1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

báo cáo chuyên đề cây khóm

79 1,4K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 8,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quả dứa được coi là một trong những cây ăn quả nhiệt đới hàng đầu, loại quả “vua”, rất được ưa chuộng ở các nước phương Tây. Quả dứa có mùi thơm mạnh, chứa nhiều đường, lượng calo khá cao, giàu chất khoáng, nhất là Kali, có đủ các loại vitamin cần thiết như A, B1, B2, PP, C đặc biệt trong cây và quả dứa có chất Bromelin. Bromelin là một loại men thủy phân protêin có thể chữa được các bệnh rối loạn tiêu hóa, ức chế phù nề và tụ huyết, làm vết thương mau thành sẹo. Trong công nghiệp, chất Bromelin dùng làm mềm thịt để chế biến thực phẩm, nước chấm. Ngoài ăn tươi, quả dứa chế biến thành dứa hộp và nước dứa, là những mặt hàng xuất khẩu lớn. Xác bã quả dứa sau khi chế biến dùng làm thức ăn gia súc và phân bón. Thân lá dứa làm bột giấy.

Trang 3

Quả dứa được coi là một trong những cây ăn quả nhiệt đới hàng đầu, loại quả “vua”, rất được

ưa chuộng ở các nước phương Tây Quả dứa có mùi thơm mạnh, chứa nhiều đường, lượng calo khá cao, giàu chất khoáng, nhất là Kali, có đủ các loại vitamin cần thiết như A, B1, B2, PP, C đặc biệt trong cây và quả dứa có chất Bromelin.

Trang 4

Bromelin là một loại men thủy phân protêin có thể chữa được các bệnh rối loạn tiêu hóa, ức chế phù nề và tụ huyết, làm vết thương mau thành sẹo Trong công nghiệp, chất Bromelin dùng làm mềm thịt để chế biến thực phẩm, nước chấm

Ngoài ăn tươi, quả dứa chế biến thành dứa hộp

và nước dứa, là những mặt hàng xuất khẩu lớn Xác bã quả dứa sau khi chế biến dùng làm thức

ăn gia súc và phân bón Thân lá dứa làm bột giấy.

Trang 5

Quả dứa

Giá trị dinh dưỡng 100 g

Năng lượng 202 kJ (48 kcal)

Trang 10

Các giống dứa và vùng trồng tại Việt Nam

Dứa Victoria (dứa tây, dứa hoa) có các giống

- Hoa Phú Thọ: thuộc nhóm Queen, trồng được nơi đất chua xấu Lá có nhiều gai và cúng, quả nhỏ, thịt quả vàng đậm, thơm, ít nước, giòn

- Na hoa: lá ngắn và to, quả to hơn dứa hoa Phú Thọ, phẩm chất ngon, năng suất cao

Trang 12

Dứa Cayen: lá chỉ có ít gai ở đầu mút lá, lá dài cong lòng máng, quả to, khi chưa chín quả màu xanh đen, khi chín chuyển màu da đồng Quả nhiều nước, thịt vàng ngà, mắt dứa to và nông, vỏ

mỏng, thích hợp với đóng hộp

Trang 13

Dứa ta (Ananas comosus var spanish hay Ananas comosus sousvar -

red spanish) là cây chịu bóng tốt, có thể trồng ở dưới tán cây khác Quả to nhưng vị ít ngọt

Trang 14

Dứa mật (Ananas comosus sousvar - Singapor spanish) có quả

to, thơm, ngon, trồng nhiều ở Nghệ An và Thanh Hóa

Trang 15

Dứa không gai (Ananas comosus cayenne) được trồng ở Nghệ An ,

Quảng Trị , Lạng Sơn Cây không ưa bóng Quả to hơn các giống trên

Trang 17

Tại Việt Nam, dứa được trồng khá phổ biến, phân bố từ

Phú Thọ đến Kiên Giang Tiền Giang là tỉnh có sản lượng dứa đứng đầu cả nước Năm 2007, sản lượng dứa của tỉnh Tiền Giang đạt 161.300 tấn Tiếp theo là Kiên Giang

(85.000 tấn), Ninh Bình (47.400 tấn), Nghệ An (30.600 tấn), Long An (27.000 tấn), Hà Nam (23.400 tấn), Thanh Hoá (20.500 tấn) Tổng sản lượng cả nước năm 2007 đạt 529.100 tấn[6] Nhiều địa phương xây dựng thương hiệu đặc sản quả dứa như dứa Đồng Giao (Tam Điệp - Ninh Bình), hoặc ở Kiên Giang, Tiền Giang đều có những nhà máy chuyên sản xuất, chế biến các thực phẩm từ quả dứa

Trang 18

II Đặc điểm thực vật học

II.1 Nguồn gốc

Dứa là cây ăn quả nhiệt đới, nguồn gốc ở Nam Mỹ (Brazil, Achentina, Paragoay Hiện nay trên thế giới, cây dứa được trồng hầu hết các nước nhiệt đới và một

số nước á nhiệt đới có mùa sông tương đối ẩm như đảo Hawai, Đài Loan Dứa có thể trồng tới vĩ tuyến 380 bắc, trong đó các nước Châu Á chiếm trên 60% sản lượng dứa cả thế giới Các nước trồng nhiều là Philippines, Thái Lan, Malaysia, Hawai, Brazil,

Trang 19

Quả dứa được coi là một trong những cây ăn quả nhiệt đới hàng đầu, loại quả “vua”, rất được ưa chuộng

ở các nước phương Tây Quả dứa có mùi thơm mạnh, chứa nhiều đường, lượng calo khá cao, giàu chất khoáng, nhất là Kali, có đủ các loại vitamin cần thiết ,đặc biệt trong cây và quả dứa có chất Bromelin là một loại men thủy phân protêin có thể chữa được các bệnh rối loạn tiêu hóa, ức chế phù nề và tụ huyết, làm vết thương mau thành sẹo Trong công nghiệp, chất Bromelin dùng làm mềm thịt để chế biến thực phẩm, nước chấm

Trang 21

Thân: Cây trưởng thành thân cao khoảng 1 – 1,2m

có dạng con cừu đáy bẹt, đường kính tán rộng 1,3 - 1,5m Bóc lá ra có thân nằm bên trong dài khoảng 20 – 30cm với phần gần ngọn thân to nhất có đường

kính 5,5 – 6,5cm, cuối thân rộng 2 – 3,5cm Phần

thân trên thường cong, phần thân dưới có thể cong nếu chồi đem trồng là chồi cuống hay chồi thân và thẳng nếu chồi đem trồng là chồi ngọn

II.2 Đặc điểm thực vật học:

II.2.1 Thân:

Trang 22

Trên thân có chia nhiều lóng và đốt Ở đốt thân có mang

những mầm ngủ Các lóng từ phần giữa thân dài khoảng 1 – 10cm tùy theo giống, điều kiện môi trường… Các lóng từ phần giữa thân trở lên dài hơn các lóng ở bên dưới Bên

trong thân khóm chia làm 2 phần là phần vỏ và trung trụ Nơi tiếp giáp giữa vỏ và trung trụ có mooyj hệ thống mạch rất mỏng, chủ yếu gồm các tế bào gỗ và các tế bào libe Mô mạch không liên tục, bị thủng nhiều chổ, qua đó các bó

mạch chạy dài đến lá Chính hệ thống mạch này đã tạo ra các rễ phụ mọc ra trên thân Trung trụ gồm một khối tế bào nhu mô có nhiều hạt tinh bột và tinh thể, trong đó các bó mạch xếp thành vòng xoắn ốc xuyên qua nhau làm thành một mạng lưới rất phức tạp.

Trang 23

Thân cây khóm

Trang 24

II.2.2 Lá

Số lá trên cây thay đổi tùy theo giống trồng trọt

Lá được xếp theo hình xoắn ốc, lá non ở giữa là già ở ngoài cùng

Hình dạng lá thay đổi tùy theo vị trí của chúng trên thân, tức theo tuổi lá

Các đặc điểm chung của lá khóm:

- Gai lá: lá có nhiều hay ít gai thay đổi tùy theo giống trồng.

Trang 25

Tầng mao bộ: bao bên ngoài lá giống như một lớp sáp mòng trắng, mặt dưới lá có nhiều hơn mặt trên

- Tầng tế bào chứa nước: nằm ở phần giữa

lá, gồm một số tế bào hình cột phía dưới lớp biểu bì Tầng tế bào này giúp lá trữ nước khi khô hạn

- Bó sợi ở lá: nằm giữa lá, bao bọc bởi các mạch libe và gỗ Tế bào sợi dài, chắc, có thể dùng lấy sợi dệt vải

- Dạng hình máng xối: lá có dạng hình

máng xối giúp cây nhận được nước hữu

Trang 26

Lá khóm

Trang 27

II.2.3 Chồi:

Cây khóm có các loại chồi như sau:

-Chồi ngọn: Mọc ra ở đầu ngọn trái, mang nhiều lá, lá nhỏ, ít cong lòng máng, góc chồi thẳng Trồng bằng chồi ngọn lâu thu hoạch (khoảng 18 tháng) Có thể dùng mầm ngủ trên chồi ngọn

để nhân giống

- Chồi thân: Mọc ra từ màm ngủ trên thân, thường xuất hiện sau khi cây mẹ đã ra hoa, có 1 – 2 chồi Chồi to, khỏe, ít lá, lá cứng, tán chồi gọn Gốc chồi dẹp, hơi cong Chồi thân dùng để thay thế cây mẹ ở mùa gốc Trồng chồi thân mau thu hoạch, khoảng

12 tháng

Trang 28

Chồi cuống: Mọc ra từ mầm ngủ trên cuống trái, ngay sát dưới đáy trái, hình dạng hơi giống chồi thân nhưng nhỏ hơn, góc

chồi cong, phình to Trong sản xuất thường dùng loại chồi này

vì số lượng nhiều

- Chồi ngầm: Mọc ra từ phần thân dưới mặt đất hoặc nơi cổ rễ Chồi có lá dài, hẹp, mộc yếu do bị các lá bên trên che ánh sáng Trồng lâu thu hoạch, khoảng 18 – 20 tháng

Chồi khóm

Trang 31

II.2.5 Hoa:

Khóm có hoa lưỡng tính, hoa gồm có 1 lá bắc, 3 lá đài mập, 3 cánh hoa có màu tím nối liền thành một ống, 6 nhị đực và 1 vòi nhụy cái Bầu noãn chia làm

3 ngăn với vách ngăn dầy Trên trái hoa xếp theo 2 vòng xoắn ốc Vòng xoắn theo chiều dốc nhiều chứa

8 – 10 hàng, chiều dốc ít chứa khoảng 11 – 13 hàng Hoa thường nở buổi sáng, khoảng 5 – 10 hoa mỗi ngày nên mất 15 – 20 ngày mới nở hết hoa trên trái

Trang 32

Hoa khóm

Trang 33

II.2.6 Trái:

Trái khóm là loài trái kép gồm nhiều

trái con (100 – 200 trái con hay hoa) Sau khi thụ phấn, các hoa, nhị đực và vòi nhụy cái tàn héo đi Gốc lá bắc mập

ra, cong úp lên che các lá đài Các lá

đài trở nên có thịt và hợp lại tạo thành núm, khi trái gần chín chúng dẹp xuống trở thành “mắt” của trái Các trái con dính vào một trục phát hoa gọi là cùi

của trái, cùi khóm kéo dài ra bên ngoài

Trang 35

III.Yêu cầu ngoại cảnh

III.1 Ánh sáng:

Về ánh sáng, cây dứa yêu cầu ánh sáng nhiều nhưng thích ánh sáng tán xạ hơn ánh sáng trực xạ Thiếu ánh sáng cây mọc yếu, quả nhỏ Ngược lại nếu ánh sáng quá mạnh kèm theo nhiêt độ cao lá sẽ bị vàng hoặc đỏ, lúc này cần che mát cho dứa Cây dứa tuy không phải là cây ngày ngắn nhưng người ta thấy rằng giống Cayen nếu thời gian bóng tối kéo dài và nhiệt độ giảm thấp sẽ ra hoa sớm hơn

Trang 37

III.2 Đất

Cây dứa có bộ rễ tương đối yếu và ăn nông nên muốn có năng suất cao đất cần có tầng mặt xốp, nhiều mùn và chất dinh dưỡng, đồng thời thoát nước tốt trong mùa mưa Đất nhiều sét, thoát nước chậm, cây dứa sinh trưởng kém và dễ bị bệnh Thoát nước và tơi xốp là

2 yêu cầu quan trọng nhất đối với đất trồng dứa.

Về độ pH, cây dứa nói chung thích hợp với đất chua, độ pH từ 4.5 đến 5.5, kể cả trên đất phèn

có pH bằng hoặc dưới 4 dứa vẫn

Trang 38

III.3 Khí hậu

Dứa là cây ăn quả nhiệt đới, ưa nhiệt độ cao Phạm vi nhiệt độ thích hợp từ 20 - 300C Giống Cayenne chịu lạnh kém hơn giống Queen và các giống địa phương Ở nhiệt độ cao trên 32oC có thể làm cháy lá và vỏ quả, nhất là giống Cayenne

III.4 Lượng mưa

Về lượng mưa, cây dứa có thể trồng nơi lượng mưa thấp, 600-700 mm/năm với mùa khô dài nhiều tháng cho đến những vùng lượng mưa nhiều tới 3500-4000 mm/ năm Quan trọng nhất là lượng mưa phân bố hàng tháng, khoảng 80-100 mm được coi là đầy đủ, không

Trang 39

Giống trồng chính hiện nay:

- Nhóm dứa Queen, dứa Cầu Đúc

- Nhóm dứa Cayen

Trang 40

IV.1 Chọn và xử lý giống:

Có thể sử dụng 3 loại chồi chính phát sinh từ cây mẹ để làm giống khi trồng: chồi ngọn, chồi cuống, chồi nách.

Tiêu chuẩn chồi tốt là: Chồi ngắn, to, khoẻ, lá xanh đậm,

phiến lá rộng và dầy, trọng lượng trên 150 -200gr/chồi với

nhóm giống dứa Queen và 200-300gr/chồi với nhóm giống dứa Cayen.

Trước khi trồng phải phân loại các chồi cùng loại trồng vào 1 khu

Chồi sau khi đã chọn bóc bỏ bẹ lá ở gốc chồi để lộ 3-4 vòng mắt rồi bó 15-25 chồi thành 1 bó để ngâm phần gốc cả bó vào dung dịch diệt nấm trong 1-2 phút bằng Aliete nồng độ 0,3%

và diệt rệp sáp truyền bệnh héo virút bằng Decis hoặc

Trang 42

IV.2 Kỹ thuật trồng và chăm sóc Dứa:

IV.2.1 Phân lô, trồng cây đường trục và đê bao

Vùng đất đồng bằng sông Cửu Long cần có hệ thống đê bao Vùng đất tương đối bằng phẳng có độ dốc thấp (dưới 50) thiết kế lô trồng Vùng đất thấp nên phân thành từng lô

và xẻ mương lên luống cho phù hợp Mặt luống trồng phải cao hơn mực nước hằng năm trong mương 40cm

Trang 44

IV.2.2 Chuẩn bị đất trồng:

Đất trồng được chuẩn bị vào mùa nắng, cày xới sâu 30cm Đất trồng dứa phải có tầng canh tác dày trên 0.4m, đất

phải tơi xốp, thoáng, thoát nước tốt Yêu cầu pH nước

trong đất đối với nhóm dứa Cayenne là 5,0 – 6,0, nhóm Queen là 4,0 – 5,0 Cào nhặt kỹ gốc cỏ rồi phơi đất ít nhất 1-2 tháng Trước khi trồng 1 tuần, tiến hành bừa san cho đất bằng phẳng, không bị lồi, lõm, kết hợp bón lót phân chuồng hoặc phân vi sinh cùng với phân lân và vôi

Trang 46

IV.2.3 Mật độ và cách trồng:

Trồng 50.000-60.000 chồi/ha là phù hợp Khi thiết kế

có thể trồng dứa theo hàng kép đôi hoặc hàng kép 4 Với trồng hàng kép đôi, khoảng cách giữa tim của 2 hàng kép 80cm, khoảng cách giữa 2 hàng đơn trong một hàng kép là 30-35cm hoặc 40cm, khoảng cách giữa các cây trong hàng đơn là 30cm Khi trồng hàng kép 4, khoảng cách giữa 2 hàng kép, 2 hàng đơn và khoảng cách giữa các cây trên hàng tương tự như

trong hàng kép đôi

Trang 47

- Cách trồng: chồi giống phải được lựa chọn đồng nhất về chủng loại, kích cở, trọng lượng cho từng

lô Trước khi trồng nên xử lý chồi bằng cách

nhúng vào dung dịch thuôc trừ sâu và trừ nấm

theo nồng độ khuyến cáo rồi để khô ráo trước khi trồng

Dùng thuổng cầm tay chọc lổ trồng trên hàng theo khoảng cách đã bố trí, đặt gốc chồi dứa sâu

khoảng 4-5 cm, nén đất xung quanh giữ chồi

thẳng đứng trong thời gian cây chưa bén rễ Tránh gây bắn đất vào noãn chồi và không nên trồng quá

Trang 49

IV.2.4 Thời vụ:

Ở phía Bắc trồng vụ Xuân (các tháng 3-4), vụ thu (các tháng 8-9) Ở miền Trung vào tháng 9-10 Ở phía Nam trồng được quanh năm, tuy nhiên tốt nhất trồng vào đầu mùa mưa (tháng 4-5) và cuối mùa mưa (tháng 10-11)

IV.2.5 Làm cỏ:

Dùng Diuron 2-3kg/ha với 1000-3000 lít nước phun cho 1ha, có thể dùng máy cắt cỏ cắt sát gốc dứa Cấm sử

dụng thuốc diệt cỏ 2,4D

Trang 51

IV.2.6 Bón phân:

- Bón lót: 10 tấn phân chuồng + 0,5 -0,7 tấn vôi cho 1ha

- Bón thúc: Trong suốt 1 vụ quả (18-20 tháng tuổi): urê 1.100-1.300kg, lân nung chảy 1.450kg-1.750kg, sulfate kali 1.250kg-1.500kg/ha

- Lượng phân cho 1 cây dứa theo định mức: 22 gr urê + 25-30gr lân nung chảy + 25 sulfate kali

Cách bón: Bón lót trước khi trồng 3-4 ngày Các đợt bón thúc như sau:

+ Lần 1: 2-3 tháng sau khi trồng bón 1/2 lượng phân lân + 1/2 lượng phân đạm +1/3 lương phân kali

+ Lần 2: 5-6 tháng sau khi trồng, bón 1/3 lượng phân đạm

Trang 52

+ Lần 3: 12-14 tháng sau khi trồng, trước khi xử lý ra

hoa 2 tháng bón như lần 1

- Có thể phun bổ sung công thức 50gr hỗn hợp

N-P-K-MgO theo tỷ lệ 10 – 0 – 0 – 16 N-P-K-MgO + 10gr

NaCaB5O9 + 10gr Ca(NO3)2 trong bình phun 8 lít nước,

1 tháng phun một lần Ngừng phun cho cây trước khi hoa

nở

Trang 54

IV.2.7 Tưới nước và quản lý độ ẩm cho cây:

Ở các tỉnh phía Bắc và phía Nam từ tháng 11 đến tháng

5, ở miền Trung khoảng tháng 6 – 7 – 8 vào thời gian này cần tưới nước cho cây định kỳ 3lần/tháng và giữ ẩm gốc dứa bằng màng phủ đất, rơm rạ, cỏ khô…

Trang 55

IV.2.8 Tỉa chồi, cắt lá định chồi:

* Tỉa chồi: Áp dụng trên hai loại chồi cuống và chồi ngọn.

- Chồi cuống hình thành tồn tại cùng với quả có thể dùng tay hoặc dao tách nhẹ vào giai đoạn các mắt dứa ở đáy quả bắt đầu phát triển.

- Chồi ngọn: Việc khống chế được thực hiện 2 tháng trước khi thu hoạch (lúc kích thước đạt 1/4 đến 1/2 kích thước quả) dùng phương pháp phá huỷ sinh trưởng bằng móc sắt hay

nhỏ 2 giọt axít HCl hoặc 2 giọt dầu hoả vào chồi non.

