CHỦ ĐỀ 3: VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAMI:Đại cương về văn học dân gian Việt NamII: Truyện cổ dân gian Việt NamIII: Văn vần dân gian Việt NamIV:Phân tích câu đố, tục ngữ, ca dao, đồng giaoV: Phân tích các bài văn vần ở chương trình tiểu họcVI: Đóng kịch: Sơn Tinh Thủy Tinh.I. Đại cương về văn học dân gian Việt Nam 1.Khái niệm 2.Đặc trưng 3.Thể loại 4.Gía trị1: Khái niệm Văn học dân gian chính là những sáng tác nghệ thuật ngôn từ truyền miệng do con người sáng tạo ra trong khi tham gia các sinh hoạt tập thể nhằm biểu đạt,ghi lại những tri thức, kinh nghiệm, tư tưởng, tình cảm về cuộc sống xã hội và thiên nhiên, vũ trụ.
Trang 1Bài báo cáo môn
Văn học
Trang 2
CHỦ ĐỀ 3:
VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM
I:Đại cương về văn học dân gian Việt Nam
II: Truyện cổ dân gian Việt Nam
III: Văn vần dân gian Việt Nam
IV:Phân tích câu đố, tục ngữ, ca dao, đồng giao V: Phân tích các bài văn vần ở chương trình
tiểu học
VI: Đóng kịch: Sơn Tinh- Thủy Tinh.
Trang 3I Đại cương về văn học dân gian
Trang 4SƠ ĐỒ TÓM TẮT TiỂU CHỦ ĐỀ:KN, ĐẶC TRƯNG,THỂ LOẠI,GIÁ TRỊ
Khái niệm Là sáng tác nghệ thuật truyền miệng của tầng lớp dân
chúng
Đặc trưng
Tính tập thể-truyền miệng của tầng lớp nhân dân
Là một loại hình nguyên hợp cả về nội dung lẫn hình
Là kho tri thức vô cùng phong phú về đời sống
Có giá trị sâu sắc về đạo lý làm người
Có giá trị thẩm mĩ
Trang 51: Khái niệm
Văn học dân gian chính là những sáng tác
nghệ thuật ngôn từ truyền miệng do con người sáng tạo ra trong khi tham gia các sinh hoạt tập thể nhằm biểu đạt,ghi lại những tri thức, kinh nghiệm, tư tưởng, tình cảm về cuộc sống xã
hội và thiên nhiên, vũ trụ
Trang 62:Đặc trưng của văn học dân gian
+ Có 3 đặc trưng cơ bản của văn học dân gian
Đặc điểm thứ nhất: Tính tập thể-truyền miệng của văn học dân gian.Trước hết, nó là sản phẩm sáng tạo của nhiều người, thuộc nhiều thế hệ qua những thời gian và không gian khác nhau.Có thể hình dung sự ra đời và tồn tại của một tác phẩm VHDG như sau:lúc đầu,một người nào đó trong phút giây ngẫu hứng nghĩ ra một mẩu truyện
hoặc vài câu phát ngôn trước tập thể, người nghe tiếp nhận với một tinh thần hào hứng, để rồi tái bản bằng lời cho nhiều người khác, vòng tuần
hoàn ấy
Trang 7Dường như không kết thúc và cũng khó đoán định được thời điểm khởi đầu.
- Tính tập thể-truyền miệng đã tạo nên đặc trưng thẩm
mĩ của sáng tác dân gian, trong đó nổi nên là hai yếu
tố cách tân và kế thừa
- Tính tập thể-truyền miệng của VHDG luôn có sự
thay đổi theo thời gian tuỳ theo xu thế tình cảm, tư tưởng của quần chúng nhân dân
VD : truyện Tấm Cám.Ban đầu,truyện được kết bằng chi tiết mẹ con Cám tuy được Tấm tha bổng nhưng dọc đường bị thiên lôi đánh chết.Thế nhưng càng về sau,khi mà mâu thuẫn giai cấp trong xã hội càng trở nên sâu sắc,với một tâm lý luôn bị ức chế,người ta càng không thoả mãn với kết thúc này.Đó là lý do ví sao truyện lại được kết thúc theo một kiểu khác.
