1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chế độ pháp lý về hoạt động tín dụng và thực tiễn áp dụng tại ngân hàng TMCP đông nam á chi nhánh ba đình

91 386 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khách hàng vay phải có đủ các điều kiện sau đây: A Có tín nhiệm với tổ chức tín dụng cho vay trong việc sử dụng vốn vay và trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi; B Có dự án đầu tư hoặc

Trang 1

Kể từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa, sản xuất hàng hoá phát triển nhanh làm cho các doanh nghiệp tích luỹ vốnkhông kịp để mở rộng sản xuất kinh doanh, nhu cầu về vốn luôn là vấn đề đau đầucủa các doanh nghiệp Chính vì lý do đó mà các doanh nghiệp luôn luôn có nhu cầucần vay vốn để thực hiện hoạt động kinh doanh của mình Hiện nay, ở nước ta chủyếu là hoạt động tín dụng ngân hàng thực hiện nhiệm vụ này

Hoạt động tín dụng - một trong những hoạt động mang tính truyền thống củangân hàng là hoạt động mang lại lợi nhuận nhiều nhất cho ngân hàng, tuy nhiên đây

là cũng là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất trong các hoạt động kinh doanh củacác ngân hàng Sự phát triển của hoạt động tín dụng như hiện nay cùng với vấn đềlàm thế nào để hạn chế được những rủi ro trong hoạt động tín dụng đã đặt ra yêucầu cho nhà làm luật là phải hoàn thiện hệ thống pháp luật pháp luật ngân hàng, xâydựng một hệ thống pháp luật có hiệu quả và đảm bảo an toàn Trong đó cần chútrọng xây dựng các quy chế pháp lý về giao kết và thực hiện hợp đồng tín dụng(HĐTD)

Mặc dù hiện nay, các quy định về giao kết thực hiện HĐTD đã được quyđịnh trong nhiều văn bản, đã được sửa đổi và bổ sung nhiều lần song vẫn khôngtránh được những điểm bất cập so với thực tiễn Nhất là từ khi Việt Nam chính thứctrở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào ngày11/1/2007, hoạt động tín dụng ngân hàng ở Việt Nam đã có được nhiều cơ hội thuậnlợi để phát triển nhưng cũng gặp không ít khó khăn thách thức, nhất là trong cạnhtranh Bởi vậy cần có sự thay đổi và hoàn thiện hơn nữa trong hệ thống pháp luật vềngân hàng, đặc biệt là trong giao kết và thực hiện HĐTD để có thể phù hợp và đápứng được với những yêu cầu đổi mới, tăng khả năng cạnh tranh của các ngân hàngtrong nước với các ngân hàng nước ngoài

Trang 2

Chính vì những lý do này mà em đã lựa chọn đề tài chuyên đề thực tập của

mình là “ Chế độ pháp lý về hợp đồng tín dụng đối với khách hàng là cá nhân và thực tiễn áp dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á - chi nhánh

Ba Đình”

Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, chuyên

đề được chia ra làm ba chương:

Chương I: Khái quát về hợp đồng tín dụng và pháp luật về hợp đồng tín dụng.

Chương II: Thực tiễn áp dụng pháp luật về HĐTD đối với khách hàng

là cá nhân tại ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á (ngân hàng TMCP ĐNA) - chi nhánh Ba Đình.

Chương III: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả pháp luật về HĐTD.

Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của ThS NguyễnAnh Tú và các anh chị phòng tín dụng ngân hàng TMCP Đông Nam Á – chi nhánh

Ba Đình đã giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 3

VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

1 Khái quát chung về HĐTD

Trang 4

1.1 Khái niệm HĐTD

Điều 388 BLDS 2005 đã đưa ra khái niệm hợp đồng dân sự như sau: “Hợp

đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.”

Xét dưới khía cạnh pháp lý, hợp đồng được định nghĩa là sự thỏa thuận bằnglời nói hoặc văn bản giữa hai hay nhiều chủ thể có đủ năng lực pháp luật và nănglực hành vi, nhằm xác lập, thực hiện hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lýnhất định trên cơ sở phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội

Từ quan niệm chung này về hợp đồng có thể đưa ra định nghĩa về HĐTD căn

cứ vào bản chất của hoạt động tín dụng của tổ chức tín dụng (TCTD) như sau:

“Hợp đồng tín dụng là sự thoả thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) với tổ chức, cá nhân có đủ những điều kiện do luật định (bên vay), theo đó tổ chức tín dụng thoả thuận ứng trước một số tiền cho bên vay sử dụng trong một thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả cả gốc lẫn lãi, dựa trên sự tín nhiệm”1

Trong cuốn Quản trị ngân hàng thương mại, PGS.TS Nguyễn Thị Mùi đưa rađịnh nghĩa về HĐTD như sau:

“Hợp đồng tín dụng/hợp đồng bảo đảm tiền vay là văn bản pháp lý thể hiện mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và người đi vay, là cơ sở pháp lý để ngân hàng thực hiện cho vay, quản lý khoản vay, thu hồi nợ và xử lý các khiếu kiện/tranh chấp (nếu có)”2

vi cho vay mang tính chuyên nghiệp Còn chủ thể bên kia (bên vay) có thể là những

tổ chức, cá nhân thỏa mãn những điều kiện vay vốn do pháp luật quy định

- Thứ hai, xét về mặt đối tượng, đối tượng của HĐTD bao giờ cũng là tiền(bao gồm tiền mặt và bút tệ) Về nguyên tắc, đối tượng của HĐTD bao giờ cũng làmột số tiền xác định và phải được các bên thỏa thuận, ghi rõ trong văn bản hợp

1 Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, nhà xuất bản Công an nhân dân năm

2005, trang 133

2 Quản trị ngân hàng thương mại – Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thị Mùi, nhà xuất bản Tài chính năm 2006,

Trang 5

- Thứ ba, xét về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ, trong HĐTD, nghĩa vụchuyển giao tiền vay (nghĩa vụ giải ngân) của bên cho vay bao giờ cũng phải đượcthực hiện trước, làm cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của bênvay Do đó, chỉ khi nào bên cho vay chứng minh được rằng họ đã chuyển giao tiềnvay theo đúng HĐTD cho bên vay thì khi đó họ mới có quyền yêu cầu bên vay thựchiện nghĩa vụ đối với mình Các nghĩa vụ này bao gồm các nghĩa vụ chính như sửdụng tiền vay đúng mục đích; nghĩa vụ hoàn trả tiền vay cả gốc và lãi đúng thời hạn

đã cam kết trong hợp đồng…

- Thứ tư, hình thức của HĐTD là bắt buộc bằng văn bản, không thể bằng lờinói hay hành vi như trong hợp đồng dân sự Điều này được quy định tại điều 17Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ban hành ngày 31/12/2001 về quy chế chovay của TCTD đối với khách hàng (gọi tắt là QĐ 1627)

“Việc cho vay của tổ chức tín dụng và khách hàng vay phải được lập thành hợp đồng tín dụng.”

- Thứ năm, HĐTD chứa đựng nguy cơ rủi ro rất lớn cho quyền lợi của bêncho vay Điều này được giải thích là vì theo cam kết trong HĐTD, bên cho vay chỉ

có thể đòi tiền bên vay sau một thời hạn nhất định Trong thời gian đó, nếu kháchhàng gặp khó khăn do môi trường kinh doanh thay đổi sẽ dẫn đến khó khăn trongviệc trả nợ Việc thu hồi tín dụng không những phụ thuộc vào bản thân khách hàng

mà còn phụ thuộc vào cả môi trường hoạt động ngoài tầm kiểm soát của khách hàngnhư sự biến động về giá cả, lãi suất, tỷ giá, lạm phát, tăng trưởng kinh tế, thị trường,thiên tai…Như vậy, thời hạn cho vay càng dài thì nguy cơ rủi ro và bất trắc càngcao và ngược lại, thời hạn cho vay ngắn hơn thì nguy cơ rủi ro cũng sẽ thấp đi Vìthế các tranh chấp phát sinh từ HĐTD cũng thường xảy ra với số lượng và tỷ lệ lớnhơn so với đa số các loại hợp đồng khác

- Thứ sáu, HĐTD thường nhằm mục đích lợi nhuận, trường hợp không nhằmmục đích lợi nhuận là trường hợp ngân hàng chính sách vay để hỗ trợ đồng bào gặpkhó khăn

1.3 Vai trò của HĐTD

HĐTD có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng.Cũng như vai trò của các loại hợp đồng dân sự hay các loại hợp đồng kinh doanhthương mại khác, HĐTD là bằng chứng chứng minh cho việc TCTD và khách hàng

đã thực hiện một giao dịch cho vay một khoản tiền nhất định, đây được xem là căn

Trang 6

cứ để các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đồng thời đây cũng là cơ sởpháy lý để giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các bên (nếu có) Đối với TCTD,HĐTD còn là công cụ để quản lý khách hàng vay sau khi cho vay, nhằm quản lývốn vay, giám sát khách hàng vay, đôn đốc khách hàng vay trả nợ và lãi đúng kỳhạn

1.4 Phân loại HĐTD

a) Căn cứ vào khả năng trả nợ và mức độ uy tín của khách hàng, HĐTDđược phân chia thành hai loại: HĐTD có bảo đảm bằng tài sản và HĐTD không cóbảo đảm bằng tài sản

 HĐTD có bảo đảm bằng tài sản

Xét dưới khía cạnh pháp lý, HĐTD có bảo đảm bằng tài sản là sự thoả thuậnbằng văn bản giữa TCTD với khách hàng vay, theo đó TCTD cam kết chuyển giaocho khách hàng vay vốn sử dụng tiền của mình trong một thời gian nhất định, vớiđiều kiện có hoàn trả cả gốc và lãi trên cơ sở bảo đảm nghĩa vụ hoàn trả tiền vaybằng tài sản cầm cố, thế chấp của bên vay hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba

HĐTD có bảo đảm bằng tài sản có những đặc điểm cơ bản sau:

- Trong HĐTD có bảo đảm bằng tài sản luôn tồn tại những điều khoản vềbảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay Các điều khoản này có thể được ghi nhận ngaytrong HĐTD hoặc tách biệt thành một hợp đồng riêng lẻ đính kèm theo HĐTD

- Trong HĐTD có bảo đảm bằng tài sản, TCTD cho vay luôn có quyền ưutiên theo đuổi tài sản đảm bảo để thu hồi nợ cho mình, bất luận tài sản đảm bảo đóđang nằm ở đâu và trong sự quản lý của ai Quyền ưu tiên này được xác lập trên cơ

sở giao dịch đảm bảo giữa TCTD (bên nhận đảm bảo) với khách hàng vay hoặcngười thứ ba – người bảo lãnh (gọi là bên bảo đảm) Với tư cách là một chủ nợ cóđảm bảo, TCTD cho vay có quyền ưu tiên thanh toán từ số tiền bán tài sản bảo đảmtrước các chủ nợ có bảo đảm đăng ký sau hoặc trước các chủ nợ không được bảođảm bằng tài sản đó

- Quy trình thủ tục ký kết và thực hiện HĐTD có bảo đảm bằng tài sản baogiờ cũng phức tạp hơn so với HĐTD không có bảo đảm bằng tài sản vì ngoài nhữngđiều khoản thông dụng khác của HĐTD,các bên phải thỏa thuận thêm về điều khoảnbảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay Thực tế cho thấy, việc ký kết hợp đồng bảo đảmcàng chặt chẽ bao nhiêu thì mức độ an toàn về phương diện pháp lý của các bêncàng cao bấy nhiêu

Trang 7

HĐTD có đảm bảo bằng tài sản áp dụng đối với những khách hàng uy tínkhông cao đối với ngân hàng Sự đảm bảo này là căn cứ pháp lý để ngân hàng cóthêm nguồn thu nợ thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất (nguồn thu từ hiệuquả dự án, phương án đầu tư sản xuất kinh doanh mang lại) thiếu chắc chắn.

 HĐTD không có bảo đảm bằng tài sản

Mặc dù sự bảo đảm bằng tài sản cho các khoản vay của TCTD trên thực tế làcần thiết nhưng không phải mọi khoản vay ở TCTD đều cần có sự bảo đảm bằng tàisản Đôi khi những khoản cho vay kinh doanh hoặc cho vay tiêu dùng được cungcấp bởi một TCTD lại dựa trên cơ sở không cần đảm bảo

HĐTD không có bảo đảm bằng tài sản là sự thoả thuận bằng văn bản giữaTCTD với khách hàng vay, theo đó, TCTD cho khách hàng vay vốn không kèmtheo điều kiện bên vay phải có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc được bảo lãnh củangười thứ ba Ngân hàng chỉ cho vay dựa vào uy tín của bản thân khách hàng đểxem xét cho vay Loại cho vay này chỉ áp dụng đối với các khách hàng có uy tín.Khách hàng có uy tín là khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, khả năng tàichính lành mạnh, quản trị có hiệu quả, có tín nhiệm với ngân hàng cho vay trong sửdụng vốn vay, khả năng hoàn trả nợ (gốc và lãi) chắc chắn

Theo khoản 4 Điều 52 Luật các TCTD (đã được sửa đổi): “Tổ chức tín dụng

nhà nước được cho vay không có bảo đảm theo chỉ định của Chính phủ Tổn thất do nguyên nhân khách quan của các khoản cho vay này được Chính phủ xử lý”

Điều 19 Nghị định 178/1999/NĐ-CP về bảo đảm tiền vay (gọi tắt là NĐ 178)

quy định “Tổ chức tín dụng được lựa chọn khách hàng để cho vay không có bảo

đảm bằng tài sản khi cho vay vốn ngắn hạn, trung hạn, dài hạn để thực hiện các dự

án đầu tư phát triển hoặc phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ và đời sống đối với khách hàng vay theo quy định tại Điều 20 và Điều 21 Nghị định này”.

Điều 20 NĐ 178 quy định điều kiện đối với khách hàng vay không có bảođảm bằng tài sản bao gồm:

“1 Khách hàng vay phải có đủ các điều kiện sau đây:

A) Có tín nhiệm với tổ chức tín dụng cho vay trong việc sử dụng vốn vay và trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi;

B) Có dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi,

có khả năng hoàn trả nợ; hoặc có dự án, phương án phục vụ đời sống khả thi phù hợp với quy định của pháp luật;

C) Có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ;

Trang 8

D) Cam kết thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tài sản theo yêu cầu của tổ chức tín dụng nếu sử dụng vốn vay không đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng; cam kết trả nợ trước hạn nếu không thực hiện được các biện pháp bảo đảm bằng tài sản quy định tại điểm này.

2 Đối với khách hàng vay là doanh nghiệp, ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này còn phải có kết quả sản xuất kinh doanh có lãi trong hai năm liền

kế với thời điểm xem xét cho vay.”

b, Căn cứ vào thời hạn tín dụng, HĐTD được chia thành các loại như sau:

- HĐTD ngắn hạn là HĐTD mà có thời hạn cho vay đến 12 tháng, thườngđược sử dụng để bù đắp thiếu hụt vốn lưu động tạm thời của các doanh nghiệp hoặcphụ vụ nhu cầu tiêu dùng cá nhân và hộ gia đình trong thời gian ngắn

- HĐTD trung hạn là HĐTD mà có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60tháng, được sử dụng chủ yếu để cải tiến và đổi mới trang thiết bị, đầu tư mua sắmtài sản cố định, mở rộng sản xuất và xây dựng công trình vừa và nhỏ HĐTD này cóthời hạn thu hồi vốn nhanh, là nguồn quan trọng hình thành vốn lưu động thườngxuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp mới thành lập

- HĐTD dài hạn là HĐTD mà có thời hạn cho vay từ 60 tháng trở nên, đápứng cho như cầu đầu tư dài hạn như xây dựng cơ bản (dây chuyền sản xuất, nhàxưởng ), xây dựng cơ sở hạ tầng (cảng biển, sân bay, đường xá …), cải tiến và mởrộng sản xuất quy mô lớn HĐTD dài hạn thường áp dụng hình thức giải ngân nhiềulần theo tiến độ dự án do thời hạn đầu tư thường kéo dài Nhìn chung, HĐTD dàihạn thường chịu rủi ro rất lớn do thời hạn càng dài thì những biến động không dựtính được có thể xảy ra càng lớn

c) Căn cứ vào chủ thể ký kết, HĐTD được chia thành hai loại cơ bản sau:

- HĐTD được ký kết giữa TCTD với tổ chức kinh tế là pháp nhân;

- HĐTD được ký kết giữa TCTD với cá nhân

2 Những quy định của pháp luật về giao kết HĐTD

2.1 Chủ thể của HĐTD

Chủ thể ký kết HĐTD trong giao dịch tín dụng bao gồm bên cho vay là cácTCTD và bên đi vay là các tổ chức, cá nhân có đủ những điều kiện do luật quy định.Khi tham gia giao dịch HĐTD, các chủ thể này cần phải thỏa mãn điều kiện nhấtđịnh theo dự liệu của pháp luật Việc quy định các điều kiện chủ thể đối với cả bênvay lẫn bên cho vay vừa tạo cơ sở pháp lý cho sự đánh giá hiệu lực của HĐTD, vừa

Trang 9

góp phần nâng cao kỹ năng giao kết hợp đồng cũng như giúp củng cố kỷ luật hợpđồng đối với các chủ thể tham gia giao dịch tín dụng.

 Bên cho vay:

Bên cho vay trong HĐTD thường là các TCTD có đầy đủ các điều kiện dopháp luật quy định Ngoài ra, nếu được NHNN cho phép thực hiện hoạt động tíndụng thì các tổ chức khác không phải là TCTD cũng có thể là bên cho vay trongHĐTD và đương nhiên các tổ chức này cũng phải thỏa mãn các điều kiện về chủ thểgiống như đối với bên cho vay là TCTD

Một TCTD, theo quy định pháp luật hiện hành, muốn trở thành chủ thể chovay trong HĐTD phải thỏa mãn đầy đủ các điều kiện sau đây:

- Có giấy phép thành lập và hoạt động do NHNN cấp;

- Có điều lệ do NHNN chuẩn y;

- Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hợp pháp;

- Có người đại diện đủ năng lực và thẩm quyền để giao kết HĐTD với kháchhàng

Riêng đối với các tổ chức không phải là TCTD, nếu muốn trở thành chủ thểcho vay trong HĐTD thì cần phải thỏa mãn một số điều kiện như: có giấy phép hoạtđộng ngân hàng, có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và có người đại diện hợppháp Trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và giấy phép hoạt động ngânhàng của loại tổ chức này phải ghi rõ hoạt động cho vay là hoạt động ngân hàngđược phép thực hiện

Khoản 2 điều 22 Luật các TCTD quy định: “Các điều kiện để được cấp giấy

phép hoạt động ngân hàng đối với tổ chức không phải là tổ chức tín dụng gồm có:

A) Hoạt động ngân hàng là cần thiết và có liên quan chặt chẽ với hoạt động chính;

B) Có đủ vốn, điều kiện vật chất phù hợp với yêu cầu của hoạt động ngân hàng;

C) Có đội ngũ cán bộ am hiểu hoạt động ngân hàng;

D) Có phương án kinh doanh khả thi về hoạt động ngân hàng.”

Việc pháp luật quy định những điều kiện này đối với bên cho vay ngoài việcgóp phần loại trừ, hạn chế những TCTD không đủ tiêu chuẩn kinh doanh trênthương trường, nhờ đó giúp góp phần lành mạnh hóa các quan hệ tín dụng và bảo vệquyền lợi hợp pháp của các nhà đầu tư, đây còn là căn cứ để các thẩm phán, luật gia

Trang 10

hay trọng tài viên tiến hành thẩm định và đánh giá một cách khách quan vấn đề hiệulực pháp lý của HĐTD.

 Bên vay:

Bên vay trong HĐTD là các tổ chức hoặc cá nhân thỏa mãn những điều kiệnvay vốn do pháp luật quy định và những điều kiện cho vay khác do các bên thỏathuận

Những điều kiện chung thông thường sẽ do pháp luật quy định và được ápdụng cho mọi khách hàng vay trong mọi trường hợp, không phân biệt họ là tổ chứchay cá nhân, họ cho vay tiền để kinh doanh hay tiêu dùng Còn lại những điều kiệnriêng sẽ do các bên tự thỏa thuận với nhau trong HĐTD, bên vay chỉ bắt buộc phảithỏa mãn những điều kiện này khi chúng được ghi rõ trong HĐTD như là một điềukiện để giao kết HĐTD

- Các điều kiện chung: đây là những điều kiện có tính chất bắt buộc chung

đối với mọi chủ thể cho vay trong mọi HĐTD

Điều kiện thứ nhất là bên vay phải có năng lực pháp luật - khả năng của cánhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự (theo khoản 1 điều 14 BLDS) và năng lựchành vi dân sự - khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiệnquyền, nghĩa vụ dân sự (điều 17 BLDS) Riêng đối với các tổ chức (bao gồm phápnhân hay tổ chức không phải là pháp nhân như: hộ gia đình, tổ hợp tác, công ty hợpdanh…) còn phải có người đại diện hợp pháp có đủ năng lực và thẩm quyền đạidiện cho tổ chức đó khi ký kết HĐTD Các bên không nhất thiết phải ghi rõ điềukiện này trong HĐTD Nếu không ghi điều kiện này trong HĐTD thì có thể coi như

là các bên mặc nhiên thừa nhận nó theo quy định của pháp luật Theo quy trìnhnghiệp vụ tín dụng, bên cho vay phải kiểm tra, xác minh điều kiện này khi tiếp nhận

hồ sơ vay vốn của khách hàng, trên cơ sở các giấy tờ, tài liệu làm bằng chứng dokhách hàng cung cấp như quyết định thành lập tổ chức, giấy chứng nhận đăng kýkinh doanh, điều lệ của tổ chức, quyết định bổ nhiệm người đứng đầu tổ chức (đốivới người vay là tổ chức) hoặc chứng minh nhân dân, lý lịch tư pháp, hộ khẩu, giấychứng nhận về hộ tịch do cơ quan có thẩm quyền cấp (đối với người vay là cánhân)

Khoản 1 điều 7 QĐ 1627 quy định cụ thể vấn đề này như sau:

“1 Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật:

a) Đối với khách hàng vay là pháp nhân và cá nhân Việt Nam:

Trang 11

- Pháp nhân phải có năng lực pháp luật dân sự;

- Cá nhân và chủ doanh nghiệp tư nhân phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự;

- Đại diện của hộ gia đình phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự;

- Đại diện của tổ hợp tác phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự;

- Thành viên hợp danh của công ty hợp danh phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự;

b) Đối với khách hàng vay là pháp nhân và cá nhân nước ngoài phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp luật của nước mà pháp nhân đó có quốc tịch hoặc cá nhân đó là công dân, nếu pháp luật nước ngoài đó được Bộ Luật Dân sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam quy định hoặc được điều ước quốc

tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia quy định.”

- Điều kiện thứ hai là có mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng phải hợppháp – theo khoản 2 điều 7 Quyết định 1627 Theo quy định này thì khách hàngkhông được vay vốn để sử dụng cho các mục đích mà pháp luật cấm như: để muasắm, chi phí hình thành tài sản mà pháp luật cấm mua bán, chuyển đổi, chuyểnnhượng; đáp ứng các nhu cầu tài chính của các giao dịch mà pháp luật cấm; thanhtoán chi phí cho việc thực hiện giao dịch mà pháp luật cấm Đây cũng là điều kiệnbắt buộc phải thỏa mãn đối với mọi chủ thể vay trong mọi HĐTD, các bên bắt buộcphải ghi rõ điều kiện này trong hợp đồng như một điều kiện có hiệu lực của HĐTD

- Các điều kiện riêng:

Bên cạnh những điều kiện chung có tính chất bắt buộc phải thỏa mãn đối vớibên vay như là năng lực chủ thể, mục đích sử dụng vốn vay…, người vay còn có thểphải thỏa mãn những điều kiện riêng khác nữa do TCTD yêu cầu trong từng HĐTD

cụ thể Chỉ khi những điều kiện này được các bên thỏa thuận rõ trong HĐTD như lànhững điều kiện có hiệu lực của HĐTD thì chúng mới có tính chất bắt buộc thỏamãn đối với bên vay Theo quy định tại khoản 3, 4, 5 điều 7 QĐ 1627, các điều kiệnnày bao gồm:

“ 3 Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết;”

Khả năng tài chính của khách hàng được thể hiện thông qua mức độ vốn chủ

sở hữu của khách hàng tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời

Trang 12

sống; tình hình tài chính lành mạnh, kinh doanh có lãi; cam kết của khách hàng vềviệc phải mua bảo hiểm đối với tài sản là đối tượng vay vốn mà theo pháp luật quyđịnh phải mua bảo hiểm (tài sản hình thành sau khi vay) Trong trường hợp phápluật không quy định bắt buộc mua bảo hiểm nhưng xét thấy cần thiết phải đảm bảo

an toàn vốn vay, các ngân hàng có thể xem xét quyết định khách hàng vẫn phải camkết mua bảo hiểm đối với đối tượng vay vốn mà pháp luật không bắt buộc mua bảohiểm Nếu khách hàng không thực hiện đúng cam kết mua bảo hiểm theo hợp đồngthì ngân hàng cho vay có quyền được chấm dứt cho vay, thu hồi nợ hoặc chuyển nợquá hạn

“4 Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và hiệu quả; hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp với quy định của pháp luật.

5 Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ

và hướng dẫn của ngân hàng nhà nước Việt Nam.”

Ngoài ra, điều 19, điều 20 QĐ 1627 còn quy định những trường hợp khôngđược cho vay hay cho vay hạn chế, bao gồm các trường hợp sau:

- Điều 19: Các trường hợp không được cho vay

“1 Tổ chức tín dụng không được cho vay đối với khách hàng trong các trường hợp sau đây:

a) Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (phó Giám đốc) của tổ chức tín dụng;

b) Cán bộ, nhân viên của chính tổ chức tín dụng đó thực hiện nhiệm vụ thẩm định, quyết định cho vay;

c) Bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó tổng giám đốc (Phó giám đốc).

2 Các quy định tại Khoản 1 Điều này không áp dụng đối với các tổ chức tín dụng hợp tác.”

- Điều 20: Cho vay hạn chế

“Tổ chức tín dụng không được cho vay không có bảo đảm, cho vay với những điều kiện ưu đãi về lãi suất, về mức cho vay đối với những đôi tượng sau đây:

1 Tổ chức kiểm toán, Kiểm toán viên có trách nhiệm kiểm toán tại tổ chức tín dụng cho vay; Thanh tra viên thực hiện nhiệm vụ thanh tra tại tổ chức tín dụng cho vay; Kế toán trưởng của tổ chức tín dụng cho vay;

Trang 13

2.2 Hình thức của HĐTD

Hình thức của hợp đồng là phương tiện để ghi nhận nội dung mà các chủ thể

đã xác định Tùy thuộc vào nội dung, tính chất của từng hợp đồng cũng như tùythuộc vào mức độ tin cậy lẫn nhau mà các bên có thể lựa chọn một hình thức nhấtđịnh trong việc giao kết hợp đồng cho phù hợp với từng trường hợp cụ thể

Khác với hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bảnhoặc bằng hành vi cụ thể khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải đượcgiao kết bằng một hình thức nhất định, HĐTD phải được lập thành văn bản thì mới

có giá trị pháp lý (theo quy định tại điều 51 Luật các TCTD) Pháp luật quy địnhnhư vậy là vì việc ký kết hợp đồng bằng văn bản có rất nhiều ưu điểm, giúp đảmbảo sự an toàn pháp lý cho các bên tham gia Những ưu điểm đó là:

- Thứ nhất, HĐTD được ký kết bằng văn bản sẽ tạo ra một bằng chứng pháp

lý cụ thể cho việc thực hiện hơp đồng và giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD

- Thứ hai, việc ký kết HĐTD bằng văn bản thực chất là một sự công bố côngkhai và chính thức về mối quan hệ pháp lý giữa những người lập ước để người thứ

ba biết rõ về việc lập ước đó mà có những phương cách xử sự hợp lý, an toàn trongnhững trường hợp cần thiết

- Thứ ba, việc ký kết HĐTD bằng văn bản mới có thể giúp cho các cơ quan

có trách nhiệm của chính quyền thi hành công vụ được tốt hơn Chẳng hạn như việckiểm tra, thanh tra tài chính, thu thuế, lệ phí, kiểm soát hoạt động thương mại củacác chủ thể kinh doanh trên thương trường

Theo quy định hiện hành, văn bản HĐTD được hiểu bao gồm văn bản viết vàvăn bản điện tử HĐTD được xác lập thông qua phương tiện điện tử dưới hình thứcthông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản (khoản 1 điều 124 BLDS2005), được coi là có giá trị pháp lý như văn bản hợp đồng viết và có giá trị chứng

cứ trong quá trình giao dịch

2.3 Nội dung của HĐTD

Trang 14

Nội dung của HĐTD là tổng thể những điều khoản do các bên có đủ tư cáchchủ thể cam kết với nhau một cách bình đẳng, tự nguyện và phù hợp với pháp luật.Các điều khoản này vừa thể hiện ý chí của các bên tham gia, đồng thời cũng làmphát sinh những quyền và nghĩa vụ pháp lý cơ bản của mỗi bên tham gia HĐTD.

Nội dung của HĐTD (các điều khoản của hợp đồng) về lý thuyết phải do cácbên tự định đoạt trên nguyên tắc đồng thuận ý chí, phù hợp với pháp luật và đạo đức

xã hội Điều 51 Luật các TCTD năm 1997 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2004) quy

định: “Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng tiền

vay, hình thức vay, số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thoả thuận.” Như vậy, nội dung của HĐTD bao gồm các điều khoản sau đây:

- Điều khoản về điều kiện vay vốn Các bên cần ghi rõ những tiêu chuẩn cụthể mà bên vay phải thỏa mãn trong HĐTD khi thỏa thuận điều khoản này thì hợpđồng này mới có hiệu lực Chẳng hạn như bên vay phải có năng lực chủ thể, có tìnhhình tài chính lành mạnh, có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc phải có người bảo lãnhcủa người thứ ba…

- Điều khoản về đối tượng của hợp đồng Trong điều khản này, các bên phảithỏa thuận cụ thể về hình thức vay, số tiền vay, lãi suất cho vay, tổng số tiền phảitrả khi HĐTD đáo hạn

- Điều khoản về phương thức thanh toán tiền vay Đây là một điều khoản rấtquan trọng bởi nó liên quan trực tiếp đến việc thu hồi vốn và lãi cho vay Vì thế, cácbên phải thỏa thuận rõ ràng số tiền vay sẽ được trả toàn bộ một lần khi hợp đồngvay đáo hạn hay là hoàn trả dần hàng tháng (trả góp) Nếu khoản vay được thỏathuận thanh toán theo từng thời kì hạn thì các bên cũng có thể dự liệu trước về khảnăng điều chỉnh kì hạn trả nợ cho phù hợp với khả năng tài chính của bên vay khitrả nợ

- Điều khoản về thời hạn sử dụng vốn vay Các bên phải ghi rõ trong HĐTD

về ngày, tháng, năm trả tiền; phải trả tiền sau bao lâu kể từ ngày hợp đồng được kýkết Các bên cũng có thể dự liệu trước về khả năng gia hạn hợp đồng trong HĐTD,còn thời gian gia hạn cụ thể sẽ tiến hành thỏa thuận sau trong quá trình thực hiệnHĐTD

- Điều khoản về mục đích sử dụng tiền vay Ở điều khoản này, các bên cầnghi rõ vốn vay sẽ được sử dụng vào mục đích gì (ví dụ như, mua hàng hóa để tiêudùng hay mua vật tư hàng hóa để kinh doanh …) Việc thỏa thuận điều khoản này

Trang 15

trong được xem như là một giải pháp nhằm đảm bảo sự an toàn về vốn cho ngườiđầu tư là các TCTD, tránh các trường hợp bên vay sử dụng vốn vay một cách tùytiện vào mục đích phiêu lưu, mạo hiểm Mặt khác, pháp luật cũng cho phép trongthời gian sử dụng vốn vay, các bên có quyền thỏa thuận lại về mục đích sử dụngvốn vay mỗi khi xét thấy thời cơ và điều kiện sử dụng vốn vay đã thay đổi nhằmđảm bảo lợi ích của cả hai bên và cũng để đảm bảo sử dụng vốn đầu tư được sửdụng hiệu quả.

- Điều khoản về tranh chấp HĐTD Trong điều khoản này, các bên sẽ thỏathuận về biện pháp giải quyết tranh chấp khi có tranh chấp phát sinh Các bên có thểlựa chọn biện pháp thương lượng, hòa giải hoặc lựa chọn biện pháp tài phán để giảiquyết tranh chấp Nếu trong HĐTD không ghi điều khoản này, có nghĩa là các bênkhông thỏa thuận thì khi đó việc xác định thẩm quyền, thủ tục giải quyết tranh chấpphát sinh từ HĐTD sẽ đựợc thực hiện theo quy định của pháp luật

Ngoài ra, nếu HĐTD được giao kết có điều kiện về đảm bảo bằng tài sản nhưcầm cố, thế chấp, bảo lãnh, tín chấp thì các bên có thể thỏa thuận điều khoản nàynhư một điều khoản riêng rẽ nằm trong HĐTD (hợp đồng chính) hoặc lập thành mộthợp đồng phụ đính kèm theo hợp đồng chính

Trên thực tế, các bên thường lựa chọn ký kết một hợp đồng phụ như hợpđồng cầm cố, hợp đồng thế chấp, hợp đồng bảo lãnh theo thể thức luật định nhằmthể hiện ý chí của mình trong việc cầm cố, thế chấp, bảo lãnh Hiệu lực của các hợpđồng phụ này phụ thuộc hoàn toàn vào hiệu lực của hợp đồng chính là HĐTD

2.4 Nguyên tắc giao kết HĐTD

HĐTD giữa ngân hàng và khách hàng về bản chất là một hợp đồng dân sự cótính cách đặc biệt, nhằm xác định quan hệ pháp lý giữa hai bên trong quan hệ tíndụng, do đó nguyên tắc giao kết HĐTD cũng sẽ tuân thủ nguyên tắc giao kết hợpđồng dân sự Điều 389 BLDS 2005 quy định nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sựnhư sau:

“Việc giao kết hợp đồng dân sự phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:

1 Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội;

2 Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng.”

Ngoài ra, điều 6 QĐ 1627 quy định nguyên tắc vay vốn như sau:

“1 Khách hàng vay của tổ chức tín dụng phải bảo đảm sử dụng vốn vay

đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng”

Trang 16

Nguyên tắc này đòi hỏi khách hàng vay phải tuân thủ đúng cam kết của mìnhtrong HĐTD để sử dụng vốn vay đúng mục đích Vi phạm nguyên tắc này thì bịxem là vi phạm hợp đồng và sẽ phải chịu phạt vi phạm hợp đồng theo quy định củapháp luật Đây là nguyên tắc cơ bản, vì chỉ khi sử dụng vốn đúng mục đích thìkhách hàng mới có thể thực hiện được dự án, phương án sản xuất kinh doanh theo

dự kiến, do vậy mới có thể thu hồi được vốn để hoàn trả nợ cho ngân hàng Nguyêntắc này giúp hạn chế rủi ro đạo đức và hạn chế khả năng khách hàng dùng vốn vay

để thực hiện các hành vi mà pháp luật cấm

“2 Khách hàng vay vốn phải hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn

đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng”

Đây là nghĩa vụ tất yếu của khách hàng vay khi vay vốn của TCTD Mặc dùvậy pháp luật vẫn quy định nó như là một nguyên tắc để giao kết hợp đồng để nhấnmạnh tầm quan trọng của việc hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay trong hoạt động tíndụng, đồng thời cũng nêu lên sự khác biệt giữa quan hệ HĐTD với các quan hệ hợpđồng khác Nguyên tắc này đảm bảo phương châm hoạt động của ngân hàng là “đivay để cho vay” và thực hiện nguyên tắc trong hoạch toán kinh doanh lấy thu bù chi

và có lãi

Đây là những nguyên tắc cơ bản nhất mà các bên sẽ phải tuân thủ khi quan

hệ tín dụng được xác lập Nguyên tắc cho vay có hiệu quả là điều kiện và biện pháphàng đầu bảo đảm cho ngân hàng duy trì sự tồn tại và phát triển ổn định

2.5 Trình tự giao kết HĐTD

Giao kết HĐTD là một quá trình mang tính chất kĩ thuật nghiệp vụ - pháp lý

do các bên thực hiện theo một trình tự luật định Việc giao kết HĐTD bao gồm cácgiai đoạn chính sau:

Thông thường, bên đề nghị giao kết HĐTD là cá nhân, tổ chức có nhu cầuvay vốn và văn bản đề nghị ở đây chính là đơn xin vay vốn và các giấy tờ được gửikèm theo để chứng minh tư cách chủ thể bao gồm năng lực pháp lý và năng lực

Trang 17

hành vi, phương án sử dụng và hoàn trả vốn vay, khả năng tài chính của mình, Cáctài liệu này do bên vay gửi cho TCTD để xem xét, thẩm định và sẽ được coi là mộtbằng chứng cho đề nghị giao kết hợp đồng Tuy nhiên, thực tiễn giao kết HĐTD ởViệt Nam gần đây cho thấy nhiều trường hợp bên chủ động đề nghị giao kết hợpđồng không phải là khách hàng mà lại chính là các TCTD Các TCTD chủ độngthực hiện phương thức này nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh và mở rộng thịtrường tín dụng của mình Các ngân hàng cổ phần, các ngân hàng liên doanh, chinhánh ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam chính là những TCTD đã đi tiên phongtrong việc lựa chọ phương thức này Trong trường hợp này, văn bản đề nghị là thưchào mời được TCTD gửi cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu vay vốn thường xuyên,

có khả năng tài chính lành mạnh và có uy tín trên thương trường (hay còn gọi lànhững khách hàng tiềm năng) mà TCTD lựa chọn là bên đối tác Trong thư chàomời, TCTD thường đưa ra những điều kiện có tính chất tổng quát nhất kèm theonhững điều khoản cụ thể để bên kia xem xét chấp nhận Tuy nhiên, nếu bên tiếpnhận thư chào mời có hành vi chấp nhận toàn bộ nội dung của thư chào mời đó thìkhông vì thế mà HĐTD được coi là đã hình thành, bởi lẽ, một thư chào mời khôngnhất thiết phải là một bản dự thảo hợp đồng nhằm tránh rủi ro pháp lý cho phía gửithư chào mời

Theo khoản 2 điều 15 QĐ 1627, ngoài việc thẩm định tư cách pháp lý củakhách hàng vay vốn thì nội dung thẩm định bao gồm các vấn đề sau:

Trang 18

“ 2- Tổ chức tín dụng xem xét, đánh giá tính khả thi, hiệu quả của dự án đầu

tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống và khả năng hoàn trả nợ vay của khách hàng để quyết định cho vay.”

Trong thực tế giao dịch ngân hàng, việc thẩm định hồ sơ tín dụng thường docác nhân viên chuyên trách của TCTD thực hiện và được kết thúc bằng việc lập báocáo thẩm định hồ sơ tín dụng Báo cáo này sẽ được trình lên người quản lý có thẩmquyền của TCTD quyết định về việc có cho vay hay không

Sau khi đã thẩm định hồ sơ tín dụng của khách hàng, dựa vào kết quả thẩmđịnh, phân tích và điều tra tín dụng đối với khách hàng, bên cho vay có toàn quyềnquyết định việc chấp nhận hoặc từ chối cho vay Trong trường hợp từ chối cho vay,TCTD phải thông báo cho khách hàng biết bằng văn bản và phải nêu rõ lý do từchối cho vay Điều này đã được quy định cụ thể trong QĐ 1627 tại khoản 3 điều 15:

“3- Tổ chức tín dụng quy định cụ thể và niêm yết công khai thời hạn tối đa phải thông báo quyết định cho vay hoặc không cho vay đối với khách hàng, kể từ khi nhận được đầy đủ hồ sơ vay vốn và thông tin cần thiết của khách hàng Trường hợp quyết định không cho vay, tổ chức tín dụng phải thông báo cho khách hàng bằng văn bản, trong đó nêu rõ căn cứ từ chối cho vay.”

Nếu việc từ chối cho vay là không có căn cứ xác đáng, khách hàng có thểthực hiện hành vi đối kháng với TCTD theo quy định của pháp luật

- Chấp nhận đề nghị giao kết HĐTD

Chấp nhận đề nghị giao kết HĐTD là hành vi pháp lý do bên nhận đề nghị,thông thường là TCTD, thực hiện dưới hình thức một văn bản chính thức gửi chobên gửi đề nghị hợp đồng với nội dung thể hiện sự đồng ý giao kết HĐTD Hành vichấp nhận giao kết đề nghị giao kết HĐTD chỉ có giá trị như một lời tuyên bố đồng

ý ký kết hợp đồng chứ không thể thay thế cho việc giao kết hợp đồng chính thứcgiữa các bên Việc giao kết HĐTD chỉ được xem là hoàn thành sau khi các bên đãtrải qua giai đoạn thương lượng, đàm phán trực tiếp các điều khoản của hợp đồng vàngười đại diện có thẩm quyền của các bên đã trực tiếp ký tên vào văn bản HĐTD

 Đàm phán các điều khoản của HĐTD và ký kết HĐTD

Đây là giai đoạn cuối cùng và cũng là giai đoạn quan trọng nhất của quátrình giao kết HĐTD Trong giai đoạn này, các bên trực tiếp gặp nhau để thỏa thuậncác điều khoản của HĐTD Giai đoạn này kết thúc bằng việc các bên cùng chínhthức ký tên vào bản hợp đồng

Trang 19

Sau khi HĐTD được ký kết, các bên có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng Đây làquá trình làm cho cam kết trong HĐTD trở thành hiện thực thông qua hành vi củacác bên Sau khi giải ngân, TCTD phải thường xuyên kiểm tra, giám sát quá trình sửdụng vốn vay và trả nợ của khách hàng để bảo đảm cho tiền vay được sử dụng đúngmục đích đã cam kết, kiểm soát rủi ro tín dụng và hạn chế tối đa thiệt hại.

2.6 Hiệu lực của HĐTD

 Các điều kiện có hiệu lực của HĐTD:

Dựa trên các quy định có tính nguyên tắc tại điều 122 của BLDS 2005 vềđiều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, một HĐTD với tư cách là một loại hìnhgiao dịch dân sự đặc thù, chỉ có hiệu lực khi thỏa mãn các điều kiện sau đây:

- Chủ thể tham gia HĐTD phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lựchành vi dân sự

Đối với chủ thể của HĐTD là cá nhân thì bản thân cá nhân ấy phải có đủ cảnăng lực hành vi dân sự và năng lực pháp luật dân sự, còn đối với chủ thể là tổ chứcthì người đại diện cho tổ chức đó cũng phải có năng lực pháp luật dân sự và nănglực hành vi dân sự Ngoài vấn đề năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân

sự, chủ thể tham gia HĐTD có thể còn phải thỏa mãn các điều kiện khác nữa thìHĐTD mới có hiệu lực pháp luật Thông thường, các điều kiện này do chính cácbên thỏa thuận và được ghi rõ trong HĐTD như là những điều kiện có hiệu lực củaHĐTD Chẳng hạn như điều kiện bên vay phải có tình hình tài chính lành mạnh; cóphương án sử dụng vốn khả thi; có uy tín đối với TCTD; có tài sản bảo đảm chonghĩa vụ trả nợ tiền vay…

- Mục đích và nội dung của HĐTD không vi phạm điều cấm của pháp luật vàkhông trái đạo đức xã hội

Tính hợp pháp về mục đích của HĐTD thể hiện ở chỗ, mục đích cho vay vàmục đích đi vay của các bên giao kết hợp đồng nhất thiết phải được thể hiện rõ ràngtrong nội dung của hợp đồng và các mục đích này không được trái pháp luật và tráiđạo đức xã hội Còn tính hợp pháp về nội dung của HĐTD cũng được thể hiện ởchỗ các điều khoản trong HĐTD không vi phạm điều cấm của pháp luật cũng nhưkhông trái đạo đức xã hội

- Có sự đồng thuận ý chí giữa các bên cam kết trên nguyên tắc bình đẳng, tựnguyện và tự do ý chí

Một HĐTD được coi là có sự đồng thuận ý chí khi sự thỏa thuận đó giữa cácbên không bị các khiếm khuyết như sự nhầm lẫn, sự lừa dối, ép buộc hoặc lừa gạt

Trang 20

khi giao kết hợp đồng Trên nguyên tắc, các khiếm khuyết này phải có ảnh hưởngmang tính quyết định đến ý chí giao kết hợp đồng của các bên thì mới được coi là

sự kiện pháp lý làm cho HĐTD bị vô hiệu

- Hình thức của HĐTD phải phù hợp với các quy định của pháp luật ngânhàng Đối với HĐTD, pháp luật ngân hàng đòi hỏi hình thức của HĐTD phải đượcxem như là một trong những điều kiện có hiệu lực của hợp đồng bởi tính chất rủi rocao cho quyền lợi của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng này Điều nàyđược quy định tại điều 51 Luật các TCTD

Tính hợp pháp về hình thức của HĐTD thể hiện ở chỗ, HĐTD phải được kýkết bằng văn bản hoặc tài liệu giao dịch hợp thức và có giá trị chứng cứ chứng minhnội dung mà các bên đã cam kết

 Thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTD:

Thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTD là điểm mốc thời gian mà kể từ lúc

đó quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên tham gia HĐTD bắt đầu phát sinh Trênthực tế, pháp luật của các nước, tùy quan điểm của nhà làm luật coi HĐTD là hợpđồng thực tế hay hợp đồng ưng thuận mà có những quy định rất khác nhau về thờiđiểm phát sinh hiệu lực của HĐTD

Ví dụ như ở Cộng hòa Pháp thì thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTDchính là thời điểm bên cho vay chuyển giao số tiền vay cho bên cho vay, bởi lẽ cácnhà làm luật ở đây quan niệm HĐTD là loại hợp đồng thực tế Còn ở Việt Nam, donhà làm luật quan niệm HĐTD thuộc loại hợp đồng ưng thuận nên pháp luật ViệtNam quy định thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTD chính là thời điểm các bênthỏa thuận xong các điều khoản của hợp đồng và bên sau cùng đã ký tên, đóng dấu(nếu có) vào văn bản HĐTD Theo quy định này, việc chuyển giao tiền vay (haycòn gọi là giải ngân) là một nghĩa vụ hợp đồng của bên cho vay Nếu bên cho vaykhông thực hiện đúng nghĩa vụ này mà lại gây thiệt hại tính được thành tiền cho bênvay thì họ không những sẽ phải chịu trách nhiệm nộp phạt vi phạm hợp đồng màcòn phải chịu cả trách nhiệm bồi thường thiệt hại

3 Những quy định của pháp luật về thực hiện HĐTD

3.1 Quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên trong HĐTD

Quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên tham gia HĐTD được hiểu là tất cảnhững hành vi pháp lý được các bên lập ra để cho chính mình thực hiện, thông qua

sự kiện ký kết HĐTD Việc tạo lập quyền và nghĩa vụ pháp lý này không chỉ là mụcđích khi giao kết HĐTD của các bên, mà còn là hậu quả pháp lý tất yếu của việc

Trang 21

giao kết HĐTD, một khi hợp đồng đó đã có hiệu lực pháp lý Quyền và nghĩa vụcủa các bên, về lý thuyết sẽ phát sinh kể từ thời điểm HĐTD bắt đầu có hiệu lực, vàđược các bên thực hiện dần dần trong quá trình sử dụng tiền vay cho đến khi khoảntiền vay đã được hoàn trả cả gốc lẫn lãi (kể cả tiền phạt và tiền bồi thường thiệt hại,nếu có).

Do mỗi bên tham gia HĐTD có tư cách pháp lý khác nhau nên các chủ thểnày sẽ có quyền và nghĩa vụ pháp lý khác nhau, các quyền và nghĩa vụ này hoặcphát sinh từ nội dung đã được thỏa thuận trong HĐTD, hoặc phát sinh từ các điềukhoản đã được dự liệu sẵn của các nhà lập pháp và chúng đều có giá trị pháp lý ràngbuộc đối với các bên giao kết HĐTD Cụ thể như sau:

 Quyền và nghĩa vụ của bên cho vay (TCTD):

Với tư cách là bên cấp tín dụng, đồng thời là chủ nợ trong quan hệ tín dụng,bên cho vay có những quyền và nghĩa vụ pháp lý cơ bản sau đây:

- Quyền yêu cầu bên vay hoàn trả tiền vay đúng thỏa thuận, kể cả tiền phạt,tiền bồi thường thiệt hại (nếu có)

Quyền năng này mặc dù phát sinh trên cơ sở các thỏa thuận trong HĐTDnhưng thường được pháp luật bảo đảm thực hiện bằng nhiều phương cách, vì khithực hiện quyền này, TCTD (bên cho vay) có tư cách là một chủ nợ có vị trí đặcbiệt quan trọng Bên cho vay với tư cách là chủ nợ sẽ thực hiện quyền yêu cầu đốivới bên vay (người mắc nợ) bằng các cách mà pháp luật cho phép như khiếu nại đòitiền; thương lượng hòa giải hoặc khởi kiện bên vay trước cơ quan tài phán có thẩmquyền để yêu cầu giải quyết…

- Nghĩa vụ chuyển giao tiền vay đầy đủ, đúng thời hạn và địa điểm cho

khách hàng vay sử dụng (nghĩa vụ giải ngân)

Nghĩa vụ này phát sinh do bên cho vay đã cam kết cho khách hàng vay đượcphép sử dụng số tiền của mình trong một khoảng thời gian nhất định, với điều kiện

có hoàn trả Thực tế cho thấy người vay chỉ có thể thực hiện được quyền sử dụngvốn vay và cũng chỉ có nghĩa vụ hoàn trả tiền vay khi nào có bằng chứng chứngminh rằng họ đã nhận được tiền vay do bên vay chuyển giao đúng thời hạn đã thỏathuận Nếu bên cho vay vi phạm nghĩa vụ này như không giải ngân, giải ngân chậmhoặc không giải ngân theo đúng thỏa thuận trong HĐTD thì trong trường hợp này,bên cho vay bị coi là đã vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, vì thế bên cho vay có tráchnhiệm phải bồi thường các thiệt hại vật chất đã xảy ra cho bên vay Không những

Trang 22

thế, bên cho vay còn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình như đã cam kết, trừtrường hợp cả hai bên cùng thỏa thuận chấm dứt HĐTD trước thời hạn.

- Nghĩa vụ kiểm tra, giám sát việc sử dụng tiền vay và trả nợ của khách hàng.Trước khi Luật các TCTD năm 1997 được sửa đổi, bổ sung năm 2004, việckiểm tra, giám sát quá trình vay vốn chỉ được xem như là một quyền của TCTD vàkhả năng pháp lý này của bên cho vay hoàn toàn phát sinh trên cơ sở các bên thỏathuận chứ không phải do pháp luật quy định trước Tuy nhiên, để đề cao tráchnhiệm pháp lý của bên cho vay trong quá trình cấp tín dụng, khoản 3 điều 53 Luậtcác TCTD đã quy định việc kiểm tra, giám sát quá trình cho vay, sử dụng vốn vay

và trả nợ của khách hàng không còn là một quyền năng pháp lý nữa mà là một nghĩa

Điều 25 QĐ 1627 đã quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của TCTD như sau:

“1 Tổ chức tín dụng có quyền:

a) Yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh dự án đầu tư, phương

án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi, khả năng tài chính của mình và của người bảo lãnh trước khi quyết định cho vay;

b) Từ chối yêu cầu vay vốn của khách hàng nếu thấy không đủ điều kiện vay vốn, dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn không có hiệu quả, không phù hợp với quy định của Pháp luật hoặc tổ chức tín dụng không có đủ nguồn vốn để cho vay.

c) Kiểm tra, giám sát quả trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của khách hàng;

d) Chấm dứt việc cho vay, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm hợp đồng tín dụng;

đ) Khởi kiện khách hàng vi phạm hợp đồng tín dụng hoặc người bảo lãnh theo quy định của pháp luật.

Trang 23

e) Khi đến hạn trả nợ mà khách hàng không trả nợ, nếu các bên không có thoả thuận khác, thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý tài sản bảo đảm vốn vay theo

sự thoả thuận trong hợp đồng để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật hoặc yêu cầu người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với trường hợp khách hàng được bỏ lãnh vay vốn;

g) Miễn, giảm lãi vốn vay, gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ thực hiện theo quy định tại Quy chế này; mua bán nợ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và thực hiện việc đảo nợ, khoanh nợ, xoá nợ theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

2 Tổ chức tín dụng có nghĩa vụ:

a) Thực hiện đúng thoả thuận trong hợp đồng tín dụng;

b) Lưu giữ hồ sơ tín dụng phù hợp với quy định của pháp luật.”

 Quyền và nghĩa vụ của bên vay:

Với tư cách là người hưởng tín dụng, đồng thời là con nợ trong quan hệ tíndụng, bên vay có những quyền và nghĩa vụ sau đây:

- Quyền từ chối các yêu cầu không hợp lý của TCTD khi ký kết, thực hiện vàthanh lý HĐTD

Quyền năng này được pháp luật quy định giúp cho khách hàng vay vốn cókhả năng chống lại các yêu cầu không hợp lý của các TCTD mà các yêu cầu đó cóthể gây ra những bất lợi cho họ nếu buộc phải thỏa mãn Chẳng hạn như, kháchhàng vay có quyền từ chối cung cấp các thông tin về hoạt động kinh doanh củamình nếu nó không liên quan đến việc sử dụng vốn cũng như hoàn trả vốn vay choTCTD…

- Quyền khiếu nại, khởi kiện việc từ chối cho vay không có căn cứ hoặc các

vi phạm HĐTD của TCTD

Pháp luật quy định đây là một quyền của khách hàng vay nhằm mục đích bảo

vệ lợi ích hợp pháp cho họ trước những hành vi không có căn cứ hợp pháp củaTCTD Tuy nhiên, nếu pháp luật cho phép khách hàng vay được tự do đệ đơn khiếunại đối với TCTD nhận hồ sơ vay vốn, chỉ vì lý do họ đã từ chối vay không có căn

cứ thì rõ ràng cũng không hợp lý, bởi lẽ như vậy có nghĩa là pháp luật đã tước điquyền tự do kinh doanh của người kinh doanh, trong đó có quyền tự định đoạt việccho vay hay không đối với khách hàng - một quyền năng cơ bản nhất Vì vậy, nếuTCTD muốn từ chối cho vay đối với khách hàng thì họ bắt buộc phải đưa ra các căn

cứ hay lý do chính đáng để từ chối

Trang 24

- Quyền yêu cầu bên cho vay thực hiện nghĩa vụ giải ngân đúng thỏa thuậntrong HĐTD.

Quyền này của bên vay cũng chính là nghĩa vụ của bên cho vay, phát sinhtrên cơ sở các điều khoản của HĐTD Do có quyền này mà bên vay được yêu cầubên cho vay bồi thường thiệt hại đã xảy ra cho mình trong trường hợp do bên chovay không thực hiện đúng nghĩa vụ giải ngân theo thỏa thuận mà gây thiệt hại

- Nghĩa vụ sử dụng tiền vay hiệu quả và đúng mục đích đã thỏa thuận trongHĐTD

Nghĩa vụ này phát sinh do điều khoản về mục đích sử dụng vốn vay đã đượcghi trong HĐTD, nhằm đặt người vay vào trong tình trạng bị giám sát, kiểm trathường xuyên bởi người cho vay Tuy nhiên, nghĩa vụ này không cản trở người vaylựa chọn, áp dụng các biện pháp giúp đem lại hiệu quả cho phương án sử dụng vốncủa mình như được quyền lựa chọn lựa chọn loại vật tư, mô hình công nghệ thíchhợp nhất để đầu tư, lựa chọn nguyên liệu trong nước hay nhập khẩu để mua sắmbằng nguồn vốn tín dụng được cấp…Nếu bên vay không thực hiện đúng nghĩa vụnày thì họ sẽ bị bên cho vay đình chỉ việc sử dụng vốn vay hoặc bị thu hồi vốn vaytrước thời hạn, sau khi đã được bên cho vay nhắc nhở bằng văn bản

- Nghĩa vụ hoàn trả tiền vay cả gốc và lãi, trả tiền phạt vi phạm HĐTD vàtiền bồi thường thiệt hại cho bên vay (nếu có)

Nghĩa vụ này là một trong những nghĩa vụ chính của bên vay, phát sinh trên

cơ sở HĐTD hoặc trên cơ sở phán quyết đã có hiệu lực pháp luật của cơ quan tàiphán đã có thẩm quyền Nghĩa vụ hoàn trả tiền vay cả gốc và lãi thông thường sẽphát sinh khi HĐTD bắt đầu có hiệu lực và phải được bên vay thực hiện khi thờihạn sử dụng vốn vay đã hết Nghĩa vụ trả tiền phạt vi phạm hợp đồng hay trả tiềnbồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi xảy ra sự vi phạm hoặc gây ra sự thiệt hại màcác bên đã thỏa thuận trong HĐTD, hoặc phát sinh do một phán quyết đã có hiệulực của tòa án hay trọng tài Về nguyên tắc, các nghĩa vụ này của bên vay sẽ chấmdứt khi chúng đã được bên vay thực hiện trên thực tế

Quyền và nghĩa vụ của khách hàng vay được quy định cụ thể tại điều 24 QĐ

1627, theo đó:

“1 Khách hàng vay có quyền:

a) Từ chối các yêu cầu của tổ chức tín dụng không đúng với các thoả thuận trong hợp đồng tín dụng;

Trang 25

b) Khiếu nại, khởi kiện việc vi phạm hợp đồng tín dụng theo quy định của pháp luật;

c) Trả nợ gốc và lãi vốn vay theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng;

d) Chịu trách nhiệm trước pháp luật khi không thực hiện đúng những thoả thuận về việc trả nợ vay và thực hiện các nghia vụ bảo đảm nợ vay đã cam kết trong hợp đồng tín dụng.”

3.2 Các biện pháp đảm bảo thực hiện HĐTD

Hoạt động cho vay của ngân hàng luôn luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, vì vậy đểđảm bảo an toàn hiệu quả trong hoạt động cho vay, tránh những rủi ro đổ vỡ có thểxảy ra đối với từng ngân hàng và hệ thống các TCTD, pháp luật có các quy địnhnhằm đảm bảo an toàn trong cho vay, trong đó chú trọng các vấn đề về nguyên tắccho vay có hiệu quả, các hạn chế để đảm bảo an toàn tín dụng, các biện pháp đảmbảo trong cho vay, HĐTD, xét duyệt cho vay, kiểm tra sử dụng vốn vay

Bảo đảm tiền vay bằng tài sản trong hợp đồng tín dụng là một trong các biệnpháp để bảo đảm bên có nghĩa vụ, cụ thể là bên vay thực hiện đúng các nghĩa vụcủa mình đối với bên có quyền là bên cho vay

Theo quy định của pháp luật, việc áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền vaybằng tài sản hoàn toàn là do các bên thoả thuận, bằng cách thiết kế một điều khoảnriêng nằm trong hợp đồng chính là HĐTD hoặc tách ra thành một hợp đồng phụđính kèm hợp đồng chính Hợp đồng bảo đảm tiền vay này phải được lập thành vănbản, có thể được giao kết trước, cùng lúc hoặc sau khi giao kết HĐTD Việc giaokết hợp đồng bảo đảm tiền vay phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của phápluật về hình thức, nội dung của hợp đồng, các quy định về việc đăng ký, công chứnghay chứng thực hợp đồng bảo đảm

Những biện pháp chủ yếu để bảo đảm tiền vay trong HĐTD là:

 Cầm cố

“Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.” (điều 326 BLDS)

Trang 26

Như vậy có thể hiểu rằng, cầm cố tài sản trong HĐTD là sự thỏa thuận củacác bên, theo đó bên vay phải giao cho TCTD tài sản thuộc quyền sở hữu của mình

để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ hoàn trả cả tiền gốc và lãi suất cho vay

Các quy định về cầm cố tài sản được quy định từ điều 326 đến điều 341BLDS 2005, cụ thể hơn tại các điều từ điều 16 đến 28 Nghị định 163/2006/NĐ-CPngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm (gọi tắt là NĐ 163)

 Thế chấp

“Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp.” (điều 342 BLDS)

Cũng giống như biện pháp cầm cố, thế chấp tài sản trong HĐTD là sự thỏathuận của các bên hoặc có thể là theo quy định của pháp luật, theo đó bên vay cónghĩa vụ phải dùng tài sản của mình để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ hoàn trả cảgốc và lãi khoản vay Tuy nhiên trong thế chấp, bên vay chuyển phải giao tài sảncho TCTD, đây chính là điểm khác biệt so với biện pháp cầm cố

Hiện nay, thế chấp là biện pháp bảo đảm được sử dụng rất phổ biến trongHĐTD Ở biện pháp này, tài sản không phải chuyển giao cho TCTD mà vẫn do bênvay giữ hoặc do người thứ ba giữ (theo thỏa thuận của các bên) TCTD chỉ có quyềnyêu cầu bên vay hoặc bên thứ ba giữ tài sản này giao tài sản thế chấp cho mình khi

mà đến hạn thực hiện nghĩa vụ, bên vay không thực hiện được hoặc thực hiệnkhông đúng nghĩa vụ theo thoả thuận trong HĐTD mà hai bên đã ký kết Các quyđịnh về thế chấp tài sản được quy định từ điều 342 đến điều 357 BLDS 2005, cụ thểhơn tại các điều từ điều 20 đến điều 28 NĐ 163

Bảo lãnh trong HĐTD là việc người thứ ba cam kết với TCTD sẽ thực hiệnnghĩa vụ thay cho bên vay là người có nghĩa vụ nếu đến thời hạn hoàn trả cả gốc lẫn

Trang 27

lãi khoản vay mà bên vay không thực hiện, thực hiện không đúng nghĩa vụ hoặckhông có khả năng thực hiện nghĩa vụ.

Các quy định về bảo lãnh được quy định từ điều 361 đến điều 371 BLDS

2005 và cụ thể hơn tại các điều từ điều 41 đến điều 48 NĐ 163

Hiện nay, các TCTD cũng thực hiện việc bảo lãnh như một dịch vụ vớikhách hàng có yêu cầu thông qua hoạt động bảo lãnh ngân hàng

“Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng với bên

có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay.” ( khoản 12 điều 20 Luật các TCTD)

Quyền và nghĩa vụ của TCTD thực hiện bảo lãnh và người được bảo lãnhđược quy định tại các điều 59 và 60 Luật các TCTD

 Tín chấp

Tín chấp là biện pháp bảo đảm được pháp luật quy định để tạo cơ sở pháp lýcho việc thực hiện chủ trương xóa đói, giảm nghèo Thông qua biện pháp tín chấp,các tổ chức chính trị, xã hội có thể bảo lãnh cho cá nhân và hộ gia đình nghèo vaymột khoản tiền nhỏ tại ngân hàng hoặc TCTD để sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụtheo quy định của chính phủ Tuy nhiên để đảm bảo cho bên vay có thể thu hồiđược vốn, biện pháp tín chấp được pháp luật quy định chặt chẽ hơn rất nhiều so vớibiện pháp bảo lãnh thông thường

Điều 373 BLDS quy định: “Việc cho vay có bảo đảm bằng tín chấp phải

được lập thành văn bản, trong đó phải ghi rõ số tiền vay, mục đích vay, thời hạn vay, lãi suất, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người vay, ngân hàng, tổ chức tín dụng cho vay và tổ chức bảo đảm” Như vậy, khác với việc vay vốn thông thường,

trong vay vốn có đảm bảo bằng tín chấp người vay phải xác định rõ mục đích sửdụng vốn và theo đó người cho vay có quyền kiểm soát việc sử dụng vốn vay củangười vay

3.3 HĐTD vô hiệu và hậu quả pháp lý của sự vô hiệu

Trong khoa học pháp lý cũng như trong pháp luật về hợp đồng, người ta thừanhận một nguyên tắc có tính tổng quát là HĐTD sẽ vô hiệu tuyệt đối hoặc vô hiệutương đối khi giao dịch đó không thỏa mãn đầy đủ điều kiện có hiệu lực do luậtđịnh Do mức độ vi phạm điều kiện có hiệu lực có thể khác nhau nên sự vô hiệu củaHĐTD cũng cần phải được xem xét ở mức độ khác nhau để từ đó xác định mức đối

xử của nhà nước đối với từng trường hợp vô hiệu cụ thể

Trang 28

- HĐTD bị coi là vô hiệu tuyệt đối khi mục đích, hình thức và nội dung củahợp đồng vi phạm các điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội hoặc làm phươnghại đến lợi ích chung (điều 128 BLDS) Khi đó, không chỉ các bên ký kết hợp đồng

mà bất kì ai quan tâm đều có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố HĐTD vô hiệu và thờihạn thực hiện quyền yêu cầu này là không hạn chế Hậu quả pháp lý cho sự vô hiệutrong trường hợp này là:

“1 Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

2 Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được

bị tịch thu theo quy định của pháp luật Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.” 3

Đối với trường hợp hợp đồng bị vô hiệu tuyệt đối, các bên không có cơ hộikhắc phục các thiếu sót để làm cho hợp đồng có hiệu lực trở lại

- HĐTD bị coi là vô hiệu tương đối khi hợp đồng được ký kết không có sự tựnguyện và đồng thuận giữa các bên ký kết, hoặc chủ thể tham gia HĐTD không cónăng lực hành vi dân sự, hoặc do không tuân thủ đúng về hình thức Trong trườnghợp này, việc ký kết HĐTD chỉ làm phương hại đến lợi ích riêng của các bên chứkhông vi phạm các điều cấm của pháp luật và cũng không làm phương hại đến lợiích công cộng hay lợi ích công Vì vậy, trong trường hợp này, nhà nước phải tôntrọng quyền tự định đoạt của các bên, chỉ tuyên bố hợp đồng vô hiệu khi có yêu cầucủa các bên hoặc của một bên có quyền lợi bị phương hại, hoặc tạo cơ hội cho cácbên tự khắc phục các vi phạm dẫn đến nguy cơ hợp đồng vô hiệu Chỉ khi nào hếtthời hạn cho phép để khắc phục các vi phạm đó mà các bên không thể khắc phụcđược thì khi đó tòa án mới chính thức tuyên bố HĐTD bị vô hiệu theo yêu cầu củabên có quyền lợi bị phương hại Về nguyên tắc, chỉ bên không có lỗi hoặc bên cóquyền lợi bị vi phạm mới có quyền đưa ra yêu cầu tòa án tuyên bố HĐTD vô hiệu,còn bên có lỗi trong việc tạo ra nguy cơ vô hiệu của HĐTD thì không có quyền đó.Quy định này giúp tránh nguy cơ trục lợi của một bên từ việc ký kết và thực hiệnHĐTD Theo quy định hiện hành, thời hạn thực hiện quyền yêu cầu đối với trườnghợp vô hiệu tương đối của giao dịch dân sự là hai năm, kể từ ngày giao dịch dân sựđược xác lập (theo khoản 1 điều 136 BLDS 2005) Sau khi tòa án đã tuyên bốHĐTD vô hiệu theo yêu cầu của các bên, hậu quả pháp lý xảy ra cũng giống như

Trang 29

đối với HĐTD bị vô hiệu tuyệt đối Ngoài ra, trong quá trình cầm giữ tài sản nếungười cầm giữ có hành vi gây thiệt hại cho tài sản với một lỗi xác định thì họ phải

có trách nhiệm bồi thường toàn bộ các thiệt hại vật chất đã xảy ra với bên bị thiệthại Trong trường hợp HĐTD bị vô hiệu mà những thiệt hại xảy ra cho mỗi bên đềubắt nguồn từ lỗi của người cầm giữ tài sản thì chính họ sẽ phải tự gánh chịu lấy cáchậu quả thiệt hại đó chứ không thể yêu cầu bên kia bồi thường

Khác với trong HĐTD bị coi là vô hiệu tuyệt đối, trong trường hợp HĐTD

vô hiệu tương đối, các bên hoàn toàn có khả năng khắc phục những nguyên nhânlàm cho hợp đồng vô hiệu

3.4 Trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTD và việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD

Bên cho vay trong hợp đồng tín dụng chỉ có thể đòi tiền bên vay sau một thờihạn nhất định nên thường dẫn tới rủi ro và bất trắc, chẳng hạn như việc người vaykhông thanh toán hoặc thanh toán không đúng hạn như đã thoả thuận Vì thế mànhững tranh chấp từ hợp đồng tín dụng cũng thường xảy ra

 Trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTD

- Khái niệm vi phạm HĐTD: Vi phạm HĐTD là hành vi một bên hoặc của cảhai bên tham gia hợp đồng, cố ý hoặc vô ý làm trái các điều khoản đã cam kết trongHĐTD Những vi phạm HĐTD thường xảy ra là những vi phạm về thời hạn hoàntrả tiền vay, vi phạm về thanh toán lãi suất quá hạn, vi phạm do không thực hiệnđúng quy định về hợp đồng bảo đảm… trong đó vi phạm về thời hạn hoàn trả tiềnvay là phổ biến nhất Về lý thuyết, một hành vi được coi là vi phạm HĐTD khi thoảmãn các điều kiện sau:

+ Người thực hiện hành vi phải là các bên tham gia HĐTD, bao gồm bên vay

và bên cho vay

+ Hành vi đó trái với các điều khoản đã cam kết trong HĐTD Để chứngminh một hành vi rõ ràng là trái với cam kết trong HĐTD, bên có quyền lợi bị xâmhại phải dẫn chứng được về sự tồn tại một cam kết của người thực hiện hành vi,đồng thời phải chứng minh được rằng người đó đã thực hiện không đúng cam kếtcủa chính họ trong HĐTD

+ Bên thực hiện hành vi có một lỗi xác định là cố ý hoặc vô ý

+ Hành vi đó nhằm xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của bên đối ước,của các tổ chức và cá nhân khác, hoặc xâm phạm tới lợi ích chung của xã hội

Trang 30

- Trách nhiệm pháp lý của các bên do vi phạm HĐTD là hậu quả pháp lý màbên vi phạm phải gánh chịu khi vi phạm HĐTD.

Khi HĐTD được ký kết, các bên tham gia có nghĩa vụ phải thực hiện đúng

và đầy đủ các điều khoản đã cam kết Việc một trong các bên vi phạm hợp đồng cóthể sẽ gây ảnh hưởng thiệt hại đến lợi ích của bên kia Vì vậy, về nguyên tắc, mọihành vi vi phạm HĐTD đều phải chịu trách nhiệm pháp lý Mức độ, tính chất vàloại trách nhiệm pháp lý có thể là khác nhau, tùy thuộc vào hậu quả xảy ra bởi hành

vi đó như thế nào Trên phương diện lý thuyết, có hai loại trách nhiệm pháp lý phátsinh do việc vi phạm HĐTD đó là:

+ Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm HĐTD

Loại trách nhiệm này chỉ được áp dụng đối với bên vi phạm khi bên bị viphạm chứng minh được rằng bên vi phạm đã gây ra cho mình thiệt hại vật chất thực

tế và xác định và do hành vi có lỗi của bên vi phạm gây ra khi thực hiện HĐTD Vềnguyên tắc, số tiền bồi thường thiệt hại này có thể được xác định bởi ý chí của cácbên tham gia hợp đồng nếu các bên giải quyết thông qua thương lượng, hòa giải,hoặc bởi một phán quyết đã có hiệu lực pháp luật của cơ quan tài phán có thẩmquyền nếu thông qua con đường tài phán

 Tranh chấp phát sinh từ HĐTD và cơ chế giải quyết tranh chấp

Tranh chấp phát sinh từ HĐTD là tình trạng pháp lý của quan hệ HĐTD,trong đó các bên xảy ra xung đột hay bất đồng ý chí với nhau về quyền và nghĩa vụhoặc lợi ích phát sinh từ HĐTD Một HĐTD chỉ được coi là có tranh chấp khi sựxung đột, bất đồng giữa các bên đã được thể hiện ra bên ngoài (mặt khách quan)thông qua các bằng chứng cụ thể và xác định được Vì thế, không phải bất cứ khinào có vi phạm hợp đồng thì khi đó có tranh chấp Thậm chí có trường hợp có sự viphạm HĐTD nhưng không hề có tranh chấp bởi các bên không hề bày tỏ ra bênngoài sự bất đồng hay xung đột lợi ích giữa họ với nhau bằng các hành vi phảnkháng cụ thể có giá trị chứng cứ Trong thực tiễn, việc xác định chính xác thời điểmphát sinh tranh chấp sẽ có tác dụng rất lớn trong việc xác định thời hiệu khởi kiện,

Trang 31

cũng như trong việc lựa chọn phương án giải quyết tranh chấp thực sự đúng đắn vàphù hợp với pháp luật, trên cơ sở đó đảm bảo lợi ích của Nhà Nước, tổ chức và cánhân trong xã hội.

Ngày nay, tùy thuộc vào quan điểm tư tưởng của nhà làm luật mà luật phápmỗi nước có những quy định rất khác nhau về vấn đề giải quyết tranh chấp phátsinh từ HĐTD Theo pháp luật Việt Nam thì các tranh chấp phát sinh từ HĐTD sẽđược giải quyết bằng con đường tự thương lượng giữa các bên tranh chấp; hòa giảigiữa thông quá trung gian hoặc giải quyết bằng cơ chế tài phán

Giải quyết tranh chấp HĐTD bằng cơ chế thương lượng hoặc hòa giải quatrung gian

Theo quy định của pháp luật, khi giải quyết tranh chấp HĐTD, trước hết cácbên có quyền tự thương lượng với nhau về những mâu thuẫn, xung đột hay bất đồngnhằm tiến tới sự dung hòa về lợi ích của hai bên Trong trường hợp việc thươnglượng này không đạt được kết quả, các bên có thể lựa chọn giải pháp hòa giải vớinhau thông qua trung gian hòa giải Việc quy định các cơ chế này nhằm tôn trọngquyền tự định đoạt của các bên, không những vậy còn giúp cho các bên tránh đượcnhững chi phí không cần thiết nếu phải kiện trước tòa Tuy nhiên, nếu các bênkhông thể tự giải quyết được tranh chấp của mình bằng con đường thương lượnghoặc hòa giải thì họ có quyền đưa tranh chấp đó ra xét xử tại một cơ quan tài phán

có thẩm quyền theo quy định của pháp luật

Giải quyết tranh chấp HĐTD bằng cơ chế tài phán

Việc giải quyết tranh chấp phát sinh HĐTD bằng con đường tài phán đượcxem là giải pháp cuối cùng để phân định quyền lợi giữa các bên theo quy định củaluật tố tụng Trên thực tế, luật tố tụng ở mỗi quốc gia có sự khác biệt trong việc quyđịnh thẩm quyền và thủ tục giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD Ở Việt Nam,theo quy định tại điều 29 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2004, các tranh chấp về kinhdoanh, thương mại, trong đó có tranh chấp về HĐTD sẽ thuộc thẩm quyền giảiquyết của tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự Ngoài ra, theo Pháp lệnh trọng tàithương mại 2003, nếu trong HĐTD các bên có thỏa thuận về việc lựa chọn cơ quantài phán là trọng tài thương mại thì tranh chấp này sẽ được giải quyết tại trọng tàithương mại theo thủ tục tố tụng trọng tài, theo quy định tại khoản 1 điều 3 Pháp

lệnh trọng tài thương mại: “ 1 Tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài, nếu

trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp các bên có thoả thuận trọng tài”.

CHƯƠNG II

Trang 32

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HĐTD ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG LÀ CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐÔNG NAM Á CHI

NHÁNH BA ĐÌNH

1 Giới thiệu chung về ngân hàng TMCP ĐNA và chi nhánh Ba Đình

Tên đầy đủ bằng tiếng Việt: Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam ÁTên viết tắt bằng tiếng Việt: NHTMCP Đông Nam Á

Tên đầy đủ bằng tiếng Anh: Southeast Asian Commercial Joint Stock BankTên viết tắt bằng tiếng Anh: SeABank

Trụ sở chính đặt tại: 25 Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Ngân hàng TMCP ĐNA (SeABank) được thành lập dưới hình thức công ty

cổ phần, được thành lập và hoạt động tại Việt Nam theo Giấy phép hoạt động số0051/QĐ/NH-GP ngày 25 tháng 3 năm 1994 của Thống đốc NHNN Việt Nam

SeABank có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật Việt Nam, cócon dấu riêng và tài khoản riêng mở tại NHNN, các ngân hàng trong nước và cácngân hàng nước ngoài theo quy định của NHNN Thời hạn hoạt động của ngân hàng

là 99 năm kể từ ngày được NHNN cấp Giấy phép lao động

1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Được thành lập năm 1994, SeABank là một trong những ngân hàng TMCP

có mặt sớm nhất tại Việt Nam Trải qua 16 năm hoạt động từ một ngân hàng TMCP

nhỏ có trụ sở tại Hải Phòng, SeABank đã có sự phát triển liên tục về vốn và quy mô

hoạt động, hiện tại đang nằm trong Top 10 ngân hàng TMCP lớn nhất Việt Nam

Năm 2005 là cột mốc quan trọng trong lịch sử phát triển của ngân hàng, đánhdấu bằng việc dịch chuyển Hội sở chính từ Hải Phòng về 16 Láng Hạ, Ba Đình, HàNội cùng với việc lập thêm các chi nhánh Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Ba Đình,…chứng tỏ SeABank đã nắm bắt xu hướng chung, từng bước hoàn thiện quy mô hoạtđộng của mình

Bằng sự nỗ lực đổi mới và phát triển mạnh mẽ, SeABank đã vượt qua nhữngthách thức để khẳng định vị thế của mình Năm 2006 đã đánh dấu bước tiến vượt

Trang 33

bậc của ngân hàng trên mọi lĩnh vực hoạt động Đến nay ngân hàng đã có hơn 30điểm giao dịch tại các thành phố và trung tâm kinh tế lớn như: Hà Nội, Hải Phòng,Quảng Ninh, TP Hồ Chí Minh,…Ngoài ra, SeABank đã triển khai thành công quátrình hiện đại hóa công nghệ khi đưa phần mềm quản trị ngân hàng T24 của hãngTemenos Thụy Sĩ vào khai thác, sử dụng và cho ra đời hàng loạt sản phẩm, dịch vụmới, hiện đại và ưu việt, có tính cạnh tranh cao trên thị trường.

Trong năm 2007 SeABank cũng giành được những thành tựu đáng chú ý khicùng lúc triển khai thành công giai đoạn đầu phần mềm T24 Temenos và thànhcông trong việc hợp tác với hai đối tác chiến lược là Tổng Công ty Thông tin Diđộng (VMS - MobiFone) thuộc Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam và TổngCông ty Khí Việt Nam (PV Gas) thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam Ngoài ra, cácchỉ số kinh doanh của SeABank đều có tốc độ tăng ấn tượng, SeABank luôn đượcđánh giá là một trong những ngân hàng phát triển nhanh và ổn định nhất Việt Nam,bốn năm liên tiếp được ngân hàng nhà nước xếp hạng loại A Hiện tại SeABank đã

có gần 50 điểm giao dịch tại các khu vực kinh tế trọng điểm trên cả nước Các thànhtích phát triển vượt bậc của SeABank đã được ghi nhận qua các giải thưởng CầuVàng 2007, giải Top Trade Services 2007,…Tháng 12/2007, SeABank tăng vốnđiều lệ lên 3000 tỷ đồng và trở thành một trong ba ngân hàng TMCP có vốn điều lệlớn nhất Việt Nam

Những thành tựu nổi bật của SeABank trong năm 2008 có thể kể đến việcgiữ vững đà tăng trưởng ổn định và hợp tác chiến lược với một trong những tậpđoàn tài chính ngân hàng lớn nhất tại Châu Âu – Société Générale Việc SociétéGénérale lựa chọn SeABank là đối tác đầu tư đầu tiên trong lĩnh vực ngân hàng bán

lẻ tại khu vực Châu Á và trở thành đối tác chiến lược nước ngoài đã thể hiện rõ nét

uy tín và khẳng định tiềm năng của SeABank Cũng trong năm 2008, SeABank đãtăng vốn điều lệ lên 4.068 tỷ đồng, trở thành một trong sáu ngân hàng TMCP cóvốn điều lệ lớn nhất Việt Nam; mở thêm 28 điểm giao dịch tại nhiều địa bàn mớinhư: Cần Thơ, Hải Dương, Bình Dương,…nâng tổng số điểm giao dịch của ngânhàng lên gần 70 điểm trên toàn quốc Cuối quý I/2008 SeABank đã chính thức pháthành thẻ ghi nợ nội địa S24+ và triển khai các hình thức thẻ liên kết, thẻ trả trước…Đến hết tháng 12/2008 SeABank đã phát hành được 15.359 thẻ S24+ cho các kháchhàng và triển khai lắp đặt gần 30 máy ATM ngân hàng TMCP ĐNA tại nhiều tỉnhthành trên cả nước

Tháng 12/2008 SeABank đã được ngân hàng nhà nước Việt Nam chấp thuận

Trang 34

cho phép thành lập Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản SeABank– SeABankAMC, nhằm phục vụ nhu cầu quản lý nợ và khai thác tài sản của ngân hàng, đảmbảo kinh doanh an toàn và bền vững, phục vụ nhu cầu xử lý nợ và tài sản tồn đọngcủa các doanh nghiệp khác, và cũng góp phần giúp cho nguồn vốn trong nền kinh tếlưu chuyển minh bạch và thông thoáng hơn

1.2 Phạm vi kinh doanh và hoạt động

SeABank tiến hành tất cả các hoạt động kinh doanh theo giấy phép thành lập

và hoạt động do NHNN cấp, Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và Điều lệ phùhợp với quy định của pháp luật SeABank cũng có thể tiến hành hoạt động kinhdoanh trong các lĩnh vực khác được pháp luật cho phép và được Đại hội đồng cổđông hoặc HĐQT phê chuẩn

Hoạt động chính của SeABank là kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ ngânhàng theo quy định của pháp luật Các lĩnh vực kinh doanh của SeABank bao gồm:

- Vay vốn của các TCTD khác hoạt động tại Việt Nam và của TCTD nướcngoài

- Vay vốn ngắn hạn của NHNN dưới hình thức tái cấp vốn

- Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của NHNN

- Cho thuê tài chính;

- Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác;

Trang 35

- Các hình thức cấp tín dụng khác.

Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ

Ngân hàng thực hiện các dịch vụ thanh toán và ngân quỹ:

- Cung ứng các phương tiện thanh toán

- Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khác hàng

- Thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ

- Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của NHNN

- Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép

- Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng

Ngân hàng tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanhtoán liên ngân hàng trong nước Tham gia các hệ thống thanh toán quốc tế khi đượcNHNN cho phép

Công ty cho thuê tài chính

Ngân hàng phải thành lập Công ty cho thuê tài chính khi hoạt động cho thuêtài chính

Tài khoản tiền gửi của Ngân hàng

- Ngân hàng mở tài khoản tiền gửi tại NHNN (Sở giao dịch hoặc chi nhánhNHNN tỉnh, thành phố) nơi ngân hàng đặt trụ sở chính và duy trì tại đó số dư tiềngửi dự trữ bắt buộc theo quy định của NHNN;

- Chi nhánh của ngân hàng mở tài khoản tiền gửi tại chi nhánh NHNN tỉnh,thành phố, nơi đặt trụ sở của sở giao dịch, chi nhánh

- Ngân hàng mở tài khoản cho khác hàng trong nước và ngoài nước theo quyđịnh của pháp luật

Các hoạt động khác

SeABank được thực hiện các hoạt động khác sau đây:

- Dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp

và của các TCTD khác theo quy định của pháp luật

- Góp vốn với TCTD nước ngoài để thành lập tổ chức tín dụng liên doanh tạiViệt Nam theo quy định của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của TCTD nướcngoài tại Việt Nam

- Tham gia thị trường tiền tệ theo quy định của NHNN

- Kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường trong nước và thị trường quốc

tế khi được NHNN cho phép

Trang 36

- Được quyền uỷ thác, nhận uỷ thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên quanđến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của tổ chức, cánhân trong và ngoài nước theo hợp đông uỷ thác và đại lý.

- Cung ứng dịch vụ bảo hiểm; được thành lập công ty trực thuộc hoặc liêndoanh để kinh doanh bảo hiểm theo quy định của pháp luật

- Cung ứng các dịch vụ:

+ Tư vấn tài chính và tiền tệ trực tiếp cho khách hàng hoặc qua các công tytrực thuộc được thành lập theo quy định của pháp luật

+ Bảo quản tài sản có giá trị và các giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, nhận cầm

cố và các dịch vụ khác theo quy định của luật pháp

- Thành lập các công ty trực thuộc để thực hiện các hoạt động kinh doanh cóliên quan tới hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật

Bất động sản

SeABank không được phép trực tiếp kinh doanh bất động sản

Các hoạt động của SeABank hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật

về hoạt động của các TCTD nói chung được quy định cụ thể trong chương III Luậtcác TCTD và quy định về tổ chức hoạt động của ngân hàng TMCP đô thị củaNHNN

1.3 Cơ cấu tổ chức

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức hiện nay của ngân hàng TMCP ĐNA

Trang 37

HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ BAN KIỂM SOÁT

Trung tâm Giải pháp tự động

Trung tâm KD Tiền tệ Đầu tư

Phòng kiểm soát nội bộ

Phòng tái thẩm định

Phòng kế toán tài chính

Trung tâm thanh toán

Phòng thanh toán trong nước

Phòng thanh toán quốc tế

Phòng Hành chính

Trung tâm sản phẩm

và thị trường

Phòng phát triển khách hàng

Phòng nghiên cứu

và phát triển thị trường

Phòng phát triển mạng lưới

và dịch vụ

Phòng phát triển sản phẩm

Phòng quan hệ công chúng

Trang 38

1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh trong những năm gần đây của ngân hàng TMCP ĐNA

Hoạt động huy động vốn

SeABank luôn xác định huy động vốn là khâu mở đường, là cơ sở đảm bảocho hoạt động kinh doanh của ngân hàng phát triển, huy động để cho vay cả ViệtNam đồng và ngoại tệ Huy động vốn là bước khởi đầu quan trọng nhất để có đượchoạt động tiếp theo trong hoạt động cho vay Với việc đa dạng hóa các sản phẩmcho vay, trong những năm vừa qua, doanh số huy động vốn từ mọi thành phần kinh

tế trong xã hội của SeABank đã tăng lên đáng kể

Bảng 2.1: Kết quả kinh doanh về công tác nguồn vốn phân theo thành phần kinh tế năm 2005 – 2008

Đơn vị: tỷ đồng

2005

Năm 2006(%2006/2005)

Năm 2007(%2007/2006)

Năm 2008(%2008/2007)Tổng nguồn vốn 5.117 8.346 (↑ 63%) 20.249(↑143%) 22.474(↑11%)

- Tiền gửi của các tổ

chức kinh tế và dân cư 2.312 3.512 (↑ 51%) 9.505 (↑ 171%)

5.744 ( 11%)

- Tiền gửi từ các TCTD 2.805 4.834 (↑ 72%) 10.744(↑122%) 16.730(↑ 56%)

(Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2005 – 2008 của SeABank)Trong năm 2006, SeABank đã có những bước tiến lớn trong việc huy độngvốn từ các TCTD trong nước, doanh nghiệp và cá nhân Tổng nguồn vốn huy độngtăng theo từng năm Đến năm 2008, tổng nguồn vốn huy động đạt giá trị là 22.474

tỷ đồng, tăng 11% so với năm 2007, trong đó 5.744 tỷ đồng huy động từ các tổ chứckinh tế và dân cư, giảm 11% so với năm 2007 và 16.730 tỷ đồng là từ các TCTDtăng 56% so với năm 2007

Hoạt động cho vay

Bảng 2.2: Hoạt động tín dụng trong năm 2005-2008

Đơn vị: tỷ đồng

2005

Năm 2006(%2006/2005)

Năm 2007(%2007/2006)

Năm 2008(%2008/2007)

Dư nợ tín dụng 1.349 3.363 (↑ 149%) 11.041 (↑ 228%) 7.585(313%)Doanh số cho vay 1.350 4.102 (↑ 204%) 34.452 (↑740%) 49.585 (↑44%)

- Ngắn hạn 624 2.100 (↑ 237%) 24.920(↑1087%) 35.447(↑42%)

- Trung và dài hạn 726 2.002 (↑ 176%) 9.532 (↑ 376%) 14.138(↑ 48%)

Trang 39

Hoạt động tín dụng là một trong những khâu quan trọng góp phần vào sựthành công của SeABank thời gian qua.Trong năm 2007, đối tượng khách hàng màSeABank hướng tới trong hoạt động tín dụng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cáckhách hàng cá nhân Tính đến 31/12/2007, tổng dư nợ của SeABank là hơn 11.041

tỉ đồng, tăng 228% so với tổng dư nợ năm 2006 và đạt 106% kế hoạch năm 2007.Năm 2008, tổng dư nợ của SeABank đã giảm 3.456 tỷ đồng tức là 313% so với năm

2007 Đó là do gặp khó khăn trong quá trình huy động vốn, thiếu nguồn vốn ViệtNam đồng để cho vay và phải tập trung đảm bảo thanh khoản, lãi suất cho vay bịđẩy lên cao vì vậy khách hàng vay cũng giảm dần và SeABank có chiến lược chọnlọc khách hàng

Các hoạt động khác:

Ngoài hoạt động truyền thống là nhận tiền gửi và cho vay, hiện nay các ngânhàng thương mại không ngừng gia tăng các hoạt động dịch vụ ngân hàng với mứcthu chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng thu nhập của ngân hàng Với mục tiêutrở thành ngân hàng bán lẻ đa năng và hiện đại, SeABank đã từng bước ứng dụngcác thành tự của khoa học- công nghệ hiện đại cùng với sự phát triển của các loạihình dịch vụ đa dạng, phong phú đáp ứng đòi hỏi của nền kinh tế thị trường kinhhoạt và năng động

Hoạt động thẻ

Đến nay SeABank đã phát hành 02 loại thẻ bao gồm: Thẻ ghi nợ nội địaS24+ và thẻ trả trước Đến cuối năm 2008, SeABank đã phát hành được 17.859 thẻcho khách hàng trong đó có 15.309 thẻ ghi nợ S24+ và 2.550 thẻ trả trước

Trong năm 2008, SeABank đã triển khai lắp đặt gần 30 máy ATM trên toànquốc Bên cạnh đó, SeABank còn là thành viên của liên minh thẻ lớn nhất Việt Nam

là SmartLink & Banknet VN, đồng nghĩa với việc thẻ của SeABank có thể giao dịchtại hàng ngàn máy ATM, POS của các ngân hàng trong liên minh này trên cả nước

Hoạt động thanh toán quốc tế

Trong bối cảnh kinh tế khó khăn năm 2008, hoạt động xuất nhập khẩu củacác doanh nghiệp chịu ảnh hưởng không nhỏ nhưng doanh số thanh toán quốc tếcủa SeABank so với năm 2007 vẫn đạt gần 402 triệu USD, tăng 64% và doanh thuphí đạt gần 1 triệu USD, tăng 132%; tổng doanh số chuyển tiền qua SeABank đạt

237 triệu USD, tăng gấp 4 lần; tỷ lệ điện chuẩn của SeABank đạt tới 95%

Xác định Trung Quốc là thị trường tiềm năng cho hoạt động thanh toán quốc

tế, quý I/2008, SeABank đã ký thỏa thuận hợp tác thanh toán quốc tế với ngân hàng

Trang 40

Bank of China – chi nhánh Hồ Chí Minh nhờ đó, các điện chuyển tiền sang TrungQuốc được xử lý nhanh hơn, tốn ít chi phí, mang lại hiệu quả kinh tế cho kháchhàng Bên cạnh đó, ngân hàng cũng ký hơp đồng với Western Union, qua đó kháchhàng có thể chuyển tiền tới bất kỳ đâu với thủ tục nhanh chóng và thuân tiện Đặcbiệt, SeABank đã được NHNN Việt Nam cho phép cung ứng các dịch vụ ngoại hối,

mở đầu cho bước phát triển mới về hoạt động chuyển tiền và thanh toán quốc tế củangân hàng

Hoạt động hỗ trợ kinh doanh

- Phát triển mạng lưới: thực hiện chiến lược phát triển dịch vụ ngân hàng bán

lẻ, việc mở rộng mạng lưới hoạt động các chi nhánh, phòng giao dịch ở những khuvực kinh tế năng động trên toàn quốc là chiến lược ưu tiên phát triển của SeABank.Trong năm 2008, ngân hàng đã mở thêm 28 điểm giao dịch, nâng tổng số điểm giaolên gần 70 điểm trên toàn quốc Đồng thời, ngân hàng cũng đầu tư vào các kênhdịch vụ khách hàng điện tử khác như hệ thống ATM, các dịch vụ ngân hàng điện tửnhư SeANet, SMS Banking…

- Ứng dụng Công nghệ: SeABank tự hào là ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam

tích hợp thành công 2 phần mềm ngân hàng hiện đại T24 Temenos và phần mềmchuyển mạch công nghệ thẻ Way4 để cho ra đời các sản phẩm thẻ an toàn, đa tínhnăng, đa tiện ích

- Phát triển nguồn nhân lực: SeABank đặc biệt chú trọng đến việc xây dựng

nguồn nhân lực có chất lượng và hiệu quả Ngân hàng luôn áp dụng hệ thống chínhsách nhân sự linh hoạt, chế độ đãi ngộ và phúc lợi thỏa đáng, công bằng, đảm bảotính cạnh tranh và cầu tiến, đồng thời cũng xây dựng một môi trường làm việcchuyên nghiệp, tạo mọi điều kiện tốt nhất để mỗi cá nhân hoàn thiện kỹ năngchuyên môn và có một lộ trình thăng tiến thỏa đáng Cùng với việc gia tăng về sốlượng và chất lượng nhân sự, đào tạo để không ngừng phát triển là một chính sáchđược coi trọng tại SeABank Do đó, đầu năm 2008, Trung tâm Đào tạo SeABank đãđược thành lập với cơ sở hạ tầng hiện đại, chuyên nghiệp

- Phát triển thương hiệu: Một trong những hoạt động phát triển thương hiệu

nổi bật là việc phát hành Chuyên trang SeABank định kỳ trên Tạp chí Nhà Quản

Lý Cùng với Chuyên trang này là hoạt động truyền thông thương hiệu và thông tin

về hoạt động trên các phương tiện thông tin đại chúng Không chỉ có các hoạt độngquảng bá thương hiệu, năm 2008 SeABank đã tham gia tài trợ nhiều sự kiện lớntrong nước và quốc tế có ý nghĩa như Hội nghị Asian Banker 2008, Hội nghị

Ngày đăng: 03/05/2016, 15:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Website của NHNN http://www.sbv.gov.vn Link
11. Website báo điện tử đài tiếng nói việt nam http://vovnews.vn/ Link
12. Website báo điện tử TW hội khuyến học Việt Nam http://dantri.com.vn Link
13. Website http://vietlaw.gov.vn/LAWNET/ Link
14. Website http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/ Link
15. Website http://luattaichinh.wordpress.com/ Link
2. Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam 1997 (sửa đổi bổ sung năm 2003) Khác
3. Luật các tổ chức tín dụng 1997 (sửa đổi bổ sung năm 2004) Khác
4. Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dung đối với khách hàng ngày 31/12/2001 Khác
7. Nghị định 163/2006/NĐ-CP - Nghị định về giao dịch bảo đảm ban hành ngày 29/12/2006 Khác
8. Nghị định 178/1999/NĐ-CP về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng ngày 29/12/1999.II/ Các tài liệu khác Khác
1. Trường đại học luật Hà Nội, giáo trình luật ngân hàng Việt Nam, nhà xuất bản công an nhân dân năm 2005 Khác
2. Trường đại học luật Hà Nội, giáo trình Luật dân sự II, nhà xuất bản công an nhân dân năm 2005 Khác
3. PGS.TS Nguyễn Thị Mùi, quản trị ngân hàng thương mại, nhà xuất bản Tài chính năm 2006 Khác
4. PGS.TS Lê Văn Tề, tín dụng ngân hàng, nhà xuất bản giao thông vận tải Khác
5. PGS.TS Nguyễn Văn Tiến, trọng tài viên trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam, phó chủ nhiệm khoa ngân hàng, học viện ngân hàng, giáo trình ngân hàng thương mại Khác
6. Quyết định 502/2007/QĐ-HĐQT ngày 12/11/2007 về việc ban hành Quy chế cho vay của SeABank đối với khách hàng Khác
7. Quyết định 1908/2008/QĐ-TGĐ ngày 11/6/2008 ban hành Quy trình kiểm tra, giám sát vốn vay của SeABank Khác
8. Báo cáo thường niên các năm từ 2005-2008 của SeABank Khác
9. Tạp chí thời đại mới số 17 tháng 11/2009 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Kết quả kinh doanh về công tác nguồn vốn  phân theo thành phần kinh tế năm 2005 – 2008 - Chế độ pháp lý về hoạt động tín dụng và thực tiễn áp dụng tại ngân hàng TMCP đông nam á chi nhánh ba đình
Bảng 2.1 Kết quả kinh doanh về công tác nguồn vốn phân theo thành phần kinh tế năm 2005 – 2008 (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w