Tổng quan về dân tộc La Chí, đặc điểm kinh tế và văn hoá truyền thống của dân tộc La Chí.Tài liệu có hình minh hoạ đuợc tổng hợp từ các nguồn thu thập đuợc từ trên internet. Đuợc dung cho mục đích tham khảo và làm tài liệu cho các đề tài. Xin mời xem thêm phần mục lục để thấy rõ cấu trúc của tài liệu.
Trang 1N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 1 | 18
TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC LA CHÍ
MỤC LỤC:
1 Vài Nét Về Dân Tộc La Chí 2
2 Kinh Tế Truyền Thống 2
2.1 Trồng trọt 2
2.2 Chăn nuôi 4
2.3 Khai thác tự nhiên 4
2.4 Ngành nghề thủ công 5
2.5 Trao đổi, mua bán 5
2.6 Phương tiện vận chuyển 6
3 Văn hoá truyền thống 6
3.1 Làng 6
3.2 Nhà ở 8
3.3 Y phục, trang sức 8
3.4 Ẩm thực 9
3.5 Ngôn ngữ 9
3.6 Tín ngưỡng tôn giáo 10
3.7 Lễ hội 11
3.8 Gia đình 12
3.9 Tục lệ cưới xin 13
3.10 Tập quán tang ma 16
3.11 Văn nghệ dân gian 17
Trang 2N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 2 | 18
Địa bàn cư trú:
Người La Chí cư trú tại 38 trên tổng số 63 tỉnh/ TP Người La Chí cư trú tập trung tại tỉnh Hà Giang (12.072 người, chiếm 91,7 % tổng số người La Chí tại Việt Nam), ngoài ra còn có tại Lào Cai (619 người); Tp Hồ chí Minh (152 người); Tuyên Quang (100 người) - ( Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009)
2 Kinh Tế Truyền Thống
2.1 Trồng trọt
Dân tộc La Chí là cư dân nông nghiệp, có nhiều kinh nghiệm trong việc khai phá ruộng bậc thang, tạo nên những cánh đồng màu mỡ như ở vùng Bản Phùng Công việc khai phá ruộng bậc thang của đồng bào rất nặng nhọc Thường vào mùa mưa
từ tháng tư đến tháng Bảy (lịch âm), khi đất mềm, dễ cày cuốc, đồng bào t ổ chức đào núi khai ruộng, Việc đào đất khai ruộng được tính toán liên quan với cả hệ thống thuỷ lợi phục vụ cho tưới tiêu sau này Để khai ruộng, dân làng thường bàn bạc với nhau, giúp nhau cùng khai khẩn làm ruộng Với công cụ khai khẩn ruộng
bằng chim, thuổng, cuốc và bừa gỗ gạt đất, nam giới đào đất, đánh gộc, bằng đá
tảng, nữ giới và trẻ em kéo bừa để gạt đất, san mặt bằng, san lượt đầu là đất màu
Dân số : 13.158 người Ngôn Ngữ: thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Ðai (ngữ hệ Thái – Ka Ðai)
Tên gọi khác: Thổ Ðen, Mán, Xá, La Quả Nhóm địa phương: Cù Tê, La Quả, Thổ Đen, Mán La Chí, Xá
Địa bàn cư trú:Hà Giang, Lào Cai,Tp Hồ Chí Minh, Tuyên Quang
Trang 3N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 3 | 18
mỡ, cho nên được đồng bào gạt
sang một bên, để khi hoàn thành
mặt bằng ruộng, lại được trải
lên trên mặt, đảm bảo độ phì
nhiêu của đất không bị vùi lấp
đi Việc đắp bờ ruộng có người
thuyên trách Người ta không
đắp bờ thửa mỗi khi hết ngày
lao động, hào quan niệm rằng,
đắp bờ thửa coi như công việc khai khấn năm kết thúc
Đồng bào làm mộng một vụ một năm Đó là vụ hè thu Đồng bào chuẩn bị cho vụ lúa từ tháng Giêng, sau tết năm mới Từ tháng Giêng đến tháng tư, người La Chí
tiến hành cày, bừa ruộng để ải, cày đi, cày lại đến hai, ba lần; sửa sang mương
dẫn nước, be bờ, phát cỏ trên bờ ruộng Đồng thời chuẩn bị khâu gieo mạ Mạ được gieo theo hai cách: gieo xuống ruộng và gieo trên nương Trước khi gieo, thóc giống được ngâm nước ba, bốn hôm, khi hạt thóc bắt đầu nảy mầm mới đem vãi xuống mộng chuẩn bị sẵn, đã tháo cạn nước Mạ gieo xuống ruộng thường được cấy xuống chân ruộng tốt, đầy đủ nước Còn mạ gieo trên nương (mộng cạn), sau khi gieo, người ta phủ một lớp đất mỏng lấp hạt giống, phòng chim chóc phá phách Mạ nương thường được sử dụng cho những chân ruộng cạn, thiếu nước hoặc chờ nước mưa Mạ nương mọc trên đất khô, khi cấy xuống ruộng, gặp nước, cây lúa phát triển nhanh, lúa chín sớm hơn Đồng bào La Chí bón phân cho ruộng lúa theo hai cách: vãi phân chuồng ra giữa mộng trước khi bừa lần cuối cùng để cấy, hoặc đem gốc mạ chấm vào phân khi cấy Cách thức thu h oạch lúa tuỳ thuộc vào loại lúa Lúa nếp được thu hoạch bằng nhíp, ngắt từng bông, bó lại thành từng cụm, gánh về nhà Lúa tẻ, dùng liềm để gặt, đập lúa vào loong ngay ngoài đồng ruộng, gánh lấy thóc về nhà
Do địa hình nhiều núi cao, vực sâu, khai khẩn đ ược ít ruộng, cho nên việc canh tác trên nương vẫn giữ vị trí rất quan trọng Trên nương việc canh tác khá đa dạng, đồng bào trồng ngô, lúa nương, sắn, khoai, rong riềng và các loại hoa màu khác Nhìn từ góc độ kỹ thuật canh tác, nương được chia làm ba loại: loại nương
Trang 4N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 4 | 18
canh tác bằng gậy chọc lồ, loại nương canh tác bằng cuốc và nương canh tác bằng cày Việc chọn hình thức canh tác nào là hoàn toàn phụ thuộc vào địa hình, thế đất của nương Nương đất dốc thì đồng bào chọn phương thức canh tác dùng gậy
chọc lồ, nương đất tương đối dốc thì dùng cuốc, còn nương đất khá bằng nhằm
đảm bảo giữ màu cho đất, đất ít bị xói mòn khi mưa lũ Thời vụ cũng được lựa chọn như các dân tộc khác cùng cư trú trong vùng: nương ngô gieo vào tháng Hai, tháng ba; nương lúa gieo vào tháng ba, tháng tư
Ngoài cây lương thực và hoa màu, người La Chí còn trồng cây bông, cây chàm phục vụ cho làm y phục Nương trồng bông, trồng chàm phải là nương tốt nhất và chị em cũng mất nhiều công chăm sóc nhất Thời vụ cây bông từ tháng Hai đến tháng chín; còn thời vụ cây chàm lại hoàn toàn khác Chàm trồng bằng thân cây chàm vào tháng Bảy, một năm sau mới thu hoạch Trồng bông, kéo sợi, dệt vải; trồng chàm, ngâm cây chàm, làm cao chàm là công việc vừa phải tuân thủ quy trình kĩ thuật ngặt nghèo, lại là thứ công việc đòi hỏi sự kiên trì, bền bỉ suốt một thời gian dài - hàng năm trời
2.2 Chăn nuôi
Người La Chí nuôi gia súc và gia
cầm Đồng bào nuôi trâu phục vụ
cho việc kéo cày, lấy phân bón
cho cây trồng, nhưng theo tập
quán xưa, người La Chí không
nuôi bò Ngoài con trâu, đồng bào
nuôi ngựa, dê, lợn, gà, chó, mèo
Những con vật này được nuôi
nhiều để phục vụ cho hiến sinh
cúng bái trong các dịp lễ tết, cưới
xin, hội hè, tiếp khách, bán ra chợ
2.3 Khai thác tự nhiên
Sống ở miền núi, đồng bào La Chí tận dụng nguồn lâm thổ sản, thu hái về sử dụng Người La Chí thu hái măng, nấm hương, mộc nhĩ, các loại hoa quả dại, rau dại trên rừng về ăn, chăn nuôi lợn; tranh thủ thu hái một số cây cỏ về làm thuốc
Trang 5N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 5 | 18
nam chữa bệnh Trong nhà đồng bào thường có một số thảo dược để phòng khi bị cảm, đau bụng, thông dụng nhất là rễ dó Ngoài ra đồng bào lấy cây rừng về làm nhà ở, làm chuồng trại, làm công cụ sản xuất, làm củi đun Có thể nói rằng, “mùa nào thức ấy”, khai thác tự nhiên thực sự là nguồn thu nhập quan trọng đối với đồng bào La Chí Nguồn của cải tự nhiên này đã thực sự đi vào cuộc sống hàng ngày của từng gia đình
2.4 Ngành nghề thủ công
Sống bằng kinh tế tự túc, tự cấp,
dân tộc La Chí biết làm nhiều nghề
thủ công Nghề dệt và nghề đan lát
mây tre là hai nghề có nét riêng,
độc đáo của người La Chí Phụ nữ
La Chí tự túc vải mặc cho cả gia
đình từ khâu đầu tiên đến khâu cuối
cùng, cắt khâu thành quần áo mặc
Nghề đan lát mây tre cũng phát
triển tốt Đồng bào tự đan các đồ dùng
trong gia đình như đan cót phơi thóc, đan bồ đựng thóc, đan những chiếc dậu (đồ đựng thóc khi cần vận chuyển từ ngoài đồng ruộng về nhà Ngoài đan lò gia dụng, người La Chí còn đan đồ mỹ nghệ phục vụ cho cưới xin Trong đám cưới, những bộ tư trang không đựng trong những chiếc hòm gù thông thường mà đồng bào hay đan những chiếc hòm với kỹ thuật cài hoa văn đẹp Chiếc hòm này là vật kỷ niệm của đôi vợ chồng trẻ, sẽ được giữ mãi cho đến hết đời
2.5 Trao đổi, mua bán
Vùng cư trú của đồng bào La Chí nằm gần biên giới Việt Trung Trong cuộc sống, sinh hoạt thường ngày, đồng bào tự túc mọi mặt., Tuy nhiên, môi trường cư trú của đồng bào có họp chợ phiên, cho nên đồng bào cũng có cơ hội họp chợ mua bán những thứ cần thiết cho sinh hoạt hàng ngày như muối ăn, dầu thắp sáng, kim khâu Đồng bào bán những thứ nông, lâm sản thu hái được Nhìn chung việc tham gia sinh hoạt chợ còn ít, do kinh tế chưa phát triển mạnh, đ ường giao thông
Nghề dệt (Ảnh sưu tầm)
Trang 6N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 6 | 18
đi lại gặp nhiều khó khăn
2.6 Phương tiện vận chuyển
Sống ở vùng cao, đồng bào La
Chí sử dụng cả hai phương
thức vận chuyển là gánh và
gùi Phụ nữ thường dùng địu
đan bằng lạt giang hoặc làm
bằng vải để địu con khi đi làm
trên nương, hoặc lúc làm việc
vặt ở nhà Khi địu, dây địu đeo
qua trán Khi gùi, nam giới đeo
dây gùi qua hai vai Hoặc gánh
đôi dậu Việc lấy nước về nhà
dùng cho sinh hoạt ăn uống, thì
không phải đi gánh, gùi mà đồng bào tận dụng vị trí nguồn nước, dùng máng tre dẫn nước về tận nhà Khi cần vận chuyển đồ nặng đi xa, người La Chí dùng ngựa thồ
3 Văn hoá truyền thống
3.1 Làng
Làng của người La Chí là làng
của cư dân định canh, định cư,
ổn định hàng trăm năm nay
như Nà Léng, bản Máy, bản
Pắng Làng của người La Chí
thường được chọn xây dựng
tại các sườn đồi cao Đồng
hào ít chọn đất thung lũng,
ven sông, ven suối để dựng
làng Chọn đẩt dựng làng như
Chiếc gùi trong đời sống của người La Chí
Trang 7N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 7 | 18
vậy vừa có đất sản xuất rộng, vừa cỏ nước chảy về tận nhà; đồng thời tránh được lũ quét trong mùa mưa lũ Mỗi làng có một địa vực nhất định, Thông thường ninh giới địa vực làng là những đường đi hoặc dòng suối, bờ sông Địa vực của làng được quy dịnh theo luật tục, không có văn bản, mà chỉ truyền miệng từ thế hệ này đến thế hệ khác, nhưng được hiểu đúng và thực hiện nghiêm túc Địa vực của làng gồm có đất đã khai phá để sản xuất và đất rừng chưa khai phá thành đất sản xuất Đất sản xuất là đất riêng của gia đình, còn đất rừng là đất chung của cả làng, mọi người dân làng đều có quyền vào rừng của bản để hái củi, thu hái lâm thổ sản Người dân làng này không được vào rừng của bản khác để thu hái lâm thổ sản, kể cả hái củi đun
Ngoài cuộc sống đời thường, trong làng người La Chí còn có mối quan hệ với nhau về mặt tâm linh Trong làng, xã người La Chí có một tổ chức tôn giáo khá chặt chẽ để điều khiển các hoạt động tôn giáo theo phong tục dân tộc La Chí ở Bản Phùng, hệ thống tổ chức này gồm tám người Pô mìa nhu - bố mẹ già Tám người này thuộc về hai nhóm-, nhóm họ Ly, họ Tận, nhóm họ Lùng và họ Vương Mỗi nhóm gồm 4 ông đại diện cho hai họ (mỗi họ 2 ông) Pô mìa n hu được dân làng bầu chọn thông qua cách bói xương đùi gà Các ông có nhiệm vụ thực hiện những nghi lễ cúng chủ yếu ở nhà Khu Cù Tê - căn nhà cúng tổ tiên của người La Chí Đó là căn nhà sàn nhỏ, dựng trên 8 cột, có hai mái Khoảng mấy chục sọ trâu, bò được giắt dưới mái nhà này nói lên những lần dân làng làm lễ cúng, hiến trâu, bò tại ngôi nhà này Thường có 4 loại lễ cúng diễn ra trong ngôi nhà Khu Cù
Tê là cúng Hoàng Dìn Thùng - người được coi là tổ tiên, thủ lĩnh xưa của dân tộc
La Chí; cúng xin giống hàng năm - tị me cu lỉ; cúng xin bảo vệ giống - tìu tíu và cúng khả xiu xài Nghi cúng Hoàng Dìn Thùng trước đây được tổ chức hàng năm, nay khoảng] 10-15 năm mới tổ chức một lần Lễ vật trong lễ cúng Hoàng Dìn Thùng phải có một con bò và các lễ vật khác là sản phẩm nông nghiệp của bài con người La Chí tại làng đó Hàng năm, hầu như tháng nào cũng có các nghi
lễ nông nghiệp: lễ cầu mong cho sản xuất được tốt như cúng xin thóc giống, cúng làm lễ mở kho lấy thóc giống chuẩn bị gieo mạ, cúng mời tổ tiên dẫn đường đi trồng lúa nương, cúng mừng cấy xong nhờ tổ tiên bảo vệ ruộng nương, chống sâu chuột phá hại, lễ tết tháng Bảy, lễ cơm mới, khi lúa chín cúng đưa hồn lúa về nhà,
Trang 8N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 8 | 18
gặt đập xong cúng khoá kho, sau đó lại cúng mở kho để lấy thóc Dân tộc La Chí không có tục cúng cầu mưa khi bị hạn hán như nhiều dân tộc khác
3.2 Nha ở
Nhà ở của người La Chí là nhà nửa
sàn, nửa đất Phần nền đất là nơi
dặt bốp, phần sàn là nơi ở, nơi diễn
ra các sinh hoạt chủ yếu của gia
đình Có một thang bắc từ nền đất
lên nhà sàn Phần sàn gồm ba gian,
rộng khoảng 6,6m sâu khoảng 7,5m
và một chái nhỏ; ở gian giữa mở
một I ira để thông ra sàn phơi,
nhưng không bắc thang từ dưới đất lên sàn phơi này Ba mặt của phần nền nhà đất được trình tường Tường dày và cao sát mái Một cửa duy nhất được mở từ phía đầu hồi vào nhà
Việc bố trí trong nhà thông thường là: ở gian chái có hai buồng, phía trước là buồng để đồ đạc của bố mẹ, phía sau là buồng ngủ của vợ chồng con trai thứ Các gian chính được bố trí như sau: gian đầu thường chia làm hai phần, nửa trước là nơi đặt bàn thờ và nơi ngủ của bố mẹ, nửa sau có một bếp dùng để sưởi, đun nước
và nấu thức ăn Gian thứ hai là nơi đặt bàn thờ của các con thứ Gian cuối cùng dành cho con cả Con chưa chồng không có
buồng riêng, thường ngủ ngay trên sàn ở phần
I hái hoặc gian đầu Mỗi ngôi nhà là nơi ở của
một gia đình người La Chí
3.3 Y phục, trang sức
Trang phục của người La Chí đơn giả không
cầu kì Trước đây, đàn ông để tóc dài, đội
khăn cuốn hay khăn xếp, mặc áo 5 thân, dài
ngang lúp chân, nhuộm chàm, xẻ dưới cổ
chéo qua nách phải, cài khuy ở dưới nách
Trang 9N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 9 | 18
