1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Tổng quan dân tộc Si La (PDF,Word)

23 412 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 1,05 MB
File đính kèm Tổng Quan Dân Tộc Si La.zip (2 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan về dân tộc Si La, đặc điểm kinh tế và văn hoá truyền thống của dân tộc Si La.Tài liệu có hình minh hoạ đuợc tổng hợp từ các nguồn thu thập đuợc từ trên internet. Đuợc dung cho mục đích tham khảo và làm tài liệu cho các đề tài. Xin mời xem thêm phần mục lục để thấy rõ cấu trúc của tài liệu.

Trang 1

N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 1 | 23

TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC SI LA

MỤC LỤC:

1 Vài Nét Về Dân Tộc Si La 2

2 Kinh Tế Truyền Thống 2

2.1 Trồng trọt 2

2.2 Chăn nuôi 4

2.3 Khai thác tự nhiên 5

2.4 Ngành nghề thủ công 6

2.5 Trao đổi, mua bán 7

3 Văn hoá truyền thống 7

3.1 Làng 7

3.2 Nhà ở 8

3.3 Y phục, trang sức 9

3.4 Ẩm thực 10

3.5 Phương tiện vận chuyển 11

3.6 Ngôn ngữ 11

3.7 Tín ngưỡng tôn giáo 12

3.8 Lễ hội 14

3.9 Gia đình, dòng họ 16

3.10 Tục lệ cưới xin 17

3.11 Tập quán sinh đẻ và nuôi con nhỏ 19

3.12 Tập quán tang ma 20

3.13 Văn nghệ dân gian 21

Trang 2

N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 2 | 23

1 Vài Nét Về Dân Tộc Si La

Địa bàn cư trú:

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Si La ở Việt Nam có dân số

709 người, có mặt tại 17 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố Người Si La cư trú tập trung tại các tỉnh: Lai Châu (530 người, chiếm 74,75% tổng số người Si La tại Việt Nam), Điện Biên (148 người, chiếm 20,87% tổng số người Si La tại Việt Nam), các tỉnh khác mỗi tỉnh có không quá 10 người

2 Kinh Tế Truyền Thống

2.1 Trồng trọt

Nguồn lương thực chính của dân tộc Si La là cây lúa nương Ngoài ra người Si La còn trồng ngô, cây cao lương Lúa và ngô đều có giống cơ bản là lúa nếp, lúa tẻ và ngô nếp, ngô tẻ Trong bộ giống cây lương thực của người Si La, cũng như các dân tộc khác ở Tây Bắc nước ta, giống nếp thường phong phú hơn lúa tẻ Tuy nhiên, ở đây chúng ta thấy giống lúa nếp ở Tây Bắc không hoàn toàn giống với giống lúa nếp ở miền đồng bằng, bởi

ăn nếp ở Tây Băc không bị nóng cổ như ăn nếp ở đồng bằng; nếp ở Tây Bắc đồ từ sáng

Dân số : 709 người (2009) Ngôn Ngữ: huộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến, ngữ hệ Hán - Tạng Tên gọi khác: Cú Dé Xử, Khả Pẻ Nhóm địa phương:

Địa bàn cư trú: Lai Châu, Điện Biên,

Trang 3

N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 3 | 23

đến chiều ăn vẫn dẻo Phải chăng sự khác nhau này là do khác nhau về giống: nếp ở rẫy Bắc là nếp trồng trên nương khô cạn, còn nếp ở đồng bằng là nếp cấy ở ruộng nước Sinh sống ở vùng rừng núi, đất dốc, đồng bào Si La thực hiện việc gieo trồng lúa nương theo hai cách: chọc lỗ tra hạt, hoặc vãi hạt giống ra nương Cách chọc lỗ tra hạt được thực hiện nhiều hơn, vì nương của đồng bào chủ yếu là nương trên đất có độ dốc khá cao Thực hiện theo phương thức này, sau khi đã chuẩn bị đất xong, người ta bắt đầu tra hạt giống Thông thường có hai người, một người chọc lỗ đi trước và một người tra hạt giống xuống lồ rồi dùng chân gạt đất lấp kín hạt giống

Trong gia đình, thông

thường người chồng đi

nương trên bãi hay

trên những sườn đồi

thấp Sau khi đã cày bừa làm đất xong, người ta tiến hành gieo vãi hạt giống đều ra khắp nương, sau đó dùng cành cây kéo để lấp đất cho những hạt giống vừa được vãi xuống đất

đó Cây cao lương được trồng với số lượng ít Cao lương thường được rang ăn như ăn ngô rang, hoặc làm rượu, sắn là loại cây trồng mới được người Si La trồng từ nửa sau của thế kỷ XX Cây sắn dễ trồng, không kén đất, lại cho năng suất khá, cho nên nó được phát triển khá nhanh Củ sắn được đồng bào sử dụng để ăn tươi, làm thức ăn cho gia cầm, cho lợn, hoặc thái lát phơi khô để ăn dần, nấu rượu

Ngoài cây lương thực, người Si La còn trồng một số loại cây khác như cây bông, cây chuối, cây rau xanh: đậu đỗ, bầu bí

Trồng rau xanh (Ảnh sưu tầm)

Trang 4

N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 4 | 23

Người Si La và nhiều dân tộc khác ở nước ta đều thành thạo kỹ thuật trồng xen canh, gối

vụ Trừ nương lúa, tất cả các nương khác đều được trồng xen canh gối vụ Dưới gốc cây ngô, đồng bào thường trồng xen canh các loại cây: bí đỏ, bí xanh, hành, tỏi, rau cải, vừng, gừng, đậu đen, khoai lang, khoai sọ Trước đây người Si La cũng trồng cây thuốc phiện trên các nương vào mùa đông Đồng bào không làm vườn trồng rau

Người Si La lao động sản xuất bằng những công cụ thô sơ Những công cụ chính sử dụng trong sản xuất của đồng bào là chiếc gậy chọc lỗ, chiếc cuốc, con dao cũ bẻ quặt lại để cào đất

2.2 Chăn nuôi

Dân tộc Si La chăn nuôi gia súc, gia cầm Con trâu, con bò, con dê, được đồng bào chăn nuôi từ lâu đời, nhưng sự phát triển của chăn nuôi rất chậm chạp Vị trí của chăn

nuôi luôn đứng sau trồng trọt lrou| quan hệ của nền kinh tế và không mang ý nghĩa hỗ trợ

trực tiếp cho sự phát triển của nghề trồng trọt, vì trong truyền thống, người Si La không dùng trâu, bò để kéo cày Tuy nhiên con trâu lại có giá trị rất quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm cho các dịp thực hiện các nghi lễ lớn trong cộng đồng như cưới xin, ma chay, làm nhà mới và bán, , sau khi Nhà nước thực hiện cuộc vận động định canh định

cư, đồng bào xuống núi, trong cơ cấu sản xuất có làm thêm nương định canh làm ruộng nước, con trâu bước đầu tham gia vào việc kéo cày

Người Si La chăn nuôi theo công thức chăn thả vào khu rừng cun bản Mùa nông nhàn, trâu được thả rông tự nhiên trong rừng Mùa mưa đến, cũng đồng nghĩa là mùa sản xuất bắt đầu, ban ngày đồng bào chăn thả trâu, bò ở trong rừng, ban đêm, lùa đàn trâu bò về bản, từng đình cột những con trâu, bò của gia đình vào các gốc cây xung quanh nhà Họ không làm chuồng trại cho trâu, bò Mùa trâu thả rông trong rừng khá lâu, nhưng trâu của các gia đình không bị nhầm lẫn, bởi, mặt con trâu có đặc điểm là rất bám đàn của mình từ lúc mới sinh ra, mặt khác, đồng bào thoả thuận cách đánh dấu riêng cho đàn trâu của gia đình mình: có gia đình như đeo mõ tre cho trâu, có gia đình dùi tai trâu, cụt lông đuôi Nhờ vậy mà hầu như không thấy có sự nhầm lẫn, tranh chấp trâu, bò trong bản người Si

La

Lợn, gà, vịt là những con vật nuôi mang tính phổ biến hơn Gia đình nào cũng nuôi vài ba con lợn, một đàn gà vịt Cách nuôi lợn, gà, vịt cũng thực hiện chủ yếu theo cách chăn thả

Trang 5

N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 5 | 23

Tuy nhiên những con vật chỉ thả ban ngày, còn ban đêm thì nhốt trong chuồng Hàng ngày cho lợn, gà, vịt ăn hai bữa: bữa thứ nhất vào lúc sáng sớm, khi chúng mới thả từ chuồng ra và bữa thứ hai lúc chiều tối, khi chúng sắp lên chuồng ngủ đêm

Đồng bào Si La nuôi nhiều lợn, gà, vịt để sử dụng làm vật hiến sinh trong các dịp lễ tết, các nghi lễ thờ cúng và làm thực phẩm khi có ngoài ra còn để bán

xỉ, lá chua, lá lốt Vì đồng bào không làm vườn, cho nên rau rừng được thu hái thường xuyên và tham gia vào bữa ăn hàng ngày của đồng bào Ngoài măng, rau rừng người Si

La còn thu hái mộc nhĩ, nấm hương, mật ong Đây là sản vật quý, không chỉ sử dụng cho bữa ăn hàng ngày, mà còn có thể đem bán ở các chợ

Người Si La cũng như nhiều dân tộc khác sinh sống ở trên vùng rừng núi, thường xuyên hoạt động săn bắn Việc săn bắn lúc nào cũng vừa có mục đích kiếm thịt cải thiện đời sống, vừa có mục đích bảo vệ mùa màng, nhất là mùa màng đến kỳ thu hoạch Đối tượng săn bắn là các loại muông thú trên rừng và các loại thuỷ sản ở dưới sông, suối Có nhiều cách săn bắn như đánh bẫy Công cụ dùng cho săn bắn là khẩu súng kíp, nỏ, bẫy các loại săn rình cá nhân, săn đuổi tập thể Gần đến mùa thu hoạch các gia đình thường đặt bẫy trên đường mòn con thú vào nương Trong hoạt động khai thác tự nhiên, người Si La còn làm thêm nghề đãi vàng sa khoáng bên bờ sông Đà Công cụ đãi vàng là chiếc máng gỗ

tự tạo, chiếc cân tiểu ly và một ít thuỷ ngân lỏng để thu gom vàng sa khoáng Vào mùa nước, một người có thể đãi được một phân vàng cám trong một ngày, cả năm có thể thu được số vàng sa khoáng tính bằng chai

Trang 6

N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 6 | 23

2.4 Ngành nghề thủ công

Ngành thủ công có tính phổ biến trong

đồng bào Si La là nghề đan lát mây tre

và đan móc sợi

Đan lát được coi là công việc của

người nam giới Con trai trong gia đình

lên 7-8 tuổi đã được bố chú ý dạy cho

đan lát Do vậy khi đến tuổi trưởng

thành hầu như tất cả nam giới đều biết

đan mây tre Khéo tay, có tài đan lát

được coi là một tiêu chí đánh giá người

chủ gia đình tương lai Nguyên vật liệu

dùng để đan lát chủ yếu là mây tre, nứa Những thứ nguyên vật liệu này không cần mua,

mà chỉ cần chịu khó đi vào rừng tìm kiếm lấy về đan Đồng bào rất có kinh nghiệm khai thác các nguồn nguyên vật liệu Thông thường người Si La khai thác các cây mây, tre, nứa vào mùa thu đông, khi khí hậu khô, mùa rét đến, chu kỳ sinh trưởng của cây tạm bị hạn chế, cây không ngậm nước Những sản phẩm đan từ mây thường là chiếc gùi, mồi người trong gia đình thường cân có hai, ba chiếc gùi, để sử dụng hàng ngày vào những việc khác nhau Nhìn từ góc độ kỹ thuật đan, có hai loại gùi: loại gùi đan bằng kỹ thuật

ba dùng vào việc gùi thóc, ngô, gạo, còn gùi đan băng kỳ thuật đan mắt cáo, đan lóng mốt thường dùng vào việc gùi khoai lang, săn, rau, củi Nguyên liệu mây còn được dùng

đế đan chiếu đan hòm đựng quần áo, giỏ đựng cơm,

Ngoài ra nhiều đồ gia dụng được đan bằng nan như: tấm trãi để đập lúa, cót để phơi thóc, các loại nong, nia, mẹt, giàn, sàng

Bên cạnh các đồ gia dụng, người Si La còn đan công cụ để đánh bắt cá như đan chài,

lưới Nguyên liệu để đan chài, lưới chủ yếu dây gai hoặc sắn dây rừng

Trong một số bản của người Si La có lò rèn, nhưng chưa có người làm nghề rèn chuyên nghiệp, mà học làm việc sửa chữa dao, cuốc, liềm, khi có nhu cầu và cũng chi sửa chữa cho trong bản

Đan mây tre (Ảnh minh họa)

Trang 7

N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 7 | 23

2.5 Trao đổi, mua bán

Kinh tế tự túc, tự cấp, cho nên việc trao đổi, mua bán có phần trầm lắng Tuy nhiên, do nhu cầu cuộc sống, việc trao đổi, mua bán vẫn diễn ra Do cư trú ở vùng sâu, vùng xa, việc trao đổi mua bán thường được thực hiện ở chợ xa nơi đồng bào cư trú như chợ thị trấn Mường Tè, chợ thị xã Lai Châu (Mường Lay) Đồng bào Si La thường đưa các sản phẩm của mình làm ra như các đồ đan mây tre, các sản phẩm chăn nuôi như trâu, bò, lợn, gà, cùng một số sản phẩm thu hái được từ tự nhiên mã nấm hương, mộc nhĩ, mật ong, thậm chí cả vàng sa khoáng Đồng bào thường mua các mặt hàng nhu yếu phẩm như muối ăn, dầu thắp, nồi xoong, Quần áo, vải, một số loại nông cụ, giấy vở học trò, những

đồ dùng trang điểm cho chị em phu nữ Một mặt hàng quen thuộc cho nam giới là họ mua súng kíp của người Mông về để săn bắn muông thú, bảo về mùa màng

3 Văn hoá truyền thống

3.1 Làng

Dân tộc Si La đến vùng Tây Bắc cư

trú tương đối muộn, khi làm hết đất

đai Tây Bắc thuộc chủ sở hữu là các

quý tộc phong kiến, từ đó đất dựng

bản cũng phụ thuộc vào chủ sở hữu

đất là người Thái Ban đầu người Si

La đến ở Mường Mô, sau lại ngược

lên Mường Toong, Mường Nhé, sang

nửa sau của thế kỷ XX mới chuyển

xuống khu vực Tà Tổng và Can Hồ để

lập bản Đến lập bản ở Can Hồ, người

Si La hoàn toàn lệ thuộc vào người

Thái về đất đai, rừng rú, sông, suối, sản vật tự nhiên, về mặt xã hội, người Si La được quyền chiếm hữu và sử dụng nương do họ khai phá, nhưng phải nộp tô thuế và thực hiện những công việc lao dịch khác, đồng thời phải tuân theo luật tục Thái

Tập quán người Si La thường chọn đất bám dọc theo các dòng sông để dựng bản Khi ở bên Lào, họ cư trú ở dọc sông Nậm u, đến Việt Nam, đồng bào cũng chọn vùng đất dọc

Một gốc làng dân tộc Si La

(Ảnh sưu tầm)

Trang 8

N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 8 | 23

theo sông Nậm Mức, Nậm Xin Nậm Tè (tên sông Đà ở thượng nguồn) Sự lựa chọn nơi dựng bản của người Si La có lợi thế vừa gần rừng, vừa gần sông, do đó vừa có thể khai thác tài nguyên rừng, vừa có thể khai thác thuỷ sản ở sông, lại thuận tiện về giao thông liên lạc đi lại Cách chọn đất dựng làng này có nét tương đồng với người Cống - một dân tộc cũng có gốc từ Lào và khác với người Hà Nhì, người La Hủ - các dân tộc có nguồn gốc từ Trung Quốc, luôn chọn nơi núi cao để dựng bản Nhìn hình thức bên ngoài làng, ta thấy, làng được dựng ở chân núi, nhìn ra thung lũng sông suối Nhưng, nhìn vào vị trí cổng làng, ta thấy cổng làng của đồng bào luôn được dựng ở phía Tây của làng Phải chăng, hướng Tây mới là hướng của làng nhìn từ phía tâm linh, hướng về cội nguồn nước Lào ở phía tây Trong làng, nhà ở được bồ trí theo kiểu mật tập

3.2 Nhà ở

Người Si La ở nhà đất Nguyên vật liệu làm

nhà là gỗ, tre nứa, lá Những nguyên vật liệu

này sẵn có ở trong rừng, không phải mất tiền

đi mua, mà chi mất công đi vào rừng lấy

Đồng bào thường làm nhà hai gian với hai

chái nhỏ Nhà có hiên ở phía trước và chỉ mở

một cửa ra vào nhà ở một trong hai gian chính

đó

Bố trí trong nhà ở được quy định chặt chẽ Theo phong tục dân tộc, trong nhà ở có nơi đặt bàn thờ để cúng bố mẹ, bàn thờ này thường đặt ở góc trái trong cùng Bàn thờ đơn giản chỉ là một tấm phên nan tre treo lên vách sau, trên đó, có một chén rượu nhỏ và một quả bầu khô Gian thờ được ngăn thành buồng riêng Chủ nhà ngủ ngay gian buồng sát gian thờ Còn bàn thờ của cả dòng họ người Si La được đặt ở cột chính của nhà trưởng họ Nhà ở của người Si La có hai bếp Bếp chính đặt ở giữa nhà, bếp này đồng bào kê ba hòn đá làm ba ông đồ rau Trong đó ông đồ rau quan trọng nhất - xì xhi kho lọ (đá thờ) quay lưng về phía bàn thờ tổ tiên Người Si La quan niệm rằng, tổ tiên thường ở đó để trông coi bếp lửa của gia đình

Trang 9

N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 9 | 23

3.3 Y phục, trang sức

Người Si La không duy trì được

nghề dệt truyền thống, cho nên,

họ đã sử dụng vải của người Thái

hoặc vải công nghiệp để làm

quần áo mộc Y phục của phụ nữ

có nhiều nét độc đáo Phụ nữ

mặc váy kín, dài đến mắt cá

chân, màu đen hay màu chàm,

không hoa văn trang trí, khi mặc,

giắt mối váy phía sau lưng Do

vậy, người Thái còn gọi người Si

La là Khả pẻ - người mặc váy giắt mối ở đằng sau Chị em phụ nữ Si La mặc áo ngắn hở bụng, cài cúc dưới nách phải, không chần cổ áo Nét đặc trưng của áo phụ nữ Si La thể hiện ở vạt ngực áo Đâv là miếng vải công nghiệp khác màu với màu áo, đính vào nửa thân trước áo Trên miếng vải đó gắn 72 đồng xu bằng bạc hay nhôm thành 9 hàng

ngang, cồ áo, ống tay áo được trang trí bằng cách đắp thêm những dải vải màu khác nhau Khăn đội đầu của phụ nữ Si La được làm bằng vải trắng có hình chữ nhật, chiều dài chừng 80cm, chiều rộng khoảng 20cm Trên khăn đó những đường thêu kẻ dọc, ngang, tạo thành những ô vuông lớn bằng du đỏ Hai đầu khăn trang trí bằng tua chỉ màu và những đồng xu bằng bạc hoặc nhôm Khi đội, một đầu khăn được giắt trước trán, còn đầu

kia buông lửng phía sau lưng Chiếc khăn đội đàu màu trắng cũng là dấu hiệu về người

con gái chưa chồng Sau khi cưới các cô gái phải bỏ chiếc khăn trắng để đội chiếc khăn đen Chiếc khăn màu đen là chiếc khăn chứng tỏ người phụ nữ đã có chồng Cách đội chiếc khăn đen có phần phức tạp hơn về kỹ thuật đội Chiếc khăn phải được quấn, sao cho tạo hình hai chiếc sừng mới nhú ở trên đầu Phụ nữ Si La thường đội nón kín ra đường Nón được đan bằng nan giang, gồm hai lớp: lớp bên trong đun mắt cáo để làm khung, lớp bên ngoài đan lóng ba rất khít, dày Bên ngoài nón được quang một lớp nhựa thông đdể chống nước thấm

Y phục nam giới Si La không khác y phục nam giới các dân tộc trong vùng: cũng áo xẻ ngực, ngắn, cổ đứng, có hai hoặc ba túi; chân què, cạp lá toạ Tuy nhiên chiếc khăn đội

Trang 10

N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 10 | 23

đầu của nam giới Si La hoàn toàn khác với chiếc khăn đội đầu các dân tộc cùng cư trú trong vùng Nam giới Si La bao giờ cũng đội đầu bằng khăn màu trắng, vần theo kiểu đầu rìu của người Kinh trước đây

Ngoài trang trí trên y phục, người Si La còn mang đồ trang sức bằng bạc, nhuộm răng Ở lứa tuổi trẻ em nam, nữ đều đeo vòng cổ Vòng cổ được đeo mang ý nghĩa một thứ bùa hơn là một đồ trang sức Khi lớn lên, nam giới không đeo vòng cổ nữa, nhưng phụ nữ vẫn đeo và còn đeo thêm cả nhẫn và hoa tai nữa Người Si La xưa có tục nhuộm răng Cả nam

và nữ đều nhuộm răng Nam hay nhuộm răng màu đỏ sậm còn nữ thường nhuộm răng màu đen tuyền Nguyên liệu để nhuộm răng gồm bồ hóng, cánh kiến và một số thảo mộc khác Việc nhuộm răng, ngoài ý nghĩa làm đẹp, còn có ý nghĩa bảo vệ răng, giúp cho răng chắc lâu bền

3.4 Ẩm thực

Nguồn lương thực chính của người Si La là lúa gạo, ngô Trước đây gạo nếp được ưa thích hơn gạo tẻ, khi tiếp khách quý thường dùng gạo nếp đồ xôi ăn với thị gà, cá Ngoài cách nấu cơm đồ xôi thông thường, người Si La cũng có cách làm cơm lam Với lương thực là ngô, người Si La cũng xay thành bột, rồi đồ hai lần như mèn mén, mà người Mông vẫn làm Ngô non còn

luộc hoặc ngô già đem rang

ăn như ăn quà

Người Si La có chế biến một

số loại bánh từ gạo nếp, như

bánh giầy, từ cao lương chế

biến thành bánh cao lương,

làm bánh ngô, Bánh giầy

thì đồ xôi chín mới đem ra

cối giã, nhưng bánh cao

lương và bánh ngô thì xay

thành bột mịn, cho bột nhão, rồi gói trong lá chuối, đem đồ

Bành giầy trong các dịp lễ (Ảnh minh họa)

Trang 11

N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 11 | 23

Nguồn thực phẩm thực vật thường ngày của người Si La là măng, các loại rau, các loại đậu đỗ, dưa chuột Cách chế biến đơn giản, phổ biến là nấu canh hoặc luộc chấm muối ớt Ngoài cách nấu canh và luộc rau, người Si La còn có cách làm rau Đồng bào cho rau ngót rừng, rau tàu bay, đọt báng, măng đắng đã rửa sạch, vo kỹ, cho vào ống nứa rồi đặt lên bếp lửa đun cho đến khi vỏ nứa cháy là rau đã chín, chẻ ống nứa lấy rau ra ăn được Thực phẩm nguồn gốc động vật cũng có nhiều cách chế biến khác nhau Thông thường chúng ta đến nhà người Si La có thể thường gặp các cách chế biến như: luộc, kho, nướng

và nộm chua

Luộc là cách chế biến chủ yếu đối với thịt lợn, thịt gà nhà, thịt vịt, thịt trâu hò và thịt dê Các món thịt luộc thường cần có món chấm Món chấm rất đặc trưng ở đây là món hạt

tiêu rừng, mà tiếng Thái gọi là “miu khén” Món thịt kho và món thịt nướng cũng thường

xuyên được chế biến Phải chăng các món

ăn này phù hợp với cách ăn xôi bốc bằng

tay Món ăn chua có thể được chế biến từ

rau xanh, hoặc từ thịt, cá

3.5 Phương tiện vận chuyển

Cũng như các dân tộc khác, người Si La

sử dụng gùi như công cụ vận chuyển hàng

3.6 Ngôn ngữ

Tiếng nói của dân tộc Si La thuộc về ngôn

ngữ Hán - Tạng, nhóm ngôn ngữ Tạng -

Miến Theo nhiều nhà nghiên cứu ngôn

ngữ, tiếng Si La gần tiếng Miến hơn tiếng Tạng Tuy nhiên kết quả nghiên cứu mới của ngôn ngữ học cho thấy, tiếng nói của người Si La thuộc loại đa âm tiết, có nhiều phụ âm dính và phụ âm tắc ở cuối mỗi từ Tiếng Si La hiện nay chịu nhiều ảnh hưởng của tiếng Thái, tiếng Hà Nhì Tiếng Si La vẫn được sử dụng phổ biến trong giao tiếp nội bộ dân tộc trong gia đình Việc sử dụng tiếng Việt ngày càng nhiều

Chiếc gùi (Ảnh minh họa)

Ngày đăng: 04/05/2016, 16:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN