Khái niệm và thuộc tính cơ bản của HHCC Theo Paul Samuelson người Mỹ đầu tiên nhận giải Nobel năm 1970thì, hàng hóa công cộng là những loại hàng hóa mà chi phí để nhận dịch vụ từ nó đối
Trang 2B Nội dung
I Lý thuyết về hàng hóa công cộng (HHCC)
1 Khái niệm và thuộc tính cơ bản của HHCC
2 Phân biệt các loại hàng hóa
2.1 HHCC thuần túy và hàng hóa cá nhân (HHCN) thuần túy
2.2 HHCC thuần túy và không thuần túy
2.3 Một số lưu ý về khái niệm HHCC
3 Nguyên nhân ra đời HHCC
4 Cung cấp HHCC
4.1 Các mô hình cung cấp HHCC điển hình trên thế giới
4.1.1 Mô hình “Nhà nước cung ứng tài chính và Nhà nước tổ chức cung cấp HHCC”
4.1.2 Mô hình “Khu vực tư cung ứng tài chính và khu vực tư tổ chức cung cấp HHCC”
4.1.3 Mô hình “Nhà nước và khu vực tư nhân cùng liên kết cungứng tài chính và tổ chức cung cấp HHCC”
4.1.4 Mô hình “Lấp chỗ trống”
4.2 Cung cấp HHCC và vấn đề tổn thất phúc lợi xã hội
4.2.1 Cung cấp HHCC thuần túy
4.2.2 Cung cấp HHCC không thuần túy
4.2.2.1 Cung cấp HHCC có thể loại trừ bằng giá4.2.2.2 Cung cấp HHCC mà loại trừ rất tốn kém
II Một số ví dụ điển hình về HHCC ở Việt Nam và các nước trên thế giới
1 Trên thế giới
1.1 Y tế và du lịch y tế ở Cuba
1.2 Nghiên cứu cơ bản ở Nhật Bản và Mỹ
1.3 Chi tiêu cho quốc phòng của thế giới
2 Ở Việt Nam
2.1 Một số HHCC điển hình
2.1.1 Giáo dục
2.1.2 Y tế
2.1.3 Giao thông vận tải
2.1.4 Bưu chính viễn thông
2.1.5 Một số HHCC khác
2.2 Thực trạng chung
2.2.1 Hiệu quả cung cấp HHCC thấp
2.2.2 Bộ máy hành chính còn nhiều bất cập
2.2.3 Thiếu hụt ngân sách trong cung cấp HHCC
III Đổi mới cung cấp HHCC
1 Sự cần thiết phải đổi mới cung cấp HHCC
Trang 32 Biện pháp đổi mới cung cấp HHCC
2.1 Đẩy mạnh sự tham gia của khu vực phi nhà nước trong cung cấp HHCC
2.2 Cải thiện chất lượng HHCC của khu vực Nhà nước
2.3 Tăng cường giám sát của cộng đồng đối với việc hoạch định chính sách và đảm bảo chất lượng dịch vụ công
C Kết luận
Trang 4A LỜI NÓI ĐẦU
Thất bại của thị trường là những trường hợp mà thị trường cạnh tranhkhông thể sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ ở mức hiệu quả xã hội Có 5 loạithất bại thị trường là:
Cùng với vai trò phân phối lại thu nhập và cơ hội kinh tế cho mọi người
và bắt buộc người dân sử dụng hàng hóa khuyến dụng, những thất bại thịtrường chính là cơ sở quan trọng để Chính phủ can thiệp thị trường nhằm giúpthị trường hoạt động có hiệu quả hơn và các kết quả kinh tế tạo ra công bằnghơn
Một trong những thất bại thị trường mà ai cũng biết, tiêu dùng nó hàngngày nhưng chưa chắc đã hiểu hết về nó chính là hàng hóa công cộng(HHCC) Bài thuyết trình sẽ cung cấp một số kiến thức về HHCC như kháiniệm, phân biệt HHCC, thực trạng cung cấp HHCC… Hi vọng các bạn sẽ cócái nhìn đầy đủ hơn về HHCC và sự cần thiết của Chính phủ trong cung cấp
và quản lý HHCC
B Nội dung
