1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Phân loại đất Chương 15

21 1,1K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 299,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

. Phân loại đất theo phát sinh 3.1. Cơ sở của phương pháp Phân loại đất theo phát sinh còn được gọi là trường phái phân loại phát sinh. Cơ sở khoa học của phương pháp là học thuyết phát sinh đất. Học thuyết do nhà bác học Nga V.V. Docuchaev (18461903) đưa ra năm 1883 trong công trình Ðất chernozem ở Nga. Trong đó Nhà bác học cho rằng, Ðất là một vật thể có lịch sử tự nhiên hoàn toàn độc lập; nó là sản phẩm hoạt động tổng hợp của: (1) mẫu chất và đá mẹ, (2) khí hậu, (3) thực vật và động vật, (4) địa hình và (5) tuổi khu vực. Học thuyết hình thành đất của Docuchaev được các nhà khoa học Nga và thế giới tiếp thu và hoàn thiện đồng thời bổ sung thêm một yếu tố (6) là tác động của con người trong quá trình hình thành đất trồng trọt. Sự tác động tổng hợp của những yếu tố đó sẽ quyết định quá trình hình thành đất chính. Các vùng địa lý tự nhiên khác nhau, yếu tố hình thành đất không giống nhau sẽ diễn ra các quá trình hình thành đất khác nhau. Kết quả hoạt động của các quá trình hình thành đất được biểu hiện rõ trong cấu tạo phẫu diện đất. Mỗi tầng đất trong phẫu diện là sản phẩm đặc trưng của một hay nhiều quá trình phát sinh nào đấy nên được 3.2. Nội dung phương pháp a. Nghiên cứu các yếu tố hình thành đất Nội dung này bao gồm thu thập và nghiên cứu các tư liệu có liên quan tới các yếu tố tự nhiên như học thuyết hình thành đất đã nêu. b. Nghiên cứu xác định các quá trình hình thành đất. Từ những kết quả nghiên cứu các yếu tố hình thành đất kết hợp với nghiên cứu phẫu diện đất ngoài thực địa, với kết quả phân tích đất trong phòng thí nghiệm sẽ biết được quá trình hình thành đất. Cần lưu ý, các quy trình nghiên cứu ngoài thực địa cũng như trong phòng thí nghiệm phải được tuân thủ nghiêm ngặt, nếu không sẽ cho ta kết quả không chính xác dẫn đến phân loại sai. Cũng nên biết rằng một số chỉ tiêu không được định lượng chặt chẽ nên phương pháp này được xem là phương pháp bán định lượng. c. Nghiên cứu xây dựng bảng phân loại đất Ðất trong lãnh thổ nghiên cứu cần phải được chia ra các loại theo một hệ thống phân cấp từ cao xuống thấp nhất. Hệ thống phân cấp như vậy trong Thổ nhưỡng học được gọi là hệ thống phân vị. Hệ thống phân vị ở Liên xô (cũ) áp dụng gồm 8 cấp như sau: Lớp (Clas)  Lớp phụ (Podclas)  Loại (Tip)  Loại d. Cách đặt tên đất Phân loại đất theo phát sinh giải thích sự hình thành, chiều hướng biến đổi và phát triển, tính chất của các loại đất. Việc đặt tên đất gắn liền với yếu tố và quá trình hình thành đất nên tương đối dễ dàng, dễ tiếp thu và đặc biệt, ít gặp khó khăn trong việc đề xuất các phương hướng cải tạo đất. Tuy nhiên, tồn tại lớn nhất của phân loại theo phát sinh là chưa thể hiện đầy đủ các tính chất hiện tại của đất. Nhiều vùng đất rộng lớn dưới tác động của con người như bố trí hệ thống cây trồng nông lâm nghiệp, bón phân cho cây trồng, xây dựng hệ thống thuỷ lợi, phá rừng lấy đất canh tác... Các tính chất đất không còn phụ thuộc chặt chẽ vào các yếu tố tự nhiên ban đầu mà phụ thuộc yếu tố nội tại, yếu tố địa phương do tác động sâu sắc của con người. 4. Phân loại đất của Mỹ Tương tự như các hệ thống trước đó, hệ thống phân loại đất

Trang 1

Chương XV PHÂN LOẠI ĐẤT

1 Khái niệm, mục đích và yêu cầu của phân loại đất

Theo tổng hợp của Tôn Thất Chiểu và cộng sự (1998), phân loại đất là một nội dungquan trọng của ngành khoa học đất Trước khi ngành khoa học đất phát triển, con người cũng đã biết phân loại đất tuy rằng hết sức sơ sài Cha ông ta đã biết dựa trên màu sắc, địa hình, mức độ dễ hay khó làm đất, đất nặng hay nhẹ để gọi tên đất khác Sự phân loại như vậy của cha ông hoàn toàn có cơ sở mặc dầu chỉ phản ánh một mặt nhất định Ngày nay khi khoa học về thổ nhưỡng đã phát triển, các nhà khoa học có đầy đủ điều kiện để phân loại đất một cách chính xác và toàn diện

Vậy phân loại đất (Soil classification) là gì? Hiểu đơn giản phân loại đất là phân chia đất ra các loại khác nhau

Khoa học đất đã xác định, mỗi loại đất được hình thành trong điều kiện tự nhiên nhất định bao gồm sinh vật, khí hậu, đá mẹ, địa hình và có những tính chất khác nhau rõ rệt Nói cách khác, các loại đất khác nhau bởi quá trình hình thành và tính chất khác nhau Tínhchất đất có liên quan mật thiết tới sự tồn tại và phát triển của cây trồng và các loài sinh vật nói chung

Mỗi cây trồng cũng như mỗi sinh vật khác sống trong đất đòi điều kiện đất khác nhau Ví dụ phần lớn cây trồng phát triển tốt trong môi trường phản ứng đất trung tính nhưng cây chè lại yêu cầu đất chua mới cho năng suất và chất lượng cao hay cây cói chỉ phát triển ở đất mặn mới đảm bảo yêu cầu chất lượng Mỗi loại đất có độ phì nhiêu nhất định, nghĩa là sự đáp ứng nhu cầu cây trồng về điều kiện sống của đất ở mỗi loại đất đượcđánh giá rất khác nhau

Vì vậy, mục đích chính của phân loại đất là để sử dụng đất hợp lý và có hiệu quả nhất trong sản suất nông-lâm-ngư nghiệp Ðồng thời phân loại đất là cơ sở để áp dụng những biện pháp cải tạo nâng cao độ màu mỡ của đất Ngoài ra, trên cơ sở phân loại đất

ta tiến hành đánh giá và quy hoạch phân bổ sử dụng đất phục vụ công tác quản lý Nhà nước về đất đai

Ðể đáp ứng được các mục đích trên, Khoa học đất cần xác định được các cơ sở khoahọc làm căn cứ đúng đắn cho việc phân loại đất Việc xác định tên đất một cách có hệ thống và đảm bảo tính khoa học, chính xác nhưng dễ hiểu, dễ sử dụng, phù hợp với tập quán của từng địa phương, từng cấp quản lý

Trong ngót một trăm năm qua, khoa học đất phát triển rất nhanh chóng và rất đa dạng Trong đó phân loại đất có thêm nhiều phương pháp còn được gọi là trường phái phân loại

2 Vài nét về sự phát triển của phân loại đất trên thế giới

Tôn Thất Chiểu và cộng sự (1998) đã tạm chia lịch sử công tác nghiên cứu phân loạiđất trên thế giới ra 3 thời kỳ như sau:

• Trước Docuchaev (giữa thế kỷ XIX về trước)

• Từ Docuchaev đến giữa thế kỷ XX

• Từ giữa thế kỷ XX đến nay.

Trang 2

2.1 Trước Docuchaev

Nói chung, từ giữa thế kỷ XIX về trước, con người sử dụng đất đã biết phân loại một cách sơ sài Tuy nhiên ở các nước phát triển như Nga, Mỹ và các nước Tây Âu, một số nhà khoa học đã

có những bổ sung lý luận uyên bác cho nền khoa học với những công trình đáng chú ý Ở Nga có

M Afonin, M Komov (tính chất đất và phân loại), ở Mỹ có E Ruffin, W Hilgard (phân loại và bản đồ), ở Tây Âu có A Thaer (phân loại theo thành phần cơ giới)

Cùng thời kỳ, ở Mỹ có G N Coffey và đặc biệt C F Marbut (1920) là một trong những người khởi xướng khái niệm mới Theo đó đất là một thực thể riêng biệt Cũng như con người, người này khác người kia, mỗi đất có đặc tính khác biệt với đất khác Tuy nhiên các đất có thể chung nhau một hay nhiều đặc tính mà theo một chuẩn mực nhất định ta có thể nhóm lại thành từng nhóm với nhau Tiếp tục tổ hợp các nhóm ở mức tiêu chuẩn cao hơn Bằng cách đó ta có phân loại theo hình kim tự tháp đối với đất Các nhà khoa học như M Balwin, C Kellogg, Smith đã kế tục và phát triển thành phương pháp phân loại riêng cho nước Mỹ được gọi là Soil Taxonomy.

Ở Tây Âu có nhiều nhà nghiên cứu đã tế tục và phát triển học thuyết của V.V Docuchaev, ví dụ Fally (1857, Knop (1871), Kubiena (1953) Các nhà khoa học này đã cố gắng kết hợp những kiến thức nông học và địa chất trong nghiên cứu phân loại đất.

Như vậy cho đến giữa thế kỷ XX trên thế giới đã tồn tại 3 khuynh hướng phân loại đất: Phân loại đất phát sinh, phân loại đất Tây Âu (kết hợp nông học và địa chất) và phân loại đất của

Mỹ (kinh nghiệm sử dụng, tính chất và năng suất cây trồng).

2.3 Từ giữa thế kỷ XX đến nay

Nền khoa học đất Xô Viết vẫn tiếp tục đi lên mạnh mẽ Tuy nhiên vào những năm60-70 của thế kỷ XX một loạt cơ sở nghên cứu đất trên thế giới được hình thành và đãđóng vai trò rất lớn trong sự phát triển của khoa học đất nói chung, phân loại đất nóiriêng

Trước hết Trung tâm Soil Taxonomy do Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) chủ trì bằng

sự tài trợ lớn đã xây dựng một hệ thống phân loại đất với các thuật ngữ riêng hoàn chỉnh,

có tên gọi là Soil Taxonomy (1975) Hệ thống này được xem là hệ thống phân loại định lượng, tiên tiến

Trung tâm FAO-UNESCO FAO là cơ quan thực hiện, UNESCO là cơ quan tài trợ Các nhà khoa học đất hàng đầu trên thế giới cùng nhau nghiên cứu phân loại và xây dựngbản đồ đất thế giới (bản đồ đất thế giới tỷ lệ 1/5.000.000 xuất bản 1961 nhưng thuyết minh chú giải 1975 và hướng dẫn 1988) Cơ bản nguyên tắc phân loại của FAO-

UNESCO cũng tương tự như của Soil Taxonomy nhưng hệ thống phân vị có đơn giản hơn và một số danh pháp vẫn giữ nguyên theo các nước có loại đất đó đã được nghiên cứu nhiều, ví dụ đất potzon hay đất chernozem của nước Nga; đất renzin của Balan Hệ thống phân loại này được gọi là hệ thống phân loại FAO-UNESCO

Từ năm1988 đến nay Liên hiệp quốc cũng như Hội Khoa học đất thế giới đã liên tục có những nghiên cứu bổ sung cho hệ thống phân loại FAO-UNESCO Ðáng chú ý

Trang 3

nhất là hai tài liệu: Cơ sở tham chiếu phân loại đất thế giới (IRB) và Cơ sở tham chiếu tài nguyên đất thế giới (WRB) Cơ sở tham chiếu tài nguyên đất thế giới (WRB) cung cấp chiều sâu khoa học và cơ sở khoá giải sửa đổi năm 1988 Vì thế phương pháp phân loại đất FAO-UNESCO hiện nay được gọi là phân loại FAO-UNESCO-WRB.

3 Phân loại đất theo phát sinh

3.1 Cơ sở của phương pháp

Phân loại đất theo phát sinh còn được gọi là trường phái phân loại phát sinh Cơ sởkhoa học của phương pháp là học thuyết phát sinh đất Học thuyết do nhà bác học NgaV.V Docuchaev (1846-1903) đưa ra năm 1883 trong công trình "Ðất chernozem ở Nga".Trong đó Nhà bác học cho rằng, "Ðất là một vật thể có lịch sử tự nhiên hoàn toàn độclập; nó là sản phẩm hoạt động tổng hợp của: (1) mẫu chất và đá mẹ, (2) khí hậu, (3) thựcvật và động vật, (4) địa hình và (5) tuổi khu vực Học thuyết hình thành đất củaDocuchaev được các nhà khoa học Nga và thế giới tiếp thu và hoàn thiện đồng thời bổsung thêm một yếu tố (6) là tác động của con người trong quá trình hình thành đất trồngtrọt Sự tác động tổng hợp của những yếu tố đó sẽ quyết định quá trình hình thành đấtchính Các vùng địa lý tự nhiên khác nhau, yếu tố hình thành đất không giống nhau sẽdiễn ra các quá trình hình thành đất khác nhau Kết quả hoạt động của các quá trình hìnhthành đất được biểu hiện rõ trong cấu tạo phẫu diện đất Mỗi tầng đất trong phẫu diện làsản phẩm đặc trưng của một hay nhiều quá trình phát sinh nào đấy nên được gọi là "tầngphát sinh" V.V Docuchaev cũng là người đầu tiên đưa ra nguyên tắc phân chia phẫudiện đất thành các tầng và đề nghị dùng các chữ cái viết hoa A, B, C, D để ký hiệu chocác tầng

3.2 Nội dung phương pháp

a Nghiên cứu các yếu tố hình thành đất

Nội dung này bao gồm thu thập và nghiên cứu các tư liệu có liên quan tới các yếu tố

tự nhiên như học thuyết hình thành đất đã nêu

b Nghiên cứu xác định các quá trình hình thành đất.

Từ những kết quả nghiên cứu các yếu tố hình thành đất kết hợp với nghiên cứuphẫu diện đất ngoài thực địa, với kết quả phân tích đất trong phòng thí nghiệm sẽ biếtđược quá trình hình thành đất Cần lưu ý, các quy trình nghiên cứu ngoài thực địa cũngnhư trong phòng thí nghiệm phải được tuân thủ nghiêm ngặt, nếu không sẽ cho ta kết quảkhông chính xác dẫn đến phân loại sai Cũng nên biết rằng một số chỉ tiêu không đượcđịnh lượng chặt chẽ nên phương pháp này được xem là phương pháp bán định lượng

c Nghiên cứu xây dựng bảng phân loại đất

Ðất trong lãnh thổ nghiên cứu cần phải được chia ra các loại theo một hệ thống phân cấp từ cao xuống thấp nhất Hệ thống phân cấp như vậy trong Thổ nhưỡng học đượcgọi là hệ thống phân vị Hệ thống phân vị ở Liên xô (cũ) áp dụng gồm 8 cấp như sau: Lớp (Clas) → Lớp phụ (Podclas) → Loại (Tip) → Loại phụ (Podtip) → Thuộc (Rod) → Chủng (Vid) → Biến chủng (Raznơvid) → Bậc (Razriad)