Trang 8
Văn học dân gian truyện tấm cám
Trang 9Đặc điểm thứ 2:VHDG là một loại hình nghệ
thuật nguyên hợp cả về nội dung lẫn hình thức
phản ánh khiến cho nó không chỉ là một hiện
tượng văn học mà còn là một hiện tượng văn hoá
- Về nội dung: Tác phẩm VHDG phản ánh nhiều phương diện khác nhau của đời sống vật chất và tinh thần trong xã hội, do vậy, nó vừa thực hiện chức năng văn học( thẩm mỹ ), của sử học (phản ánh lịch sử)….VHDG gắn với tôn giáo như Nó được dùng như một phương tiện thể hiện thế giới quan,nhân sinh quan của người xưa
-Về hình thức:Khác với văn học viết chỉ được diễn đạt bằng phương tiện ngôn ngữ, tác phẩm VHDG
Trang 10Ngoài việc sử dụng phương tiện chính là ngôn ngữ còn sử dụng thêm vài phương tiện khác nữa như âm nhạc,vũ điệu, động tác.
Đặc trưng thức 3:VHDG là những sáng tác nghệ
thuật mang tính thực hành.Đây chính là chức
năng sinh hoạt của VHDG,nó thể hiện sự gắn bó của VHDG với đời sống cộng đồng mà văn học viết không thể nào có được
Trang 11
3.Thể loại VHDG Việt Nam
Văn học dân gian gồm 12 thể loại:
1.Thần thoại 8.Câu đố
2.Sử thi 9.Ca dao,dân ca
3.Truyền thuyết 10.Truyện, thơ
4.Truyện cổ tích 11.Các thể loại sân 5.Truyện ngụ ngôn khấu dân gian6.Truyện cười
7.Tục ngữ
Trang 12*Thần thoại:là thể loại tự sự bằng văn xuôi, kể lại sự tích các vị thần sáng tạo thế giới tự nhiên và văn hoá, phản ánh nhận thức cách hình dung của người thời cổ về nguồn gốc thế giới và đời sống con
người
*Sử thi: Là loại hình tự sự bằng văn vần hoặc văn
biền ngẫu kết hợp với văn xuôi
*Truyền thuyết: là thể loại tự sự bằng văn
xuôi,thường dùng yếu tó tưởng tượng hoá các sự kiện, nhân vật được kể, thể hiện ý thức lịch sử của nhân dân
*Truyện cổ tích: là loại hình tự sự bằng văn xuôi
thường kể về: người mồ cô, người lao động giỏi…
Trang 13*Truyện cười : Là thể loại tự sự bằng văn xuôi,kể lại các hiện tượng gâu cười nhằm giải trí và phê phán những
cái đáng cười trong cuộc sống.
*Tục ngữ : là sự đúc kết kinh nghiệm của nhân dân về thế giới tự nhiên và đời sống con người.
*Ca dao,dân ca : Là loại hình trữ tình bằng văn vần, diễn tả đời sống nội tâm của con người.
*Truyện,thơ : là loại văn kết hợp phương thức tự sự và trữ tình, phản anhs số phận của người nghèo khổ và khát
vọng về tình yêu,hạnh phúc lứa đôi, về công lý xã hội.
*Các thể loại sân khấu dân gian : Diễn tả những cảnh sinh hoạt và những điển hình con người trong xã hội nông
nghiệp cổ truyền Việt Nam.
Trang 144.Giá trị cơ bản của VHDG Việt Nam
Giá trị cơ bản của VHDG
Văn học dân gian có giá trị thẩm mĩ
to lớn, góp phần tạo nên bản sắc
riêng cho nền văn hoá dân tộc
Trang 15* Văn học dân gian là kho tri thức vô cùng phong phú về đời sống các dân tộc
Tri thức trong văn học dân gian thuộc đủ các lĩnh vực đời
sống:tự nhiên, xã hội con người.
Tri thức dân gian thể hiện quan điểm và nhận thức của
người dân, vì vậy có sự khác biệt so với nhận thức của giai cấp thống trị cùng thời, đặc biệt là các vấn đề lịch sử,xã hội.
Việt Nam có 54 dân tộc.Mỗi dân tộc có một kho tàng văn
hoá dân gian riêng vì thế vốn tri thức của dân tộc ta là vô cùng phong phú và sâu sắc.
Trang 16*VHDG có giá trị giáo dục sâu sắc về đạo lý làm người.
Trước hết VHDG giáo dục con người tinh thần nhân đạo
và lạc quan.VHDG góp phần hình thành những phẩm chất tốt đẹp:Lòng yêu nước, tinh thần bất khuất, đức
kiên trung và vị tha, tính cần kiệm và óc thực tiễn.
