Cách mạng Tháng Mười Nga đã lật đổ nhà nước tư sản, thiết lập chính quyền Xô Viết, mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử loài người, mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc thuộc địa..
Trang 1TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Câu 1: Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh ( Cơ sở khách quan)
a Bối cảnh lịch sử hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
Bối cảnh thời đại
- Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn cạnh tranh tự do chuyển sang giai đoạn độc quyền đã xác lập quyền thống trị của chúng trên phạm vi toàn thế giới Chủ nghĩa đế quốc đã trở thành kẻ thù chung của các dân tộc thuộc địa
- Thắng lợi cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã làm “thức tỉnh các dân tộc Châu Á” Cách mạng Tháng Mười Nga đã lật đổ nhà nước tư sản, thiết lập chính quyền Xô Viết, mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử loài người, mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc thuộc địa
- Tháng 3 năm 1919 Quốc tế cộng sản (Quốc tế thứ 3) ra đời, chủ trương đoàn kết phong trào công nhân trong các nước tư bản chủ nghĩa Phương Tây và phong trào giải phóng thuộc địa phương Đông trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa
đế quốc
Bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối Tk XIX đầu Tk XX
- Năm 1858, trước sự xâm lược của thực dân Pháp, triều đình nhà Nguyễn lần lượt ký kết các hiệp ước đầu hàng, Việt Nam trở thành thuộc địa của thực dân Pháp
- Cho đến cuối thế kỷ XIX, dưới ách thống trị của thực dân Pháp, các phong trào đấu tranh của nhân dân nổ ra và lan rộng khắp cả nước Các cuộc khởi nghĩa vũ trang dưới khẩu hiệu “Cần Vương” do các sĩ phu, văn thân lãnh đạo cuối cùng cũng thất bại Hệ
tư tưởng phong kiến đã tỏ ra lỗi thời trước các nhiệm vụ lịch sử
- Sang đầu thế kỷ XX, dưới chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, xã hội nước ta có sự chuyển biến và phân hóa mạnh mẽ Do ảnh hưởng của “Tân thư” ở Trung Quốc và trào lưu cải cách ở Nhật Bản, phong trào yêu nước của nhân dân ta chuyển dần sang xu hướng dân chủ tư sản Đại biểu là Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh, với phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, Duy tân… nhưng tất cả đều bị dập tắt do chưa có hướng đi đúng Hệ tư tưởng tư sản cũng không lãnh đạo được
Trang 2- Trước sự khủng hoảng sâu sắc về đường lối, sứ mệnh lịch sử đặt ra cho cả dân tộc Việt Nam là phải tìm con đường cứu nước đúng đắn Phong trào yêu nước của nhân dân ta muốn giành thắng lợi phải đi theo một con đường mới
b Những tiền đề tư tưởng – lí luận
Giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam
- Truyền thống yêu nước, kiên cường bất khuất; tinh thần tương thân tương ái, lòng nhân nghĩa, ý thức cố kết cộng đồng; ý chí vươn lên vượt qua mọi khó khăn thử
thách; trí thông minh, tài sáng tạo quý trọng hiền tài, khiêm tốn… là tiền đề tư tưởng,
Cơ sở khách quan hình thành tư tưởng hồ chí minh Trong những giá trị đó, chủ nghĩa yêu nước là giá trị thiêng liêng cao quý nhất, trong lịch sử dân tộc Việt Nam.
- Chủ nghĩa yêu nước có trong mỗi con người Việt Nam, là cội nguồn của trí tuệ sáng tạo và lòng dũng cảm của người Việt Nam và là chuẩn mực đạo đức cơ bản của cả dân tộc Hồ Chí Minh đúc kết chân lí: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng,thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước”
Tinh hoa văn hóa nhân loại
- Văn hóa phương Đông: Hồ Chí Minh tiếp thu những mặt tích cực của Nho giáo Đó là các triết lý hành động, tư tưởng nhập thế, hành đạo, giúp đời; đó là ước vọng về một
xã hội bình trị, hòa mục, hòa đồng; là triết lý nhân sinh, tu thân dưỡng tính; đề cao văn hóa lễ giáo, tạo ra truyền thống hiếu học
- Văn hóa phương Tây: Hồ Chí Minh đã nghiên cứu tiếp thu những tư tưởng tiến
bộ của nền văn hóa dân chủ và cách mạng phương Tây; những giá trị của bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Đại cách mạng Pháp và các giá trị về quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của Tuyên ngôn độc lập Mỹ
- Hồ Chí Minh còn tiếp thu và chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng vị tha, từ bi bác ái, nếp sống có đạo đức, bình đẳng, dân chủ, đề cao lao động, chống lười biếng… của Phật giáo Ngoài ra, Người còn tiếp thu tư tưởng của Lão Tử, Mạc Tử, chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn
Chủ nghĩa Mác – Lênin
- Trước sự khủng hoảng về đường lối cứu nước của dân tộc, xuất phát từ lòng yêu nước, Nguyễn Tất Thành quyết định rời quê hương ra đi tìm đường cứu nước Thực tiễn trong gần 10 năm tìm tòi, khảo nghiệm, nhất là sau khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất
Trang 3những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I Lênin (7/1920) Nguyễn Ái Quốc đã: “cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng,…vui mừng đến phát khóc…” vì đã tìm thấy con đường giải phóng dân tộc Như vậy, chính Luận cương của Lênin đã nâng cao nhận thức của Hồ Chí Minh về con đường giải phóng
- Hồ Chí Minh coi việc tiếp thu lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin trước hết phải nắm vững phương pháp biện chứng; phải vận dụng lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác- Lênin để giải quyết những vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam
- Chủ nghĩa Mác- Lênin là thế giới quan, phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh Thế giới quan và phương pháp luận Mác- Lênin đã giúp Hồ Chí Minh tổng kết kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn để tìm ra con đường cứu nước Đó là con đường cách mạng vô sản
Trang 4Câu 2: Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản
a Bài học từ sự thất bại của các con đường cứu nước của ông cha ta trước khi
Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước.
- Tất cả các phong trào cứu nước của ông cha ta, mặc dù diễn ra vô cùng anh dũng với tinh thần “người trước ngã, người sau đứng dậy”, sử dụng nhiều con đường gắn với những khuynh hướng chính trị khác nhau, sử dụng những vũ khí tư tưởng khác nhau nhưng đều bị thực dân Pháp dìm trong biển máu.Đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng về đường lối cứu nước đầu thế kỉ XX
- Sinh ra và lớn lên trong bối cảnh đất nước đã biến thành thuộc địa, nhân dân chịu cảnh lầm than, được chứng kiến các phong trào cứu nước của ông cha ta người nhận thấy các phong trào ấy chưa thực tế
- Mặc dù rất khâm phục tinh thần cứu nước của ông cha, nhưng Hồ Chí Minh không tán thành các con đường của họ mà quyết tâm ra đi tìm con đường mới
b Cách mạng tư sản không triệt để.
Trong quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, Người đã tìm hiểu các cuộc cách mạng lớn trên thế giới như cách mạng tư sản Anh, Pháp, Mĩ … Và nhận thấy rằng: “ Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mĩ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kì thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa” Cuộc cách mạng này chưa hưướng tới giải phóng quyền con người Do
đó, Người không theo con đường cách mạng tư sản
c Cách mạng vô sản
Hồ chí minh nhận thấy cánh mạng tháng 10 nga không chỉ là cách mạng vô sản mà còn là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Nó nêu tấm gương sang về sự nghiệp giải phóng dân tộc thuộc địa và mở ra trước mắt họ thời đại chống đế quốc, thời đại giải phóng đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc
7/1920 HCM đọc được luận cương sơ khảo của Lê nin thấy trong lý luận của lê nin có
1 phương hướng mới để giải phóng dân tộc: con đường cách mạng vô sản
- Hồ Chí Minh viết: “ Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới”
- Vượt qua sự hạn chế về tư tưởng của các sĩ phu và của các nhà cách mạng có xu hướng tư sản đương thời, HCM đã đến với học thuyết cách mạng của chủ nghĩa Mác
Trang 5– Lênin và lựa chọn khuynh hướng chính trị vô sản Người khẳng định: “ Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”
- Ý nghĩa
Lý luận
+ Cách mạng vô sản giúp VN thoát khỏi tình trạng khủng hoảng đường lối
+ đi theo lý luận của chủ nghĩa Mác lê nin đi theo chủ nghĩa xã hội kiên định đường lối cho đến ngày nay
+ Giúp vn tìm thấy con đường hướng tới mục tiê cao nhất là giải phóng con người
Thực tiễn
+Cách mạng tháng 8 thành công là minh chứng cho sự lựa chọn đúng đắn của HCM chấm dứt chế độ áp bức bóc lột, mở ra một hướng đi đúng đắn cho cách mạng VN
+ Một số nước trên thế giới cũng đi theo con đường cách mạng vô sản điều đó chứng tỏ cách mạng VN là một bộ phận cách mạng vô sản trên thế giới thể hiện sự đoàn kết quốc
tế chống lại đế quốc
Trang 6Câu 3: Cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc.
* Chủ động sáng tạo
Bối cảnh quốc tế cuối 19 đầu 20:
- Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn cạnh tranh tự do chuyển sang giai đoạn độc quyền đã xác lập quyền thống trị của chúng trên phạm vi toàn thế giới
- Thắng lợi cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã làm “thức tỉnh các dân tộc Châu Á” Cách mạng Tháng Mười Nga đã lật đổ nhà nước tư sản, thiết lập chính quyền Xô Viết, mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử loài người, mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc thuộc địa
- Tháng 3 năm 1919 Quốc tế cộng sản (Quốc tế thứ 3) ra đời, chủ trương đoàn kết phong trào công nhân trong các nước tư bản chủ nghĩa Phương Tây và phong trào giải phóng thuộc địa phương Đông trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa
đế quốc
Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “ Tất cả sinh lực của chủ nghĩa tư bản đế quốc đều lấy ở các xứ thuộc địa Đó là nơi chủ nghĩa tư bản lấy nguyên liệu cho các nhà máy của nó, nơi nó đầu tư, tiêu thụ hàng, mộ nhân công rẻ mạt cho đạo quân lao động của nó, và nhất là tuyển những binh lính bản xứ cho các đạo quân phản cách mạng của nó” Nhận ra được điều này, Hồ Chí Minh kêu gọi: “ Làm cho các dân tộc thuộc địa, từ trước đến nay vẫn cách biệt nhau, hiểu biết nhau hơn và đoàn kết lại để đặt cơ sở cho một Liên minh phương Đông tương lai, khối liên minh này sẽ là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản”
Trong khi yêu cầu Quốc tế Cộng sản và các đảng cộng sản quan tâm đến cách mạng thuộc địa, HCM vẫn khẳng định công cuộc giải phóng nhân dân thuộc địa chỉ có thể thực hiện bằng sự nỗ lực tự giải phóng
Vận dụng công thức của C.Mac “ Sự giải phóng của giai cấp công nhân phải là sự nghiệp của bản thân giai cấp công nhân” , người đi đến luận điển: “Công cuộc giải phóng anh em – tức nhân dân thuộc địa – thế giới chỉ có thể thực hiện được bằng sự
nỗ lực của bản thân anh em” Người cho rằng các nước thuộc địa trên thế giới tự lực chiến đấu xong phải biết đoàn kết tạo thành liên minh phương đông là cái cánh của cách mạng vô sản trên thế giới
Trang 7Tại phiên họp thứ 22 đại hội V quốc tế cộng sản HCM phê phán các đảng cộng sản ở pháp, anh, hà lan … chưa thi hành chính sách thật tích cực trong vấn đề thuộc địa
- Tháng 8- 1945, khi thời cơ cách mạng xuất hiện, Người kêu gọi: “Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”
- Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Người nói: “Kháng chiến trường kì gian khổ đồng thời lại phải tự lực cánh sinh Trông vào sức minh… cố nhiên sự giúp đỡ của các nước bạn là quan trọng, nhưng không được ỷ lại, không được ngồi mong chờ người khác.Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”
* Mối quan hệ cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản chính quốc
Trong phong trào cộng sản quốc tế đã từng tồn tại quan điểm xem thắng lợi của cách mạng thuộc địa phụ thuộc vào thắng lợi của cách mạng vô sản ở chính quốc.nó vô hình làm giảm tính chỉ động, sáng tạo của các phong trào cách mạng thuộc địa
Theo HCM giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa và cách mạng mạng vô sản
ở chính quốc có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại với nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc đó là mối quan hệ bình đăng chứ không phải lệ thuộc
Nhận thức đúng vai trò, vị trí chiến lược của cách mạng thuộc địa và sức mạnh dân tộc, Nguyễn Ái Quốc cho rằng: “Cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc”
Ý nghĩa
- Nêu cao tinh thần tự lực tự cường nhưng tranh thủ sự giúp đỡ của các quốc gia trên thế giới
- Thể hiện tinh thần đoàn kết quốc tế
- Đây là một luận điểm sáng tạo, có giá trị lí luận và thực tiễn to lớn; một cống hiến rất quan trọng của HCM vào kho tang lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, đã được thắng lợi của phong trào cách mạng giải phóng dt trên toàn thế giới trong gần thế kỉ qua chứng minh là hoàn toàn đúng đắn
Trang 8Câu 4: Xây dựng nhà nước thể hiện quyền là chủ và làm chủ của nhân dân
- Xây dựng nhà nước do nhân dân lao động làm chủ luôn là quan điểm nhất quán, xuyên suốt trong lập trường tư tưởng Hồ Chí Minh
- Trong tác phẩm Thường thức chính trị viết năm 1953, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Ở nước ta chính quyền là của nhân dân, do nhân dân làm chủ Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy Thế là dân chủ”
- Dân chủ là “bao nhiêu lợi ích đều vì dân”, “quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” Dân chủ ở nước ta là dân chủ gián tiếp theo hình thức đại diện
1 Nhà nước của dân
- Quan điểm nhất quán của HCM là xác lập tất cả mọi quyền lực trong nhà nước và trong
xã hội đều thuộc thuộc về nhân dân.Quan điểm trên được thể hiện qua hai bản Hiến pháp
mà Người đã lãnh đạo soạn thảo trong 24 năm làm Chủ tịch nước là Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959
- Nhân dân làm chủ Nhà nước tức là nhân dân có quyền kiểm soát Nhà nước Nhân dân
có bầu ra các đại biểu, uỷ quyền cho các đại biểu đó bàn và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước; đồng thời, nhân dân cũng có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội
và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân
- Người cũng nêu lên quan điểm Dân là chủ và dân làm chủ Dân là chủ có nghĩa là xác
định vị thế của dân, còn dân làm chủ có nghĩa là xác định quyền, nghĩa vụ của dân Do
đó, nhân dân có vai trò quyết định mọi công việc của đất nước
Trong nhà nước của dân, người dân được hưỏng mọi quyền dân chủ, có quyền làm bất
cứ việc gì mà pháp luật không cấm và có nghĩa vụ tuân theo pháp luật Nhà nước của dân phải bằng mọi nỗ lực, hình thành thiết chế dân chủ để thực thi quyền làm chủ của người dân Những vị đại diện do dân cử ra chỉ là thừa uỷ quyền của dân, chỉ là công bộc của dân
2 Nhà nước do dân
- Nhà nước do dân lập nên, do dân ủng hộ, dân làm chủ.Nhà nước đó do nhân dân lựa chọn bầu ra, do dân ủng hộ, đóng thuế để hoạt động Do đó khi cơ quan nhà nước không đáp ứng lợi ích và nguyện vọng của nhân dân thì nhân dân có quyền bãi miễn nó Tuy nhiên, quyền lợi, quyền hạn của nhân dân bao giờ cũng đi đôi với trách nhiệm, nghĩa vụ của người công dân
Trang 9- Hồ Chí Minh quan niệm phải xây dựng Nhà nước Việt Nam mới hợp hiến, hợp pháp Nhà nước do nhân dân tạo ra và quản lý ở chỗ:
+ Toàn bộ công dân bầu ra Quốc hội – cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước, cơ quan duy nhất có quyền lập pháp
+ Quốc hội bầu ra Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Hội đồng Chính phủ + Hội đồng Chính phủ là cơ quan hành pháp nhà nước cao nhất, thực hiện các nghị quyết của Quốc hội và chấp hành pháp luật
+ Mọi công việc của bộ máy nhà nước trong việc quản lý xã hội đều thực hiện ý chí của dân
3 Nhà nước vì dân
- Nhà nước vì dân là nhà nước lấy lợi ích chính đáng của nhân dân làm mục tiêu, tất cả đều vì lợi ích của nhân dân, ngoài ra không có bất cứ lợi ích nào khác Đồng thời, cán bộ nhà nước là công bộc của dân, do dân bầu ra, được nhân dân thừa uỷ quyền và cũng là người lãnh đạo, hướng dẫn nhân dân
- Nhà nước đó là một nhà nước trong sạch, không có đặc quyền đặc lợi, thực sự trong sạch, cần kiệm liêm chính Phải làm cho dân có ăn, có mặc, có chỗ ở và được học hành Cán bộ nhà nước phải hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh
- Cán bộ thì phải trung thành, tận tuỵ, cần kiệm liêm chính , là người lãnh đạo thì phải
có trí tuệ hơn người, sáng suốt, nhìn xa trông rộng, gần gũi với dân, trọng dụng hiền tài Cán bộ phải vừa có đức vừa có tài Cán bộ là đầy tớ của dân chứ không phải là làm quan phát tài
Ý nghía
Khẳng định quyền làm chủ của nhân dân (qua bản tuyên ngôn độc lập của chủ tịch HCM năm 1945)
- lý luận: 1946 nhân dân có quyền bầu cử khẳng định nhà nước của số đông người không phải của số ít của giai cấp
Nhà nước do dân lập ra tất cả đều hoạt nhà nước nhằm phục vụ nhân dân
- Thực tiễn: đưa ra chủ trương chính sách đường lối phục vụ nhân dân đặc biệt chủ trương chính sách đó phát huy quyền là chủ của nhân dân
Trang 10Câu 7 : Quan niệm về Đảng Cộng Sản Việt Nam cầm quyền
a) Đảng lãnh đạo nhân dân giành chính quyền, trở thành Đảng cầm quyền
- Qua những năm tháng hoạt động thực tiễn, Hồ chí Minh đã tìm thấy con đường cách mạng ở chủ nghĩa Mác-Lenin và quyết định đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười vĩ đại
- Từ những năm 1920 trở đi, Người tích cực chuẩn bị cả 3 mặt : chính trị, tư tưởng và tổ chức để tiến tới thành lập Đảng
- Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đánh dấu một trang mới trong lịch sử dân tộc ta
- Trong Đường cách mệnh, Hồ Chí Minh đã khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của đảngcách mạng – nhân tố đầu tiên, quyết định sự thắng lợi của cách mạng
- Thấu hiểu lịch sử về sức mạnh của quần chúng cùng ả ới ánh sáng của chủ nghĩa mác – lê nin người chỉ rõ: công nông là gốc cách mạng, nhưng trước pải làm cho dân giác ngộ dân phải được tổ chức, lãnh đạo thì mới trở thành lực lượng to lớn mới là gốc cách mạng
- Để đảng vững mạnh phải có chủ nghĩa là nòng cốt thành lập đảng để mọi thành viên trong đảng đó thống nhất về tư tưởng từ đó thống nhất về hànhđộng
- Tóm lại HCM nhất quán cho rằng cách mạng VN muốn thành công phải đi theo chủ nghĩa Mác – lênin
- Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cách mạng chân chính, mang bản chấcht của giai cấp công nhân
b) Quan niệm của Hồ Chí Minh về Đảng cầm quyền
- Khái niệm Đảng cầm quyền :
+ Theo nghĩa thông thường : “Đảng cầm quyền” là khái niệm dùng trong khoa học chính trị, chỉ một đảng chính trị đại diện cho một giai cấp đang nắm giữ và lãnh đạo chính quyền để điều hành, quản lý đất nước nhằm thực hiện lợi ích của giai cấp mình
+ Trong Di chúc 1969 của Hồ Chí Minh : “Đảng cầm quyền” là Đảng tiếp tục lãnh đạo sự nghiệp cách mạng trong điều kiện Đảng đã lãnh đạo quần chúng nhân dân giành được quyền lực nhà nước và Đảng trực tiếp lãnh đạo bộ máy nhà nước đó để tiếp tục hoàn thành sự nghiệp độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội
- Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cầm quyền :
+ Mục đích, lý tưởng của Đảng cầm quyền :