PHẦN II: NỘI DUNG II.Phương pháp phân loại đất theo FAO – UNESCO – WRB. Hệ thống phân loại FAO UNESCO dựa vào tính chất hiện tại của đất có liên quan tới nguồn gốc, điều kiện và quá trình hình thành để tiến hành phân loại. Phương pháp của FAO UNESCO là phương pháp định lượng (định lượng tầng chẩn đoán và tính chất chẩn đoán). Chỉ có tính chất hiện tại được định lượng hoá mới đánh giá được mức độ đáp ứng yêu cầu của cây trồng. Những đặc điển về yếu tố, quá trình hình thành tác động đến đặc tính đất có thể xác định được mới đưa vào sử dụng trong phân loại. 1.Cơ sở phân loại đất theo FAO – UNESCO WRB. Nghiên cứu các yếu tố hình thành đất, nguồn gốc phát sinh: bao gồm thu thập và nghiên cứu các tư liệu có liên quan tới các yếu tố tự nhiên trong học thuyết hình thành đất, gồm: sinh vật, khí hậu, đá mẹ, địa hình, thời gian và tác động của con người. Chỉ tiêu định lượng dựa vào 3 yếu tố: + Xác định tầng chẩn đoán và tính chất chẩn đoán. + Vật liệu chẩn đoán. + Bảng tính chuẩn đoán. 2.Nguyên tắc phân loại đất theo FAO – UNESCO WRB. Phân loại đất từ cấp phân vị cao xuống cấp phâ vị thấp. Ở mỗi cấp phân vị, các đất được sắp xếp theo nguyên tắc ưu tiên, nhằm đảm bảo một đất cụ thể chỉ được xếp vào một vị trí trong mỗi cấp phân vị mà thôi. Việc xác định tên đất được căn cứ vào sự xuất hiện các tiêu chuẩn chuẩn đoán trong vòng 0 – 125 cm của cột đất. Trường hợp một phẫu diện đất có hai hoặc nhiều tầng chuẩn đoán thì tầng B phía trên (trừ tầng BCambicbiến đổi) được chọn làm căn cứ phân loại. Ở cấp phân vị thứ nhất (Nhóm đất chính – Major soil Groupings), tên đất được xác định dựa trên những đặc trưng được tạo ra do các quá trình thổ nhưỡng cơ bản. Ở cấp phân vị thứ hai (Đơn vị đất – soil units), tên đất được xác định dựa trên những đặc điểm đất được tạo ra do tác động của các quá trình hình thành đất thứ cấp trội. Trong một số trường hợp , những đặc điểm đất nào có ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng đất cũng có thể được đưa ra xem xét.(WRBISSSISRICFAO,1994,P3). Tên đất của các cấp thấp không được trùng lặp hoặc mâu thuẫn với tên đất ở cấp cao hơn.
Trang 1Câu hỏi:
Trình bày khóa phân loại 1 nhóm đất hoặc 1 đơn vị đất bất kỳ của Việt Nam theo phương pháp phân loại đất của WRB Đề xuất hướng quản lý, sử dụng và biện pháp cải tạo khi quy hoạch sử dụng nhóm đất đó.
Trả lời:
PHẦN I: MỞ ĐẦUI.Đặt vấn đề.
Đất được thành tạo trong tự nhiên rất khác nhau về nguồn gốc, thành phần, cấutrúc và tính chất của nó Do đó không thể nghiên cứu và xác định các tính chất của đấtnếu không hệ thống hóa chúng lại theo một quy định nhất định, tức không phân loạichúng Phân loại đất thì mới có cơ sở lựa chọn các phương pháp nghiên cứu phù hợpvới thực tế tự nhiên, từ đó có phương hướng đúng đắn để sử dụng đất hợp lý và cóhiệu quả nhất trong sản suất nông – lâm - ngư nghiệp, đồng thời là cơ sở để áp dụngnhững biện pháp cải tạo nâng cao độ màu mỡ của đất Ngoài ra, trên cơ sở phân loạiđất ta tiến hành đánh giá và quy hoạch phân bổ sử dụng đất phục vụ công tác quản lýNhà nước về đất đai
Theo tổng hợp của Tôn Thất Chiểu và cộng sự (1998), phân loại đất là một nộidung quan trọng của ngành khoa học đất Trước khi ngành khoa học đất phát triển, conngười cũng đã biết phân loại đất tuy rằng hết sức sơ sài Ngày nay khi khoa học về thổnhưỡng đã phát triển, các nhà khoa học có đầy đủ điều kiện để phân loại đất một cáchchính xác và toàn diện Mỗi loại đất có độ phì nhiêu nhất định, nghĩa là sự đáp ứng nhucầu cây trồng về điều kiện sống của đất ở mỗi loại đất được đánh giá rất khác nhau.
Vì vậy, việc phân tích đánh giá phân loại đất vấn đề hết sức cần thiết Vì vậy,
tôi lựa chọn bài tiểu luận: “Trình bày khóa phân loại 1 nhóm đất hoặc 1 đơn vị đất bất kỳ của Việt Nam theo phương pháp phân loại đất của WRB Đề xuất hướng quản
lý, sử dụng và biện pháp cải tạo khi quy hoạch sủ dụng nhóm đất đó”.
Trang 2PHẦN II: NỘI DUNGII.Phương pháp phân loại đất theo FAO – UNESCO – WRB.
Hệ thống phân loại FAO- UNESCO dựa vào tính chất hiện tại của đất có liênquan tới nguồn gốc, điều kiện và quá trình hình thành để tiến hành phân loại
Phương pháp của FAO- UNESCO là phương pháp định lượng (định lượng tầngchẩn đoán và tính chất chẩn đoán) Chỉ có tính chất hiện tại được định lượng hoá mớiđánh giá được mức độ đáp ứng yêu cầu của cây trồng Những đặc điển về yếu tố, quátrình hình thành tác động đến đặc tính đất có thể xác định được mới đưa vào sử dụngtrong phân loại
1.Cơ sở phân loại đất theo FAO – UNESCO - WRB.
- Nghiên cứu các yếu tố hình thành đất, nguồn gốc phát sinh: bao gồm thu thập và
nghiên cứu các tư liệu có liên quan tới các yếu tố tự nhiên trong học thuyết hình thànhđất, gồm: sinh vật, khí hậu, đá mẹ, địa hình, thời gian và tác động của con người
- Chỉ tiêu định lượng dựa vào 3 yếu tố:
+ Xác định tầng chẩn đoán và tính chất chẩn đoán
+ Vật liệu chẩn đoán
+ Bảng tính chuẩn đoán
2.Nguyên tắc phân loại đất theo FAO – UNESCO - WRB.
- Phân loại đất từ cấp phân vị cao xuống cấp phâ vị thấp Ở mỗi cấp phân vị,các đất được sắp xếp theo nguyên tắc ưu tiên, nhằm đảm bảo một đất cụ thể chỉ đượcxếp vào một vị trí trong mỗi cấp phân vị mà thôi
- Việc xác định tên đất được căn cứ vào sự xuất hiện các tiêu chuẩn chuẩn đoán trongvòng 0 – 125 cm của cột đất Trường hợp một phẫu diện đất có hai hoặc nhiều tầng chuẩnđoán thì tầng B phía trên (trừ tầng B-Cambic-biến đổi) được chọn làm căn cứ phân loại
- Ở cấp phân vị thứ nhất (Nhóm đất chính – Major soil Groupings), tên đất đượcxác định dựa trên những đặc trưng được tạo ra do các quá trình thổ nhưỡng cơ bản
- Ở cấp phân vị thứ hai (Đơn vị đất – soil units), tên đất được xác định dựa trênnhững đặc điểm đất được tạo ra do tác động của các quá trình hình thành đất thứ cấp
Trang 3trội Trong một số trường hợp , những đặc điểm đất nào có ảnh hưởng đáng kể đếnviệc sử dụng đất cũng có thể được đưa ra xem xét.(WRB-ISSS/ISRIC/FAO,1994,P3).
- Tên đất của các cấp thấp không được trùng lặp hoặc mâu thuẫn với tên đất ởcấp cao hơn
3.Cấu trúc hệ thống phân loại đất theo FAO – UNESCO – WRB.
Gồm 3 cấp phân vị:
Nhóm đất chính ( Major Soil Grouppings)
Đơn vị đất ( Soil Unit)
Đơn vị đất phụ ( SoilSub - Units)
Trang 4II Phân loại đất ở Việt Nam.
1.Cơ sở phân loại đất ở Việt Nam.
Ðịa chất và địa hình
Có thể chia lãnh thổ Việt Nam thành 2 vùng lớn: đồng bằng và trung du miền núi.Vùng núi có địa hình rất phức tạp, nhiều dãy núi cao, nhiều đứt gãy sâu, cáccao nguyên tạo nên các điều kiện tự nhiên hết sức phong phú
Trong vùng núi ta gặp đủ các loại đá mẹ khác nhau: granit, riolit, diolit, bazan,anderit, phiến mica, gnai, cát kết các loại, đá vôi, đá hoa, quăczit
Vùng đồng bằng: hai đồng bằng lớn ở Việt Nam là đồng bằng sông Hồng vàđồng bằng sông Cửu Long, địa hình trũng và thấp, có bề mặt tương đối bằng phẳng.Cấu tạo địa chất gồm các trầm tích Ðệ tam ở dưới, trầm tích Ðệ tứ ở phía trên
Vùng rìa đồng bằng tiếp giáp với biển thường chịu các tác động lớn của biển.Vùng đồng bằng miền Trung bị chia cắt bởi những dãy núi đâm ra biển, các vật liệutích đọng ở đây chủ yếu là cát các loại ở vùng ven biển
Khí hậu
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa với 3 kiểu khí hậu phổ biến:
- Kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa hè nóng mưa nhiều, mùa đông lạnh mưa
ít ở Bắc Bộ
- Kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa, mưa nhiều ở nửa cuối mùa hè và nửa đầumùa đông ở Trung Bộ (trừ Ninh Thuận và Tây Nguyên)
Trang 5- Kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa, quanh năm nóng, mưa nhiều vào mùa hè, khôhạn về mùa đông ở Nam Bộ, Tây Nguyên và Ninh Thuận
Các miền khí hậu được chia ra các khu vực khí hậu gắn với 9 vùng sinh thái là:Tây Bắc, Việt Bắc, Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng, duyên hải Bắc và Trung Trung Bộ,duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long
Thảm thực vật rùng Việt Nam
Thảm thực vật rừng Việt Nam cũng rất phong phú, ngoài những yếu tố thực vậtđặc hữu của Việt Nam như cây lim, săng lẻ, dừa, phong lan, Việt Nam còn là nơihội tụ từ nhiều nguồn sinh vật di cư từ phía Bắc xuống, phía Tây (Ấn Ðộ) sang
Theo Thái Văn Trừng (1971), thảm thực vật rừng Việt Nam được chia thành 14kiểu quần hệ
Sự tác động của con người
Nhiều vùng đất rộng lớn ở Việt Nam như đồng bằng Bắc Bộ, Nam Bộ, Trung
Bộ và nhiều vùng ở miền núi và trung du đã được sử dụng vào sản xuất nông lâmnghiệp Những vùng đất này chịu sự tác động sâu sắc của con người theo cả 2 hướngtích cực và tiêu cực
1.2 Những quá trình hình thành và biến đổi chính diễn ra trong đất.
- Quá trình tích luỹ mùn và than bùn
- Quá trình tích luỹ tương đối và tuyệt đối Fe, Al trong đất
- Quá trình glây
- Quá trình hoá mặn
- Quá trình hoá chua, quá trình hoá phèn
- Quá trình rửa trôi - xói mòn đất
- Quá trình bồi đắp phù sa
Trang 6III Nhóm đất xám (X) - Tên theo FAO - UNESCO: Acrisols(AC).
2.Điều kiện và quá trình hình thành.
Hình thành trên vùng núi phù sa cổ hoặc những vùng có đá mẹ xấu, địa hình dốc,thoải, mưa nhiều, mưa tập trung, quá trình rửa trôi các hạt sét,keo và chất dinh dưỡngdiễn ra mạnh mẽ tích luỹ Fe, Al; tích luỹ chất hữu cơ và mùn, hoá chua, đất được dùng
để trồng lúa lâu đời với tập quán canh tác lạc hậu nên đất bị thoái hóa nghiêm trọng
Có tầng đất mặt mỏng Lớp đất mặt có thành phần cơ giới nhẹ: tỉ lệ cát lớn, lượngsét và keo ít Đất thường bị khô hạn Đất chua hoặc rất chua Đất nghèo dinh dưỡng,nghèo mùn Số lượng vi sinh vật trong đất ít Hoạt động vi sinh vật trong đất yếu
3.Đơn vị đất.
Theo phương pháp phân loại định lượng, những đất có tầng B Argic nằm trongnhóm đất chính Acrisols Phần lớn diện tích đất đỏ vàng, đất mùn vàng đỏ trên núi,đất xám bạc màu có tầng B Argic điển hình cùng nằm trong nhóm Acrisols
Trong bảng phân loại đất 1996, nhóm đất xám có 5 đơn vị:
Trang 7Hình 17.1 Hình thái đất xám bạc màu điển
hình (Nguồn: Các loại đất chính Việt Nam-
Viện Thổ nhưỡng - Nông hoá)
Mẫu chất và đá mẹ gồm phù sa cổ, đá cát và macma axit (granít)
Lớp đất trên mặt (tầng canh tác) có màu trắng hoặc xám trắng là tầng đặc trưngcủa đất xám bạc màu, tầng này cón có tên gọi là tầng bạc màu Tầng bạc màu cóthành phần cơ giới nhẹ, kết cấu kém hoặc không có kết cấu, rất nghèo các chất dinhdưỡng, chua và thường bị khô hạn
Ðại diện cho đơn vị đất này là phẫu diệnBL4, đào tại xã Chơn Thành, huyện BìnhLong, tỉnh Sông Bé Ðịa hình đồi lượnsóng, đất trồng cây điều
Cấu tạo phẫu diện:
0-19 cm: màu xám trắng (10 YR 7/2M); cát pha; khô; chặt; kết cấu hạt nhỏ,nhiều rễ cây điều; lẫn ít than củi nhỏ;chuyển lớp rõ về màu sắc
19-68 cm: màu xám vàng (10 YR 7/3M); khô; cát pha; chặt; nếu bóp thì tơi;
6-ít rễ cây; kết cấu hạt to, cục hoặc tảng, cóhang kiến mối
68-150 cm: màu nâu xám vàng (10 YR8/6M); ẩm; thịt nhẹ; hơi chặt; kết cấu tảngđến hạt
Tính chất lý hoá học:
Trang 8Nhìn chung, tầng đất mặt có thành phần cơ giới nhẹ, kết cấu kém, dễ bị chặt, bí,thường bị khô hạn.
Ðất có phản ứng chua ít đến rất chua, pHKCl biến động từ 3,0-4,5, chủ yếu từ4,0-4,5, hàm lượng Ca2+, Mg2+ trao đổi rất thấp Các chất dinh dưỡng tổng số và dễtiêu rất thấp, hàm lượng mùn trong đất thấp, tầng mặt thay đổi từ 0,5 -1,5 %, mức độkhoáng hoá diễn ra mạnh (tỷ lệ C/N<10)
Tầng B đạt các tiêu chuẩn chủ yếu của B.Argic: có ít nhất 8% sét, hàm lượngsét ở tầng B.Argic lớn hơn tầng trên 1-2 lần
Bảng 17.1 Số liệu phân tích lý hoá học phẫu diện BL4
CEC (lđl/100
g đất)
Cation trao đổi (lđl/100g đất) (% BS
4.2.Ðất xám có tầng loang lổ (Xl) - Plinthic Acrisols (ACp).
Diện tích 221.300 ha
Phân bố: chủ yếu gặp ở vùng giáp ranh giữa đồng bằng với vùng trung du Bắc
Bộ, đất được hình thành chủ yếu trên phù sa cổ Các địa phương gặp nhiều loại đất này là Sóc Sơn, Ðông Anh - Hà Nội, Mê Linh - Vĩnh Phúc, Việt Yên, Tân Yên, Hiệp Hoà - Bắc Giang
Trang 9Về hình thái, lớp đất mặt có màu xám trắng hoặc xám, tầng B có các vệt loang
lổ vàng, vàng đỏ, có đặc tính plinthic điển hình Thành phần cơ giới thay đổi rất rõ theo chiều sâu phẫu diện, tầng mặt là cát pha hoặc thịt pha cát, tầng B thường là thịt mịn hoặc thịt pha sét Tầng canh tác cũng thường nghèo các chất dinh dưỡng và chua
ở các mức độ khác nhau
Ðại diện cho đơn vị đất này là phẫu diện ÐA4 đào tại xã Bắc Hồng huyện ÐôngAnh, thành phố Hà Nội Ðất trồng lúa, khoai tây, khoai lang
Cấu tạo phẫu diện ÐA4
0-15 cm: xám trắng (5YR 8/2M); cát pha thịt; hạt nhỏ, rời; nhiều rễ lúa; hơi ẩm;chuyển lớp rõ
15-26 cm: Xám nâu (5YR 7/2M); thịt pha cát; cục nhỏ, chặt; còn ít rễ lúa;
Trang 104.3.Ðất xám glây (Xg) - Gleyic Acrisols (ACg).
Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất nghèo, đất có phản ứng chua hoặc rấtchua Nếu so với 2 đơn vị ACh và ACp thì đơn vị ACg có hàm lượng chất hữu cơ trongđất có khá hơn, tuy vậy ACg cũng là đơn vị đất có nhiều tính chất kém ở nước ta
Ðại diện cho đơn vị đất này là phẫu diện HN3 đào tại xã Hiền Minh, huyện SócSơn, thành phố Hà Nội Ðộ cao tuyệt đối >10 m Ðịa hình bậc thang, thoát nước tốt.Ðất trồng 2 lúa 1 màu
Cấu tạo phẫu diện HN3
0-25 cm: màu xám trắng (10 YR 7/1M); có ít đốm vàng nâu (7,5 YR 6/7M) ẩm;nhiều rễ lúa; chuyển lớp rõ về màu sắc
25-33 cm: xám vàng (10 YR 3/2 M); có đốm vàng (7,5 YR 6/8M); còn ít rễlúa,;hơi ẩm; cục to; glây trung bình; chuyển lớp từ từ
33-70 cm: màu loang lổ đỏ vàng (10 YR 6/8 M) và xám hơi xanh (10 YR7/1M); sét pha; chặt bí; dẻo; kiến trúc tảng; glây trung bình
70 - 110 cm: màu xám xanh xen ít vệt loang lổ đỏ vàng; sét pha; ướt; có mạchnước ngầm; glây trung bình
Trang 11Hình thái phẫu diện cho thấy, các tầng đất dưới tầng mặt thường bị glây ở cácmức độ khác nhau.
Bảng 17.3 Số liệu phân tích lý hoá học phẫu diện HN3
CEC (lđl/100g đất)
Cation trao đổi (lđl/100g đất) BS
(%
)
Thành phần cơ giới (%)
Ðơn vị đất này hiện tại được sử dụng gieo trồng các cây hàng năm như lúa,ngô, khoai lang Năng suất cây trồng thấp và không ổn định Hiệu lực các loại phânbón trên đơn vị đất này cao
4.4.Ðất xám Feralit (Xf) - Ferralic Acrisols (ACf)
Trong bảng phân loại đất Việt Nam năm 1976, đất xám Feralit nằm trong nhómđất đỏ vàng (đất Feralit)
Trang 12Ðất xám Feralit được hình thành là kết quả của một số quá trình hình thành vàbiến đổi diễn ra trong đất như: Quá trình tích luỹ chất hữu cơ và mùn; quá trình rửatrôi, quá trình tích luỹ tương đối Fe, Al.