phải Mặc quần lá tọa Phụ nữ La Chí cũng mặc áo dài tứ thân, xẻ trước ngực, không cúc cài Khỉ mặc áo, vạt áo bên trái có nẹp vải màu sang bên phải và được giữ cố định bằng một chiếc thắt lưng vải cổ 10 được khâu bằng vải màu Những đường trang điểm trên yếm lộ ra giữa hai áo làm cho bộ y phục của phụ nữ La Chí tuy giản dị, nhưng lại mang nét dân tộc độc đáo, riêng biệt Đa số phụ nữ mặc quần đen, đầu đội khăn dài
3.4 Ẩm thực
Dân tộc La Chí ăn cơm gạo
ruộng hoặc gạo nương như mọi
dân tộc khác trong vùng Cách
“nấu” cơm của người La Chí có
nét khác, đặc trưng Đồng bào
đổ gạo vào chảo nước đun sôi,
khi hạt gạo sắp chín hết thì đổ
ra rá, cho vào chõ đồ tiếp đến
khi hạt gạo chín Cách nấu này
không bao giờ có cơm khê, cơm
nát, cơm cháy, cơm lại tơi đều về
thực của đồng bào La Chí cũng như nhiều dân tộc khác là có rau, thỉnh thoáng cỏ cá, thịt Món ăn đặc trưng của họ là món da trâu sấy khô và thịt ướp chua
3.5 Ngôn ngữ
Tiếng nói: Tiếng nói của
người La Chí trước đây, một
thời gian dài, các nhà ngôn
ngữ xếp tiếng nói của dân tộc
La Chí vào ngôn ngữ Kadai
(Ka là tiếng nói của người
Kabeo - Pu Péo và Dai là tiếng
ngưi Đài ở Đài Loan)
Thịt chuột – đặc sản của người La Chí
Chữ Hán được người La Chí sử dụng
Trang 10N g u ồ n : t ổ n g h ợ p t ừ i n t e r n e t - P a g e 10 | 18
Ngôn ngữ Ka Beo là ngôn ngữ dấu nối giữa ỉndones và ngôn ngữ Thái Ngày nay những thành tựu mới trong nghiên cứu ngôn ngữ học đã xếp tiếng nói của dân tộc
La Chí vào hệ ngôn ngữ Thái
Chữ viết: Người La Chí trước đây sử dụng chữ Hán trong việc cúng bái và ghi chép văn tự liên quan đến cưới xin, sinh đẻ, ma chay, xem ngày lành, tháng tốt
3.6 Tín ngưỡng tôn giáo
Người La Chí thờ tổ tiên ba đời Họ cúng tổ tiên vào các dịp ngày lễ Không có ngày giỗ Một nét đặc trưng của việc thờ tổ tiên trong gia đình người La Chí là thờ bố và các con trai khi đang còn sống, ông bố và các con trai mỗi người có một bàn thờ riêng Nhưng để đặt bàn thì phải tuân theo những thủ tục riêng của dân tộc Lần lượt
lập bàn thờ bố trước, sau đó lần lượt là con trai cả, rồi đến các con trai thứ và sau cùng là con trai út Mỗi bàn thờ tổ tiên hoàn chỉnh cần phải trải qua ba cấp cúng Sau khi bố làm lễ cúng đủ ba cấp, thì con trai cả mới được dựng bàn thờ Anh cả làm xong cả ba cấp, các em trai mới lần lượt được dựng bàn thờ của mình, sau cùng là dựng bàn thờ của em trai út Như vậy,trong nhà có bao nhiêu con trai có
vợ thì có bấy nhiêu bàn thờ Những bàn thờ này được đặt thành hàng ở sát vách trước của ngôi nhà ở, theo trật tự từ ngoài vào: bàn thờ của bố, bàn thờ của con trai út, bàn thờ của con trai thứ và trong cùng là bàn thờ của con trai cả cần lưu ý
là chỉ những con trai có vợ mới được dựng bàn thờ cho mình Người góa vợ thì không có quyền lập bàn thờ Cúng lễ đủ ba cấp, lập được bàn thờ cho mình là đạt được hai điều quan trọng trong đời thường và trong đời sống tâm linh Trong đời thường, người có bàn thờ được cộng đồng tôn trọng, được coi là người “đứng đắn”, được cộng đồng vị nể, có đủ tư cách đổ quan hệ với mọi người để xử lý công việc trong đời thường Trong đời sống tâm linh, người La Chí tin rằng, cúng
lễ dù ba cấp thì sau khi chết vợ chồng mới được tiếp tục sống bên nhau ở thế giới bên kia.