còn hạn chế, vẫn còn nhiều học sinh bỏ học vì học yếu và không ham học.Thế nên, ngày 05/9/2014, phát biểu chỉ đạo của Tiến sĩ Nguyễn Vinh Hiển - Thứtrưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo - khi đế
Trang 1MỤC LỤC
Trang
I TÓM TẮT ĐỀ TÀI 2
II GIỚI THIỆU 4
1 Hiện trạng 4
2 Giải pháp thay thế 5
3 Vấn đề nghiên cứu 6
4 Giả thuyết nghiên cứu 6
III PHƯƠNG PHÁP 7
1 Khách thể nghiên cứu 7
2 Thiết kế nghiên cứu 7
3 Quy trình nghiên cứu 8
4 Đo lường và thu thập dữ liệu 11
IV PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ 13
V BÀN LUẬN 14
VI KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 15
1 Kết luận 15
2 Khuyến nghị 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
PHỤ LỤC 18
Phụ lục 1: Kế hoạch bài học 18
Phụ lục 2: Đề kiểm tra trước và sau tác động 25
Phụ lục 3: Bảng tính độ tin cậy 27
Phụ lục 4: Bảng điểm 31
Phụ lục 5: Bảng so sánh dữ liệu 33
Trang 2I TÓM TẮT ĐỀ TÀI:
Việc giảng dạy Vật lý ở nhà trường không chỉ dừng lại ở việc làm cho học sinhbiết đầy đủ những kiến thức theo quy định trong chương trình mà còn làm cho họcsinh hiểu được một cách sâu sắc các kiến thức, rèn luyện cho các em khả năng vậndụng tri thức để giải quyết những nhiệm vụ học tập và những vấn đề mà thực tiễn đặt
ra Quan trọng hơn là rèn luyện phương pháp tự học, hình thành và phát triển năng lựctìm tòi nghiên cứu cho học sinh trên hành trình chiếm lĩnh tri thức
Bài học Vật lý lớp 8 là những kiến thức khoa học, thường liên quan đến các hiệntượng, quy luật đang xảy ra trong thiên nhiên và cuộc sống quanh ta Cho nên, conđường khám phá để thu nhận kiến thức cho bản thân phải được thực hiện qua hoạtđộng nghiên cứu, quan sát, tiến hành thí nghiệm, Song, trong quá trình tổ chức cáchoạt động, giáo viên chưa kích thích, lôi cuốn được sự tích cực chủ động học tập củahọc sinh làm cho kiến thức học sinh được xây dựng thiếu hệ thống, thiếu vững chắc,năng lực sáng tạo của học sinh chưa được phát triển
Có nhiều phương pháp dạy học hay, thú vị trong việc khơi dậy năng lực tìm tòi,giúp học sinh tiếp nhận kiến thức Vật lý một cách nhanh chóng, có hệ thống và cóchiều sâu Tuy nhiên, có một phương pháp mà tôi tâm đắc nhất, đó là phương pháp
“Bàn tay nặn bột”
Phương pháp “Bàn tay nặn bột” là phương pháp dạy học hiện đại dựa trên cơ sởcủa sự tìm tòi - nghiên cứu khoa học Phương pháp này tạo cho học sinh tính tò mò,ham muốn khám phá và say mê học tập, nhờ đó học sinh nắm vững, hiểu sâu, nhớ lâukiến thức hơn
Đã có nhiều đề tài nghiên cứu việc sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trongdạy học đem lại hiệu quả lớn, góp phần nâng cao chất lượng dạy học cho cấp Tiểuhọc, nhưng ở cấp Trung học cơ sở thì chưa có nghiên cứu nào, riêng môn Vật lý cũngvậy Vì lẽ đó, tôi quyết định đi sâu nghiên cứu việc sử dụng phương pháp “Bàn taynặn bột” nhằm nâng cao chất lượng dạy học Vật lý lớp 8a2
Nghiên cứu được tiến hành trên hai nhóm tương đương là hai lớp 8, trường THCSChà Là Lớp 8a1 (chọn 26 em) làm lớp đối chứng, lớp 8a2 (chọn 26 em) làm lớp thựcnghiệm Lớp thực nghiệm được tổ chức dạy học bằng phương pháp “Bàn tay nặn bột”
ở các bài 16, 19, 21 Kết quả cho thấy tác động đã có ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả họctập của học sinh: Lớp thực nghiệm đạt kết quả học tập cao hơn lớp đối chứng Điểmtrung bình thang đo kết quả của lớp thực nghiệm là 8,0; của lớp đối chứng là 6,5 Kếtquả kiểm chứng T-test độc lập cho thấy p = 0,0012 < 0,05 nghĩa là có sự khác biệt lớngiữa điểm trung bình của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng Độ chênh lệch giá trị
Trang 3trung bình chuẩn SMD = 0,826 > 0,8 thêm một lần nữa khẳng định mức độ ảnh hưởng
của tác động trong nghiên cứu là lớn, giải pháp mới có hiệu quả
Vậy, việc sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học có làm tăng kếtquả học tập Vật lý của học sinh
Trang 4II GIỚI THIỆU:
1 Hiện trạng:
Trong những năm gần đây, Ngành Giáo dục và Đà tạo đã tập trung chỉ đạo việcthực hiện đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Kết quảđạt được rất khả quan nhưng không đồng đều Chất lượng giáo dục ở một số địaphương vùng nông thôn, vùng xa, chưa cao, chất lượng giảng dạy một số môn Toán,Vật lý, còn hạn chế, vẫn còn nhiều học sinh bỏ học vì học yếu và không ham học.Thế nên, ngày 05/9/2014, phát biểu chỉ đạo của Tiến sĩ Nguyễn Vinh Hiển - Thứtrưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo - khi đến dự Lễ Khai Giảng ở một trường Trung học,một lần nữa kêu gọi: Trong năm học này, mỗi giáo viên phải không ngừng tích cực đổimới hình thức tổ chức và phương pháp dạy học; chú trọng phương pháp hướng dẫnhọc sinh học tập tiếp thu kiến thức dựa trên các hoạt động trải nghiệm tìm tòi, nghiêncứu khoa học nhằm khơi dậy tính tích cực, phát huy tính sáng tạo, tạo điều kiện thuậnlợi cho học sinh phát triển kỹ năng, năng lực bản thân, góp phần đẩy mạnh chất lượnggiáo dục Thứ trưởng còn nói: Những đổi mới này chính là tiền đề cho việc đổi mớicăn bản nền Giáo dục Việt Nam hiện đại những năm học sau - phát biểu còn được đưalên “Diễn đàn Giáo dục” của báo Tuổi trẻ cùng ngày
Chất lượng giảng dạy chưa cao, học sinh chán học là trách nhiệm của ai? Chúng takhông hoàn toàn đổ lỗi cho học sinh, cũng không thể phủ nhận trách nhiệm đó là củamình
Như một số đơn vị bạn, thực trạng việc dạy học Vật lý ở nơi tôi đang công tác(trường Trung học cơ sở Chà Là) cũng thật đáng lo ngại, vẫn còn nhiều học sinh họcyếu, nhiều em nắm kiến thức không vững không chắc nên mau quên bài Và hệ lụygây ra là làm chất lượng giảng dạy chưa cao, nhất là môn Vật lý lớp 8
Theo tôi, sở dĩ có thực trạng trên là do những nguyên nhân sau:
Thứ nhất, học sinh chưa ý thức việc học, thích chơi game.
Thứ hai, học sinh thiếu sự quan tâm và động cơ học tập từ phía gia đình.
Thứ ba, học sinh không thích học môn Vật lý nên có thái độ học lệch vì cho
rằng Vật lý là môn phụ, sẽ không còn được chọn thi tuyển 10 khi lên lớp 9, các em chỉđầu tư học các môn Toán, Ngữ Văn, Tiếng Anh
Thứ tư, phương pháp dạy học bộ môn chưa phù hợp, giáo viên chưa thật sự đổi
mới phương pháp dạy học
Làm sao để học sinh hứng thú, ham thích học môn Vật lý? Làm thế nào để đổi mớiphương pháp dạy học một cách hiệu quả? Trăn trở này đã làm tôi suy nghĩ và tìmkiếm giải pháp
Trang 5Muốn học sinh học tích cực thì giáo viên cũng phải có phương pháp dạy tích cực.Cho nên, ngoài các phương pháp cần thiết thì phương pháp được tôi chọn làm điểm làviệc sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học Vật lý.
2 Giải pháp thay thế:
Đã có nhiều đề tài, sáng kiến kinh nghiệm của nhiều giáo viên ở các địa phươngkhác nhau về phương pháp “Bàn tay nặn bột” dành cho cấp Tiểu học nhưng việc sửdụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học Vật lý cấp Trung học cơ sở đếnnay chưa được thấy nghiên cứu áp dụng Tuy nhiên tôi đã mạnh dạn nghiên cứu và sửdụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” vào quá trình dạy học Vật lý lớp 8a2, đối vớinhững bài học thích hợp
Phương pháp “Bàn tay nặn bột” là phương pháp dạy học hiện đại dựa trên cơ sởcủa sự tìm tòi - nghiên cứu khoa học Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, chính họcsinh là người tìm ra câu trả lời cho các vấn đề đặt ra trong cuộc sống thông qua tiếnhành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra để từ đó hình thành kiếnthức cho mình
Phương pháp này tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá và say mê học tập chohọc sinh Đứng trước một sự vật hiện tượng, học sinh có thể đặt ra các câu hỏi, các giảthuyết từ những hiểu biết ban đầu, tiến hành thực hiện nghiên cứu để kiểm chứng vàđưa ra những kết luận phù hợp thông qua thảo luận, phân tích, tổng hợp kiến thức, nhờ
đó kiến thức được học sinh nắm vững, hiểu sâu, nhớ lâu hơn
Chương trình Vật lý 8 chia làm hai chủ đề lớn:
1 Chuyển động – Lực – Quán tính và Áp suất (học kỳ I)
2 Công – Công suất – Cấu tạo chất và Nhiệt lượng (học kỳ II)
Trong mỗi chủ đề đều có nhiều bài học đòi hỏi giáo viên phải áp dụng cácphương pháp dạy học tích cực để học sinh nắm chắc kiến thức của bài thông qua việckhơi dậy các kỹ năng, năng lực, sáng tạo của học sinh Nếu học sinh không nắm vữngkiến thức của một hoặc hai chủ đề thì đồng nghĩa với việc kết quả học tập của một học
kỳ không cao Do đó tôi đã khắc phục kết quả học kỳ I trong học kỳ II bằng việc tíchcực đổi mới phương pháp dạy học - sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột”- trongcác bài tìm hiểu kiến thức mới
Các bước thực hiện trong tiến trình hoạt động dạy học của phương pháp “Bàn taynặn bột” như sau:
- Bước 1 (Pha 1): Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề.
- Bước 2 (Pha 2): Bộc lộ quan niệm ban đầu của học sinh.
- Bước 3 (Pha 3): Đề xuất câu hỏi (hay giả thuyết) và thiết kế phương án thực
nghiệm nghiên cứu
Trang 6- Bước 4 (Pha 4): Tiến hành thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu.
- Bước 5 (Pha 5): Kết luận và hợp thức hóa kiến thức.
(Tùy theo bài học hoặc chủ đề nghiên cứu mà có thể gợp chung bước 2 và 3)
Phương pháp “Bàn tay nặn bột” được sử dụng khi học các bài thích hợp từ tuần 20đến tuần 27
Thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng: 8 tuần đầu củahọc kỳ II, năm học 2014-2015
3 Vấn đề nghiên cứu:
Sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học có làm tăng kết quả học tậpmôn Vật lý của học sinh lớp 8a2 ở trường THCS Chà Là không?
4 Giả thuyết nghiên cứu:
Có, việc sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học có làm tăng kếtquả học tập môn Vật lý của học sinh lớp 8a2 trường THCS Chà Là trong 8 tuầnnghiên cứu
Trang 7Bảng 1: Giới tính, dân tộc của học sinh hai lớp 8 trường THCS Chà Là:
Lớp Số học sinh Giới tính Dân tộc
+ Giáo viên: Dạy cả hai lớp thực nghiệm và đối chứng
2 Thiết kế nghiên cứu:
Chọn hai nhóm của hai lớp: 8a1 là nhóm đối chứng, 8a2 là nhóm thực nghiệm Tôidùng bài kiểm tra 15 phút để kiểm tra năng lực nhận biết, thông hiểu, vận dụng kiếnthức đã học của học sinh trước tác động Kết quả kiểm tra cho thấy điểm trung bìnhcủa hai nhóm có sự khác biệt nhau, do đó tôi dùng phép kiểm chứng T-test độc lập đểkiểm chứng sự chênh lệch giữa điểm số trung bình của hai nhóm trước khi tác động
Trang 8p = 0,359 > 0,05 từ đó kết luận sự chênh lệch điểm số trung bình của hai nhómthực nghiệm và đối chứng là không có nghĩa, hai nhóm được coi là tương đương.