* VHDG có giá trị thẩm mĩ to lớn, góp phần tạo nên
bản sắc riêng cho nền văn học dân tộc
VHDG được chắt lọc, mài giũa qua không gian và thời gian dã trở thành những viên ngọc sáng những mẫu
mực về nghệ thuật để chúng ta học tập.
Nhờ có giá trị to lớn như vậy nên trong nhiều thế kỷ,khi văn học viết chưa hính thành thì VHDG đóng vai tro
chủ
Trang 17đạo.khi văn học viết đã phát triển thì VHDG là nguồn nuôi dưỡng, là cơ sở của văn học viết Trong tiến trình lịch sử,VHDG đã phát triển song song với văn học
viết, làm cho nền văn học Việt Nam trỏ nên phong phú
Trang 18II: Truyện cổ dân gian Việt Nam.
Trang 19SƠ ĐỒ TÓM TẮT TiỂU CHỦ ĐỀ 2:ĐỊNH NGHĨA, PHÂN LOẠI, GIÁ TRỊ, CÁCH DẠY HSTH KỂ VÀ PHÂN TÍCH
Định
nghĩa
Giá trị
Phân loại Thần thoại, truyện thuyết, ngụ ngôn, truyện cười
Là gi sản tinh thần vô giá của cha ông ta để lại
Giúp con nguoif vượt qua khó khăn để kiên trì vươn lên
trong cuộc sống
Cách dạy HSTH kể
Cách dậy HSTH phân
Với thần thoại Với truyền
thuyết Với cổ tích
Với ngụ ngôn Với truyện cười
Truyện cổ dân gian là một khái niệm có ý nghĩa khái quá…
Trang 223.Giá trị của truyện cổ dân gian Việt
Nam
Truyện cổ dân gian Việt Nam là di sản tinh thần
Vô giá của cha ông ta để lại.Đằng sau nhưng lời kể giản dị là những cuộc đời, số phận, những chuyện vui buồn của cuộc đời.Đến với truyện cổ dân gian
ta cón gặp những mơ ước khát vọng của con
người về một cuộc sống tốt đẹp.Con người được
an ủi, động viên vượt qua những trắc trở khó khăn
để kiên trì vươn lên trong cuộc sống
Trang 234.Cách dạy HSTH kể và phân tích
truyện cổ dân gian
- Cách dạy HSTH kể truyện cổ dân gian: Đặc điểm
Tiếp nhận văn học của các em trong hai phương diện đồng cảm và đối thoại thì các em mới chỉ đạt tới mức
độ đồng cảm.
Cụ thể,cần hướng dẫn các em cách tiếp cận các tác
phẩm truyện cổ dân gian theo các hướng dẫn sau
Từ góc độ đặc trưng thể loại: điều này giúp trẻ nhanh
chóng nắm bắt được nội dung cơ bản cũng như mục đích sáng tác của từng thể loại.
Tứ góc độ nhân vật: Mỗi thể loại xây dựng một kiểu
Trang 24nhân vật riêng cho mình,vì vậy nhân vật là nơi hội tụ
những vấn đề cơ bản nhất của nhận thức đời sống và
tình cảm thẩm mĩ mà tác phẩm thể hiên.
Từ các môtíp cốt truyện hoặc các thủ pháp nghệ thuật
tiêu biểu.
-Cách dạy HSTH phân tích truyện cổ dân gian: hs biết
truyện cổ dân gian thuộc thể loại nào?Và cần lưu ý
những vấn đề sau
Với thần thoại: Nêu rõ vai trò của các vị thần trong việc
giải thích tự nhiên của người xưa.
Về truyền thuyết: Dặc biệt nhấn mạnh các công trạng
của người anh hùng và cho học sinh thấy rõ thái độ tôn sùng của người xưa đối với họ thông qua việc sử dụng những chi tiết hư cấu.
Trang 25Với cổ tích: Khơi dạy tình cảm yêu thương chia sẻ
của học sinh thông qua số phận các nhân vật, đúc kết bài học giáo dục từ cốt truyện
Với ngụ ngôn: Cần làm rõ ý nghĩa tượng trưng của
các nhân vật loài vật,giúp học sinh phát hiện các bài học triết lí của truyện
Với truyện cười: khai thác cái cười trong truyện
thông qua những biểu hiện bất thường của nhân
vật
biện pháp đúc kết bài học giáo dục từ truyện cổ:Sử dụng câu hỏi gợi ý, sử dụng phép so sánh, sử dụng bài tập trắc nhiệm…
Trang 26III.Văn vần dân gian Việt Nam
1.Định nghĩa
2.Phân loại
3.Tác dụng
4.Hướng dẫn HSTH đọc diễn cảm
Trang 27SƠ ĐỒ TiỂU CHỦ ĐỀ 3:ĐN, PL, TD ,HƯỚNG DẪN HSTH ĐỌC DIỄN CẢM
Trang 281.Định nghĩa
Văn vần là loại văn viết bằng những câu có vần với nhau, như thơ, ca
VD: vần “eo” trong câu thơ sau:
Đừng tréo trông theo cảnh hắt heo
Đường đi thiên thẹo quán cheo leo
Lợp lều,mái có tranh xơ xác
Xỏ kẽ,kèo tre đốt khăng kheo
Ba trạc cây xanh xanh hình uốn éo
Một dòng nước biển cỏ leo teo.
(Hồ Xuân Hương)
Trang 292 Phân loại văn vần dân gian Việt Nam
Thơ ca dân gian bao gồm 4 thể loại chính là ca
dao, tực ngữ, câu đố, đồng dao
• Ca dao:là phần lời của bài hát dân gian(dân ca), là thơ ca dân gian truyền thống
Ca giao có 2 đặc trưng cơ bản
thứ nhất, về phậm vi phản ánh,ca giao là nơi bộc lộ tình cảm, xúc cảm,tư tưởng của quần chúng nhân dân lao động
VD: Ca giao nói về những tập quán trong lao động Người ta đi cấy lấy công
còn tôi đi cấy còn trông nhiều bề,
Trang 30Trông trời, trông đất, trông mây,
Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm Trông cho chân cứng, đá mềm,
Trời yên biển lặng mới yên tấm lòng
Thứ hai: Về thể thơ, Thể thơ dùng phổ biến nhất trong ca dao là lục bát và còn sử dụng thêm song thất, song thất lục bát, hỗn hợp tự do
VD: Ca dao sử dụng thể thơ lục bát
Hôm nay tát nước đầu đình,
Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen
Em được thì cho anh xin,
Hay là em để làm tin trong nhà…
Trang 31*Tục ngữ: là thể văn vần dân gian gồm những câu
nói ngắn ngọn, dễ nhớ, dễ truyền, có trức năng đúc kết kinh nghiệm, tri thức lâu đời của nhân dân về thiên nhiên, lao dộng sản xuất, con người
và xã hội
VD: - Ai ơi chẳng chóng thì chầy,
Có công mài sắt có ngày nên kim
- Lời nói chẳng mất tiền mua,
Lựa nời mà nói ch vừa lòng nhau
Về đặc trưng thể loại,tục ngữ nổi lên với một kho kinh nghiệm, kho triết lý dân gian sâu sắc
Trang 32* Câu đố: là thể loại văn vần dân gian có chức năng chủ yếu là phản ánh đặc điểm của sự vật, hiện
tượng bằng những phương pháp giấu tên và nghệ thuật lạ hoá , được sử dụng trong sinh hoạt tập
thể nhằm thử tài suy đoán, kiểm tra sự hiểu biết của con người, đặc biệt là trẻ em, mua vui,giải trí
VD: câu đố về đồ vật(con tầu)
Con gì ăn lửa với nước than?
Trang 33
* Đồng dao: Là những câu hát dân gian có nội dung và hình thức
phù hợp với trẻ em, được trẻ em hát lên lúc vui chơi, có thể do
người lớn sáng tác.Đồng dao còn được gọi là ca dao và vè cho các em.
VD : Bài đồng dao “ Dung dăng dung dẻ”
Dung dăng dung dẻ
Dắt trẻ đi chơi
Đến ngõ nhà trời
Lậy cậu lậy mợ
Cho cháu về quê
Cho dê đi học
Trang 343.Tác dụng của văn vần dân gian
+ Về mặt nhận thức: Câu đố và đồng dao đều cung cấp
cho trẻ những tri thức đời sống, đó là giúp trẻ có được
những hiểu biết về thế giới đồ vật, cây cối,các con vật,
ccas hiện tượng đời sống qua những câu ca dễ hiểuj dễ
nhớ,nhớ thuộc.
+Về phương diện tình cảm: Khi tham gia các hoạt động
đố giải hoặc tham gia cấc trò chơi dân gian, tình bạn của các em càng được giữ gìn và phát triển.Các em được sống trong không khí tran hoà, thân ái,được cùng nhau chia sẻ niềm vui,được trao đổi thậm chí là tranh cãi về cùng một vấn đề,được củng cố ý thức cộng đồng.
+Về phương diện thẩm mĩ: Thơ ca dân gian là nguồn
suối ngọt ngào bồi dưỡng năng lực hiểu và sử dụng năng lực tiếng mẹ đẻ của trẻ thơ Các em học dduocj cách diễn đạt độc đáo trong thơ ca dân gian,biết nói nhiều ngụ ý.
Trang 354.Hướng dẫn học sinh tiểu học đọc diễn cảm
Để học sinh tiểu học đọc diễn cảm được văn vần cần phải hướng dẫn học sinh tìm hiểu, phân tích thơ ca dân gian
và cần tiếp cạn theo những định hướng sau.
- Về đặc trưng thể loại:Đó à những gợi ý cho việc hiểu nội dung cũng như mục đích mà các câu ca hướng tới.
- Từ các biện pháp nghệ thuật:Có thể là cách gieo vần,cách kết cấu, cách dùng từ, thể hiện hình ảnh…chúng giúp
người đọc hiểu và khám phá vẻ đẹp của hình tượng.
- Từ góc độ tình cảm:thơ ca dân gian cũng như thơ ca nói chung luôn là nơi gửi gắm, bộc lộ tình cảm Vì vậy, khi muốn hiểu rõ nội dung một câu ca, phải bắt đầu từ góc
độ tình cảm
Trang 36IV:Phân tích câu đố, tục ngữ, ca dao, đồng dao( lấy vd rồi phân tích)
1:Câu đố :
VD:Câu đố về đồ vật “cái thước kẻ”
Đầu đuôi vuông vắn như nhau
Thân chia nhiều đốt rất mau rất đều
được chính xác kích thước đồ vật thì thước kẻ chia cm đều nhau
“Thân chia nhiều đốt rất mau rất đều”
Trang 37Nếu như không có thước thì chúng ta không thể biết được độ dài ngắn của vật
“Muốn biết dài ngắn mọi điều có em.”
Có thể thấy thước kẻ là một dụng cụ đo không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của con
người Chúng không chỉ được dùng để đo mà còn cho chúng ta những đường thẳng thì thước kẻ
đóng vai trò vô cùng quan trọng
thước kẻ có rất nhiều công dụng Vậy nên,
chung ta cần phải giữ gìn nó
Trang 385.Phân tích các bài văn vần ở lớp 1
Trang 39-Nội dung: Nói về sự chăm chỉ của Bống khi giúp đỡ mẹ
làm những công việc nhỏ.
-Biện pháp nghệ thuật:
+Thể thơ lục bát, gieo vần chân- lưng “bang-sàng” ở
câu 1 và 2; “cơm- trơn” ở câu 3 và 4 làm cho bài đồng dao trở nên uyển chuyển, trôi chảy và liên kết với nhau cả về nội dung và hình thức.
Trang 40+ Sử dụng những từ ngữ bình dị làm cho nhân vật cái Bống trở nên gần gũi, thân thương và sáng lên phẩm chất của một người con hiếu thảo, biết giúp đỡ mẹ nhưng công việc nhỏ.
- Ý nghĩa: Bài nhắn nhủ chúng ta phải biết hiếu thảo với cha mẹ, biết giúp đỡ mẹ những việc nhỏ
Trang 412- Bài “ Câu đố”:
“Con gì bé tí
Chăm chỉ suốt ngày
Bay khắp vườn cây
Tìm hoa gây mật”
-Thể loại: Câu đố
-Nội dung: Câu đố trên nói về một con vật nhỏ bé, chăm chỉ bay đi tìm hoa làm mật nuôi đời Đó là một chú ong gần gũi với cuộc sống của con người Câu
đố mang một tính chất mua vui, giải trí và nó còn là một trò chơi trí tuệ, Phát triển tư duy con người, đặc biệt là đối với trẻ thơ.
Trang 423- Bài “Hoa sen”:
“Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng.
Nhị vàng, bông trắng, lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.”
Trang 43-Nội dung: Nói về một cái tẩy bút chì với những
so sánh và ẩn dụ rất thú vị Câu đố ngoài giá trị giải trí, mua vui còn phát triển cả trí tuệ cho trẻ
Trang 44V: Diễn kịch “Sơn Tinh- Thủy Tinh
Phân vai
Vua hùng: Vi Trang.
Hoàng Hậu:Tăng Phương
Mị Nương: Ngọc Lan Sơn Tinh: Vũ Uyên Thủy Tinh: Cam Nhất Dẫn Truyện: Nguyễn
Ngọc
Người hầu: Ngô Yến