I Lý thuyết về HHCC
1 Khái niệm và thuộc tính cơ bản của HHCC
Theo Paul Samuelson ( người Mỹ đầu tiên nhận giải Nobel năm 1970)thì, hàng hóa công cộng là những loại hàng hóa mà chi phí để nhận dịch vụ từ
nó đối với mỗi người là bằng 0, không thể cấm mọi người cùng sử dụng.Theo Joseph Stighlitz( giáo sư đại học Columbia, nhận giải Nobel năm2001), hàng hóa công cộng là những loại hàng hóa mà việc một cá nhân nàyđang hưởng thụ lợi ích do hàng hóa đó tạo ra không ngăn cản những ngườikhác cùng đồng thời hưởng thụ lợi ích của nó
Trang 5Còn trang web doanhnhanhanoi.net thì định nghĩa: Hàng hóa công cộng
là có hai đặc tính quan trọng Thứ nhất là nó không thể phân bổ theo khẩuphần để sử dụng Thứ hai là người ta không sử dụng nó theo khẩu phần
Khái niệm chung nhất là: Hàng hóa công cộng là hàng hóa có 2 thuộc tính cơ bản là không có tính cạnh tranh và không có tính loại trừ:
-Không có tính cạnh tranh nghĩa là khi có thêm một người cùng sử dụng
hàng hóa công cộng sẽ không làm giảm lợi ích tiêu dùng của những người tiêu dùng hiện có Có thể hiểu hàng hóa công cộng có thể đáp ứng được lợi ích của nhiều người không hạn chế số người sử dụng Thực tế, vấn đề lợi ích của hàng hóa công không phải lúc nào cũng như nhau đối với nhiều người mà
nó phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh của người sử dụng hàng hóa này, họ
có thể khai thác được nhiều hoặc ít lợi ích từ nó, cũng có thể là do sự khác nhau trong nhu cầu của họ Ví dụ về hàng hóa công cộng : Lợi ích quốc phòng,chương trình y tế quốc gia,chương trình giáo duch công cộng
-Không có tính loại trừ được hiểu ngầm là về mặt kỹ thuật là không thể
hoặc là chi phí rất tốn kém để ngăn ngừa những người khác cùng sử dụngloại hàng hóa này Có thể hiểu là người tiêu dùng không bị cản trở khi cónhu cầu về nó Có những hàng hóa công cộng mà chi phí để duy trì hệthống quản lý nhằm loại trừ bằng giá (gọi là chi phí giao dịch) rất tốnkém, ví dụ chi phí để duy trì hệ thống các trạm thu phí trên đường cao tốc,
…thì có thể sẽ hiệu quả hơn nếu cung cấp nó miễn phí và tài trợ bằng
thuế.
Đây cũng là 2 thuộc tính cơ bản nhất của HHCC thuần túy
2 Phân biệt các loại hàng hóa
2.1 HHCC thuần túy và hàng hóa cá nhân (HHCN) thuần túy.
Tất nhiên là hàng hóa cá nhân không có 2 đặc tính này Các bạn có thểthấy rất rõ nếu so sánh 2 hàng hóa Ví dụ nhà ở là hàng hóa cá nhân thì cáinhà đó đã là của bạn thì người khác không được quyền sử dụng nếu khôngđược bạn đồng ý (đây là tính cạnh tranh), bạn có quyền không cho người khácvào (đây là tính loại trừ) Còn công viên là hàng hóa công cộng, trong cùng 1
Trang 6lúc có rất nhiều người trong công viên nhưng bạn vẫn có thể tập thể dục hoặc
đi dạo mà không làm ảnh hưởng đến lợi ích của người khác, và nhân viêncông viên cũng không thể cho người khác vào mà không cho bạn vào