Sự tích luỹ hữu cơ và mùn ở tầng A (lớp đất mặt) làm cho đất có màu nâu, nâuxám, xám, xám vàng Quá trình rửa trôi dẫn tới sự tích luỹ sét ở tầng B và đất bị hoáchua do mất các chất kiềm và kiểm thổ Quá trình tích luỹ tương đối Fe, Al diễn rađiển hình nên tầng B có màu vàng, vàng đỏ, đỏ vàng Kết quả định lượng tầng B chothấy tầng B đạt các tiêu chuẩn của B.Argic theo phương pháp phân loại định lượngcủa FAO -UNESCO
Quá trình tích luỹ Fe, Al là một quá trình điển hình diễn ra trong đất vùng nhiệtđới và cận nhiệt đới Khi nghiên cứu quá trình tích luỹ Fe, Al ở vùng nhiệt đới, cácnhà khoa học đất đã chia thành 2 quá trình: quá trình tích luỹ tương đối và quá trìnhtích luỹ tuyệt đối
+ Quá trình tích luỹ tuyệt đối Fe, Al: đây là quá trình hình thành kết von và đáong trong đất Ngoài sắt nhôm có sẵn trong đất còn có sắt, nhôm di chuyển từ nơi khácđến tích luỹ lại theo 2 đường chính là nước nguồn và nước ngầm Trong nước nguồn(chảy từ dưới sâu trong lòng Trái Ðất nên thường nóng) và nước ngầm có chứa nhiều
Fe2+, khi lớp đất mặt bị khô hạn, nước ngầm di chuyển từ dưới lên phía trên Fe2+ sẽ bịoxy hoá thành Fe3+ tích luỹ trong đất ở dạng Fe2O3 hoặc Fe2O3.nH2O Ở mức độ nhẹtạo thành những đốm loang lổ đỏ vàng hoặc các ổ kết von đỏ vàng mềm, trong phânloại theo FAO-UNESCO được gọi là đất có đặc tính plinthic Ở mức độ điển hình,
Fe2O3 và Fe2O3.nH2O tạo thành kết von sắt và đá ong, trong phân loại theo FAO UNESCO gọi là đất có đặc tính Ferric Dựa vào hình dạng và nguyên nhân tạo kết von
-mà chia ra: Kết von tròn, kết von hình ống, kết von củ gừng, kết von gạc nai và kết vongiả Kết von tròn có nhân ở giữa và oxyt sắt tạo thành những vòng cầu đồng tâm xungquanh nhân thường do kết tủa từ dung dịch thật Kết von sắt có màu nâu đen, đen, nếukết von đen mềm là kết von MnO2 Kết von hình ống thường rỗng ở giữa Kết von giả
là các mảnh đá hay các khoáng vật được oxyt sắt bao bọc xung quanh
Trang 13Ðá ong có 3 loại: đá tổ ong, đá hạt đậu và đá phiến Thành phần chính của đáong là oxyt và hydroxit sắt Ðá ong tổ ong rất rắn chắc thường gặp ở vùng đồi thấptiếp giáp với đồng bằng thuộc các tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Thái Nguyên, Hà Tây
Sự xuất hiện kết von và đá ong là dấu hiệu của sự thoái hoá đất
+ Quá trình tích luỹ đất tương đối Fe, Al (còn gọi là quá trình Feralit): Sắt vànhôm được tích luỹ trong đất do sự rửa trôi các chất khác Các chất có trong đất đều
bị rửa trôi, nhưng các hợp chất sắt và nhôm (dạng oxyt và hydroxit) khó bị rửa trôihơn nên theo thời gian tỷ lệ tương đối của chúng chiếm thành phần chủ yếu trong đất.Quá trình Feralit diễn ra phức tạp, trước tiên các khoáng vật và đá bị phong hoá tạocác khoáng thứ sinh là các loại keo sét, tiếp đó một phần keo sét bị phá huỷ tạo thànhcác hợp chất đơn giản hơn như các Oxyt Fe, Al, Si và các loại muối Các chất kiềm,kiềm thổ bị rửa trôi dễ nhất, một phần SiO2 cũng bị rửa trôi nhưng các hợp chất của
Fe, Al bị rửa trôi ít nên dần dần chiếm tỷ lệ chính trong đất Các nhà khoa học đất dựavào tỷ lệ SiO2/Al2O3, SiO2/Fe2O3 và SiO2/R2O3 để đánh giá quá trình Feralit, tỷ lệ càngnhỏ (theo V.M Fritland quá trình Feralit có SiO2/R2O3 £ 2) thì quá trình Feralit diễn
Ðất xám Feralit hình thành trên nhiều loại đá mẹ khác nhau nên có tính chấtbiến động rất mạnh và phụ thuộc khá chặt chẽ vào đá mẹ
Dựa vào đá mẹ và quá trình biến đổi, đất xám Feralit được chia thành 5 đơn vị phụ sau:
- Ðất xám Feralit phát triển trên đá sét và biến chất (Xfs)
- Ðất xám Feralit phát triển trên đá macma axit (Xfa)
- Ðất xám Feralit phát triển trên đá cát (Xfq)