*Cắt lá, định vị chồi: Sau khi thu hoạch vụ dứa tơ, kết hợp

cắt bớt lá già cách gốc 20 – 25 cm Chỉ để lại một chồi bên gần mặt đất nhất và mọc hướng vào bên trong hàng kép.

Trang 57

IV.2.9 Xử lý dứa ra hoa trái

- Đếm số lá vào thời điểm xử lý

- Đo chiều cao tối đa của cây

Trang 58

b Hoá chất và cách xử lý:

Hoá chất và cách xử lý như sau:

- Có thể sử dụng đất đèn (CaC2) ở 2 dạng: hoà vào nước nồng độ 1,0-1,5% phun trực tiếp vào nõn khoảng 40-

45ml dung dịch cho 1 cây hoặc đập nhỏ thành viên

(khoảng 1,0-1,5gr/viên) bỏ trực tiếp vào nõn dứa sau khi

đã tưới nước Xử lý vào ban đêm cho tỷ lệ ra hoa đạt cao nhất

- Đối với ethrel (còn gọi là ethephon) chỉ sử dụng dung dịch, pha ở nồng độ 0,5% trộn thêm 1,5% urê phun đều cho toàn cây, lượng phun khoảng 2000lít/ha Xử lý khi trời dâm mát hoặc xử lý vào ban đêm

Trang 60

IV.3 Phòng trừ sâu bệnh:

IV.3.1 Rệp sáp (Dysmicocus sp):

Xuất hiện nhiều trong mùa nắng ấm, rệp sáp gây hại trên

rễ, chồi, thân, lá, hoa và quả của cây dứa Rệp sáp nguy

hiểm vì là môi giới truyền bệnh Wilt

Phòng trừ: Xử lý trồi trước khi trồng Phòng trị kiến sống cộng sinh với rệp sáp Vệ sinh vườn, nhổ bỏ và tiêu huỷ

các cây bị rệp gây hại Phun 1 trong các loại thuốc như:

Butyl 10WP 25gr/bình 8lít; Lancer 75WP 15-20gr/bình

8lít; Kumulus 80DF 10-20gr/bình 8 lít; Dầu DC Tron –Pus theo hướng dẫn của chuyên môn

Trang 62

nhãn thuốc

Trang 64

IV.3.3 Nhện đỏ

(Dolichotetranychus sp)

Nhện đỏ gây hại trên quả non và làm quả bị biến dạng, kém phát

triển và giảm giá trị kinh tế

Phòng trừ: Trong mùa nắng nên điều tra để phát hiện nhện đỏ và cần phun 1 trong các loại thuốc

như: Comite 73EC 5-10ml/bình 8 lít; Sulox 80WP 50gr/bình 8 lít; Kumulus 80DF 10-20gr/bình 8 lít; Dầu DC Tron-Pus theo hướng dẫn

Trang 65

IV.3.4 Bệnh héo khô đầu

lá dứa (Wilt) do

virus:

Cây dứa bị bệnh không

phát sinh đồng loạt mà chỉ gây hại rải rác các cây

trong lô trồng dứa

Phòng trừ: Trồng giống

sạch bệnh, tích cực phòng trị rệp sáp, vệ sinh vườn và tiêu huỷ các cây có triệu

trứng chứng nghi ngờ bị

Trang 66

IV.3.5 Bệnh thối rễ và thối ngọn dứa (do nấm Phytophthora sp):

Bệnh thối rễ dứa thường xuyên xuất hiện trong mùa mưa làm toàn bộ hệ thống rễ bị thối khiến cho cây bị đổ Phòng trừ: Mặt líp trồng dứa cần

được làm cao ráo, thoát nước tốt Hệ thống mương rãnh phải đảm bảo

trong mùa mưa bộ rễ bị ngập úng, cây giống được xử lý thuốc trừ nấm trước khi đem trồng Sau khi trồng dùng 1 trong các loại thuốc để phun định kỳ như: Alpine 80WP, Mexyl

MZ 72WP, Aliette, Ridomil theo

Ngày đăng: 20/04/2016, 15:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN