Quản lý rủi ro tín dụng là một trong những mục tiêu cơ bản trong quá trình thực hiện đề án cơ cấu lại một cách toàn diện và nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng Việt Nam trước yêu cầu mở cửa thị trường tài chính dịch vụ theo các cam kết quốc tế của Việt Nam
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam phát triển khá nhanh kể từ sau khi thực hiện chính sách
mở cửa 1986 Và trong những năm gần đây tốc độ tăng trưởng của tất cả các lĩnh vựcđều cao Do sự tất yếu của quá trình Quốc tế hóa, toàn cầu hóa nên nước ta khôngngừng mở của hội nhập kinh tế Thế giới Đặc biệt, năm 2006 Việt Nam gia nhậpWTO, đó vừa là cơ hội, cũng là thách thức lớn đối với nước ta
Một trong những khó khăn quan trọng là sự cạnh tranh khốc liệt của các quốcgia từ bên ngoài vào trong tất cả các lĩnh vực Trong đó phải kể đến lĩnh vực tài chính
- ngân hàng, hiện nay hệ thống Ngân hàng ở Việt Nam phát triển khá rộng cả bề dàilẫn bề sâu Trong những năm vừa qua, lợi nhuận của hệ thống ngân hàng thương mạiViệt Nam liên tục gia tăng, tuy nhiên song hành cùng với những khoản lợi nhuận đóluôn tiềm tàng những rủi ro rất lớn
Một trong những rủi ro mang tính truyền thống và đặc trưng của nghành ngânhàng đó là rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng xảy ra kéo theo rất nhiều hậu quả nghiêmtrọng Rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi nhưng làm thế nào để quản lý được nó,hạn chế được nó luôn là câu hỏi lớn luôn được các nhà làm ngân hàng quan tâm
Chính vì vậy, việc đưa ra các biện pháp nhằm hạn chế đến mức thấp nhất cácrủi ro tín dụng, đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng luôn là vấn đề được đặt lênhàng đầu trong hoạt động của mọi ngân hàng
Quản lý rủi ro tín dụng là một trong những mục tiêu cơ bản trong quá trìnhthực hiện đề án cơ cấu lại một cách toàn diện và nâng cao năng lực cạnh tranh của cácngân hàng Việt Nam nói chung và Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng(VPBank) nói riêng trước yêu cầu mở cửa thị trường tài chính dịch vụ theo các camkết quốc tế của Việt Nam Xuất phát từ thực tế hoạt động tín dụng của VPBank, em
xin chọn đề tài: “ Quản lý rủi ro tín dụng tại Phòng giao dịch Trần Xuân Soạn”
Trang 2Chương 1: Quản lý rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại
1.1 Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
1.1.1 Khát quát về Ngân hàng Thương mại
Vào thế kỷ III, các thợ kim hoàn bắt đầu nhận các khoản tiển gửi, tài sản quýcủakhách hàng và thu một khoản phí nhất định
Sang thế kỷ X các thợ kim hoàn nhận thấy không chỉ có thể hưởng các khoảnphí mà họ còn có thể hưởng lợi ích từ việc sử dụng tiền của người này cho người khácvay Lúc này hoạt động của một ngân hàng thực thụ ra đời bao gồm trao đổi ngoại tệ,chiết khấu thương phiếu, nhận tiền gửi, cho vay thương mại, bảo quản vật có giá, tàitrợ cho hoạt động của Chính Phủ (chiến tranh), cung cấp các dịch vụ ủy thác Sang thế
kỷ XVIII hình thành nghiệp vụ phát hành tiền, phát hành CD Để kiểm soát hoạt độngnày Chính Phủ đưa ra các điều luật về phân định các ngân hàng phát hành với cácngân hàng kinh doanh tiền tệ
Thế kỷ XIX, có một loạt các nghiệp vụ khác được phát triển thêm Lúc này đã
có thêm nghiệp vụ cho vay tiêu dùng, bán bảo hiểm, tư vấn tài chính, cung cấp dịch
vụ môi giới đầu tư, dịch vụ quản lý tiền mặt
Cuối thế kỷ XIX các quốc gia không để ngân hàng thực hiện việc phát hànhtiền mà tập trung vào một ngân hàng thống nhất là NHTW Ngân hàng có thể đượcchia làm 2 loại, ngân hàng đầu tư và ngân hàng kinh doanh thông thường
Nếu ngân hàng đồng thời thực hiện cả hoạt động kinh doanh thông thường vàhoạt động đầu tư có thể sẽ làm cho rủi ro của ngân hàng gia tăng Bằng chứng là trongthế kỷ XIX có rất nhiều ngân hàng bị đổ vỡ Những năm 20-30 của thế kỷ XX, cácquốc gia đưa ra các đạo luật phân định hoạt động của Ngân hàng đầu tư với NHTM.Theo đó các Ngân hàng kinh doanh tiền tệ chỉ được thực hiện các nghiệp vụ cơ bản,chỉ có các Ngân hàng đầu tư mới được thực hiện các hoạt động đầu tư, môi giớichứng khoán
Những năm 70, các nghiệp vụ ngân hàng hiện đại mới xuất hiện như thẻ tíndụng, thẻ rút tiền, mạng lưới thanh toán tại điểm bán hàng, Internet Banking, HomeBanking
Những năm 90 một loạt các nghiệp vụ mới ra đời dựa trên sự phát triển củakhoa học - kỹ thuật như ngân hàng ảo, công ty sở hữu ngân hàng (các ngân hàng pháttriển dưới hình thức công ty sở hữu ngân hàng chứ không phải là các ngân hàng đơnthuần
Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam:
Trang 3a Ngân hàng thương mại Quốc doanh (State owned Commercial bank): Làngân hàng thương mại được thành lập bằng 100% vốn ngân sách nhà nước Trongtình hình hiện nay để tăng nguồn vốn và phù hợp với xu thế hội nhập tài chính với thếgiới các ngân hàng thương mại quốc doanh việt nam đang phát hành trái phiếu đểhuy động vốn; đã và đang cổ phần hóa để tăng sức cạnh tranh với các chi nhánh ngânhàng nước ngoài và các ngân hàng cổ phần hiện nay
Thuộc loại này gồm:
– Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (Bank forAgriculture and Rural Development)
– Ngân hàng công thương Việt Nam (Industrial and commercial Bank of vietman –ICBV) gọi tắt là Vietinbank – đã cổ phần hoá)
– Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (Bank for Investement andDevelopment of Viet nam – BIDV)
– Ngân hàng ngoại thương Việt Nam (Bank for Foreign Trade of Viet nam –Vietcombank) đã cổ phần hoá
– Ngân hàng phát triền nhà Đồng bằng sông Cửu Long (Housing Bank ofMekong Delta)
b Ngân hàng thương mại cổ phần (joint Stock Commercial bank): Là ngânhàng thương mại được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần Trong đó một cánhân hay pháp nhân chỉ được sở hữu một số cổ phần nhất định theo qui định của ngânhàng nhà nước Việt Nam
c Ngân hàng liên doanh (thuộc loại hình tổ chức tín dụng liên doanh)
Là Ngân hàng được thành lập bằng vốn liên doanh giữa một bên là ngân hàng thươngmại Việt Nam và bên khác là ngân hàng thương mại nước ngoài có trụ sở đặt tại ViệtNam, hoạt động theo pháp luật ở Việt nam
d Chi nhánh ngân hàng nước ngoài: là ngân hàng được thành lập theo phápluật nước ngoài, được phép mở chi nhánh tại Việt Nam, hoạt động theo pháp luậtViệt Nam
1.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của Ngân hàng thương mại
a Khái niệm
Ngân hàng thương mại(NHTM) là tổ chức kinh doanh tiền tệ tín dụng có vị tríquan trọng nhất trong nền kinh tế thị trường ở các nước Có nhiều khái niệm khácnhau về ngân hàng thương mại:
Ở Mỹ: NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính
và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính
Trang 4Ở Pháp: NHTM là những xí nghiệp và cơ sở nào thường xuyên nhận của côngchúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họvào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính.
Ở Ấn Độ: NHTM là cơ sở nhận các khoản ký thác để cho vay hay tài trợ đầu tư.Theo Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990 của Việt Nam: Ngân hàng thương mại làmột tổ chức kinh doanh tiền tệ mà nghiệp vụ thường xuyên và chủ yếu là nhận tiềngửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, chiếtkhấu và làm phương tiện thanh toán
Theo luật Các tổ chức tín dụng Việt Nam có hiệu lực vào tháng l0/1998: “Ngânhàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và cáchoạt động kinh doanh khác có liên quan”
Nghị định của Chính phủ số 49/20001NĐ-CP ngày 12/9/2000 định nghĩa:
“Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân
hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phầnthực hiện các mục tiêu kinh tế của nhà nước
Pháp lệnh ngân hàng ngày 23/5/1990 của hội đồng Nhà nước Việt Nam xácđịnh: "Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà họat động chủ yếu vàthường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng
số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán"
b Đặc điểm
Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp đặc thù kinh doanh trong
lĩnh vực tiền tệ-tín dụng Các hoạt động của NHTM nhằm thúc đẩy và lưu chuyển cácdòng tiền tệ phục vụ cho việc giao dịch, thanh toán, phát sinh hàng ngày trong nềnkinh tế, đồng thời thông qua các hoạt động huy động vốn và cho vay Các NHTM cókhả năng tạo tiền từ các nghiệp vụ kinh doanh của mình thông qua các công vụ lãisuất tỷ giá Vì vậy, NHTM là một mắt xích quan trọng góp phần ổn định chính sáchtiền tệ quốc gia, đặc biệt là đối với các quốc gia đang chuyển đổi nền kinh tế để thamgia hội nhập khu vực và quốc tế như Việt Nam
NHTM có đặc điểm giống như các DN khác trong nền kinh tế, cũng sử dụngcác yếu tố sản xuất như lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động (tiền vốn) làmyếu tố đầu vào, để sản xuất ra những yếu tố đầu ra dưới hình thức dịch vụ tài chính
mà khách hàng yêu cầu Tuy nhiên, khác với các doanh nghiệp khác, NHTM là loạihình doanh nghiệp đặc biệt, trong hoạt động kinh doanh thể hiện qua các đặc điểmsau:
Trang 5- Thứ nhất: Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính.
Với đặc điểm là một trung gian tài chính, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữangười thừa vốn và người có nhu cầu về vốn Với đặc điểm này, ngân hàng thương mạivừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợinhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạolợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay
Đặc điểm trung gian tài chính được thể hiện qua các yếu tố sau:
+ Vốn: Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng xuất hiện đầu tiên và phổbiến nhất hiện nay Đây là tổ chức nhận tiền gửi (depository institutions) đóng vài trò
là trung gian tài chính huy động tiền nhàn rỗi thông qua các dịch vụ nhận tiền gửi rồicung cấp cho những chủ thể cần vốn chủ yếu dưới hình thức các khoản vay trực tiếp
Hoạt động của NHTM là cầu nối giữa các nhà đầu tư và doanh nghiệp, những
cá nhân có vốn nhàn rỗi và các nhà đầu tư, các doang nghiệp, các cá nhân có nhu cầuvay vốn Các NHTM góp phần không nhỏ vào việc giải quyết nạn thất nghiệp, nângcao thu nhập và mức sống của dân cư cũng như góp phần bảo đảm vốn đối với cácngành kinh tế nhằm phát triển ngành nghề, chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế của mộtquốc gia
Các ngân hàng thương mại huy động vốn chủ yếu dưới dạng: tiền gửi thanhtoán (checkable deposits), tiền gửi tiết kiệm (saving deposits), tiền gửi có kỳ hạn(time deposits) Vốn huy động được dùng để cho vay: cho vay thương mại(commercial loans), cho vay tiêu dùng (consumer loans), cho vay bất động sản(mortage loans) và để mua chứng khoán chính phủ, trái phiếu của chính quyền địaphương
+ Kỳ hạn: một đặc điểm của ngân hàng thương mại đó là các món vay hoặcmón huy động luôn gắn với thời hạn tín dụng và kỳ hạn nợ
Các giới hạn về thời hạn luôn được các nhà quản lý ngân hàng chú ý vì kỳ hạnliên quan đến thanh khoản và rủi ro ngân hàng cũng như chu kỳ kinh doanh của ngườivay Chính sách thời hạn giải quyết mối quan hệ thời hạn của nguồn (chủ yếu là dongười gửi và người cho ngân hàng vay quyết định) và thời hạn tài trợ (xuất phát từyêu cầu của người vay do đặc điểm luân chuyển vốn và quy mô thu nhập quyết định)
Từ đó ngân hàng xác định kỳ hạn nợ cụ thể đảm bảo cân bằng kỳ hạn trung bình
Ngân hàng thường dựa trên kỳ hạn của nguồn để quyết định chính sách kỳ hạncho vay nếu khả năng tìm kiếm nguồn và chuyển hoán kỳ hạn nguồn của ngân hàngkhông cao
Trang 6+ Rủi ro: Ngân hàng nói chung và ngân hàng thương mại nói riêng luôn luônđối đầu với rủi ro như rủi ro tín dụng, rủi ro hối đoái, thanh khoản, rủi ro lãi suất Bởiphần lớn nguồn tiền của Ngân hàng là các khoản tiền gửi phải trả khi có yêu cầu Hoạt động kinh doanh của NHTM là hoạt động chứa nhiều rủi ro, bởi lẽ nó tổnghợp tất cả các rủi ro của khách hàng, đồng thời rủi ro trong hoạt động kinh doanhngân hàng có thể gây ảnh hưởng lớn cho nền kinh tế hơn bất kỳ rủi ro của loại hìnhdoanh nghiệp nào vì tính chất lây lan có thể làm rung chuyển toàn bộ hệt hống kinh
tế Do đó, trong quá trình hoạt động các NHTM phải thường xuyên cảnh giác, nghiêncứu, phân tích, đánh giá, dự báo và có những biện pháp phòng ngừa từ xa có hiệu quả.Ngoài ra, điều này cũng đòi hỏi ngân hàng tự đánh giá được khả năng chịu đựng rủi
ro của mình
+ Thanh toán: với đặc điểm thanh toán, NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho cácdoanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng nhưtrích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhậpvào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theolệnh của họ Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiệnlợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng…Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp.Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặpchủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phươngthức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiếtkiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn
Đặc điểm này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độthanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế Đồng thời việcthanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng đã giảm được lượng tiền mặt trong lưuthông, dẫn đến tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt như chi phí in ấn, đếm nhận, bảoquản,…Ngân hàng thương mại thu phí thanh toán Thêm nữa, nó lại làm tăng nguồnvốn cho vạy của ngân hàng thể hiện trên số dư có trong tài khoản tiền gửi của kháchhàng
+ Thông tin: Thông tin tín dụng là yếu tố không thể thiếu trong quyết định cấp
và quản lý tín dụng bởi quan hệ tín dụng được hình thành chủ yếu dựa vào niềm tin vàniềm tin này được xác lập dựa vào nội dung, chất lượng thông tin có được Ngân hàngcần phải nắm được thông tin phi tài chính (tư cách, uy tín, năng lực quản lý, kinhdoanh, quan hệ xã hội ) và thông tin tài chính (khả năng tài chính, kết quả kinh
Trang 7doanh quá khứ, công nợ, nhu cầu vốn hợp lý, hiệu quả hoạt động SXKD, khả năng trả
đổ vỡ có thể gây ra tổn thất lớn và trên phạm vi rộng Vì thế, bản thân các ngân hàngcũng phải đưa ra các quy định rất cụ thể, rõ ràng như các hạn chế về hoạt động (sảnphẩm, chi nhánh), yêu cầu về đảm bảo an toàn (phân loại tín dụng, dự trữ bắt buộc…)
Trong tình hình cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng gay gắt như hiện nay,vai trò của CIC (trung tâm thông tin tín dụng) là rất quan trọng trong việc cung cấpthông tin kịp thời, chính xác để các ngân hàng có các quyết định cho vay hợp lý
- Thứ hai: Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh
Vốn pháp định là số vốn tối thiểu ban đầu khi ngân hàng được pháp luật côngnhận , việc quy định vốn pháp định nhằm đảm bảo khả năng thực tiễn và mục đíchkinh doanh chân chính của ngân hàng cũng như bảo hộ quyền lợi của những tổ chức
và cá nhân có mối quan hệ với ngân hàng
- Thứ ba: Ngân hàng thương mại có sản phẩm khác với các loại hình doanh nghiệp khác:
Sản phẩm mà NHTM kinh doanh và làm dịch vụ là hàng hóa tài chính (finacialgoods) Nói cách khác đó là tiền và các chứng từ có giá như là: cổ phiếu, thươngphiếu, tín phiếu, trái phiếu, hối phiếu Đây là những sản phẩm cao cấp của thị trường
Vì vậy được vận hành theo một quy trình và được điều hành bởi một nguồn lực cótrình độ chuyên môn nhất định, dựa trên cơ sở pháp lý do Luật quy định
Trong quá trình hoạt động, NHTM tạo ra sản phẩm và dịch vụ trực tiếp cung ứng
Trang 8hiệu và uy tín tạo ra đối với khách hàng Cho nên hoạt động của NHTM là một chuỗikhông ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ cung cấp và quảng bá tiếp thịhình ảnh của mình tới khách hàng.
- Thứ tư: Ngân hàng thương mại có đặc điểm về vốn và tài sản
+ Vốn: Công ty tài chính và ngân hàng đều phải có vốn pháp định, song vốnpháp định của công ty tài chính thấp hơn ngân hàng Theo Nghị định 141/2006/NĐ-
CP, ngày 22/11/2006 của Chính phủ, công ty tài chính được cấp giấy phép thành lập
và hoạt động sau ngày Nghị định 141/2006/NĐ- CP của Chính phủ có hiệu lực vàtrước ngày 31/12/2008 thì phải có mức vốn pháp định là 300 tỷ đồng; công ty tàichính được cấp giấy phép thành lập và hoạt động sau ngày 31/12/2008 thì phải cómức vốn pháp định là 500 tỷ đồng Nhưng vốn pháp định đối với một ngân hàng ápdụng cho đến năm 2008 không thấp hơn 1.000 tỷ đồng, tùy theo loại hình ngân hàng
và áp dụng cho đến năm 2010 trở đi không thấp hơn 3.000 tỷ đồng
Vốn và tiền vừa là phương tiện, vừa là mục đích kinh doanh nhưng đồng thờicũng là đối tựơng kinh doanh của NHTM Và chính đặc điểm này sẽ bao trùm hơn vàrộng hơn so với các loại hình DN khác
NHTM kinh doanh chủ yếu bằng vốn của người khác Vốn tự có của NHTMchiếm một tỷ lệ rất thấp trong tổng nguồn vốn hoạt động, nên việc kinh doanh củaNHTM luôn gắn liền với một rủi ro mà ngân hàng buộc phải chấp nhận với một mức
độ mạo hiểm nhất định Bởi vì trong hoạt động kinh doanh hằng ngày của mình,NHTM không những phải bảo đảm nhu cầu thanh toán, chi trả như mọi khi loại hình
DN khác, mà còn phải đảm bảo tốt nhu cầu chi trả tiền gửi của khách hàng Từ đó chothấy, việc phân tích khả năng thanh khoản của NHTM có ý nghĩa cực kỳ quan trọng
+ Tài sản: Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ Do đặcthù đó nên phần lớn tài sản của ngân hàng là các tài sản tài chính đó là các hợp đồngcho vay, hợp đồng thuê – mua, các chứng khoán, các khoản tiền gửi Một phần nhỏtrong khối tài sản của ngân hàng là tài sản cố định như nhà cửa, trang thiết bị Các tàisản đều tập trung đảm bảo an toàn ( an toàn thanh khoản, an toàn tín dụng và các antoàn khác) và tăng khả năng sinh lời cho ngân hàng Tài sản có của ngân hàng baogồm các tài sản sinh lời và tài sản không sinh lời, trong đó tài sản sinh lời luôn chiếmphần chủ yếu Tài sản có sinh lời là những tài sản đem lại nguồn thu nhập chính chongân hàng đồng thời cũng là những tài sản chứa đựng nhiều rủi ro Những tài sản nàybao gồm các khoản cho vay, cho thuê tài chính, các khoản đầu tư vào chứng khoán,góp vốn liên doanh, liên kết trong đó chiếm tỷ trọng cao nhất là các khoản cho vay
- Thứ năm: Hoạt động của Ngân hàng thương mại luôn luôn được kiểm soát
Trang 9“Kiểm soát là khả năng của một thực thể trong việc chi phối quá trình ra quyếtđịnh, trực tiếphoặc gián tiếp, trong mối quan hệ với các chính sách tài chính và vậnhành của một thực thểkhác, qua đó tạo khả năng cho chủ thể đó vận hành theo cácmục tiêu của chủ thể kiểm soát”.
Kiểm soát nội bộ đóng vai trò rất quan trọng đối với sự an toàn và khảnăngphát triển trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Việc xây dựngvàthực hiện được một cơ chế kiểm soát nội bộ phù hợp và hiệu quả sẽ cho phép cácngân hàng thương mại chống đỡ tốt nhất với rủi ro
1.1.1.2 Các hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại chủ yếu có các hoạt động sau:
a) Hoạt động huy động vốn.
Tiền gửi của khách hàng (gồm cá nhân và tổ chức) là nguồn vốn quan trọngnhất của NHTM, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của ngân hàng.Để huyđộng được nhiều tiền có chất lượng ổn định, các ngân hàng phải đưa ra được nhiềusản phẩm dịch vụ phục vụ được mọi đối tượng và đa dạng hoá các hình thức huy độngvốn như: tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn của các doanh nghiệp, tổ chức xã hội,
cơ quan, tiết kiệm của dân cư ,linh hoạt về lãi suất Là đối tượng phải dự trữ bắt buộcvới NHNN, nên chi phí tiền gửi của NHTM trả cho khách hàng cao hơn thực tế.Ngoài
ra tiền gửi ngắn hạn hoặc không kỳ hạn thường rất nhạy cảm với biến động của lãisuất và những yếu tố kinh tế khác như lạm phát
Ngoài tiền gửi của khách hàng, NHTM còn huy động vốn từ nguồn đi vay củaNHNN hay của các NHTM khác và quốc tế.Tuy nhiên tỷ trọng của nguồn vốn nàythấp hơn nguồn tiền gửi
b) Hoạt động cho vay và đầu tư
Hoạt động quan trọng của NHTM là tìm cách sử dụng nguồn vốn của mình đểthu lợi nhuận Việc sử dụng vốn là quá trình biến tài sản nợ thành tài sản có khácnhau, trong đó cho vay và đầu tư là tài sản quan trọng nhất Do vậy quản lý tài sản lànhiệm vụ quan trọng của NHTM để tránh rủi ro, đảm bảo an toàn vốn
* Hoạt động cho vay
Cho vay là việc NHTM đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phảihoàn trả cả gốc lẫn lãi cho Ngân hàng trong một khoảng thời gian xác định (hay còngọi là thời hạn tín dụng)
Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng đã tìm kiếmmọi cách để huy động nguồn vốn cho vay Một trong những nguồn vốn quan trọng làcác khoản tiền gửi tiết kiệm gửi tiết kiệm của khách hàng – một quỹ sinh lợi được gửi
Trang 10tại ngân hàng trong khoảng thời gian nhiều tuần, nhiều tháng, nhiều năm, đôi khiđược hưởng mức lãi suất tương đối cao Trong lịch sử đã có những kỷ lục về lãi suất,chẳng hạn các ngân hàng Hy Lạp đã trả lãi suất 16% một năm để thu hút các khoảntiết kiệm nhằm mục đích cho vay đối với các chủ tàu ở Địa Trung Hải với lãi suất gấpđôi hay gấp ba lãi suất tiết kiệm.
Ngân hàng thương mại sử dụng đa dạng các phương thức cho vay vốn lưuđộng truyền thống cũng như các sản phẩm đặc thù phù hợp với từng loại hình kinhdoanh khách hàng như: Cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng, cho vaytheo hạn mức thấu chi, cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng… Và các sản phẩmđặc thù theo hoạt động kinh doanh của khách hàng
* Hoạt động đầu tư:
Hiện nay, hầu hết các ngân hàng thương mại đều tham gia vào hoạt động đầu
tư, đầu tư chứng khoán, bất động sản, đầu tư dự án ,
Theo Luật các Tổ chức tín dụng thì các NHTM muốn đầu tư vào lĩnh vựcchứng khoán hay bất động sản, thì họ phải thành lập công ty con dưới dạng công tytrách nhiệm hữu hạn một thành viên, hay một tư cách pháp nhân khác Mục đích củaviệc này là để dễ dàng kiểm soát hoạt động, vì NHTM thì chịu sự kiểm soát của Ngânhàng Nhà nước còn công ty chứng khoán thì chịu sự kiểm soát của Ủy ban Chứngkhoán Do đó để tách bạch các hoạt động đồng thời đảm bảo quản lý rủi ro cho cácNHTM, các công ty con không được phép đầu tư ngược lại vào NHTM mẹ, vàNHTM mẹ ko được cho vay công ty con
NHTM là tổ chức nhận tiền gửi do đó ảnh hưởng của nó khá lớn đến thị trườngtài chính, khi các NHTM đầu tư tức là đổ vốn vào các công cụ tài chính có lợi nhuậncao đồng thời rủi ro cao Đó cũng là lý do vì sao NHTM có thể đầu tư nhưng phảitách hoạt động đó ra khỏi hoạt dộng ngân hàng
NHTM chủ yếu thực hiện các hoạt động đầu tư sau:
Hoạt động tài trợ dự án đó là việc NHTM trực tiếp tham gia cùng với chủ đầu
tư (2 bên sẽ thành lập 1 công ty chung là công ty dự án và luồng tiền thu về là từ DỰÁN) > gọi là "lời ăn lỗ chịu"
Đối với việc đầu tư chứng khoán, Ngân hàng thương mại được phép trực tiếp
tư vấn tài chính doanh nghiệp, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp và tư vấn đầu tưchứng khoán; lưu ký chứng khoán, mua bán trái phiếu Chính phủ
Với các nghiệp vụ như bảo lãnh phát hành chứng khoán; tự doanh chứng khoánbao gồm cả mua bán cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp; môi giới chứng khoán; quản
lý, phân phối chứng chỉ quỹ đầu tư; quản lý danh mục đầu tư chứng khoán… ngânhàng không được trực tiếp thực hiện mà phải thông qua các công ty con của mình
Trang 11c) Hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính khác
NHTM là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển tiếtkiệm thành đầu tư, tức chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi có nhu cầu sử dụng Với chứcnăng này NHTM làm cầu nối giữa cá nhân và tổ chức có thu nhập lớn hơn chi dùngvới những cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt trong chi tiêu, hay thu nhập không bùđắp nổi nhu cầu chi tiêu nên họ cần bổ xung vốn
Ngoài trung gian tài chính,NHTM còn là trung gian thanh toán Ngân hàngthay mặt khách hàng chi trả giá trị hàng hoá và dịch vụ trong và ngoài nước.Để thanhtoán được nhanh chóng, thuận tiện, an toàn và tiết kiệm, ngân hàng dùng nhiều hìnhthức thanh toán không dùng tiền mặt như:séc chuyển tiền, uỷ nhiệm chi, bù trừ quaNHNN hoặc qua trung tâm thanh toán, nhờ thu v v bằng các biện pháp kỹ thuậtnhư:thư, điện tín, hệ thống máy tính điện tử v v
Tư vấn tài chính: Các ngân hàng từ lâu đã được khách hàng yêu cầu thực hiện
hoạt động tư vấn tài chính, đặc biệt là về tiết kiệm và đầu tư Ngân hàng ngày naycung cấp nhiều dịch vụ tư vấn tài chính đa dạng, từ chuẩn bị về thuế và kế hoạch tàichính cho các cá nhân đến tư nhân về các cơ hội thị trường trong nước và ngoài nướccho các khách hàng kinh doanh của họ
Dịch vụ thuê mua thiết bị Rất nhiều ngân hàng tích cực cho khách hàng kinh
doanh quyền lựa chọn mua các thiết bị, máy móc cần thiết thông qua hợp đồng thuêmua, trong đó ngân hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê Ban đầu các qui địnhyêu cầu khách hàng sử dụng dịch vụ thuê mua thiết bị phải trả tiền thuê (mà cuối cùng
sẽ đủ để trang trải chi phí mua thiết bị) đồng thời phải chịu chi phí sửa chữa và thuế.Năm 1987, quốc hội Mỹ đã bỏ phiếu cho phép ngân hàng quốc gia sở hữu ít nhất một
số tài sản cho thuê sau khi hợp đồng thuê mua đã hết hạn Điều đó có lợi cho các ngânhàng cũng như khách hàng bởi vì bới tư cách là một người chủ thực sự của tài sản chothuê, ngân hàng có thể khấu hao chúng nhằm làm tăng lợi ích về thuế
Cho vay tài trợ dự án Các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc
tài trợ cho chi phí xây dựng nhà máy mới đặc biệt là trong các ngành công nghệ cao
Do rủi ro trong loại hình tín dùng này nói chung là cao nên chúng thường được thựchiện qua một công ty đầu tư, là thành viên của công sở hữu ngân hàng, cùng với sựtham gia của các nhà thầu, là thành viên của công ty sở hữu ngân hàng, cùng với sựtham gia của các nhà đầu tư khác để chia sẻ rủi ro Những ví dụ nổi bật về loại hìnhcông ty đầu tư này là Bankers Trust Venture Capital anh Citicorp Venture, Inc
Bán các dịch vụ bảo hiểm Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã bán bảo
hiểm tín dụng cho khách hàng, điều đó bảo đảm việc hoàn trả trong trường hợp khách
Trang 12thương mại trực tiếp bán các dịch vụ bảo hiểm, nhiều ngân hàng hi vọng có thể đưa racác hợp đồng bảo hiểm cá nhân thông thường và hợp đồng bảo hiểm tổn thất tài sảnnhư ôtô hay nhà cửa trong tương lai Hiện nay, ngân hàng thường bảo hiểm cho kháchhàng thông qua các liên doanh hoặc các thỏa thuận đại lý kinh doanh độc quyền theo
đó một công ty bảo hiểm đồng ý đặt một văn phòng đại lý tại hành lang của ngânhàng và ngân hàng sẽ nhận một phần thu nhập từ các dịch vụ ở đó Một số bang nhưDelawake và South Dakota đã cho phép ngân hàng cung cấp các dịch vụ bảo hiểmđược quy định trên toàn quốc Những ngân hàng hoạt động trên toàn quốc nếu đượcphép sẽ có thể cung cấp các dịch vụ về bảo hiểm thông qua các chi nhánh riêng biệt,những quy mô đầu tư của nó chỉ được giới hạn ở mức 10% tổng số vốn chủ sở hữu.Gần đây, Citicorp đã thông báo kế hoạch sáp nhập với công ty bảo hiểm Travelerstromg một số nỗ lực nhằm đưa ra các dịch vụ bảo hiểm đa dạng hơn
Cung cấp các kế hoạch hưu trí: Phòng ủy thác ngân hàng rất năng động
trong việc quản lý kế hoạch hưu trí mà hầu hết các doanh nghiệp lập cho người laođộng, đầu tư vốn và phát lương hưu cho những người đã nghỉ hưu hoặc tàn phế Ngânhàng cũng bán các kế hoạch tiền gửi hưu trí (được biết như IRAS và Keogle) cho các
cá nhân và giữ nguồn tiền gửi cho đến khi người sở hữu các kế hoạch này cần đến
Cung cấp các dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán Trên thị trường tài
chính hiện nay, nhiều ngân hàng đang phấn đấu để trở thành một “bách hóa tài chính”thực sự, cung cấp đủ các dịch vụ tài chính cho phép khách hàng thỏa mãn mọi nhucầu tại một địa điểm Đây là một trong những lý do chính khiến các ngân hàng bắtđầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổphiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác mà không phải nhờ đến người kinh doanhchứng khoán Trong một vài trường hợp, các ngân hàng mua lại một công ty môi giớiđang hoạt động (ví dụ Bank of America mua Robertson Stephens Co.) hoặc thành lậpcác liên doanh với một công ty môi giới
Cung cấp dịch vụ quỹ tương hỗ và trợ cấp Do ngân hàng cung cấp các tài
khoản tiền gửi truyền thống với lãi suất quá thấp, nhiều khách hàng đã hướng tới việc
sử dụng cái gọi là sản phẩm đầu tư (investment products) đặc biệt là các tài khoản củaquỹ tương hỗ và hợp đồng trợ cấp, những loại hình cung cấp triển vọng thu nhập caohơn tài khoản tiền gửi dài hạn cam kết thanh toán một khoản tiền mặt hàng năm chokhách hàng bắt đầu từ một ngày nhất định trong tương lai (chẳng hạn ngày nghỉ hưu).Ngược lại, quỹ tương hỗ bao gồm các chương trình đầu tư được quản lý một cáchchuyên nghiệp nhằm vào việc mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán phù hợpvới mục tiêu của quỹ (ví dụ: Tối đa hóa thu nhập hay đạt được sự tăng giá trịvốn) Trong khi quá trình phát triển của các kế hoạch trợ cấp diễn ra khá chậm do
Trang 13những vụ kiện tụng bởi các đối thủ cạnh tranh chống lại sự mở rộng của ngân hàngsang lĩnh vực dịch vụ mới này thì việc cung cấp cổ phiếu trong quỹ vốn ngân hàngquản lý chiếm 15% tổng giá trị tài sản của quỹ tương hỗ trong những năm 90 Một vàingân hàng đã tổ chức những chi nhánh đặc biệt để thực hiện nhiệm vụ này (ví dụ:Citicorp’s Investment Services) hoặc liên doanh với các nhà kinh doanh và môi giớichứng khoán Gần đây, hoạt động cung cấp nghiệp vụ quỹ tương hỗ của ngân hàng đã
có nhiều giảm sút do mức thu nhập không còn cao như trước, do những qui địnhnghiêm ngặt hơn và đồng thời do sự thay đổi trong quan điểm đầu tư của công chúng
Cung cấp dịch vụ ngân hàng đầu tư và ngân hàng bán buôn Ngân hàng
ngày nay đang theo chân các tổ chức tài chính hàng đầu trong việc cung cấp dịch vụngân hàng đầu tư và dịch vụ ngân hàng bán buôn cho các tập đoàn lớn Những dịch
vụ này bao gồm xác định mục tiêu hợp nhất, tài trợ mua lại Công ty, mua bán chứngkhoán cho khách hàng (ví dụ: bảo lãnh phát hành chứng khoán), cung cấp công cụMarketing chiến lược, các dịch vụ hạn chế rủi ro để bảo vệ khách hàng Các ngânhàng cũng dấn sâu vào thị trường bảo đảm, hỗ trợ các khoản nợ do chính phủ và công
ty phát hành để những khách hàng này có thể vay vốn với chi phí thấp nhất từ thịtrường tự do hay từ các tổ chức cho vay khác
Ở Mỹ, các dịch vụ ngân hàng đầu tư (như bảo lãnh phát hành chứng khoán)liên quan tới việc mua bán cổ phiếu mới và nợ do ngân hàng thương mại thực hiệnthay mặt cho các công ty đã bị cấm sau khi Quốc hội thông qua các Đạo luật Glass-Steagall năm 1933 Tuy nhiên, trước áp lực lớn từ các công ty ngân hàng trong nướchàng đầu, và do thành công của các đối thủ cạnh tranh nước ngoài, vào những năm 80Cục lữu trữ liên bang đã bắt đầu nới lỏng các quy định đối với việc ngân hàng kinhdoanh chứng khoán do khách hàng của chúng phát hành Thông qua nghiệp vụ bảolãnh phát hành, ngân hàng đã tạo cho các công ty một kênh huy động vốn mới bêncạnh hình thức cho vay vốn truyền thống Nhiều công ty đã đánh giá rất cao nghiệp vụnày của ngân hàng, hơn cả hình thức cho vay truyền thống bởi vì nó cung cấp cho họmột nguồn vốn dài hạn với chi phí thấp hơn Cho tới cuối những năm 90, Cục dự trữLiên bang Mỹ đã cấp cho hơn 40 ngân hàng đặc quyền cung cấp dịch vụ bảo lãnhphát hành chứng khoán Trên thực tế, điều này cho phép nhân viên tín dụng ngânhàng cộng tác chặt chẽ với giới kinh doanh chứng khoán trong quá trình tìm nguồn tàitrợ cho khách hàng Năm 1996, Cục quản lý tiền tệ Mỹ ra quy định mới cho phép cácngân hàng có giấy phép hoạt động trên toàn quốc có thể cung cấp dịch vụ bảo lãnhphát hành nếu như dịch vụ này được thực hiện thông qua các công ty con, với điềukiện ngân hàng không được đầu tư quá 10% vốn cổ phần vòa một công ty Một sự nới
Trang 14cung cấp toàn bộ dịch vụ tài trợ và tư vấn quản lý đối với hoạt động kinh doanhchứng khoán Một ví vụ gần đây là sự kiện ngân hàng NationBank mua MortgetarySecurity Inc., Bank America mua công ty Robertson Stephens và ngân hàng BankerTrust of New York mua công ty Alex Brow
1.1.2 Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Khái niệm hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại
Tín dụng là quan hệ vay mượn, tạm thời sử dụng vốn của nhau dựa trênnguyên tắc hoàn trả và sự tin tưởng Trong nền kinh tế thị trường, nhiều loại hìnhquan hệ tín dụng cùng tồn tại như tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụngnhà nước, tín dụng thuê mua, tín dụng tiêu dùng, tín dụng quốc tế Song căn cứ vàochức năng và vai trò của NHTM với nền kinh tế mà tín dụng ngân hàng có thể đượccoi là loại quan hệ tín dụng quan trọng nhất, phổ biến nhất với nền kinh tế và thườngxuyên được quan tâm nghiên cứu
Tín dụng ngân hàng được hiểu là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng,một tổ chức chuyên kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, một bên là các chủ thể còn lạicủa nền kinh tế Tuy nhiên, quan niệm phổ biến về tín dụng ngân hàng là: Tín dụngngân hàng được hiểu là việc cho vay của NHTM với các chủ thể của nền kinh tế
Theo luật tổ chức tín dụng năm 1998 của Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩaViệt Nam thì: “Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thoả thuận để khách hàng sửdụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiếtkhấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác” và “Hoạt độngtín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động đểcấp tín dụng”
1.1.2.2 Phân loại hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại
Có nhiều cách phân loại tín dụng khác nhau tùy theo yêu cầu của khách hàng
và mục tiêu quản lý của ngân hàng Sau đây là một số cách phân loại:
- Phân loại theo thời gian (thời hạn tín dụng): Phân chia theo thời gian có ý
nghĩa quan trọng vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của tíndụng cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng Theo thời gian, tín dụng được phânthành:
+ Tín dụng ngắn hạn: từ 12 tháng trở xuống
+ Tín dụng trung hạn: từ trên 1 năm đến 5 năm
+ Tín dụng dài hạn: trên 5 năm
Thời hạn tín dụng thường được xác định cụ thể (ngày, tháng, năm) và ghitrong hợp đồng tín dụng, là thời hạn mà trong đó ngân hàng cam kết cấp chokhách hàng 1 khoản tín dụng.Thời hạn tín dụng có thể được tính từ lúc đồng vốn
Trang 15đầu tiên của ngân hàng được phát ra đến lúc đồng vốn và lãi cuối cùng phải thu
về Ví dụ, cho vay 3 tháng từ 1/3 đến 1/6 có nghĩa ngân hàng sẽ phát tiền gốc đầutiên vào lúc 1/3 và đến 1/6 sẽ phải thu hết gốc và lãi Thời hạn tín dụng có thể làthời gian mà khi kết thúc, ngân hàng sẽ xem xét lại quan hệ tín dụng với kháchhàng Ví dụ, ngân hàng cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng 500 triệu trong 3tháng, hết 3 tháng ngân hàng sẽ xem xét lại, có thể tăng giảm hoặc chấm dứt quan
hệ tín dụng với khách hàng Tuy nhiên cũng có khoản cho vay không xác địnhtrước thời hạn như cho vay luân chuyển Khách hàng thỏa thuận với ngân hàng vềviệc ngân hàng được quyền trích tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán để thu nợkhi tài khoản có tiền.Việc xác định trước thời hạn thu nợ trong trường hợp này cóthể gây khó khăn cho khách hàng trong việc tiêu thụ sản phẩm
- Phân loại theo hình thức: gồm chiết khấu, cho vay, bảo lãnh và cho
thuê
+ Chiết khấu thương phiếu là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàngtương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để sởhữu 1 thương phiếu chưa đến hạn (hoặc 1 giấy nợ) Về mặt pháp lí thì ngân hàngkhông phải đã cho vay đối với chủ thương phiếu Đây chỉ là hình thức trao đổitrái quyền Tuy nhiên đối với ngân hàng, việc bỏ tiền ra hiện tại để thu về 1 khoảnlớn hơn trong tương lai với lãi suất xác định trước được coi như là hoạt động tíndụng Ngân hàng tuy ứng tiền cho người bán, nhưng thực chất là thay thế ngườimua trả tiền trước cho người bán
+ Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết kháchhàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định
+ Bảo lãnh là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính hộkhách hàng của mình Mặc dù không phải xuất tiền ra, song ngân hàng đã chokhách hàng sử dụng uy tín của mình để thu lợi
+ Cho thuê là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng thuêtheo những thỏa thuận nhất định Sau thời gian nhất định, khách hàng phải trả cảgốc lẫn lãi cho khách hàng
- Phân loại theo tài sản đảm bảo:
+ Tín dụng không có đảm bảo: là tín dụng không có tài sản cầm cố, thế chấpkhông có bảo lãnh của người thứ ba
+ Tín dụng có đảm bảo: là tín dụng có tài sản cầm cố thế chấp hay có bảolãnh của người thứ ba
- Phân loại tín dụng theo rủi ro: Để phân loại theo tiêu thức này, ngân
Trang 16lớn chia tới 10 thang bậc rủi ro theo các dấu hiệu rủi ro từ thấp đến cao cho cáckhoản mục tài sản, bao gồm cả nội và ngoại bảng, cho vay, bảo lãnh, chứngkhoán Cách phân loại này giúp ngân hàng thường xuyên đánh giá lại tính an toàncủa các khoản tín dụng, trích lập dự phòng tổn thất kịp thời Có thể kể các loại tíndụng sau:
+Tín dụng lành mạnh: là các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao
+Tín dụng có vấn đề: là các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành mạnh nhưkhách hàng chậm tiêu thụ, tiến độ thực hiện kế hoạch chậm, khách hàng gặp thiêntai, khách hàng trì hoãn nộp báo cáo tài chính…
+ Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: các khoản nợ đã quá hạn với thời hạn ngắn
và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trị lớn…
+ Nợ quá hạn khó đòi: Nợ quá hạn quá lâu, khả năng trả nợ kém, tài sản thếchấp nhỏ hoặc bị giảm giá, khách hàng chây ì
- Căn cứ vào mục đích của tín dụng:
+ Tín dụng bất động sản: đây là các khoản tín dụng được bảo đảm bằng bấtđộng sản, bao gồm: tín dụng ngắn hạn cho xây dựng và mở rộng đất đai và tíndụng dài hạn để mua đất đai, nhà cửa, căn hộ cơ sở dịch vụ, trang trại và bất độngsản ở nước ngoài
+ Tín dụng công và thương nghiệp: đây là các khoản tín dụng cấp cho cácdoanh nghiệp để trang trải chi phí thu mua nguyên vật liệu, trả thuế và chi trảlương
+Tín dụng nông nghiệp: Đây là các khoản tín dụng cấp cho các hoạt độngnông nghiệp, nhằm trợ cấp cho các hoạt động nông nghiệp, trợ giúp các hoạt độngtrồng trọt, thu hoạch mùa màng và chăn nuôi gia súc
+Tín dụng cá nhân: Đây là các khoản tín dụng cấp cho cá nhân để mua sắmhàng hóa tiêu dùng đắt tiền như xe hơi, nhà cửa, trang thiết bị trong nhà…
+ Tín dụng cho các tổ chức tài chính: Đây là các khoản tín dụng cấp cho cácngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tổ chức tài chính khác.+ Cho thuê tài chính: là việc ngân hàng mua các trang thiết bị, máy móc vàcho thuê lại chúng
+ Tín dụng khác: bao gồm các khoản tín dụng chưa được phân loại ở trên( ví
dụ như tín dụng kinh doanh chứng khoán)
1.2 Quản lý hoạt động rủi ro tín dụng của Ngân hàng Thương mại
1.2.1 Rủi ro tín dụng trong hoạt động của Ngân hàng thương mại
1.2.1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng
Trang 17Đã có rất nhiều cách tiếp cận về rủi ro dưới rất nhiều góc độ khác nhau vàthống nhất ở quan điểm “Rủi ro là khả năng có thể xảy ra các biến cố không lườngtrước và thường gây ra các hậu quả xấu” Rủi ro luôn xuất hiện bất ngờ và đe dọa sựsống còn của doanh nghiệp Thường thì những hoạt động kinh doanh mang lại lợinhuận càng cao thì ẩn chứa rủi ro càng lớn, mâu thuẫn này luôn tồn tại Do vậy muốn
có lợi nhuận càng cao thì cần phải chấp nhận rủi ro có thể xảy ra để tìm biện pháp hạnchế, phòng ngừa nhằm giảm thiểu thiệt hại do rủi ro gây ra
Là một đơn vị hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, Ngân hàng thươngmại phải thường xuyên đối mặt với rất nhiều loại rủi ro như: rủi ro tín dụng, rủi ro hốiđoái, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh toán, rủi ro tồn đọng vốn và các loại rủi ro khác Trong điều kiện hiện nay tín dụng vẫn là hoạt động cơ bản nhất của ngân hàng
và đồng thời rủi ro tín dụng cũng là loại rủi ro lớn nhất, thường xuyên xảy ra và gâyhậu quả nặng nề nhất đối với hoạt động của ngân hàng Sở dĩ vậy là vì dư nợ tín dụngthường chiếm một tỷ lệ lớn giá trị tổng tài sản và tạo ra một phần không nhỏ nguồnthu của ngân hàng Do vậy rủi ro tín dụng cũng được đề cập đến rất nhiều trong hoạtđộng kinh doanh ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng
Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Ngân hàng nhànước Việt Nam thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng
là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng dokhách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mìnhtheo cam kết”
Rủi ro tín dụng được hiểu một cách đơn giản là một khả năng trong tương laingười đi vay ngân hàng hoặc người cho vay thất bại trong việc thực hiện đúng cácđiều khoản trong hợp đồng tín dụng Như vậy rủi ro tín dụng là khả năng khách hàngvay vốn không thanh toán được tiền lãi hoặc vốn gốc hoặc cả hai Rủi ro tín dụngkhông chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay, mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tínhchất tín dụng khác của ngân hàng như bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ thươngmại, cho vay ở thị trường liên ngân hàng, được thuê mua, đồng tài trợ…
Rủi ro tín dụng là một tất yếu mà các ngân hàng không thể loại bỏ hoàn toàn
ra khỏi hoạt động tín dụng của mình, họ buộc phải chấp nhận sự tồn tại của rủi ro và
cố gắng tìm mọi phương thức để có thể hạn chế tới mức thấp nhất rủi ro tín dụng, đặcbiệt là khi thế giới đang tiến dần tới giai đoạn toàn cầu hóa, các hoạt động của ngânhàng trở nên vô cùng phong phú và không chỉ giới hạn quốc gia như trước đây màcòn hướng ra các thị trường quốc tế Trong bối cảnh đó, các hoạt động tín dụng chứađựng nhiều rủi ro hơn, yêu cầu có một phương thức quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả
Trang 18Đồng thời, sự tăng cường kiểm soát quốc tế, như Hiệp ước Basel do ủy ban Basel banhành, đặt ra yêu cầu các ngân hàng cần có những biện pháp hữu hiệu để hạn chế rủi ro
và đáp ứng được những tiêu chuẩn quy định
1.2.1.2 Nguyên nhân rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng Bao gồm những nguyên nhânsau:
* Những nguyên nhân thuộc về ngân hàng
Có nhiều yếu tố gây ra rủi ro tín dụng mà nguyên nhân thuộc về ngân hàng, cóthể kể ở đây một số nguyên nhân như sau:
+ Chiến lược kinh doanh của ngân hàng: Tùy theo chiến lược kinh doanh cụthể mà mỗi ngân hàng đưa ra các mức độ chấp nhận rủi ro khác nhau, ví dụ Ngânhàng An Bình có thể chấp nhận một mức độ rủi ro cao hơn nhằm thu được một mứclợi nhuận kỳ vọng cao hơn hoặc một thị phần lớn hơn, trong khi đó, một Ngân hàngVietcombank chỉ chấp nhận một tỷ lệ rủi ro nhỏ mặc dù các khoản lợi nhuận kỳ vọngchỉ ở mức trung bình, song có độ an toàn cao hơn so với Ngân hàng An Bình
+ Bản chất và mức độ phức tạp của các hoạt động ngân hàng: Các hoạt độngngân hàng ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp hơn, mạng lại nhiều lợi nhuận hơnsong mức độ rủi ro cũng cao hơn Tùy thuộc vào mức độ phức tạp của các hoạt độngngân hàng mà xác định được khả năng chấp nhận rủi ro của mình Ngân hàng tiếnhành mở rộng hay đưa ra một sản phẩm tín dụng mới phải phù hợp về mức độ tin cậyđối với khả năng trả nợ của người vay Các rủi ro trong từng sản phẩm mang tính chấtđặc thù riêng biệt, do đó ngân hàng cần xác định các rủi ro thông qua bản chất củatừng sản phẩm và thực hiện biện pháp hạn chế rủi ro tốt nhất theo các tiêu chuẩn chotừng loại
+ Áp lực cạnh tranh trong hoạt động tín dụng: Hiện nay khi các ngân hàngđang bước vào cuộc cạnh tranh gay gắt và quyết liệt, các khoản tín dụng được chấpnhận dễ dàng hơn nhằm tăng thêm thị phần cho ngân hàng song cũng đem lại nhiềurủi ro hơn
+ Mức độ tập trung của danh mục tín dụng: Mức độ tập trung trong danh mụctín dụng theo các đặc thù riêng trực tiếp ảnh hưởng đến rủi ro của danh mục tín dụng.Một khoản vay mang một đặc điểm bất lợi nào đó sẽ có khả năng gây ra thất thoáttrầm trọng hơn nếu ngân hàng có mức độ tập trung cao các khoản cho vay có cùngcác đặc điểm này Ngân hàng có thể hạn chế các rủi ro do tập trung trong danh mụctín dụng bằng cách thường xuyên đánh giá rủi ro trong từng thị trường, trong từngngành, từng vị trí địa lí, sản phẩm và hình thức thế chấp, loại tiền tệ và hình thức đáohạn, từ đó bảo đảm duy trì một danh mục tín dụng đa dạng
Trang 19+ Các hệ thống đánh giá và quản lý rủi ro tín dụng chưa đạt được yêu cầu về
sự tổng hợp, chặt chẽ, thống nhất và hợp lý
+ Do bản thân các ngân hàng khi phát sinh các khoản nợ xấu thường khôngphản ánh vào tài khoản và chuyển thành nợ khó đòi vì như vậy sẽ ảnh hưởng tới thànhtích của ngân hàng, khiến cho bảng cân đối “không đẹp” Điều này dẫn tới việc ngânhàng tiếp tục gia hạn cho khách hàng nhiều lần, cho phép khách hàng đảo nợ và dẫnđến việc không thực hiện thu nợ đúng theo hợp đồng tín dụng
+ Hệ thống thông tin chưa đầy đủ, cập nhật và chíng xác khiến cho quá trìnhđánh giá rủi ro gặp rất nhiều khó khăn
- Ngân hàng chưa có được thông tin đầy đủ về toàn bộ thị trường của kháchhàng
- Ngân hàng không có những kênh thông tin chính xác để kiểm tra về kháchhàng như thông qua các ngân hàng khác, thông qua các khách hàng khác, thông quabáo chí và các cơ quan có liên quan… Ngân hàng không đánh giá được chính xác mốiquan hệ đã và đang có của doanh nghiệp đối với các định chế tài chính khác, mà chủyếu là các ngân hàng thương mại khác do các doanh nghiệp có thể vay cùng một lúcnhiều ngân hàng (doanh nghiệp đang vay cụ thể bao nhiêu, của những tổ chức nào, đãtrả nợ được bao nhiêu, chưa trả nợ hoặc quá hạn bao nhiêu…)
- Cán bộ tín dụng chưa có những đánh giá chính xác về ngành hàng kinh doanh,tiềm năng và vị trí của ngành hàng đó trong toàn bộ nền kinh tế; xu hướng phát triểncủa ngành hàng đó hiện nay và trong tương lai trên thị trường trong nước, khu vực vàquốc tế; các chủ trương của Nhà nước về sự phát triển của ngành hàng này trongtương lai, chứng minh bằng các con số cụ thể và các văn bản pháp luật cụ thể
- Cán bộ tín dụng chưa có những đánh giá chính xác về phương án kinh doanhcủa khách hàng
- Cán bộ tín dụng chưa có những đánh giá chính xác về những đối tác tham giabảo lãnh cho các khoản tín dụng
- Cán bộ tín dụng chưa có những đánh giá chính xác về các tài sản đảm bảo cho
Trang 20- Cán bộ tín dụng không dự báo được những vấn đề có thể phát sinh từ phíakhách hàng có thể gây bất lợi cho ngân hàng (việc dự đoán các vấn đề này còn tùythuộc vào thời hạn của từng khoản vay, ví dụ như các khoản vay nhắn hạn thì việc dựđoán cũng chỉ trong một thời gian ngắn, còn các khoản vay dài hạn thì việc dự đoánphải bao quát một khoảng thời gian dài hơn và yêu cầu cụ thể hơn, chặt chẽ hơn)
- Đạo đức nghề nghiệp của cán bộ khiến cho việc xem xét các khoản cho vaykhông được khách quan và đúng đắn, có thể gian lận hoặc cố tình làm sai:
•Làm trái quy trình tín dụng để mưu lợi cá nhân
•Định giá tài sản thế chấp không đúng với giá trị thực tế do có sự thông đồngvới khách hàng
•Trực tiếp thu nợ gốc và lãi những không nộp lại cho ngân hàng mà dùng chomục đích cá nhân
•Lập hồ sơ giả để vay tiền cá nhân, vay hộ, nhờ người vay hộ, vay tiền ngânhàng chuyển cho công ty TNHH gia đình
•Tẩy xóa, sửa chữa chứng từ có giá để thế chấp vay tiền ngân hàng
* Những nguyên nhân thuộc về khách hàng
+ Những nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ năng lực quản lí của khách hàng, baogồm:
- Khả năng quản lí trong lĩnh vực kinh doanh của khách hàng không tốt dẫn đếnnhững thua lỗ và không có khả năng trả nợ cho ngân hàng
- Sự yếu kém trong việc tính toán những bất trắc có thể xảy ra trong tương laicủa khách hàng hoặc do họ quá mạo hiểm với kỳ vọng thu được lợi nhuận cao
- Sự không minh bạch về tài chính của khách hàng gây khó khăn cho ngân hàngtrong việc đánh giá rủi ro
- Tính thanh khoản không cao trong các hoạt động của khách hàng, khiến chonguồn vốn thu hồi chậm và không hiệu quả
- Những thay đổi bất ngờ trong tổ chức nội bộ của khách hàng mà ngân hàngkhông kiểm soát được
+ Những nguyên nhân xuất phát từ sự không tuân thủ các điều kiện trong hợpđồng tín dụng mà khách hàng đã kí với ngân hàng, bao gồm:
- Sự cố ý của khách hàng trong việc gian lận nhằm lừa đảo ngân hàng
- Khách hàng sử dụng khoản vay không đúng với mục đích ban đầu khi xin cấptín dụng
- Sự cố ý không trả nợ cho ngân hàng đúng hạn của khách hàng nhằm sử dụngđược vốn vay trong thời gian lâu dài hơn Trong thực tế, nguyên nhân này có thểmang tính khách quan nhiều hơn, trong trường hợp doanh nghiệp chưa thu được tiền
Trang 21đúng thời hạn phải chi trả cho ngân hàng Đây không phải là do hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp không có hiệu quả mà chỉ đơn thuần là vấn đề thời gian không phùhợp Trong trường hợp này ngân hàng phải xem xét kỹ và có thể gia hạn cho doanhnghiệp để tạo điều kiện cho họ thanh toán nợ đầy đủ cho ngân hàng
Đối với từng khách hàng khác nhau thuộc các ngành nghề khác nhau thì mức
độ rủi ro cũng khác nhau Trong chiến lược kinh doanh của NHTM, việc lựa chọncác khách hàng mục tiêu và ngành nghề mục tiêu là một việc làm thiết yếu Sự tồn tạicủa các ngân hàng gắn liền với sự tồn tại và sự phát triển của khách hàng hay ngànhnghề mà ngân hàng cấp tín dụng Đối với những đối tượng khách hàng mục tiêu ngânhàng cần có những nghiên cứu sâu rộng về ngành hàng, tình hình thị trường cũngnhư khả năng phát triển trong tương lai
* Những nguyên nhân bất khả kháng
Những nguyên nhân khách quan tác động tới người vay, làm họ mất khả năngthanh toán cho ngân hàng Ví dụ: thiên tai, chiến tranh hoặc những thay đổi tầm vĩ mô(thay đổi chính phủ, chính sách kinh tế, hàng rò thuế quan…) vượt quá tầm kiểm soátcủa người vay lẫn người cho vay
Những thay đổi này thường xuyên xảy ra, tác động liên tục tới người vay tạothuận lợi hay khó khăn với người cho vay Nhiều người vay với bản lĩnh của mình cókhả năng dự báo, thích ứng hoặc khắc phục những tổn thất khó khăn Trong nhữngtrường hợp khác người vay có thể tổn thất song vẫn có khả năng trả nợ đúng hạn chongân hàng cả gốc và lãi Tuy nhiên, khi tác động của nguyên nhân bất khả kháng đốivới người vay là nặng nề, khả năng trả nợ của họ bị suy giảm
1.2.2 Quản lý rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại
1.2.2.1 Khái niệm quản lý rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại
Quản lý rủi ro tín dụng là hoạt động NHTM thực hiện trong quá trình cấp tíndụng đối với khách hàng Quản lý rủi ro tín dụng là toàn bộ quá trình kiểm tra, giámsát, phòng ngừa liên tục, bắt đầu từ khâu kiểm định, đánh giá khách hàng cũng nhưkhoản vay của khách hàng trước khi có quyết định cho vay, đến giải ngân, theo dõi
và các biện pháp xử lý, những khoản nợ có vấn đề nhằm giảm thiểu mức độ rủi ro cóthể xảy ra nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng
NHTM thường quản lý rủi ro tín dụng bằng cách áp dụng các mô hình quản lýrủi ro tín dụng: Mô hình quản lý rủi ro tín dụng chính là hệ thống các mô hình baogồm mô hình tổ chức quản lý rủi ro, mô hình đo lường rủi ro và mô hình kiểm soátrủi ro được xây dựng và vận hành một cách đầy đủ, toàn diện và liên tục trong hoạtđộng quản lý tín dụng của ngân hàng
Trang 22Mô hình quản lý rủi ro tín dụng phản ánh một cách hệ thống các vấn đề về cơchế, chính sách, quy trình nghiệp vụ nhằm thiết lập các giới hạn hoạt động an toàn vàcác chốt kiểm soát rủi ro trong một quy trình thực hiện nghiệp vụ; các công cụ đolường, phát hiện rủi ro; các hoạt động giám sát sự tuân thủ và nhận diện kịp thời cácloại rủi ro mới phát sinh và các phương án, biện pháp chủ động phòng ngừa, đối phómột khi có rủi ro xảy ra.
Hiện nay ở Việt Nam đang có hai mô hình phổ biến được áp dụng Đó là môhình quản lý rủi ro tín dụng tập trung và mô hình quản lý rủi ro tín dụng phân tán
1.2.2.2 Nội dung quản lý rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại
Quản lý rủi ro tín dụng thể hiện trong các nội dung sau:
a Tiêu chí phản ánh rủi ro tín dụng
Việc kinh doanh khó có thể thất bại qua một đêm, do vậy mà sự thất bại đóthường có một vài dấu hiệu báo động Có dấu hiệu biểu hiện mờ nhạt, có dấu hiệubiểu hiện rất rõ ràng Ngân hàng cần có phương pháp nhận ra những dấu hiệu này để
từ chối cho vay (trong trường hợp trước khi cho vay) hoặc để ngăn ngừa xử lý kịpthời (trong trường hợp đã cho vay) Các dấu hiệu này đôi khi không phải có thể nhận
ra ngay trong một thời điểm mà phải sau một quá trình quan sát và nghiên cứu Cóthể sắp xếp các dấu hiệu của rủi ro tín dụng theo các nhóm sau:
Thứ hai: tỷ lệ nợ quá hạn
Nếu chỉ sử dụng chỉ tiêu nợ quá hạn thôi thì chưa đủ để đánh giá một cáchđúng đắn việc quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng Ngoài chỉ tiêu số tuyệt đốingười ta còn sử dụng chỉ tiêu số tương đối là tỷ lệ nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ
lệ giữa nợ quá hạn và tổng dư nợ hiện có của ngân hàng Tỷ lệ nợ quá hạn của ngânhàng được xác định như sau:
Tỷ lệ nợ quá hạn trong kỳ = Nợ quá hạn trong kỳ *100%
Tổng dư nợ trong kỳ
Trang 23Chỉ tiêu này phản ánh bao nhiêu phần trăm tổng dư nợ chưa thanh toán bị quáhạn Tỷ lệ này càng cao thì rủi ro tín dụng của ngân hàng càng lớn, phản ánh việcquản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng chưa tốt Ngược lại, tỷ lệ này thấp phản ánhviệc quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng đạt kết quả tốt
Tuy nhiên tỷ lệ này thấp trong một số trường hợp không đồng nghĩa với việcngân hàng không có rủi ro tín dụng, vì rủi ro có thể đang tiềm tàng trong tổng dư nợhiện tại của ngân hàng, không phải là những khoản vay chưa đến hạn thanh toánkhông có rủi ro Vì thế ngoài hai chỉ tiêu định lượng cơ bản trên người ta còn sử dụngchỉ tiêu định tính sau:
Thứ ba: Các khoản tín dụng có vấn đề
Là những khoan vay chưa đến hạn, chưa được xem là nợ quá hạn nhưng trongquá trình theo dõi sử dụng vốn vay ngân hàng phát hiện thấy khách hàng có nhữngdấu hiệu có khả năng không trả được nợ Như vậy trong trường hợp này rủi ro tíndụng tiềm tàng ở những khoản vay chưa đến thời gian đáo hạn
b Quản lý rủi ro tín dụng trong phân loại và đánh giá khách hàng
Đây chính là nội dung quản lý rủi ro tín dụng quan trọng nhất của các ngân hàngthương mại hiện nay Một cơ chế hoạt động quan trọng của ngành ngân hàng chính là
cơ chế sàng lọc, qua đó lựa chọn dự án tốt nhất để cho vay Việc phân loại khách hàngthường được thực hiện thông qua các mô hình đánh giá rủi ro tín dụng Các mô hìnhnày rất đa dạng bao gồm các mô hình phản ánh về mặt định lượng và các mô hìnhphản ánh về mặt định tính
Mô hình định tính về rủi ro tín dụng
Để tìm hiểu và phân tích về người đi vay, cán bộ tín dụng cần phải nghiên cứuchi tiết “6 khía cạnh – 6C”của người xin vay là Charater (tư cách), Capacity (nănglực), Cash (thu nhập), Collaterat (bảo đảm), Conditions (điều kiện), Controls (kiểmsoát) Tất cả các tiêu chí này phải được đánh giá tốt thì khoản vay mới được xem làkhả thi
•Tư cách người vay: Cán bộ tín dụng phải tin chắc rằng người xin vay phải cómục đích rõ ràng và có thiện chí khi đến hạn trả nợ, ngoài ra phải xem xét mục đíchxin vay có phù hợp với chính sách tín dụng hiện hành của ngân hàng hay không.Thậm chí cho dù mục đích xin vay tốt thì cán bộ tín dụng cũng phải xem xét xemngười vay có thái độ trách nhiệm trong việc sử dụng vốn vay hay không, có trả lời cáccâu hỏi một cách trung thực, có thiện chí và nỗ lực hết sức để hoàn trả nợ của ngườivay gọi chung là tư cách người vay
Trang 24•Năng lực của người vay: Cán bộ tín dụng phải chắc chắn rằng người vay có đủnăng lực hành vi và năng lực pháp lý để ký kết hợp đồng tín dụng Tương tự cán bộtín dụng phải chắc chắn rằng người đại diện cho công ty kư kết hợp đồng tín dụngphải là người ủy quyền hợp pháp của công ty Trường hợp nếu công ty có đối tác kinhdoanh, thì cán bộ tín dụng phải biết thỏa thuận đối tác kinh doanh để xác định xem ai
là người có được ủy quyền ký kết hợp đồng tín dụng cho công ty Một hợp đồng tíndụng được ký kết bởi người không được ủy quyền sẽ không thu hồi được nợ, tiềm ẩnrủi roc ho ngân hàng
•Thu nhập của người vay: Người vay có ba khả năng để tạo ra tiền là: Luồngtiền từ doanh thu bán hàng hay thu nhập, bán thanh lý tài sản, tiền từ phát hành chứngkhoán nợ hay chứng khoán vốn Bất cứ nguồn thu nào từ ba khả năng này đều có thể
sử dụng để trả nợ vay cho ngân hàng Tuy nhiên ngân hàng ưu tiên hơn cả là khả năngthứ nhất và coi đây là nguồn thu đầu tiên và căn bản để trả nợ ngân hàng Nguyênnhân do: Việc bán thanh lý tài sản có thể làm cho năng lực người vay trở lên yếu hơn,khiến cho ngân hàng là chủ nợ ít được bảo đảm
• Bảo đảm tiền vay: Khi đánh giá khía cạnh bảo đảm tiền vay, cán bộ tín dụngphải tự hỏi người vay có sở hữu một giá trị nào hay tài sản có chất lượng để hỗ trợcho khoản vay Cán bộ tín dụng phải đặc biệt chú ý đến những yếu tố nhạy cảm như:tuổi thọ, điều kiện, mức độ chuyên dụng của tài sản người vay Khía cạnh công nghệcũng phải đặc biệt chú ý, bởi vì nếu tài sản của người vay có công nghệ lạc hậu thì giátrị giảm rất nhiều và khó tìm được người mua trong trường hợp người vay không trảđược nợ
• Các điều kiện: Cán bộ tín dụng là nhà phân tích tín dụng cần phải biết xuhướng hiện hành về công việc kinh doanh và ngành nghề của người vay, cũng như khiđiều kiện kinh tế thay đổi sẽ có ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động kinh doanh củakhách hàng Hầu hết các ngân hàng đều duy trì các files dữ liệu thông tin bao gồm các
dữ liệu cần quan tâm
• Kiểm soát: Tập trung vào những vấn đề như: Các thay đổi trong luật pháp vàquy chế có ảnh hưởng xấu đến người vay hay không? Yêu cầu tín dụng của người cóđáp ứng tiêu chuẩn của ngân hàng và nhà quản lý về chất lượng tín dụng hay không?
Các chỉ tiêu 6C đã giúp cán bộ tín dụng và phân tích trong việc trả lời một câuhỏi tổng quát: người vay có đủ tư cách? Khi câu hỏi này trả lời thì câu hỏi tiếp theo sẽ
là hợp đồng tín dụng được kí kết đúng đắn và hợp lệ, đáp ứng được yêu cầu của ngườivay của ngân hàng?
Cán bộ tín dụng phải co trách nhiệm và làm thỏa mãn yêu cầu đồng thời củahai đối tượng là người vay và chủ nợ của ngân hàng Điều này đòi hỏi trước hết nội
Trang 25dung hợp đồng tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của người vay theo một kế hoạch trả nợthuận lợi Tạo điều kiện thuận lợi để người vay có khả năng xử lý các nghĩa vụ trả nợ,bởi vì sự thành đạt cuả ngân hàng phụ thuộc vào sự thành công của khách hàng.Ngoài ra cán bộ tín dụng phải có khả năng cố vấn tài chính cho khách hàng đồng thời
cố vấn khách hàng hoàn thành đơn xin vay
Một hợp đồng tín dụng hợp lệ phải bảo vệ quyền lợi của ngân hàng bằng cáchquy định những điều khoản giới hạn hoạt động của người vay, nếu các hoạt động này
đe dọa khả năng thu hồi vốn của ngân hàng Quá trình cưỡng chế thu hồi nợ vay cũngphải được quy định cụ thể và rõ ràng trong hợp đồng tín dụng
Trong khi những công ty lớn và các khách hàng khác có hệ số tín nhiệm caokhông cần bảo đảm tín dụng, những khách hàng còn lại thường được yêu cầu có biệnpháp bảo đảm tín dụng như: cầm cố, thế chấp tài sản hay bảo lãnh trả nợ của ngườithứ ba Việc ngân hàng nhận bảo đảm tín dụng nhằm hai mục đích: Thứ nhất là nếungười không trả nợ đúng quy định, thì ngân hàng có quyền bán tài sản cầm cố hay thếchấp để thu hồi nợ, thứ hai là nhận bảo đảm tín dụng tạo cơ sử thuận lợi cho ngânhàng lợi thế về tâm lý cho người vay Bởi vì một tài sản là vật đặt cọc buộc người vayphải có trách nhiệm hơn trong việc hoàn trả nợ vay để khỏi phải gán những tài sản củamình Như vậy câu hỏi quan trọng thứ ba đối với mỗi hợp đồng tín dụng là ngân hàng
có thể đòi nợ thuận lợi bằng tài sản đảm bảo hay thu nhập của người vay?
Mô hình điểm số Z: Được hình thành để cho điểm tín dụng đối với các công tysản xuất của Mỹ và hiện nay có rất nhiều các ngân hàng áp dụng Đại lượng Z làthước đo tổng hợp để phân loại rủi ro tín dụng đối với người vay phụ thuộc vào: 1- Trị số của các chỉ số tài chính của người vay (Xi)
2- Tầm quan trọng của các chỉ tiêu này trong việc xác định xác suất vỡ nợ củangười vay trong quá khứ
Từ đó đi đến mô hình cho điểm sau:
Z = 1, 2 X1 + 1, 4X2 + 3, 3X3 + 0, 6 X4 + 1, 0X5
Trong đó:
X1: tỷ số vốn lưu động ròng/tổng tài sản
X2: tỷ số lợi nhuận trước thuế và tiền lãi/ tổng tài sản
X3: tỷ số “ lợi nhuận trước thuế và tiền lãi/tổng tài sản”
X4: tỷ số “trị giá cổ phiếu/giá trị ghi sổ của nợ dài hạn”
X5: tỷ số “doanh thu/tổng tài sản”
Trị số Z càng cao thì người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp, như vậy trị số Z thấphay là 1 số âm là 1 căn cứ để xếp khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao
Trang 26Theo mô hình này, bất cứ công ty nào có điểm số Z thấp hơn 1,81 phải xếp vàonhóm rủi ro tín dụng (RRTD) cao Căn cứ vào kết luận này, ngân hàng sẽ không cấptín dụng cho khách hàng này cho đến khi cải thiện điểm số Z lớn hơn 1,81
Bên cạnh những ưu điểm thì mô hình điểm số tín dụng có những hạn chế sau:
- Mô hình không cho phép phân biệt khách hàng thành 2 nhóm “vỡ nợ” và
“không vỡ nợ” Thực tế, vỡ nợ được phân thành nhiều loại từ không trả hay chậm trễtrong trả lãi tiền vay đến việc không trả nợ gốc và tiền lãi nợ vay Điều này hàm ý,cần có 1 mô hình cho điểm chính xác hơn, toàn diện nhiều thang điểm để phân biệtloại khách hàng thành nhiều nhóm tương ứng với mức đọ vỡ nợ khác nhau
- Không có lý do rõ ràng để giải thích sự bất biến về tầm quan trọng của biến
số thời gian, dù trong ngắn hạn Tương tự như vậy, các biến số X cũng không phải làbất biến, đặc biệt là khi điều kiện thị trường và kinh doanh thường xuyên thay đổi.Ngoài ra, mô hình cũng giả thiết rằng các biến số X là hoàn toàn độc lập không phụthuộc lẫn nhau
- Đã không tính tới một số nhân tố quan trọng nhưng khó lượng hóa, nhưng lạiảnh hưởng đáng kể đến mức RRTD của khách hàng, ví dụ yếu tố “danh tiếng” củakhách hàng Yếu tố “mối quan hệ truyền thống” giữa khách hàng và ngân hàng, hayyếu tố vĩ mô như chu kỳ kinh tế, chu kỳ kinh doanh Nhìn chung, các nhân tố nàythường không được đề cập trong mô hình điểm tín dụng Z Mặt khác, mô hình chođiểm thường sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng khác như giá thị trường củacác tài sản tài chính
+ Mô hình điểm tín dụng
Mô hình điểm tín dụng tiêu dùng
Ngày nay các ngân hàng sử dụng phương pháp cho điểm để xử lý các đơn xinvay của người tiêu dùng Thực tế, nhiều tổ chức thể tín dụng đã sử dụng mô hìnhđiểm số để để xử lý số lượng đơn yêu cầu ngày một gia tăng, nhưng ngân hàng cũng
sử dụng mô hình này để đoán giá những khoản tín dụng như mua sắm xe hơi, trangthiết bị gia đình, bất động sản và kinh doanh nhỏ Nhiều khách hàng ưa thích sự thuậntiện và nhanh chóng khi đưa ra những yêu cầu tín dụng của hộ được xử lý bằng hệthống cho điểm tự động Thông thường khách hàng có thể gọi điện đến NH ngân hàng
để liên hệ xin vay, thông qua hệ thống máy tính nối mạng, trên cơ sở dữ liệu củakhách hàng, trong vòng vài phút NH ngân hàng có thể thông báo kết quả tín dụng chokhách hàng
Các yếu tố quan trọng liên quan đến khách hàng sử dụng trong mô hình chođiểm tín dụng bao gồm: hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người phụthuộc, sở hữu nhà thu nhập, điện thoại cố định, số loại tài khoản nhân, thời gian công
Trang 27tác Mô hình cho điểm tín dụng thường sử dụng 7 đến 12 hạng mục, mỗi hạng mụccho điểm từ 1 đên 10.
Mô hình tính điểm đối với các doanh nghiệp
Đối với hầu hết các ngân hàng đối tượng khách hàng là doanh nghiệp chiếmmột tỷ lệ không nhỏ Do đó việc xây dựng một hệ thống chấm điểm tín dụng đối vớiđối tượng khách hàng này là vô cùng quan trọng Có một mô hình tính điểm hiệu quả
sẽ là cơ sở để đưa ra các quyết định phòng ngừa rủi ro tín dụng rất hiệu quả
c Quản lý rủi ro tín dụng trong quy trình tín dụng
Quy trình nghiệp vụ cho vay gồm 4 phần tương đương với 4 giai đoạn của quátrình cho vay bao gồm: Quy trình xét duyệt cho vay, quy trình phát tiền vay, quy trìnhkiểm tra sử dụng vốn vay và quy trình thu hồi nợ vay
Trong đó quy trình xét duyệt cho vay và quy trình theo dõi sau vay là 1 trongnhững giai đoạn có ảnh hưởng lớn đến mức độ rủi ro của khoản vay
+ Thẩm định mặt kinh tế kỹ thuật của dự án
+ Thẩm biện pháp bảo đảm tiền vay
Việc thẩm định nhằm hạn chế rủi ro xảy ra trong hoạt động tín dụng
•Kiểm tra theo dõi sử dụng vốn vay
Để hạn chế rủi ro tín dụng các ngân hàng thường có 1 cơ chế giám sát sau khi chogiải ngân Cụ thể bao gồm các nội dung sau:
- Cán bộ tín dụng chủ động kiểm tra sử dụng vốn vay theo đúng kế hoạch đã đặt
Trang 28- Trường hợp điều kiện thực tế của khoản vay không cho phép kiểm tra sử dụngkhoản vay theo kế hoạch cần có những điều chỉnh phù hợp
- Trường hợp khách hàng không hợp tác tạo điều kiện kiểm tra sử dụng vốn vay,cán bộ tín dụng cần thuyết phục khách hàng để đảm bảo thực hiện đúng việc kiểm tra
sử dụng vốn vay theo kế hoạch
- Tùy từng lĩnh vực sản xuất kinh doanh của từng khách hàng có thể kiểm tra cácnội dung khác nhau Cán bộ tín dụng cần phát huy tinh thần trách nhiệm cao, khônkhéo, chủ động trong công việc để có biện pháp kiểm tra thích hợp nhất
Kiểm tra tín dụng không phải là công việc thừa, lãng phí mà rất cần thiết để hìnhthành chính sách cho vay của ngân hàng một cách lành mạnh Nó không những giúpcho nhà quản lý nhận ra những vấn đề 1 cách nhanh chóng, mà còn có tác dụng kiểmtra thường xuyên xem cán bộ tín dụng có chấp hành đúng chính sách cho vay củangân hàng hay không? Kiểm tra tín dụng cũng giúp cho Ban Giám đốc và Hội đồngquản trị trong việc đánh giá toàn bộ tiềm ẩn rủi ro đối với ngân hàng, từ đó đề ra cácbiện pháp phòng chống cũng như định hướng chính sách dự phòng và các chiến lượctăng vốn chủ sở hữu của ngân hàng trong tương lai
d Xử lý nợ xấu
Cho dù hầu hết các ngân hàng đã xây dựng cho một cơ chế đảm bảo an toàn tíndụng, nhưng điều không thể tránh khỏi là một số khoản tín dụng vẫn được thể hiệntrên sổ sách là những khoản tín dụng có vấn đề Những khoản nợ xấu thường bao gồmcác trường hợp: Người vay không thể trả nợ đúng hạn hay nhiều kỳ, tài sản bảo đảmtín dụng bị giảm giá, Trong khi nội dung nợ xấu ít nhiều là khác nhau trong các tìnhhuống khác nhau, nhưng một số đặc điểm chung cho hầu hết các khoản nợ xấu nêntrên như sau:
- Sự chậm trễ bất thường và không có lý do trong việc cung cấp các báo cáo tàichính và trả nợ theo lịch đã thỏa thuận; hoặc chậm trễ trong việc liên hệ với cán bộ tíndụng
- Đối với tín dụng doanh nghiệp, bất cứ sự thay đổi bất thường nào trong phươngthức hạch toán khấu hao, kế hoạch trả lương và phụ cấp, giá trị hàng tồn kho, tàikhoản thuế và thu nhập
- Đối với tín dụng doanh nghiệp, việc cơ cấu lại nợ hay hạn chế thanh toán cổ tức,hay có sự thay đổi vị trí xếp hạng tín nhiệm
- Giá cổ phiếu của công ty thay đổi bất lợi
Trang 29- Thu nhập ròng giảm trong một hay nhiều năm, đặc biệt là các chỉ tiêu như: tỷ lệsinh lời trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ sinh lời trên vốn cổ phần (ROE) hay lợi trướcthuế và lãi suất (EBIT)
- Những thay đổi bất lợi trong cơ cấu nguồn vốn (chỉ tiêu vốn cổ phần trên nợ vay),thanh khoản (chỉ tiêu thanh khoản hiện hành), hay mức độ hoạt động (ví dụ chỉ tiêudoanh thu trên hàng tồn kho)
- Độ lệch của doanh thu hay lưu chuyển tiền tệ so với kế hoạch khi mà tín dụng đãđược cấp
- Những thay đổi bất ngờ, không dự kiến và không có lý do đối với số dư tiền gửicủa khách hàng tại ngân hàng
Những biểu hiện cụ thể của một tín dụng xấu
Các biều hiện của tín dụng có vấn
2- Thường xuyên xin đổi thời hạn, xin
gia hạn bất thường
2- Chính sách cho vay phụ thuộc vàonhững sự kiện có thể xảy ra trongtương lai (ví dụ sự hợp nhất)
3- Có hồ sơ đảo nợ (mỗi lần vay mới
thì nợ gốc giảm đi một ít)
3- Cho vay trên cơ sở lời hứa củakhách hàng duy trì số dư tiền gửi lớn.4- Lãi suất tín dụng cao không bình
thường (để bù đắp RRTD)
4- Thiếu kế hoạch rõ ràng để thanh lýtừng khoản tín dụng
5- Tài khoản phải thu hay hàng tồn
kho tăng không bình thường
5- Tỷ lệ tín dụng cho khách hàng cótrụ sở ngoài lãnh địa hoạt động củangân hàng
tranh (cấp tín dụng xấu để giữ chânkhách hàng)
9- Tin và đánh giá lại tài sản để tăng 9- Cho vay hỗ trợ các mục đích đầu
Trang 30vốn chủ sở hữu cho khách hàng cơ
10- Thiếu báo cáo lưu chuyển luồng
tiền thay dự báo luồng tiền
10- Không nhạy cảm với sự thay đổicủa môi trường kinh tế
11- Khách hàng dựa vào nguồn thu
bất thường để trả nợ (ví dụ bán nhà
xưởng hay máy móc thiết bị)
Vậy ngân hàng phải làm gì khi tín dụng có vấn đề? Giải pháp để thu hồi những khoản tín dụng có vấn đề theo một số bước sau:
Thứ nhất: Luôn đặt mục tiêu là: Tận dụng tối đa các cơ hội để thu hồi đầy đủ nợ
đã cho vay
Thứ hai: Khẩn trương khám phá và báo cáo kịp thời mọi vấn đề thực chất liênquan đến tín dụng, mọi chậm trễ đều làm cho tình hình tín dụng trở nên xấu hơn Thứ ba :Trách nhiệm xử lý tín dụng có vấn đề phải độc lập với chức năng cho vaynhằm tránh xung đột có thể xảy ra với quan điểm của cán bộ tín dụng trực tiếp chovay
Thứ tư : Chuyên gia xử lý tín dụng cần hội ý khẩn với khách hàng về các giải pháp
có thể, đặc biệt là tinh giảm chi phí, tăng nguồn thu, và tăng cường cải tiến công tácquản lý Trước khi hội ý kiến khách hàng, chuyên gia cần phân tích sơ bộ tín dụng cóvấn đề và những nguyên nhân có thể, ghi chú mọi vấn đề đặc biệt có thể khám phá ra(kể cả những chủ nợ liên quan) Xây dựng kế hoạch hành động sau khi đã xác định rủi
ro đối với ngân hàng và bổ sung hồ sơ tín dụng (đặc biệt là yêu cầu bổ sung tài sản vàbảo đảm tín dụng để phù hợp với tình hình mới)
Thứ năm : Dự tính những nguồn thu có thể thu nợ có vấn đề (bao gồm nguồn thu
từ thanh lý tài sản và số dư tiền gửi ngân hàng)
Thứ sáu : Chuyên gia cần tiến hành nghiên cứu nghĩa vụ thuế và những tranh chấpxem khách hàng còn những nghĩa vụ tài chính nào chưa thực hiện
Thứ bảy : Đối với doanh nghiệp, cần đánh giá chất lượng năng lực và sự nhất quántrong quản lý, đồng thời trực tiếp tiến hành khảo sát các hoạt động và các tài sản củadoanh nghiệp
Thứ tám : Phải cân nhắc mọi phương án có thể hoàn thành việc thu hồi nợ có vấn
đề, bao gồm việc thỏa thuận gia hạn nợ tạm thời nếu khách hàng chỉ gặp khó khăntrước mắt Hoặc tìm kiếm giải pháp nhằm tăng cường lưu chuyển tiền tệ cho kháchhàng Các khả năng khác có thể bổ sung tài sản đảm bảo tín dụng, yêu cầu có bảo lãnhcủa người thứ 3, cơ cấu lại doanh nghiệp, sát nhập hay thanh lý công ty nộp đơn xinphá sản
Trang 311.2.3 Đánh giá hoạt động quản lý rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại 1.2.3.1 Khái niệm
Hoạt động của NHTM từ trước đến nay luôn tiềm ẩn những rủi ro lớn Thực tế
đã chứng minh không một ngành nào mà khả năng dẫn đến rủi ro lại lớn như tronglĩnh vực kinh doanh tiền tệ- tín dụng Ngân hàng phải gánh chịu những rủi ro khôngnhững do nguyên nhân chủ quan của mình, mà còn phải gánh chịu những rủi ro kháchhàng gây ra Do đó, có thể nói “rủi ro tín dụng của ngân hàng không những là cấp sốcộng mà có thể là cấp số nhân rủi ro của nền kinh tế”
Do đó, yếu tố quyết định hiệu quả kinh doanh và sự an toàn của ngân hàng lànăng lực và chất lượng quản lý Quản lý ngân hàng là tạo ra hệ thống các hoạt độngthống nhất, phối hợp và liên kết các quá trình lao động của các cán bộ nhân viên từcác phòng ban đến hội đồng quản trị trong ngân hàng, nhằm đạt được mục tiêu kinhdoanh ở mỗi thời kỳ đã xác định, trên cơ sở giảm thiểu các chi phí về nguồn lực Nóiđến chất lượng và năng lực quản lý là nói đến yếu tố con người trong bộ máy quản lý
và hoạt động, thể hiện ở các nội dung: Đề ra được các chính sách kinh doanh đúngđắn và có hiệu quả; Xây dựng các thủ tục quản lý, điều hành các quy trình nghiệp vụhợp lý, sát thực và đúng pháp luật; Tạo lập được cơ cấu tổ chức hợp lý, vận hànhhiệu quả; Giảm thiểu rủi ro về đạo đức trong hệ thống quản lý
Chất lượng quản lý cuối cùng được phản ánh ở tình hình tuân thủ đầy đủ luậtpháp cũng như các quy chế hoạt động, hiệu quả kinh doanh và mức lợi nhuận thuđược tăng lên, duy trì được khả năng thanh toán, sức cạnh tranh và vị thế của ngânhàng trên thị trường ngày một nâng cao, ngân hàng luôn phát triển bền vững trướcnhững biến động trong và ngoài nước
Quản lý rủi ro tín dụng tốt sẽ giúp ngân hàng phát triển, lợi nhuận tăng cao.Khi rủi ro tín dụng xảy ra sẽ phát sinh các khoản nợ khó thu hồi, ảnh hưởng trước mắtcủa nó đến hoạt động ngân hàng là sự ứ đọng vốn dẫn đến làm giảm vòng quay vốncủa ngân hàng Mặt khác, khi có quá nhiều các khoản nợ khó hoặc không thu hồiđược sẽ lại phát sinh các khoản chi phí quản lý, giám sát, thu nợ… Các chi phí nàycòn cao hơn khoản thu nhập từ việc tăng lãi suất các khoản nợ quá hạn bởi vì thực rađây chỉ là những khoản thu nhập ảo, thực tế ngân hàng rất khó có khả năng thu hồiđầy đủ được chúng Do đó khi làm tốt công tác quản lí rủi ro tín dụng ngân hàng sẽgiảm thiểu chi phí, tăng cường lợi nhuận
Hiện nay, công tác quản trị rủi ro tín dụng có vai trò cực kỳ quan trọng đối vớicác ngân hàng nói riêng và cả hệ thống tài chính nói chung Việc đánh giá, thẩm định
Trang 32và quản lý tốt các khoản cho vay, các khoản dự định giải ngân sẽ hạn chế những rủi rotín dụng mà ngân hàng sẽ gặp phải, và tất yếu sẽ giảm bớt nợ xấu cho Ngân hàng.
1.2.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá
Để đánh giá hoạt động quản lý rủi ro tín dụng, các nhà quản trị thường sử dụngcác chỉ tiêu sau:
- Đánh giá thông qua chất lượng tín dụng của ngân hàng
Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp bao gồm sự tuân thủ quy trìnhnghiệp vụ, khả năng quản lý điều hành, trình độ cán bộ đồng thời nó phản ánh mức độthích nghi của NHTM với sự thay đổi của môi trường bên ngoài
* Chỉ tiêu định tính.
Trong quá trình đánh giá chất lượng tín dụng ngoài những chỉ tiêu có thể lượnghoá được thì còn có rất nhiều yếu tố mà không thể lượng hoá được Các chỉ tiêu địnhtính được qua quy chế, chế độ, thể lệ tín dụng, qua độ thoả mãn của khách hàng đốivới sản phẩm của khách hàng, độ tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng
* Các chỉ tiêu định lượng
+ Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ Chỉ tiêu này dùng để so sánh sự tăng trưởng dư nợqua các năm để đánh giá khả năng cho vay , tìm kiếm khách hàng và đánh giá tìnhhình thực hiện kế hoạch tín dụng của ngân hàng
Tỷ lệ này càng cao thì mức độ hoạt động của Ngân hàng càng ổn định và có hiệu quả
và ngược lại
+ Tỷ lệ tăng trưởng doanh số cho vay: Chỉ tiêu này dùng để so sánh sự tăngtrưởng dư nợ qua các năm để đánh giá khả năng cho vay, tìm kiếm khách hàng vàđánh giá tình hình thực hiện kế hoạch tín dụng của ngân hàng Doanh số cho vay làchỉ tiêu phản ánh quy mô cấp tín dụng của ngân hàngđối với nền kinh tế Đây là chỉtiêu phản ánh chính xác, tuyệt đối về hoạt độngcho vay trong một thời gian dài, thấyđược khả năng hoạt động tín dụng qua các năm
+ Tổng dư nợ là một chỉ tiêu phản ánh khối lượng tiền ngân hàng cấp cho nềnkinh tế tại một thời điểm Tổng dư nợ bao gồm dư nợ cho vay ngắn hạn,trung hạn, dàihạn Tổng dư nợ thấp chứng tỏ hoạt động của ngân hàng yếu kém, không có khả năng
mở rộng, khả năng tiếp thị của ngân hàng kém, trình độ cán bộ công nhân viên thấp.Mặc dù vậy, không có nghĩa là chỉ tiêu này càng cao thì chất lượng tín dụng càng caobởi vì đằng sau những khoản tín dụng đó còn những rủi ro tín dụng mà ngân hàngphải gánh chịu Chỉ tiêu tổng dư nợ phản ánh quy mô tín dụng của ngân hàng, sự uytín của ngân hàng đối với doanh nghiệp Tổng dư nợ của ngân hàng khi so sánh vớithị phần tín dụng của ngân hàng trên địa bàn sẽ cho chúng ta biết được dư nợ củangân hàng là cao hay thấp
Trang 33Kết cấu dư nợ phản ánh tỷ trọng của các loại dư nợ trong tổng dư nợ Phân tíchkết cấu dư nợ sẽ giúp ngân hàng biết được gân hàng cần đẩy mạnh cho vay theo loạihình nào để cân đối với thực lực của ngân hàng Kết cấu dư nợ khi so với kết cấunguồn huy động sẽ cho biết rủi ro của loại hình cho vay nào là nhiều nhất
+ Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng
Đây là chỉ tiêu thường được các ngân hàng thương mại tính toán hàng nămđểđánh giá khả năng tổ chức quản lý vốn tín dụng và chất lượng tín dụng trong việc đápứng nhu cầu của khách hàng
Hệ số này phản ánh số vòng chu chuyển của vốn tín dụng Vòng quay vốn tíndụng càng cao chứng tỏ nguốn vốn vay ngân hàng đã luân chuyển nhanh,tham gia vàonhiều chu kỳ sản xuất và lưu thông hàng hoá Với một số vốn nhất định, nhưng dovòng quay vốn tín dụng nhanh nên ngân hàng đã đáp ứng được nhu cầu vốn cho cácdoanh nghiệp, mặt khác ngân hàng có vốn để tiếp tục đầu tư vào các lĩnh vực khác
Như vậy, hệ số này càng tăng phản ánh tình hình quản lý vốn tín dụng càngtốt, chất lượng tín dụng càng cao
+ Chỉ tiêu thu nhập từ hoạt động tín dụng
Không thể nói một khoản tín dụng có chất lượng cao khi nó không đem lại mộtkhoản thu nhập cho ngân hàng Nguồn thu từ hoạt động tín dụng là nguồn thu chủ yếu
để ngân hàng tồn tại và phát triển Lợi nhuận do tín dụng đem lại chứng tỏ các khoảnvay không những thu hồi được gốc mà còn có lãi, đảm bảo được độ an toàn của nguồnvốn cho vay Ta thấy rằng nếu ngân hàng thương mại chỉ chú trọng vào việc giảm vàduy trì một tỷ lệ nợ quá hạn thấp mà không tăng được thu nhập từ hoạt động tín dụngthì tỷ lệ nợ quá hạn thấp cũng không có ý nghĩa Chất lượng tín dụng được nâng caochỉ thực sự có ý nghĩa khi nó góp phần nâng cao khả năng sinh lời của ngân hàng
+ Ngoài các chỉ tiêu trên thì có thể kể đến một số các thong số như: hệ số antoàn vốn tối thiểu (không quá 8%), giới hạn cho vay một khách hàng (không quá15%) hay dư nợ một khách hàng (không quá 10% vốn điều lệ và các quỹ)
- Đánh giá thông qua việc sử dụng chi phí quản lý tín dụng
Đó là các khoản chi phí sử dụng cho hoạt động để xử lý tài sản bảo đảm nợ vay, chiphí nâng cấp, cải tạo, sửa chữa tài sản bảo đảm nợ vay, chi phí môi giới để bán, chothuê tài sản đảm bảo
- Định kỳ và thường xuyên phân tích, đánh giá diễn biến về cơ cấu đồng tiền, lãi suất,
kỳ hạn, quy mô, nghĩa vụ trả nợ cônghiện tại và xu hướng tương lai nhằm nhận diệnmức độ rủi ro để có biện pháp xử lý rủi ro phù hợp
Trang 34- Xây dựng mô hình và phương pháp kỹ thuật lượng hoá rủi ro đối với danhmục nợ để dự tính chi phí có thể phát sinh trong trường hợp rủi ro xảy ra do thay đổibất lợi của thị trường.
- Thực hiện đánh giá mức độ thiệt hại do rủi ro tín dụng để xác định xác suấtviệc mất khả năng trả nợ của người vay lại vốn vay nước ngoài của Chính phủ, ngườiđược bảo lãnh thông qua việc phân loại nợ
Các chỉ tiêu này có liên quan chặt chẽ với nhau và phản ánh các mức độ rủi rotín dụng khác nhau Đối với ngân hàng, việc khách hàng không trả đúng hạn có liênquan đến các thanh khoản và rủi ro thanh khoản và rủi ro thanh khoản: chi phí tăng
để chi trả tiền gửi và cho vay đúng hợp đồng Nợ khó đòi là một lời cảnh báo chongân hàng: Hy vọng thu lại tiền vay trở nên mong manh, ngân hàng cần có biện pháphữu hiệu để giải quyết
1.3 Nhân tố ảnh hưởng tới quản lý rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại
1.3.1 Nhân tố chủ quan
- Chính sách tín dụng: một trong những yếu tố quan trọng bảo đảm cho danhmục tín dụng của ngân hàng an toàn và hiệu quả đó là việc hình thành một “chínhsách tín dụng” hiệu quả Qua đó cán bộ tín dụng (CBTD) biết được họ phải làm gì vàlàm như thế nào khi thực hiện một khoản cho vay, trách nhiệm của họ tới đâu, đồngthời nhà quản lý có định hướng để đạt được một danh mục tín dụng đa mục đích nhưtăng khả năng sinh lợi, kiểm soát rủi ro và đáp ứng các đòi hỏi từ phía nhà quản lý
- Sự tuân thủ trong việc thực thi chính sách tín dụng và quy trình cho vay, đặcbiệt là công tác nhận dạng, đo lường, kiểm soát và tài trợ rủi ro: quá trình cho vayđược bắt đầu từ khâu nhận dạng, đo lường và đánh giá rủi ro, quyết định tín dụng, giảingân, kiểm tra quá trình sử dụng vốn vay đến khi thu hồi được nợ Việc xây dựng quytrình cho vay chặt chẽ và thực hiện đúng quy trình này sẽ hạn chế được điều bất lợixảy ra và đảm bảo được độ an toàn của đồng vốn Vì thế, công tác kiểm soát rủi ro sẽgiúp ngân hàng khắc phục được những thiếu sót này
Mặt khác, chính sách tín dụng cũng không nên quy định quá chặt chẽ sẽ bópnghẹt tính sáng tạo của cán bộ tín dụng Do vậy, việc đề ra một chính sách tín dụngphù hợp là hết sức cần thiết, và đó là nền tảng cho hoạt động tín dụng của ngân hàng.Bên cạnh đó, quy trình cấp tín dụng là do Ban giám đốc ngân hàng quyết định,được xây dựng một cách chi tiết và quán triệt xuống từng chi nhánh ngân hàng, từngcán bộ ngân hàng Quy trình phân tích tín dụng cần thể hiện những nội dung mà cán
bộ tìn dụng phải thực hiện khi cho vay nhằm hạn chế rủi ro như phân tích tình hình
Trang 35sản xuất kinh doanh, thẩm định dự án, thẩm định tào sản đảm bảo, lịch sử của người
đi vay, mục đích vay, kiểm tra, kiểm soát việc sử dụng vốn vay… Áp dụng một quytrình tín dụng chặt chẽ và được tuân thủ nghiêm ngặt sẽ giúp ngân hàng ra các quyếtđịnh cấp tín dụng đúng đắn, tiết kiệm thời gian chi phí, và đảm bảo an toàn vốn trongkinh doanh của ngân hàng, giảm thiểu những rủi ro không mong muốn
- Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ các ngân hàng:
Kiểm tra nội bộ có điểm mạnh hơn thanh tra Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ởtính thời gian vì nó nhanh chóng, kịp thời ngay khi vừa phát sinh vấn đề và tính sâusát của người kiểm tra viên, do việc kiểm tra được thực hiện thường xuyên cùng vớicông việc kinh doanh Nhưng trong thời gian trước đây, công việc kiểm tra nội bộ củacác ngân hàng hầu như chỉ tồn tại trên hình thức Kiểm tra nội bộ cần phải được xemnhư hệ thống “thắng” của cỗ xe tín dụng Cỗ xe càng lao đi với vận tốc lớn thì hệthống này càng phải an toàn, hiệu quả thì mới tránh cho cỗ xe khỏi đi vào những ngã
rẽ rủi ro vốn luôn luôn tồn tại thường trực trên con đường đi tới
- Bố trí cán bộ thiếu đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ:
Một số vụ án kinh tế lớn trong thời gian vừa qua có liên quan đến cán bộNHTM đều có sự tiếp tay của một số cán bộ ngân hàng cùng với khách hàng làm giả
hồ sơ vay, hay nâng giá tài sản thế chấp, cầm cố lên quá cao so với thực tế để rút tiềnngân hàng
Đạo đức của cán bộ là một trong các yếu tố tối quan trọng để giải quyết vấn đềhạn chế rủi ro tín dụng Một cán bộ kém về năng lực có thể bồi dưỡng thêm, nhưngmột cán bộ tha hóa về đạo đức mà lại giỏi về mặt nghiệp vụ thì thật vô cùng nguyhiểm khi được bố trí trong công tác tín dụng
- Thiếu giám sát và quản lý sau khi cho vay:
Các ngân hàng thường có thói quen tập trung nhiều công sức cho việc thẩmđịnh trước khi cho vay mà lỏng lẻo quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi chovay Khi ngân hàng cho vay thì khoản cho vay cần phải được quản lý một cách chủđộng để đảm bảo sẽ đựơc hoàn trả Theo dõi nợ là một trong những trách nhiệm quantrọng nhất của cán bộ tín dụng nói riêng và của ngân hàng nói chung Việc theo dõihoạt động của khách hàng vay nhằm tuân thủ các điều khoản đề ra trong hợp đồng tíndụng giữa khách hàng và ngân hàng nhằm tìm ra những cơ hội kinh doanh mới và mởrộng cơ hội kinh doanh
Tuy nhiên trong thời gian qua các NHTM chưa thực hiện tốt công tác này.Điều này một phần do yếu tố tâm lý ngại gây phiền hà cho khách hàng của cán bộngân hàng, một phần do hệ thống thông tin quản lý phục vụ kinh doanh tại các doanh
Trang 36nghiệp quá lạc hậu, không cung cấp được kịp thời, đầy đủ các thông tin mà NHTMyêu cầu
- Hệ thống thông tin: Cán bộ tín dụng đưa ra quyết định cho vay chủ yếu dựatrên nguồn thông tin đầu vào họ thu thập được Do vậy, nếu thông tin thu thập đượcchính xác và đáng tin cậy thì giúp cho cán bộ tín dụng đưa ra được quyết định cho vayđúng đắn, từ đó giúp hạn chế rủi ro tín dụng, và ngược lại
Sự hợp tác giữa các NHTM quá lỏng lẻo, vai trò của Trung tâm thông tin tíndụng ngân hàng (CIC) chưa thực sự hiệu quả: Kinh doanh ngân hàng là một nghề đặcbiệt huy động vốn để cho vay hay nói cách khác đi vay để cho vay, do vậy vấn đề rủi
ro trong hoạt động tín dụng là không thể tránh khỏi, các ngân hàng cần phải hợp tácchặt chẽ với nhau nhằm hạn chế rủi ro Sự hợp tác nảy sinh do nhu cầu quản lý rủi rođối với cùng một khách hàng khi khách hàng này vay tiền tại nhiều ngân hàng Trongquản trị tài chính, khả năng trả nợ của một khách hàng là một con số cụ thể, có giớihạn tối đa của nó Nếu do sự thiếu trao đổi thông tin, dẫn đến việc nhiều ngân hàngcùng cho vay một khách hàng đến mức vượt quá giới hạn tối đa này thì rủi ro chia đềucho tất cả chứ không chừa một ngân hàng nào
Trong tình hình cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng gay gắt như hiện nay,vai trò của CIC là rất quan trọng trong việc cung cấp thông tin kịp thời, chính xác đểcác ngân hàng có các quyết định cho vay hợp lý Đáng tiếc là hiện nay ngân hàng dữliệu của CIC chưa đầy đủ và thông tin còn quá đơn điệu, chưa được cập nhật và xử lýkịp thời
- Chất lượng và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ nhân viên ngân hàng: conngười là yếu tố quyết định sự thành bại trong quản lý tài sản của ngân hàng nói chung
và tài sản tín dụng nói riêng Hoạt động ngân hàng ngày càng phát triển và đa dạng,
sử dụng các phương tiện làm việc hiện đại, tiên tiến đòi hỏi chất lượng đội ngũ nhânviên phải đảm bảo nghiệp vụ chuyên môn lẫn đạo đức Chất lượng nhân viên chính làkhả năng giao tiếp, trình độ ngoại ngữ, tin học, khả năng hiểu biết về các lĩnh vựckinh tế, xã hội Đội ngũ nhân viên có năng lực cao, có đạo đức nghề nghiệp sẽ giúpnâng cao chất lượng dịch vụ tín dụng cung cấp, tạo niềm tin cho ngân hàng, làm cho
họ hiểu biết và gắn bó với ngân hàng hơn, tránh rủi ro trong quan hệ tín dụng
- Thông tin tín dụng: là yếu tố không thể thiếu trong quyết định cấp và quản lýtín dụng bởi quan hệ tín dụng được hình thành chủ yếu dựa vào niềm tin và niềm tinnày được xác lập dựa vào nội dung, chất lượng thông tin có được Ngân hàng cần phải
Trang 37nắm được thông tin phi tài chính (tư cách, uy tín, năng lực quản lý, kinh doanh, quan
hệ xã hội ) và thông tin tài chính (khả năng tài chính, kết quả kinh doanh quá khứ,công nợ, nhu cầu vốn hợp lý, hiệu quả hoạt động SXKD, khả năng trả nợ, tài sản thếchấp ) về khách hàng vay vốn
- Công tác tổ chức, quản lý, kiểm soát nội bộ: công tác tổ chức, quản lý đượctiến hành chặt chẽ, khoa học; các phòng ban chức năng có mối quan hệ hỗ trợ lẫnnhau trong hoạt động trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc tín dụng giúp cho hoạt động tíndụng diễn ra lành mạnh, hiệu quả, ngược lại, sẽ tạo khe hở cho nhân viên NH câu kếtvới khách hàng gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho ngân hàng Công tác tổ chứccần chú trọng đặc biệt bộ phận quản lý rủi ro và kiểm soát nội bộ
- Cơ sở vật chất và công nghệ ngân hàng: với sự xuất hiện ngày càng nhiều cáctrung gian tài chính càng làm cho mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt Nếu khôngthường xuyên đầu tư mở rộng cơ sở vật chất, cải tiến công nghệ, ngân hàng sẽ khó cóthể mở rộng quy mô hoạt động, địa bàn hoạt động sẽ bị thu hẹp, khả năng thu hút cáckhoản tín dụng có chất lượng sẽ bị hạn chế Vì vậy, rủi ro tín dụng sẽ có nguy cơ xuấthiện nhiều, việc thua lỗ và thất bại đối với ngân hàng là điều khó tránh khỏi
- Hoạt động ngân hàng trong cơ chế thị trường, nhất là khi hội nhập WTO,không ít nhà lãnh đạo ngân hàng không nắm bắt và tìm hiểu thông tin liên quan đếnkhoản vay một cách chính xác, thiếu thận trọng trong phân tích diễn biến thị trường
về mặt hàng khách hàng kinh doanh
- Về chủ quan: Khi nói đến rủi ro đạo đức trong hoạt động tín dụng ngân hàng,chúng ta thường đề cập đến rủi ro đạo đức của cán bộ tín dụng mà ít nói đến rủi rođạo đức của người quản lý Một nhà quản lý làm đúng chức năng, nhiệm vụ thì phòngngừa được sự phát sinh của loại rủi ro này Nhưng trên thực tế, vì lợi ích cá nhân haymột nhóm tập thể cán bộ quản lý trong công tác điều hành đã vô tình hoặc cố ý tạođiều kiện, kẽ hở cho loại rủi ro này phát triển Chẳng hạn khi nhà quản lý hay bộ phậnnhóm cán bộ quản lý đã có quan hệ lợi ích với khách hàng, mặc dù điều kiện kháchhàng vay vốn có thể chưa hội tụ đủ, thậm chí không đủ điều kiện và đã được cán bộtín dụng, thẩm định ghi rõ nguyên nhân trong báo cáo thẩm định là không duyệt chovay Thông thường thì những khoản vay đó sẽ không được phê duyệt, nhưng vì một lý
do tế nhị nào đó, nhà quản lý hay nhóm cán bộ quản lý đã bằng cách này hay cáchkhác, hướng dẫn khách hàng hợp thức hoá hồ sơ, thậm chí còn yêu cầu cán bộ tíndụng, thẩm định phải thực hiện theo ý kiến chỉ đạo (trên thực tế thì rất ít cán bộ tíndụng có thể tự bảo vệ quan điểm ban đầu của mình)
1.3.2 Nhân tố khách quan
Trang 38- Trình độ quản lý và phương án vay của khách hàng
+ Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay: Đa sốcác doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án kinh doanh cụ thể,khả thi Số lượng các doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, cố ý lừa đảo ngân hàng
để chiếm đoạt tài sản không nhiều Tuy nhiên những vụ việc phát sinh lại hết sứcnặng nề, liên quan đến uy tín của các cán bộ, làm ảnh hưởng xấu đến các doanhnghiệp khác
+ Khả năng quản lý kinh doanh kém: Khi các doanh nghiệp vay tiền ngân hàng
để mở rộng quy mô kinh doanh, đa phần là tập trung vốn đầu tư vào tài sản vật chấtchứ ít doanh nghiệp nào mạnh dạn đổi mới cung cách quản lý, đầu tư cho bộ máygiám sát kinh doanh, tài chính, kế toán theo đúng chuẩn mực Quy mô kinh doanhphình ra quá to so với tư duy quản lý là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của cácphương án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra nó phải thành công trên thực tế
+ Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch: Quy mô tài sản,nguồn vốn nhỏ bé, tỷ lệ nơ so với vốn tự có cao là đặc điểm chung của hầu hết cácdoanh nghiệp Việt Nam Ngoài ra, thói quen ghi chép đầy đủ, chính xác, rõ ràng các
sổ sách kế toán vẫn chưa được các doanh nghiệp tuân thủ nghiêm chỉnh và trung thực
Do vậy, sổ sách kế toán mà các doanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng nhiều khi chỉmang tính chất hình thức hơn là thực chất Khi cán bộ ngân hàng lập các bản phântích tài chính của doanh nghiệp dựa trên số liệu do các doanh nghiệp cung cấp,thường thiếu tính thực tế và xác thực
Đây cũng là nguyên nhân vì sao ngân hàng vẫn luôn xem nặng phần tài sản thếchấp như là chỗ dựa cuối cùng để phòng chống rủi ro tín dụng
- Nhân tố môi trường kinh tế
+ Sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giớiNền kinh tế Việt Nam vẫn còn lệ thuộc quá nhiều vào sản xuất nông nghiệp và côngnghiệp phục vụ nông nghiệp (nuôi trồng, chế biến thực phẩm và nguyên liệu), dầuthô, may gia công,… vốn rất nhạy cảm với rủi ro thời tiết và giá cả thế giới, nên dễ bịtổn thương khi thị trường thế giới biến động xấu
Ngành dệt may trong một số năm gần đây đã gặp không ít khó khăn vì bịkhống chế hạn ngạch làm ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của cácdoanh nghiệp nói riêng và của các ngân hàng cho vay nói chung Ngành thủy sảncũng gặp nhiều lao đao vì các vụ kiện bán phá giá vừa qua
Không chỉ xuất khẩu, các mặt hàng nhập khẩu cũng dễ bị tổn thương khôngkém Mặt hàng sắt thép cũng bị ảnh hưởng lớn của giá thép thế giới Việc tăng giá
Trang 39phôi thép làm cho một số doanh nghiệp sản xuất thép trong nước phải ngưng sản xuất
do chi phí giá thành rất cao trong khi không tiêu thụ được sản phẩm
+ Rủi ro tất yếu của quá trình tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế:
Quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ xấu giatăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các doanh nghiệp,những khách hàng thường xuyên của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ vàquy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường Bên cạnh đó, bản thân sự cạnh tranh củacác ngân hàng thương mại trong nước và quốc tế trong môi trường hội nhập kinh tếcũng khiến cho các ngân hàng trong nước với hệ thống quản lý yếu kém gặp phảinguy cơ rủi ro nợ xấu tăng lên bởi hầu hết các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn sẽ
bị các ngân hàng nước ngoài thu hút
+ Thiếu sự quy hoạch, phân bổ đầu tư một cách hợp lý đã dẫn đến khủnghoảng thừa về đầu tư trong một số ngành: Nền kinh tế thị trường thị trường tất yếu sẽdẫn đến cạnh tranh, các nhà kinh doanh sẽ tìm kiếm ngành nào có lợi nhất để đầu tư
và sẽ rời bỏ những ngành không đem lại lợi nhuận cho họ và do đó có sự chuyển dịchvốn từ ngành này qua ngành khác và đây cũng là một hiện tượng khách quan Tuynhiên ở nước ta thời gian qua, sự cạnh tranh đã phát triển một cách tự phát, hoàn toànkhông đi kèm với sự quy hoạch hợp lý, hợp tác, phân công lao động, chuyên môn hoálao động, sự bất lực trong vai trò của các hiệp hội nghề nghiệp và sự điều tiết vĩ môcủa Nhà nước Điều này dẫn đến sự gia tăng quá đáng vốn đầu tư vào một số ngành,dẫn đến khủng hoảng thừa, lãng phí tài nguyên quốc gia
- Nhân tố môi trường pháp lý
+ Sự kém hiệu quả của cơ quan pháp luật cấp địa phương: Trong những nămgần đây, Quốc hội, Ủy ban thường vụ quốc hội, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước(NHNN)và các cơ quan liên quan đã ban hành nhiều luật,văn bản dưới luật hướng dẫnthi hành luật liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng Tuy nhiên, luật và các vănbản đã có song việc triển khai vào hoạt động ngân hàng thì lại hết sức chậm chạp vàcòn gặp phải nhiều vướng mắc bất cập như một số văn bản về việc cưỡng chế thu hồi
nợ
Những văn bản này đều có quy định: Trong những hợp khách hàng không trảđược nợ, NHTM có quyền xử lý tài sản đảm bảo nợ vay Trên thực tế, các NHTMkhông làm được điều này vì ngân hàng là một tổ chức kinh tế, không phải là cơ quanquyền lực nhà nước, không có chức năng cưỡng chế buộc khách hàng bàn giao tài sảnđảm bảo cho ngân hàng để xử lý hoặc việc chuyển tài sản đảm bảo nợ vay để Tòa án
xử lý qua con đường tố tụng… cùng nhiều các quy định khác dẫn đến tình trạng
Trang 40+ Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của Ngân hàng Nhà nước: Bêncạnh những cố gắng và kết quả đạt được, hoạt động thanh tra ngân hàng và đảm bảo
an toàn hệ thống chưa có sự cải thiện căn bản về chất lượng Năng lực cán bộ thanhtra, giám sát chưa đáp ứng được yêu cầu, thậm chí một số nghiệp vụ kinh doanh vàcông nghệ mới Thanh tra ngân hàng còn chưa theo kịp Nội dung và phương phápthanh tra, giám sát lạc hậu, chậm đựơc đổi mới
Vai trò kiểm toán chưa đựơc phát huy và hệ thống thông tin chưa được tổ chứcmột cách hữu hiệu Thanh tra tại chỗ vẫn là phương pháp chủ yếu, khả năng kiểm soáttoàn bộ thị trường tiền tệ và giám sát rủi ro còn yếu Thanh tra ngân hàng còn hoạtđộng một cách thụ động theo kiểu xử lý vụ việc đã phát sinh, ít có khả năng ngănchặn và phòng ngừa rủi ro và vi phạm Mô hình tổ chức của thanh tra ngân hàng cònnhiều bất cập
Do vậy mà có những sai phạm của các NHTM không được thanh tra NHNNcảnh báo, có biện pháp ngăn chặn từ đầu, để đến khi hậu quả nặng nề đã xảy ra rồimới can thiệp Hàng loạt các sai phạm về cho vay, bảo lãnh tín dụng ở một số NHTMdẫn đến những rủi ro rất lớn, có nguy cơ đe dọa sự an toàn của cả hệ thống lẽ ra có thể
đã được ngăn chặn ngay từ đầu nếu bộ máy thanh tra phát hiện và xử lý sớm hơn
- Hệ thống thông tin quản lý còn bất cập:
Hiện nay ở Việt Nam chưa có một cơ chế công bố thông tin đầy đủ về doanhnghiệp và ngân hàng Trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng (CIC) của NHNN đãhoạt động đã quá một thập niên và đã đạt được những kết quả bước đầu rất đángkhích lệ trong việc cung cấp thông tin kịp thời về tình hình hoạt động tín dụng nhưngchưa phải là cơ quan định mức tín nhiệm doanh nghiệp một cách độc lập và hiệu quả,thông tin cung cấp còn đơn điệu, thiếu cập nhật và ngoài ra việc kết nối thông tin vớitrang Web – CIC qua đường X25 của Chi cục tin học ngân hàng còn nhiều trục trặc,chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu tra cứu thông tin
Đó cũng là thách thức cho hệ thống ngân hàng trong việc mở rộng và kiểmsoát tín dụng cho nền kinh tế trong điều kiện thiếu một hệ thống thông tin tươngxứng Nếu các ngân hàng cố gắng chạy theo thành tích, mở rộng tín dụng trong điềukiện môi trường thông tin không cân xứng thì sẽ gia tăng nguy cơ nợ xấu cho hệthống ngân hàng
- Ý thức trách nhiệm của khách hàng
Yếu tố này có ảnh hưởng đáng kể tới khả năng hạn chế rủi ro tín dụng của ngânhàng Ý thức của khách hàng ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của ngân hàng ngay từkhâu thẩm định, khi mà khách hàng có thể cố tình khai tăng nhu cầu vốn để được vay