Trang 4

Theo V.A Kovda (1973), ở nước Nga và Liên xô (cũ) tồn tại 3 hướng phân loại.Thứ nhất "địa lý - phát sinh" hay "yếu tố - phát sinh" mà đại diện là V.V Docuchaev vàN.M Sybisev (trên cơ sở yếu tố hình thành đất tổng hợp và địa lý cảnh quan) áp dụngcho cấp phân vị cao nhất (lớp và lớp phụ) Hướng phân loại kế tiếp đó là "Phẫu diện- phátsinh" đứng đầu là P.S Kosovitz (1914), K.G Glinka (1925), K K Gedroiz (1925) ;trên cơ sở các quá trình hình thành đất, 10 loại (Tip) đất đã được phân chia và hướng thứ

3 "Phát sinh- tiến hoá" ("Phát sinh- lịch sử") do V.R Volobujev (1964) và M.A.Glazovxka (1960) đề xướng; các nhà khoa học này đã đi sâu nghiên cứu trong phạm vicủa 2 hướng trước đó Ví dụ, nghiên cứu phản ứng đất hay nghiên cứu địa hoá phục vụphân chia đất ở các cấp khác nhau

Tuy nhiên, một trong những mục đích của các hướng khác nhau là để tìm ra một cấpphân vị cơ bản nhất với những tiêu chuẩn (criterions) rõ ràng Cuối cùng các nhà khoahọc thống nhất lấy "loại" làm cấp cơ sở

• Loại (Tip): Các đất được tách ra từ một lớp phụ, bao gồm một nhóm các loại phụ đấtđược hình thành và tiến hoá trong cùng điều kiện sinh vật, khí hậu, thuỷ văn và đặctrưng bằng những biểu hiện của quá trình hình thành đất rõ ràng Những đặc điểmchung của các đất trong một loại đất là:

- Cùng phương thức thu nhận chất hữu cơ và nhiệt, cùng đặc điểm phân giải chất hữucơ

- Cùng quá trình phong hoá đá, khoáng vật nguyên sinh, cùng kiểu hình thànhkhoáng vật thứ sinh và phức chất hữu cơ- vô cơ

• Thuộc (hay Họ)- (Rod): Các đất được tách ra trong một loại phụ trên cơ sở chúngkhác nhau về đá mẹ hay mẫu chất

• Chủng (Vid): Các đất được phân ra trong một thuộc, chúng khác nhau do thành phần

cơ giới không giống nhau

• Biến chủng (Raznơvid): Các đất được tách ra trong phạm vi một chủng

• Bậc (Razriad): Các đất được tách ra trong phạm vi một biến chủng

d Cách đặt tên đất

Phân loại đất theo phát sinh giải thích sự hình thành, chiều hướng biến đổi và pháttriển, tính chất của các loại đất Việc đặt tên đất gắn liền với yếu tố và quá trình hìnhthành đất nên tương đối dễ dàng, dễ tiếp thu và đặc biệt, ít gặp khó khăn trong việc đềxuất các phương hướng cải tạo đất

Trang 5

Tuy nhiên, tồn tại lớn nhất của phân loại theo phát sinh là chưa thể hiện đầy đủ cáctính chất hiện tại của đất Nhiều vùng đất rộng lớn dưới tác động của con người như bố trí

hệ thống cây trồng nông lâm nghiệp, bón phân cho cây trồng, xây dựng hệ thống thuỷ lợi,phá rừng lấy đất canh tác Các tính chất đất không còn phụ thuộc chặt chẽ vào các yếu tố

tự nhiên ban đầu mà phụ thuộc yếu tố nội tại, yếu tố địa phương do tác động sâu sắc củacon người

4 Phân loại đất của Mỹ

Tương tự như các hệ thống trước đó, hệ thống phân loại đất toàn diện được gọi là

"Soil Taxonomy", quy định phân nhóm theo bậc các đất tự nhiên Có 2 đặc trưng làm nên

tính "duy nhất" (unique) của Soil Taxonomy (Nyle C.Brady; Ray R Well, 2002) Thứnhất, hệ thống dựa trên tính chất đất có thể đo đếm hay quan sát được Ðiều này làm giảmtính thuyết phục cuộc tranh luận về phân loại đất do các nhà khoa học theo học thuyết cơchế hình thành đất đưa ra

Tính "duy nhất" thứ 2 của Soil Taxonomy là các danh pháp (nomenclature) được

sử dụng cần làm rõ nghĩa đối với đặc tính chủ yếu của đất được nói đến Những danhpháp này thực sự là ngôn ngữ Quốc tế, không phải tiếng của nước nào Nghiên cứu đểđưa ra danh pháp sau khi đã đối chiếu những vấn đề cốt lõi của tiêu chuẩn chính (majorcriteria) đối với hệ thống các tính chất đất

4.1 Cơ sở của phương pháp

Soil Taxonomy dựa trên cơ sở những tính chất đất hiện có Ðiều đó không cónghĩa bỏ qua các quá trình phát sinh đất Thực tế, một trong các mục đích của hệ thống làphân chia các nhóm đất tương tự như trong phát sinh Dù sao, tiêu chuẩn cụ thể được sửdụng cho một vùng đất trong những nhóm này là tính chất đất có thể quan sát được Hầu hết các tính chất vật lý, hoá học và sinh học đều được sử dụng làm tiêu chuẩncho Soil Taxonomy Ví dụ, trạng thái nhiệt và ẩm độ quanh năm, màu sắc, thành phần cơgiới, kết cấu của đất Các tính chất hoá học, khoáng vật học, như hàm lượng chất hữu cơ,sét, oxit sắt, oxit nhôm, sét silicat, limon, pH, % độ bão hoà bazơ, độ sâu đất cũng lànhững tiêu chuẩn quan trọng để phân loại Trong khi nhiều tính chất có thể quan sát ởngoài đồng thì rất nhiều tính chất khác yêu cầu chính xác phải dùng kỹ thuật tinh xảotrong phòng thí nghiệm phân tích mẫu đất Sự chính xác này làm tăng tính khách quancủa hệ thống nhưng một số trường hợp đòi hỏi kinh phí rất lớn và kéo dài thời gian Các

chỉ tiêu chính xác cũng được dùng để xác định các tầng chẩn đoán (diagnostic soil

horizons)

4.2 Nội dung của phương pháp

a Nghiên cứu các yếu tố hình thành đất

Nội dung này bao gồm thu thập và nghiên cứu các tư liệu có liên quan tới các yếu tố

tự nhiên như học thuyết hình thành đất đã nêu Trong đó, đặc biệt cần chú ý tới các yếu tốđịa lý, yếu tố khí hậu như: kinh độ, vĩ độ, đới khí hậu Vì đây là những cơ sở để phânchia đất ở cấp phân vị cao nhất

b Xác định tầng chẩn đoán

Trong phân loại của Soil Taxonomy có 2 nhóm tầng chẩn đoán: các tầng chẩn đoán bề mặt và các tầng chẩn đoán phía dưới

Trang 6

Tầng chẩn đoán nằm ở mặt đất được gọi là đất mặt (epipedon) (tiếng Hylạp

epi-trên, pedon- đất) Tầng bề mặt bao gồm phần trên của tầng đất đen do chất hữu cơ, phần

trên của tầng rửa trôi (eluvial) hoặc cả hai Nó gồm cả một phần của tầng B nếu tầng này

có màu hơi đen do chất hữu cơ

Bảng 15.1 trình bày các tầng chẩn đoán và tính chất được dùng để đối chiếu trong cáccấp phân vị cao

Bảng 15.1 Các tầng chẩn đoán và những tính chất của chúng

Tầng chẩn đoán Nguồn gốc danh pháp/ Tính chất chính

Các tầng chẩn đoán bề mặt= eppedon

Mollic (A) Latin mollic, mềm/ dày, màu tối, BS cao, cấu trúc bền

Umbric (A) Latin umbra, bóng tối, chuyển tối, tối/ Giống mollic, trừ BS thấp Ochric (A) Hylạp ochros, nhợt nhạt/ màu rất sáng, ít hữu cơ; có thể cứng

và chắc khi khô

Melanic (A) Hylạp melas, đen; melan/ dày, màu đen, nhiều hữu cơ(> 6% OC)

thường gặp trong đất tro núi lửa

Histic (H) Hylạp histos, tế bào/ rất giàu hữu cơ, ướt trong một thời gian của

năm

Anthropic (A) Ðức anthropos, con người/ gần giống tầng mollic do tác động của

con người, giàu P dễ tiêu

Plaggen (A) Ðức plaggen, rễ cỏ/ gần giống tầng rễ cỏ do con người tăng lượng

phân bón hàng năm

Các tầng chẩn đoán phía dưới

Argilic (Bt) Latin arggila, sét/ Sét tích luỹ từ tầng trên xuống

Natric (Btn) Latin sodium, natri/ Tầng sét giàu natri, cấu trúc cột hay lăng trụ Spodic (Bh, Bs) Hylạp spodos, tro gỗ/ Tầng tích luỹ chất hữu cơ, sắt và nhôm oxit Cambic (Bw, Bg) Latin cambixre, thay đổi/ Thay đổi hay biến đổi do vận chuyển vật

lý hoặc do phản ứng hoá học, nói chung không có tích tụ

Agic (A hay B) Latin agre, canh tác/ Tích luỹ sét và chất hữu cơ ngay dưới lớp

canh tác do trồng trọt

Oxic (Bo) Pháp oxide, ôxit/ Phong đá hoá mạnh hỗn hợp sắt và nhôm ôxit

và sét silicát loại hình 1:1

Duripan (Bqm) / Ôxit silic (SiO2) bị xi măng hoá mạnh

Fragipan (Bx) / Lớp giòn, thông thường TPCG thịt, chặt

Albic (E) Latin albus, trắng / màu sáng, sét và sắt, nhôm ôxit rửa trôi mạnh Calcic Bk) Latin calx, đá vôi/ Tích luỹ CaCO3 hoặc CaCO3 MgCO3

Gipsic By) Latin gypsum, thach cao/ Tích luỹ thạch cao

Salic (Bz) Latin sal, muối/ Tích luỹ các muối

Kandic (Bt) / Tích luỹ sét hoạt đông kém

Petrocalcic (Ckm) / Tầng calcic bị xi măng hoá

Petrogypssic (Cym) / Tầng gypsic bị xi măng hoá

Placic (Csm) / Lớp mỏng bị xi măng hoá bởi chỉ sắt hoặc bởi cả mangan hoặc chất hữu cơ

Sombric (Bh) Latin somb, mầu tối/ Tích luỹ chất hữu cơ

Sulfuric (Cj) Pháp sulfur, lưu huỳnh/ Rất chua do đốm jarosite

Vấn đề chế độ ẩm và chế độ nhiệt trong phân loại

Trang 7

Chế độ ẩm và chế độ nhiệt là những tiêu chuẩn được xem xét trước tiên để phânloại ở cấp cao như bộ (order), bộ phụ (sub order), nhóm (great group)

Chế độ ẩm trong đất bao gồm:

Uớt (aquic) Ðất bão hoà nước, thiếu oxy; xuất hiện glây và đốm rỉ.

Ẩm (udic) Ðất ẩm gần quanh năm trong phần lớn các năm đáp ứng nhu cầu của cây.

Gặp

ở vùng khí hậu ẩm

Ẩm trung bình (ustic) Ðất ẩm trung bình giữa chế độ ẩm và chế độ khô Nó chung

cây

có nước tương đối đủ quanh năm mặc dù đôi khi vẫn có hạn hán

Khô (aridic) Ðất khô ít nhất một nửa năm mùa sinh trưởng và đủ ẩm ít hơn 90 ngày.

Chế

độ nước này đặc trưng cho vùng khô hạn

Chế độ khô mùa hè, ẩm mùa đông (xeric) Chế độ ẩm này có ở vùng khí hậu Trung

cận

đông điển hình với mùa hè nóng và khô còn mùa đông lạnh và ẩm

Ngoài ra, chế độ ẩm cũng rất cần thiết khi đề xuất sử dụng đất thích hợp bềnvững

Chế độ nhiệt trong đất bao gồm:

Băng vĩnh cửu (cryic) Hylạp kryos, rất lạnh Chế độ nhiệt này có liên quan tới cấp

633192.484

Hình 15.1 Sơ đồ phân loại đất của

Soil Taxonomy và số lượng gần

đúng các đơn vị đất trong mỗi cấp

Trang 8

Bảng 15.2 So sánh phân loại cây trồng và phân loại đất của Soil Taxonomy

(Lấy cây cỏ ba lá trắng -Trifolium repens)Phân loại cây Phân loại đất

Họ Biểu loại Phase

- thịt pha limon Miami

Bộ- Tập hợp những đất có hướng phát sinh gần giống nhau (yếu tố và quá trình hình

thành), có cùng kiểu cấu tạo phẫu diện

Bộ phụ- Tập hợp các đất trong một bộ đồng nhất về phát sinh, khác nhau về điều

kiện độ ẩm và thực vật

Nhóm lớn- Tập hợp các đất trong một bộ phụ, khác nhau bởi tầng chẩn đoán.

Nhóm phụ- Tập hợp các đất trong nhóm lớn Ngoài nhóm lớn đặc trưng, những

nhóm lớn kém đặc trưng hơn có các tính chất trung gian giữa hai nhóm lớn ta xếp lànhóm phụ (ví dụ aquic hapludlf)

Họ- Tập hợp các đất trong một nhóm phụ Cấp phân vị này chưa được xác định rõ

ràng Tuy nhiên cũng có thể phân từ nhóm phụ ra khi xem xét những điều kiện cho câytrồng phát triển Các họ khác nhau do có thành phần cơ giới, hàm lượng khoáng sét, pH,nhiệt độ, độ dày tầng, tính thấm, tính liên kết khác nhau

Biểu loại- Tập hợp các đất trong một họ, chúng là các đất riêng biệt khác nhau về

tính chất và cách sắp xếp các tầng phía dưới tầng canh tác

Danh pháp sử dụng trong Soil Taxonomy

Tính "duy nhất" của Soil Taxonomy là các danh pháp đo đếm không thông thườngđược sử dụng để phân biệt các lớp đất khác nhau Mặc dù không quen thộc nhưng trướchết, hệ thống danh pháp này rất chặt chẽ và cung cấp lượng lớn thông tin về bản chất củađất

