA 18S
Số lượng các nucleotide của mỗi loại rRNA hầu như đã biêt
Việc so sánh trình tự các nucleotide của
RNA 16S ở các lồi vi khuẩn khác nhau
được dùng trong phân loại phân tử.
Trang 38Ribosomal RNAs
38
Trang 39Roles of the three RNA types 39
Trang 402 RNA polymerase
Khuôn cho RNA polymerase là DNA mạch kép,
nhưng chỉ phiên mã một mạch có nghĩa (sense),
tuy gen hiện diện ở cả hai mạch và vùng 2 mạch
đó được phiên mã vào những thời điểm khác
nhau Các nguyên tắc này được RNA polymerase của tất cả các sinh vật tuân thủ Sự khác nhau
đáng kể giữa RNA polymerase của các siêu giới thể hiện như sau :
• – Ở sinh vật nhân sơ chỉ một loại RNA
polymerase tổng hợp tất cả các loại RNA
• – Sinh vật nhân thực có 3 loại RNA polymerase
tổng hợp 3 loại RNA khác nhau
Trang 41Khởi sự phiên mã ở E coli : RNA polymerase lõi
với nhân tố sigma
Đoạn gen được phiên mã
Trang 42A common organization of sequences for the
promoter of a eukaryotic structural gene
42
Trang 43•The TATA box
then guides RNA polymerase II to
the initiation site where transcription can begin
Trang 44• Tế bào nhân thực có RNA polymerase I tổng hợp
rRNA, RNA polymerase II –> mRNA và RNA polymerase III –> tRNA và các loại RNA khác
Cơ sở của tính đặc hiệu này là mỗi loại RNA
polymerase chỉ nhận biết các promoter từ những nhóm đặc biệt của gen
• Các RNA polymerase nhân thực còn đòi hỏi rất
nhiều protein hỗ trợ để nhận biết các promoter
đặc hiệu
• Ở vi khuẩn promoter cho gen mã hoá protein
cũng giống tương tự promoter cho gen mã hoá
tRNA
Trang 45• Khác với vi khuẩn, các nhân tố khởi sự
Eukaryotae (cả ở Archaea) nhận biết các
promoter một cách độc lập, không phải một phần
của lõi polymerase holoenzyme
• Ở các loài Archaea, chỉ một loại RNA
polymerase rất giống với RNA polymerase II
Eukaryotae, cấu trúc promoter cũng giống
Sự phiên mã ở Archaea cũng đòi hỏi một số
nhân tố hỗ trợ giống với phiên mã ở tế bào nhân thực Ở đây thể hiện rõ thêm sự giống
nhau giữa Archaea với Eukarya trong quan
hệ tiến hoá và do vậy tách Archaea thành
siêu giới riêng
Trang 46• Promoters
determine the
binding location and direction of RNA
polymerase
• The basal
transcription factors and RNA polymerase complex bound to
DNA separates the DNA double strands, initiating RNA
synthesis
3 Roles of Promoters and the Initiation of
Transcription
46
Trang 474 Sự phiên mã ở Prokaryotae
• Ở Prokaryotae sự phiên mã có các đặc điểm:
• Chỉ một loại RNA-polymerase chịu trách nhiệm tổng hợp tất cả các loại RNA
• mRNA thường chứa thông tin nhiều gen nối tiếp
nhau (polycistronic mRNA)
• Quá trình tổng hợp mRNA được tiến hành khi
RNA-polymerase bám vào đoạn khởi động
(promoter)
Trang 48•RNA transcription occurs on sections containing information for
the amino acid sequence (i.e., the coding regions) as well as the extra portions on both sides of the sections
•A promoter is a DNA region to which RNA polymerase attaches
Transcription of Genes
48
Trang 49Phiên mã ở sinh vật nhân sơ : mRNA đa gen
theo hướng 5' 3'
Trang 50Gen phân bố như thế nào trên DNA?
Tín hiệu trên DNA (Signals in DNA) là những đoạn ngắn cho
RNA polymerase biết ở đâu khởi sự và kết thúc (where to start
and finish)
• Promotors (start)
• Terminators (stop)