Sử dụng thiết kế 2: Kiểm tra trước và sau tác động đối với các nhóm tương đương
và tính điểm trung bình (giá trị trung bình) ta được kết quả ở bảng sau:
Bảng 4: Thiết kế nghiên cứu (theo phụ lục 5 trang 33, 34):
Nhóm
Kiểm tra trước tác động
3 Quy trình nghiên cứu:
3.1 Chuẩn bị bài của giáo viên:
Lớp đối chứng: Soạn kế hoạch bài học không sử dụng phương pháp Bàn tay
nặn bột
Lớp thực nghiệm: Soạn kế hoạch bài học có sử dụng phương pháp Bàn tay nặn
bột
3.2 Tiến hành dạy thực nghiệm:
Thời gian tiến hành dạy thực nghiệm vẫn tuân theo kế hoạch dạy học của nhàtrường và theo thời khóa biểu để đảm bảo tính khách quan Cụ thể như sau:
Bảng 5: Thời gian thực nghiệm (dạy lớp 8a2):
Thời gian Tiết PPCT Tên bài dạy
Tuần 23 22 Bài 16: Cơ năng
Tuần 25 24 Bài 19: Các chất được cấu tạo như thế nào?
Tuần 27 26 Bài 21: Nhiệt năng
Cách thực hiện:
Bước 1 (Pha 1): Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề:
Để thực hiện bước này, giáo viên chủ động đưa ra một tình huống ngắngọn, dễ hiểu đối với học sinh (như một cách dẫn nhập vào bài học) rồi đặt câu hỏi nêuvấn đề
Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học nên phải gây mâu thuẫnnhận thức, kích thích tính tò mò, thích tìm tòi, nghiên cứu của học sinh nhằm chuẩn bị
Trang 9tâm thế cho học sinh trước khi khám phá, lĩnh hội kiến thức Vì vậy, giáo viên nêndùng câu hỏi mở, không dùng câu hỏi đóng (có hoặc không).
Bước 2 (Pha 2): Bộc lộ quan niệm ban đầu của học sinh:
Đây là pha quan trọng, đặc trưng của phương pháp “Bàn tay nặn bột”.Trong bước này, giáo viên khuyến khích học sinh nêu những suy nghĩ, nhận thức banđầu của mình trước câu hỏi nêu vấn đề (tức trước khi học kiến thức mới) Tiến hànhthảo luận nhóm (4 - 6 học sinh) để trao đổi ý kiến Cuối cùng, học sinh ghi vở thựchành quan niệm của mình và phát biểu trước lớp
Quan niệm ban đầu này phải phong phú và có thể đúng hoặc sai
Bước 3 (Pha 3): Đề xuất câu hỏi (hay giả thuyết) và thiết kế phương án thực nghiệm nghiên cứu:
Đề xuất câu hỏi: Từ những khác biệt và phong phú về quan niệm banđầu của học sinh, giáo viên nhanh chóng chọn các quam niệm ban đầu tiêu biểu cóliên quan đến kiến thức trọng tâm của bài học, linh hoạt điều khiển học sinh thảo luận
đề xuất các câu hỏi (giả thuyết)
Đề xuất phương án thực nghiệm nghiên cứu: Từ các câu hỏi được đềxuất, giáo viên nêu câu hỏi cho học sinh, đề nghị các em đề xuất giả thuyết, thiết kếphương án thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu để kiểm chứng giả thuyết Câu hỏi có thểlà: "Theo các em, làm thế nào để chúng ta tìm câu trả lời cho các câu hỏi trên?; "Bâygiờ các em hãy suy nghĩ về phương án giải quyết các câu hỏi mà lớp đặt ra?", Tùytheo kiến thức hay vấn đề đặt ra, học sinh có thể đề xuất nhiều phương án thực nghiệmtìm tòi nghiên cứu khác nhau, cho nên giáo viên sẽ quyết định tiến hành ít nhất hai
phương án với các dụng cụ đã chuẩn bị sẵn Lưu ý: Các phương án thực nghiệm tìm
tòi - nghiên cứu ở đây là các phương án để tìm ra câu trả lời cho câu hỏi (giả thuyết)
đã đề xuất Giáo viên nên chọn hai phương án đúng hoặc một đúng một sai
Bước 4 (Pha 4): Tiến hành thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu:
Tùy bài học, việc tiến hành thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu có thể làquan sát hay nghiên cứu tài liệu hoặc thực hành thí nghiệm
Nếu phải làm thí nghiệm thì ưu tiên thực hiện thí nghiệm trực tiếp trên vậtthật, giáo viên nên khéo léo chọn những dụng cụ thích hợp để tiến hành nghiên cứu,nếu không có dụng cụ thì có thể làm trên mô hình hoặc quan sát tranh vẽ Khi thínghiệm xong, giáo viên yêu cầu học sinh rút ra kết luận (trả lời câu hỏi đặt ra)
Việc tổ chức học sinh làm thí nghiệm theo nhóm: giáo viên thực hiện bìnhthường như trước nay (giáo viên nêu mục đích, yêu cầu thí nghiệm, chia nhóm, phátdụng cụ; học sinh làm thí nghiêm; giáo viên bao quát lớp, quan sát từng nhóm, nhắcnhở nhỏ trong nhóm, )
Trang 10Bước 5 (Pha 5): Kết luận và hợp thức hóa kiến thức:
Sau khi thực hiện thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu, các câu hỏi dần dầnđược giải quyết, các giả thuyết được kiểm chứng, kiến thức mới được hình thành Tuynhiên giáo viên phải hệ thống và chuẩn xác lại kiến thức bằng cách yêu cầu một vàihọc sinh cho kết luận sau thực nghiệm (rút ra kiến thức bài học), sau đó giáo viên chốtnội dung cho học sinh ghi vở thực hành Giáo viên có thể in tờ rời ghi sẵn kiến thứcbài học cho học sinh dán vào vở thực hành nếu kiến thức bài dài và phức tạp
Để khắc sâu kiến thức bài học cho học sinh, giáo viên cho học sinh nhìnlại, đối chiếu lại các ý kiến ban đầu (quan niệm ban đầu) Từ những quan niệm banđầu sai lệch, sau quá trình thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu, chính học sinh tự pháthiện ra mình đúng hay sai mà không phải do giáo viên nhận xét một cách áp đặt.Chính học sinh tự phát hiện những sai lệch trong nhận thức và tự sửa chữa, thay đổimột cách chủ động Những thay đổi này sẽ giúp học sinh ghi nhớ, khắc sâu kiến thứchơn
Ví dụ cụ thể:
Giáo viên hướng dẫn học sinh xây dựng kiến thức về nguyên tử, phân tử
bài 19: CÁC CHẤT ĐƯỢC CẤU TẠO NHƯ THẾ NÀO? như sau:
Bước 1: Giáo viên tạo tình huống xuất phát bằng cách đưa ra một cốc
thủy tinh chứa nước và đặt câu hỏi nêu vấn đề: Nước trong cốc được cấu tạo như thế nào mà nhìn nó có vẻ như liền một khối?
Bước 2: Học sinh suy nghĩ, tiến hành thảo luận và trình bày trước lớp
quan niệm ban đầu: Nước được cấu tạo từ những hạt vô cùng nhỏ bé; nước được cấu tạo từ nhiều giọt nước nhỏ; nước được cấu tạo từ những hạt riêng biệt, giữa chúng có khoảng cách,
Bước 3: Giáo viên chọn quan niệm: Nước được cấu tạo từ những hạt vô
cùng nhỏ bé và giữa những hạt này có khoảng cách.
Học sinh thảo luận đề xuất câu hỏi: Liệu nước có được cấu tạo
từ những hạt vô cùng nhỏ bé không hay nó liền một khối? Giữa những hạt nhỏ bé này
có khoảng cách không?
Giáo viên nêu câu hỏi cho học sinh đề xuất phương án thực
nghiệm tìm tòi - nghiên cứu: “Bây giờ các em hãy suy nghĩ tìm phương án giải quyết câu hỏi mà lớp mình đặt ra?”
Học sinh đề xuất các phương án thực nghiệm: (1) Làm thí nghệm đổ nước vào rượu xem thể tích hỗn hợp có giảm so với tổng thể tích của chúng không, nếu có thì thí nghiệm chứng tỏ quan niệm được chọn là đúng, ngược lại là sai (2) Quan sát ảnh chụp của nước qua kính hiển vi hiện đại.
Trang 11Bước 4: Giáo viên tổ chức học sinh làm thí nghiệm nghiên cứu, quan sát
tranh, theo phương án đề xuất
Sau thí nghiệm, học sinh thu được kết luận: Nước được cấu tạo
từ những hạt vô cùng nhỏ bé và giữa những hạt nước có khoảng cách.
Bước 5: Học sinh phát biểu kết luận Giáo viên giới thiệu: Những hạt vô
cùng nhỏ bé đó là nguyên tử, phân tử và khái quát kết luận trên cho nhiều chất
Học sinh rút ra kết luận chung: “Các chất được cấu tạo từ các hạt riêng biệt vô cùng nhỏ bé gọi là nguyên tử, phân tử Giữa các nguyên tử, phân tử
có khoảng cách”, học sinh ghi vào vở học (vở thực hành).
Giáo viên dành thời gian 1 phút cho học sinh đối chiếu lại quanniệm ban đầu cá nhân đã bộc lộ, nghiệm lại kiến thức bài học
Tiếp theo, giáo viên giới thiệu về sự nhỏ bé của nguyên tử, phân tử rồi tiếnhành thí nghiệm mô hình “Trộn cát với ngô” để hướng dẫn học sinh giải thích các hiệntượng thực tế liên quan về nguyên tử, phân tử: C2 trang 69; C3, C4, C5 trang 70 SGK
4 Đo lường và thu thập dữ liệu:
Bài kiểm tra trước tác động là bài kiểm tra 15 phút do người nghiên cứu ra đề,được tiến hành sau khi học xong bài 6: LỰC MA SÁT, dạng đề tự luận với 4 câu hỏi(Xem phần phụ lục 2 trang 25)
Bài kiểm tra sau tác động là bài kiểm tra 15 phút do người nghiên cứu ra đề, đượctiến hành sau khi học xong bài 21: NHIỆT NĂNG, dạng đề tự luận với 4 câu hỏi(Xem phần phụ lục 2 trang 25, 26)
Hai bài kiểm tra được áp dụng cho cả nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng.Tôi tiến hành kiểm chứng độ tin cậy của dữ liệu bằng cách chia đôi dữ liệu: 4 câuhỏi của đề kiểm tra ở hai lần trước tác động và sau tác động được chia thành câu hỏi
số chẵn và lẻ, sau đó tính tổng điểm các câu hỏi chẵn, lẻ, tôi được kết quả sau:
Bảng 6: Bảng tính độ tin cậy (theo phụ lục 3 trang 27, 28, 29, 30):
LỚP THỰC NGHIỆM LỚP ĐỐI CHỨNG Trước tác
Trang 12Độ giá trị của dữ liệu được kiểm chứng bằng giá trị nội dung, những câu hỏi tôiđưa ra khái quát được nội dung môn học, phản ánh đầy đủ, rõ ràng quá trình nghiêncứu.
* Tiến hành kiểm tra và chấm điểm:
Tôi đã tiến hành bài kiểm tra 15 phút trước tác động vào tuần 7 học kỳ I và bàikiểm tra 15 phút sau tác động vào tuần 27 học kỳ II Đồng thời, thực hiện chấm bàitheo đáp án (nội dung kiểm tra và đáp án được trình bày ở phụ lục 2, kết quả kiểm trađược trình bày ở phần phụ lục 3, 4)
Thời điểm kiểm tra ở hai lớp như nhau (cùng thực hiện đồng loạt sau tiết sinhhoạt chủ nhiệm của tuần 7, 27) Giáo viên coi kiểm tra lớp 8a1: Trần Thị Bích Tuyền –giáo viên bộ môn Giáo viên coi kiểm tra lớp 8a2: Nguyễn Thanh Hồng – giáo viênchủ nhiệm
Điểm kiểm tra được lấy vào cột 15 phút của quy chế điểm
Trang 13IV PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ
Bảng 7: So sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động (theo phụ lục 5 trang 34):
Như bảng 3 (trang 7) ở trên đã chứng minh kết quả hai nhóm trước tác động là
tương đương nhau: p = 0,359 > 0,05 Sau tác động kiểm chứng chênh lệch điểm trungbình bằng T-test độc lập cho kết quả p = 0,0012 < 0,05 cho thấy sự chênh lệch điểmtrung bình giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng là có ý nghĩa, có giá trị, tức làchênh lệch kết quả điểm trung bình nhóm thực nghiệm cao hơn điểm trung bình nhómđối chứng là không ngẫu nhiên mà do kết quả của tác động
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD 0 , 826
82 , 1
5 , 6 0 , 8
Theo bảng tiêu chí Cohen, chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD = 0,826 > 0,8cho thấy mức độ ảnh hưởng của việc sử dụng phương pháp dạy học Bàn tay nặn bột
đến kết quả học tập của học sinh nhóm thực nghiệm là lớn.
Vậy, giả thuyết của đề tài “Sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong dạy họcnhằm làm tăng kết quả học tập môn Vật lý của học sinh lớp 8a2” đã được kiểm chứng
0 1 2 3 4 5 6 7 8
Trước tác động Sau tác động
Nhóm đối chứng Nhóm thực nghiệm
Biểu đồ so sánh điểm trung bình trước tác động và sau tác động
6.46 6.31 6.5 8.0
Trang 14của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng
V BÀN LUẬN
Kết quả giá trị trung bình bài kiểm tra sau tác động của nhóm thực nghiệm là 8,0;của nhóm đối chứng là 6,5 Độ chênh lệch điểm số giữa hai nhóm là 1,5 cho thấy giátrị trung bình điểm của hai lớp đối chứng và thực nghiệm đã có sự khác biệt rõ rệt, lớpđược tác động có điểm trung bình cao hơn lớp đối chứng
Phép kiểm chứng T-test giá trị trung bình sau tác động của hai lớp là p = 0,0012 <0,05 Kết quả này khẳng định sự chênh lệch giá trị trung bình của hai nhóm khôngphải là do ngẫu nhiên mà là do tác động
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn của hai bài kiểm tra là SMD = 0,826 > 0,8chứng tỏ mức độ ảnh hưởng của tác động là lớn
Qua kết quả thu nhận được trong quá trình nghiên cứu và ứng dụng, tôi nhận thấyrằng việc sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học đã làm nâng cao nănglực tư duy, khả năng tiếp thu kiến thức cho học sinh; học sinh học tập nhờ hành động
và cuốn hút mình trong hành động nên các em tích cực, hứng thú hơn trong học tập,mạnh dạn, tự tin hơn trước tập thể tất cả góp phần rất lớn vào việc nâng cao chấtlượng dạy và học môn Vật lý ở đơn vị
Trang 15VI KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1 Kết luận:
Tổ chức dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” là tạo điều kiện thuận lợi đểhọc sinh phát huy sự tự chủ động xây dựng kiến thức, đồng thời phát huy được vai tròtương tác của tập thể học sinh đối với quá trình nhận thức của mỗi cá nhân học sinh.Như vậy kiến thức học sinh thu nhận được xây dựng một cách hệ thống và vững chắc,năng lực sáng tạo của học sinh từng bước được phát triển
Qua quá trình áp dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột”, có thể nhận thấy sự hamthích của học sinh, các em hứng thú với những hoạt động tìm hiểu kiến thức mới Nhờ
đó, giờ học trở nên chất lượng, hiệu quả, số học sinh học tập tiến bộ nhiều hơn
Như vậy, việc sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học đã nâng caokết quả học tập Vật lý của học sinh
Khi sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học, giáo viên cần chú ý:
Phải lựa chọn chủ đề, bài học, đơn vị kiến thức thích hợp, gần gũi với đờisống mà học sinh cảm nhận và có ít nhiều quan niệm ban đầu về chúng
Không bình luận, nhận xét về tính đúng sai khi học sinh bộc lộ quan niệm banđầu hoặc đề xuất phương án thực nghiệm nghiên cứu
Với phương án thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu là tiến hành thí nghiệm thìphương án thí nghiệm phải đơn giản với các dụng cụ gần gũi, dễ tìm, dễ làm đối vớihọc sinh Ưu tiên phát triển thí nghiệm tự làm
Nhóm làm việc lý tưởng là từ 4 đến 6 học sinh, trong đó có một thư ký vàmột nhóm trưởng để ghi lại và trình bày nội dung thảo luận Không nhất thiết phảichọn nhóm trưởng là học sinh khá, giỏi
Mỗi học sinh phải có vở thực hành do chính các em ghi chép theo cách thức
và ngôn ngữ của các em
Việc sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học Vật lý đã đem lạinhiều hiệu quả quan trọng Tuy nhiên, giáo viên cũng gặp phải những khó khăn:
Đây là phương pháp mới mẽ đối với học sinh nên có nhiều em còn e dè, ngạibộc lộ quan niệm ban đầu, đề xuất phương án thực nghiệm nghiên cứu trước lớp Do
đó, giáo viên nên khuyến khích động viên hoặc chỉ định học sinh phát biểu
Với những học sinh còn lúng túng trong cách ghi vở thực hành thì giáo viên
phải có sự hướng dẫn cụ thể (ghi theo ba phần: P1- Phần ghi chú cá nhân: Ghi các
quan niệm ban đầu, các suy nghĩ, các câu hỏi cá nhân đặt ra trong quá trình học và
Trang 16thảo luận P2 -Phần ghi chú tổng kết của nhóm sau thảo luận P3- Phần ghi chú tổng kết sau khi thảo luận cả lớp, tức nội dung kiến thức bài học).
Với phương án thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu là tiến hành thí nghiệm thìgiáo viên (hoặc giáo viên cùng với học sinh) phải chuẩn bị, dự trù nhiều dụng cụ đểhọc sinh làm thí nghiệm vì sẽ có nhiều phương án được học sinh đề xuất, thiết kế
Để tổ chức dạy học bằng phương pháp “Bàn tay nặn bột” người dạy phải đầu tưnhiều cho việc soạn giảng và mất thời gian nhiều cho việc chuẩn bị Nhưng với lòngnhiệt tình với trẻ và sự tâm huyết với nghề, tôi nghĩ sẽ không có gì làm trở ngại quyếttâm nâng cao chất lượng, mong muốn đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp vớiyêu cầu mới của giáo dục hiện nay trong mỗi chúng ta
2 Khuyến nghị:
Đối với cấp trên: Thường xuyên mở các đợt tập huấn liên quan đến đổi mới
phương pháp dạy học, tổ chức các chuyên đề bồi dưỡng việc dạy học hiệu quả chogiáo viên Nên chọn Vật lý là một trong số các môn thi tuyển vào lớp 10 nhằm tránhtình trạng học sinh học lệch ngay từ lớp dưới
Đối với giáo viên: Không ngừng tự học, tự rèn để nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ và năng lực sư phạm, tích cực đầu tư, sáng tạo đổi mới phương pháp dạyhọc bộ môn
Với những mặt tích cực của việc sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạyhọc Vật lý, tôi nghĩ rằng đề tài hoàn toàn có thể áp dụng rộng rãi ở các khối lớp củatrường Trung học cơ sở Rất mong các bạn đồng nghiệp quan tâm, chia sẻ để nâng caokết quả học tập môn Vật lý cho học sinh của mình
Người thực hiện
Trần Thị Bích Tuyền
Trang 17TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Sách giáo khoa Vật lý 8
Vũ Quang – Bùi Gia Thịnh
2 Tài liệu “Phương pháp Bàn tay nặn bột trong dạy học Vật lý” cấp Trung học
Vụ Giáo dục Trung học
3 Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội 2011
4 Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Vật lý THCS
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
5 Website: http://violet.vn/tochuyenmon
http://www.giaovien.net.vn