2.2 HHCC thuần túy và HHCC không thuần túy.
Như định nghĩa ở trên thì hàng hóa công cộng là hàng hóa có 2 thuộctính cơ bản là tính không cạnh tranh và tính không loại trừ Hàng hóa côngcộng nào mang đầy đủ 2 đặc tính trên thì là hàng hóa công cộng thuần túy.Một lượng hàng hóa công cộng khi cung cấp cho 1 cá nhân thì lập tức có thểtiêu dùng bởi tất cả các cá nhân khác trong cộng đồng ví dụ như :quốc phòng,đài phát thanh, đèn chiếu sáng đường,…Ngược lại là hàng hóa cá nhân thuầntúy thì nó chỉ tạo ra lọi ích cho người mua nó chứ không phải bất kỳ ai Nóicách khác hàng hóa cá nhân thuần túy có tính cạnh tranh trong tiêu dùng, vừa
dễ dàng loại trừ tất cả những ai không sẵn sàng thanh toán theo mức giá thịtrường
Vì hàng hóa công cộng thuần túy không có tính cạnh tranh trong tiêudùng nên với một lượng hàng hóa công cộng thuần túy nhất định, chi phí biên
để phục vụ thêm một người sử dụng bằng 0 Tuy nhiên chi phí biên để sảnxuất HHCC vẫn lớn hơn 0 vì để sản xuất thêm HHCC đòi hỏi tốn nguồn lựccủa xã hội
Trong thực tế rất ít hàng hóa công cộng thỏa mãn một cách chặt chẽ haithuộc tính nói trên và HHCC chỉ có 1 trong 2 thuộc tính trên được gọi làHHCC không thuần túy Chúng được coi là trung gian giũa HHCC thuần túy
và hàng hóa cá nhân thuần túy Có 2 loại HHCC không thuần túy là HHCC cóthể tắc nghẽn và HHCC có thể loại trừ bằng giá
HHCC có thể tắc nghẽn là những hàng hóa mà khi có thêm nhiều người sử dụng thì có thể gây ra sự ùn tắc hay tắc nghẽn khiến lợi ích cưa những người tiêu dùng trước đó bị giảm sút.
Chi phí để phục vụ cho những người tăng thêm sau một giới hạn nhấtđịnh không còn bằng 0 nữa mà bắt đầu tăng lên Điểm giới hạn đó gọi là điểm
Trang 7tắc nghẽn Một hàng hóa công cộng có thể là HHCC thuần túy vào thời điểmnày nhưng lại là HHCC có thể tắc nghẽn vào thời điểm khác Ví dụ như ghế
đá trong công viên vào những ngày bình thường sẽ là HHCC thuần túy vì nó
đủ chỗ cho những người có nhu cầu ngồi Tuy nhiên vào những ngày lễ như14/2 vừa qua hay như mùng 8/3, 20/10 rất nhiều đôi muốn đi chơi công viênvới nhau vì thế nên tính cạnh tranh để có ghế đá giữa các đôi muốn ngồi tâm
sự sẽ tăng lên, chắc chắn ghế đá sẽ hết chỗ như vậy làm giảm lợi ích củanhững người trong công viên và xảy ra hiện tượng tắc nghẽn
Hàng hóa công cộng có thể loại trừ bằng giá, hay gọi tắt là HHCC có thể loại trừ, là những hàng hóa công cộng mà lợi ích của chúng có thể định giá Việc đi lại có thể loại trừ bằng giá, nhờ việc đặt các trạm thu phí hai
bên đầu cầu…
2.3 Một số lưu ý về khái niệm HHCC
Từ khái niệm HHCC nêu trên có một số khía cạnh quan trọng cần lưu ý
• HHCC được mọi người tiêu dùng với khối lượng như nhau nhưngkhông nhất thiết phải đánh giá giá trị của các HHCC đó ngang nhau Đối vớimột loại HHCC thuần túy như ngọn hải đăng, những chủ tàu có hàng hóa giátrị lớn sẽ đánh giá cao giá trị của ngọn hải đăng hơn so với những chủ tàu cóhàng hóa rẻ tiền
• HHCC thuần túy là một dạng đặc biệt của ngoại ứng tích cực Nói cụthể, khi một người tạo ra một hàng hóa mà tất cả những người khác trongcộng đồng đều được nhận tác động tích cực của nó thì người ấy đã tạo rađược một HHCC thuần túy
• Ranh giới phân định một hàng hóa là HHCC không phải là tuyệt đối,
nó có thể thay đổi theo điều kiện thị trường và tình trạng công nghệ Có nhiềuHHCC không có tính loại trừ chỉ là do sự lạc hậu về công nghệ Khi điều kiệntiên tiến hơn, cho phép tìm ra những cách thức loại trừ đơn giản và rẻ tiền thìHHCC đó sẽ trở thành HHCC có thể loại trừ Ví dụ như chương trình truyềnhình khi truyền qua song là miễn phí nhưng hiện nay khi truyền qua hệ thống
Trang 8dây cáp thì người sử dụng phải trả tiền mới có thể xem truyền hình qua hệthống cáp này.
• Có rất nhiều thứ không được coi là hàng hóa thông thường vẫn mangđầy đủ thuộc tính của HHCC như an ninh xã hội, môi trường trong sạch…
• HHCC không nhất thiết phải do khu vực công sản xuất và HHCNkhông nhất thiết phải do khu vực tư nhân sản xuất Trong thực tế, có rât nhiềuHHCN do chính phủ cung cấp như các khu nhà tập thể, dịch vụ y tế cá nhân
do bệnh viện công thực hiện, giáo dục công… Ngược lại, có nhiều HHCC dokhu vực tư nhân sản xuất như các dự án cơ sở xây dựng cơ sở hạ tầng theohình thức BOT Đây là hình thức mà các hãng tư nhân đầu tư thực hiện dự án,vận hành kết quả dự án trong một thời gian để thu hồi vốn và lợi nhuận xongsau đó chuyển giao cho nhà nước tiếp tục vận hành
3 Nguyên nhân ra đời HHCC
Có thể thấy HHCC là hàng hóa hữu ích cho xã hội, không thể hoặc rấtkhó khăn để chia nhỏ hàng hóa thành từng đơn vị tiêu dùng (khẩu phần) và lợiích tiêu dùng HHCC chỉ có thể hưởng thụ chung giữa tất cả mọi người, việcngười này tiêu dùng không làm giảm lợi ích thụ hưởng của người khác Vìvậy nó không dễ gì ngăn cản những cá nhân không đóng góp tài chính đểcung cấp tiêu dùng chúng, khi đó họ trở thành “kẻ ăn không” Điều này đặcbiệt khó khăn nếu khu vực tư nhân đứng ra cung cấp hàng hóa này vì họkhông có khả năng cưỡng chế các cá nhân phải trả tiền sử dụng HHCC mà họcung cấp Trong khi đó Chính phủ có thể khắc phục phần nào được vấn đề ănkhông này bằng cách buộc cá nhân phải đóng góp bắt buộc thông qua đóngthuế, rồi sử dụng thuế thu được để tài trợ cho việc sản xuất và cung cấpHHCC
4 Cung cấp HHCC
4.1 Các mô hình cung cấp HHCC điển hình trên thế giới 4.1.1 Mô hình "Nhà nước cung ứng tài chính và Nhà nước tổ chức cung ứng HHCC”
Trang 9Ở mô hình này, Nhà nước bỏ vốn ra tạo lập, tiến hành hoạt động sảnxuất, cung ứng HHCC trên cơ sở kế hoạch Nhà nước giao, theo cơ chế baocấp (lãi nộp ngân sách nhà nước, lỗ sẽ được Nhà nước bù lỗ) Chủ thể trựctiếp cung ứng là doanh nghiệp nhà nước (DNNN) Với cơ chế này, mặc dùDNNN vẫn mang lại một số hiệu quả kinh tế, nhưng xét về bản chất, đókhông phải là hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận mà vì mục tiêuhoàn thành kế hoạch đã được giao và được đảm bảo mọi điều kiện cần thiết
để hoạt động, kể cả việc tiêu thụ sản phẩm theo địa chỉ giao nộp đã được Nhànước ấn định Cơ chế này đã từng được áp dụng phổ biến ở Việt Nam vànhiều nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) khác trước đây, khi phát triển nền kinh
tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp Hiện nay, trên những nét tổng thể và cơbản, cơ chế này vẫn còn được áp dụng ở một vài nước như Cuba, Cộng hoàdân chủ nhân dân Triều Tiên
4.1.2 Mô hình "Khu vực tư cung ứng tài chính và khu vực tư tổ chức cung cấp HHCC”
Mô hình này là hình thức cung ứng trong đó Nhà nước dành phần lớn(nếu không muốn nói là “hầu hết”) việc cung ứng HHCC cho khu vực tư trựctiếp sản xuất và cho xã hội Các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tưnhân được phát triển mạnh mẽ, ngay cả trong lĩnh vực “công” Mô hình nàyđược triển khai ở nhiều nước, điển hình như ở Mỹ, số lượng DNNN rất hạnchế và nếu có, chỉ chủ yếu tập trung trong lĩnh vực sản xuất, cung ứng HHCC
“Một trong những điểm khác nhau chủ yếu giữa Mỹ và nhiều nước Tây Âu làChính phủ có vai trò hạn chế với danh nghĩa là người sản xuất HHCC”[1] Thếnhưng, Chính phủ Mỹ lại có tác động lớn đối với các quyết định sản xuất vàcung cấp các HHCC thông qua sự điều tiết bằng thuế, đơn đặt hàng hoặc trợgiá để có thể làm thay đổi hành vi của các doanh nghiệp tư nhân (DNTN).Việc hạch toán kinh tế đối với các HHCC do các DNNN sản xuất và cung cấpkhông phải dựa trên sự điều tiết của giá cả thị trường Do không có giá thị
[
Trang 10trường để đánh giá những mặt hàng này, HHCC phải được đánh giá theo chiphí đầu vào làm ra chúng Ở Mỹ, các DNNN chủ yếu là các doanh nghiệpcông ích, hoạt động không nhằm mục tiêu lợi nhuận Số lượng các doanhnghiệp loại này không nhiều, nên các công ty tư nhân đảm nhận cung ứngphần lớn các HHCC cho xã hội Ngoài các công cụ điều tiết vĩ mô để điềuchỉnh hành vi của các DNTN sản xuất và cung ứng HHCC như thuế, đơn đặthàng, trợ giá , Chính phủ Mỹ còn có chính sách mua HHCC của các hãng tưnhân để đáp ứng nhu cầu cho xã hội.
4.1.3 Mô hình “Nhà nước và khu vực tư nhân cùng liên kết cung ứng tài chính và cung ứng HHCC”
Theo mô hình này, cả Nhà nước và tư nhân đều có thể liên kết, hợp tácsản xuất, cung ứng HHCC cho xã hội Cùng với sự khuyến khích khu vực tưđầu tư vào các lĩnh vực của nền kinh tế, Nhà nước cũng muốn có một sốdoanh nghiệp của mình như là một công cụ điều tiết trực tiếp việc sản xuất,cung ứng một số HHCC quan trọng mà Nhà nước thấy cần thiết Mô hình nàyđược tiến hành phổ biến ở New Zealand, Singapore… Trong nền kinh tế nàythường xuất hiện các hình thức cung ứng chủ yếu sau:
Một là, hình thức "Nhà nước cung ứng tài chính và khu vực tư nhân tổ
chức cung ứng HHCC” Toàn bộ kinh phí đảm bảo phục vụ cho cung ứng đềuđược Nhà nước đảm nhận chi trả Điều khác biệt ở đây là chủ thể trực tiếp tổchức cung ứng cho xã hội không phải là DNNN mà là doanh nghiệp thuộckhu vực tư Ví dụ, để làm một con đường theo nhu cầu xã hội và chủ trươngcủa Nhà nước, Nhà nước có thể kêu gọi các DNTN, tổ chức đấu thầu, đặthàng và doanh nghiệp trúng thầu sẽ nhận kinh phí từ ngân sách nhà nước và
tiến hành xây dựng con đường đó
Hai là, hình thức “Khu vực tư nhân cung ứng tài chính và Nhà nước
cung ứng HHCC” Đây là hình thức được áp dụng để cung ứng những loạiHHCC thường gắn liền với đời sống dân sinh mà DNNN có thể được nhândân (người trực tiếp thụ hưởng) chọn (thông qua đấu thầu, đặt hàng…) trực
Trang 11tiếp đứng ra tổ chức cung ứng Điều đáng chú ý là tài chính phục vụ cho việc
tổ chức xây dựng cung ứng do người dân đảm nhiệm chi trả cho doanhnghiệp Trên cơ sở số tài chính đó, doanh nghiệp sẽ tổ chức cung ứng Hìnhthức này thường được vận dụng ở những địa bàn người thụ hưởng có mứcsống thuận lợi, khá đồng đều và lĩnh vực hoạt động phù hợp Ví dụ như ở một
số địa bàn dân cư, người dân có thể bàn bạc, thoả thuận cùng thống nhất góptài chính và kêu gọi một doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước (DNNN) màngười dân tin tưởng đặt hàng hoặc tổ chức đấu thầu làm các con đường trongkhu dân cư
Ba là , hình thức “Nhà nước và khu vực tư nhân cùng đầu tư (góp) vốn
cùng cung ứng HHCC” Đây là hình thức cung ứng HHCC dựa trên nguyêntắc bình đẳng giữa các nhà đầu tư, trong đó có Nhà nước Trong mối quan hệnày, Nhà nước đóng vai trò là một nhà đầu tư, thành viên hay cổ đông công
ty Các thành viên (cổ đông…) này cùng góp vốn, cùng hưởng lợi và chịutrách nhiệm về hoạt động của tổ chức, doanh nghiệp mà mình tham gia
Trang 12Mô hình "lấp chỗ trống” được hình thành, phát triển và đề cập đếnnhiều, đặc biệt ở các nước phát triển nền kinh tế thị trường xã hội như Đức,Pháp, Thuỵ Điển… Ở các quốc gia này, DNNN có mặt chủ yếu để “lấp chỗtrống” trong sản xuất, cung ứng HHCC mà các DNTN không làm vì các lý
có thể xác định được một cơ chế đánh thuế tối ưu theo mức độ lợi ích mà cánhân nhận được từ HHCC Cân bằng Lindahl được xác định tại điểm giaogiữa đường cung về HHCC và mức thuế người dân sẵn sàng trả cho lợi íchmình được hưởng từ HHCC
Cân bằng Lindahl cho thấy một tập hợp giá Lindahl và mức cung cấpHHCC hiệu quả được tất cả các thành viên trong xã hội nhất trí và tự nguyệnđóng góp Tuy nhiên, áp dụng nguyên tắc đóng góp tự nguyện đòi hỏi tất cảcác thành viên bỏ phiếu một cách trung thực theo đúng lợi ích biên mà họnhận được từ HHCC mang lại Nếu người A có thể đoán trước số tiền tối đa
mà người B sẵn sàng trả cho HHCC thì anh ta sẽ cố gắng buộc người B phảiđến gần sự phân bổ đó bằng cách bộc lộ nhu cầu của mình về HHCC thấp hơnthực tế Tương tự, người B có động cơ như thế, hành vi tính toán của các cánhân có thể ngăn cản việc đạt được một mức HHCC hiệu quả
Ở một mức độ cực đoan, nếu cá nhân nhận thấy rằng việc mình có trảtiền để được tiêu dùng HHCC thuần túy hay không không ảnh hưởng tới việc
Trang 13hưởng thụ lợi ích của HHCC đó thì lúc đó họ đã trở thành những kẻ ăn không.
Kẻ ăn không là những người tìm cách hưởng thụ lợi ích của HHCC mà khôngđóng góp một đồng nào cho chi phí sản xuất và phân phối HHCC đó
Nếu chỉ có một số ít người muốn trở thành kẻ ăn không thì thị trườngvẫn cung cấp được hàng hoá này mà không cầ Chính phủ Trong thực tế, ởnhững cộng đồng nhỏ, mọi người hầu như đã biết hết nhau, việc che giấu lợiích cá nhân là rất khó thì dư luận xã hội là một biện pháp rất tốt để cá nhânđóng góp đầy đủ cho HHCC Vì thế ở các thôn xóm nhỏ hoặc các khu tập thể,
ta vẫn thấy cá nhân có thể tự thỏa thuận với nhau về mức đóng góp cho cáccông trình công cộng như đường làng, ngõ xóm, các công trình cui chơi chotrẻ em, đường điện, đường nước…
Tuy nhiên, khi cộng đồng càng lớn thì việc che giấu ý muốn cá nhâncàng dễ dàng, sự phát hiện và trừng phạt của xã hội đối với những kẻ ănkhông càng khó khăn thì động cơ trở thành kẻ ăn không càng lớn Nếu tất cảcác cá nhân trong cộng đồng đều chọn chiến lược hành động như những kẻ ănkhông thì kết cục sẽ không có HHCC nào được cung cấp Điều này đặc biệtkhó khăn khi tư nhân đứng ra cung cấp HHCC, vì họ không có khả năngcưỡng chế các cá nhân phải trả tiền sử dụng HHCC mà họ cung cấp Đâycũng chính là lý do khiến khu vực tư nhân không muốn tham gia cung cấpHHCC thuần túy
Chính phủ có thể khắc phục được vấn đề này bằng cách buộc các cánhân phải đóng góp bắt buộc thông qua thuế
4.2.2 Cung cấp HHCC không thuần túy.
4.2.2.1 Đối với những HHCC có thể loại trừ bằng giá.
Với những HHCC có thể loại trừ bằng giá thì quan điểm chung là nêndùng giá để loại trừ bớt việc tiêu dùng nhằm tranh gây ra tắc nghẽn, đồng thờiđảm bảo các cá nhân sẽ sử dụng hiệu quả hàng hóa này
Tuy quan điểm này là đúng đối với những hàng hóa nhanh bị tắc nghẽn,nhưng nó có thể vẫn gây tổn thất phúc lợi cho xã hội nếu việc tiêu dùng hànghóa đó chưa đạt đến điểm tắc nghẽn Lý do là khi chưa đến điểm tắc nghẽn
Trang 14nghĩa là việc tiêu dùng chúng không có tính cạnh tranh và vẫn tạo ra phúc lợi
Nếu việc qua cầu được thực hiện miễn phí thì số lượt qua cầu sẽ đạt Qm
và lợi ích thu được từ toàn bộ cây cầu là toàn bộ tam giác OEQm Nhưng nếumột hãng tư nhân đứng ra xây dựng và thu phí qua cầu tại mức P* thì số lượtqua cầu là Q* Một số lượt qua cầu mà lợi ích biên lớn hơn chi phí biên sẽkhông được thực hiện (Qm – Q*), cho dù hãng tư nhân thu được một doanhthu từ phí bằng diện tích OP*AQ* Tổn thất phúc lợi đối với xã hội là diệntích tam giác AQ*Qm
Có thể nói, nếu hàng hóa mà chi phí của việc cung cấp bằng 0 thì hànghóa đó nên được cung cấp miễn phí, còn chi phí để sản xuất ra chúng có thểđược trang trải thông qua các nguồn thu khác, ví dụ từ thuế…
4.2.2.2.Đối với những hàng hóa mà việc loại trừ rất tốn kém.
Trường hợp thứ hai ta xem xét ở đây là những hàng hóa công cộng cóthể tắc nghẽn, do đóc nên loại trừ bớt việc tiêu dùng để tránh tình trạng tắc