Tên của các đơn vị phân loại là những tổ hợp (combinations) của các từ phần lớn làtiếng Latin hoặc Hylạp và là "gốc rễ" của nhiều thứ tiếng hiện đại Vì mỗi phần của tênđất chỉ cụ thể đặc tính hoặc phát sinh đất nên toàn bộ tên đương nhiên diễn tả bản chất

chung của đất được phân loại Ví dụ, đất thuộc bộ aridsol (tiếng Latin aridus là khô, solum là đất) hình thành trong môi trường khô Tương tự bộ inceptisol (inceptum- bắt đầu, solum- đất) bao gồm những đất có giai đoạn bắt đầu phát triển Như vậy, tên của các

bộ là tổ hợp của: (1) yếu tố hình thành đất, nói chung là đặc tính đất, (2) "đuôi" sol- đất.

Tên của các bộ phụ rõ ràng chỉ tên bộ chứa chúng Ví dụ các đất bộ phụ aquoll bao

gồm các đất bão hoà nước (aqua- nước) của bộ mollisol Tương tự trong tên của một

nhóm lớn bao hàm tên bộ phụ và tên bộ Nhóm lớn argiaquolle do các bộ phụ aquolle

chứa các tầng sét hay sét trắng (Latin argila- sét trắng)

Trang 9

Danh pháp và quan hệ của nó đối với những cấp phân vị khác nhau trong hệ thốngphân loại có thể biểu diễn như sau:

mollisol - bộ

aquoll - bộ phụ

argiaquoll- nhóm lớn

Typic argiaquoll - nhóm phụ điển hình

Cần chú ý rằng, 3 chữ cái oll có trong mỗi tên của cac cấp thấp hơn của bộ mollisol Như vậy trong tên của bộ phụ aquoll bao gồm phần tên nhóm lớn và nhóm phụ Nếu ta biết

tên của nhóm phụ đất nào đương nhiên ta cũng có thể đưa ra tên của nhóm lớn, bộ phụ và bộcủa đất đó

Các tên của họ đang tiếp tục được nghiên cứu, nhưng trên cơ sở xác định nhóm cácbiểu loại đất như thành phần cơ giới, khoáng vật và nhiệt độ ở độ sâu 50 cm Từ đó gắn "

mịn, hỗn hợp, trung bình, linh động" vào nhóm phụ argiaquoll điển hình thành các họ trong nhóm phụ argiaquoll điển hình với thành phần cơ giới mịn, hỗn hợp sét, chế độ

nhiệt trung bình (8-150C), và sét linh động

Các tên của các biểu loại có hàm ý tên địa phương vì mang tên địa phương nơi lầnđầu tiên đất được mô tả Vì thế các tên như Fort Collina, Cecil, Miami, Norfolk vàOntario được gắn vào để trở thành tên biểu loại đất Kết quả ở Mỹ có khoảng 19.000 biểuloại

Nghiên cứu đất ngoài thực địa đôi khi ta phân biệt các biểu loại bằng thành phần cơgiới tầng mặt, mức độ xói mòn, độ dốc hay những đặc tính khác Những đơn vị thấp thực

tế đó ta gọi là pha đất (soil phase) Những tên đất như đất thịt Fort Collina, đất sét Cecil,

đất thịt pha sét Cecil được dùng để phân chia các pha đất Cần lưu ý rằng, pha đất chỉ

áp dụng cho tình hình địa phương không phải là cấp phân vị trong hệ thống phân loại SoilTaxonomy

Ðể thuận lợi và nhanh chóng xác định tên đất và sắp xếp trong hệ thống phân loại, các nhà khoa học đã xây dựng một bộ khoá kiểu như bộ khoá trong phân loại thực vật

được gọi là Keys to Soil Taxonomy Bộ khoá này sẽ có sự thay đổi, bổ sung mỗi khi có một đơn vị phân loại đất mới ra đời Ví dụ trước đây chỉ có 10 bộ gần đây người ta đã bổ sung thêm thành tổng số 12 bộ trong Soil Taxonomy thì phải có các khoá cho 2 bộ mới này

Sau đây là tên của các bộ và tóm tắt những đặc điểm chính của chúng (bảng 15.3)

Bảng 15.3 Các tên bộ đất với xuất xứ và đặc điểm chủ yếu của chúng

Ðặc tính chủ yếu Alffisols

bào

Lat inceptum, bắt

đầu

Pedalfer Andesite Arid Recent

Jelly

Histolog y Inceptio n

Tầng argillic, natri, hoặc kandic, bão hoà cao hay trung bình

Từ nham thạch, chủ yếu là alophạn hoặc hỗn hợp Al- mùn Ðất khô, tầng ochric, đôi khi tầng argillic hoặc tầng natric Phẫu diện phát triển kém, thường tầng ochric

Băng vĩnh cửu, thường băng xếp lớp Than bùn hoặc đầm lầy, > 20 % chất hữu cơ Ðất mới hình thành với một vài tính chất chẩn đoán, tầng ochric, umbrric, cambic

Tầng mollic, bão hoà cao, màu tối, một số có tầng argillic

Trang 10

Lat verto, đảo lộn

Mollify Oxide Podzol Ultimate Invert

hoặc natric Tầng oxit, không có tầng argillic, phong hoá mạnh Tầng spodic thường với sự tích luỹ oxit Al, Fe và hữu cơ Tầng kandic hoặc argillic, bão hoà thấp

Sét co mạnh, kẽ nứt sâu khi đất khô

5 Phân loại đất theo FAO- UNESCO

Muốn sản xuất khối lượng lương thực và thực phẩm khổng lồ cho nhân loại, Liên hiệp quốc cần thiết quản lý và bảo vệ nguồn tài nguyên đất tốt nhất Ðể thực hiện mục tiêu đó Liên hiệp quốc phải có hệ thống phân loại đất thống nhất (có thể tương đối) cho tất cả các nước thành viên Năm 1961 hai tổ chức của Liên hiệp quốc là FAO và

UNESCO đã bắt đầu thực hiện dự án nghiên cứu phân loại và biên vẽ bản đồ đất toàn thế giới tỷ lệ 1/5.000.000 Dự án đã tập hợp trên 300 nhà khoa học đất từ nhiều quốc gia và lấy Trung tâm Khoa học đất Quốc tế ở Amsterdam-Hà Lan làm trụ sở chính Sau gần 20 năm bản đồ đất toàn thế giới căn bản được hoàn thành với các chú giải kèm theo Tuy nhiên, từ đó đến nay việc nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện vẫn tiến hành đều đặn; các tàiliệu bổ sung, hướng dẫn về phương pháp cũng như kết quả nghiên cứu trên thế giới được FAO phổ biến liên tục

5.1 Cơ sở của phương pháp

Giống như phương pháp phân loại đất Soil Taxonomy, các tác giả của hệ thống phân loại FAO- UNESCO cũng dựa vào tính chất hiện tại của đất có liên quan tới nguồn gốc, điều kiện và quá trình hình thành để tiến hành phân loại Như vậy có thể cho rằng phương pháp của FAO- UNESCO cũng là phương pháp định lượng (định lượng tầng chẩn đoán và tính chất chẩn đoán) Chỉ có tính chất hiện tại được định luợng hoá mới đánh giá được mức độ đáp ứng yêu cầu của cây trồng Những đặc điển về yếu tố, quá trình hình thành tác động đến đặc tính đất có thể xác định được mới đưa vào sử dụng trong phân loại

5.2 Nội dung của phương pháp

a Nghiên cứu các yếu tố hình thành đất

Nội dung này bao gồm thu thập và nghiên cứu các tư liệu có liên quan tới các yếu tố

tự nhiên trong học thuyết hình thành đất, gồm: sinh vật, khí hậu, đá mẹ, địa hình, thời gian và tác động của con người Việc đánh giá các điều kiện tự nhiên theo một hệ thống chỉ dẫn chặt chẽ của phương pháp để có thể xử lý trên máy điện toán

b Xác định tầng chẩn đoán và tính chất chẩn đoán

Tầng đất là lớp đất nằm song song với mặt đất có các đặc tính sinh ra do các quátrình hình thành đất, được phân biệt với tầng nằm kề cận bởi đặc tính có thể đo đếm hayquan sát khi nghiên cứu ngoài thực địa kết hợp với phân tích mẫu đất trong phòng thínghiệm

Tầng chẩn đoán (diagnostic horizons) là tầng đất mà các tính chất đã được định

lượng hoá, dùng để xác định tên đơn vị đất (name of units)

Ngày đăng: 12/05/2016, 09:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 15.1. Sơ đồ phân loại đất của - Phân loại đất Chương 15
Hình 15.1. Sơ đồ phân loại đất của (Trang 7)
Bảng 15.2 So sánh phân loại cây trồng và phân loại đất của Soil Taxonomy - Phân loại đất Chương 15
Bảng 15.2 So sánh phân loại cây trồng và phân loại đất của Soil Taxonomy (Trang 8)
Bảng 15.3 Các tên bộ đất với xuất xứ và đặc điểm chủ yếu của chúng - Phân loại đất Chương 15
Bảng 15.3 Các tên bộ đất với xuất xứ và đặc điểm chủ yếu của chúng (Trang 9)
Bảng 15.5. Một số tính chất chẩn đoán thường gặp - Phân loại đất Chương 15
Bảng 15.5. Một số tính chất chẩn đoán thường gặp (Trang 12)
Bảng 15.6 Các cột nhóm đất và cơ sở phân chia các nhóm (28 nhom) - Phân loại đất Chương 15
Bảng 15.6 Các cột nhóm đất và cơ sở phân chia các nhóm (28 nhom) (Trang 13)
Bảng 15.7. Phân loại đất Việt Nam theo phương pháp FAO - UNESCO (năm 1996) - Phân loại đất Chương 15
Bảng 15.7. Phân loại đất Việt Nam theo phương pháp FAO - UNESCO (năm 1996) (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w