* Những ưu điểm: Chương trình xây dựng NTM đã khẳng định được hợp lòng dân nên sớm đi vào cuộc sống, được nhân dân đồng tình ủng hộ, hệ thống chính trị vào cuộc một cách đồng bộ và quyết
Trang 1MÔN ĐỊA PHƯƠNG
HỌC
Câu 1: Phân tích những
lịch sử truyền thống của quân
dân tỉnh Đồng Tháp Liên hệ
thực tiễn ở địa phương
(Trang 65, 66, 67)
Cách đây 300 năm ĐT là
vùng đầm lầy “cỏ mọc thành
tinh, rắn đồng biết gáy” Qua
hàng trăm năm phát triển, cộng
đồng cư dân từ nhiều nơi đến
đây khai phá đất hoang, sinh cơ
lập nghiệp đã vươn dài, nới
rộng, đầy lùi cái hoang vu tự
nhiên, từng bước tạo nên vùng
đất trù phú Không chỉ chinh
phục thiên nhiên, các thế hệ
người dân ở đây còn kiên
cường đấu tranh chống lại áp
bức, bất công Đặc biệt, với
quyết tâm không chịu làm nô
lệ, nhất là khi có Đảng lãnh
đạo, người dân nơi đây đã đồng
lòng vùng lên biến cỏ cây, sình
lầy thành cứ địa vững chắc, tạo
nơi đứng chân cho quân, dân
Nam bộ đấu tranh chống lại
thực dân Pháp rồi đế quốc Mỹ
xâm lược Đất nước thống nhất,
cộng đồng dân cư nơi đây lại
tiếp đào kênh dẫn nước, đắp đê
ngăn lũ, tạo nên những đồng lúa
vàng thẳng cánh cò bay, những
vườn trái cây xanh mướt,…Qua
3 thế hệ xây dựng, vùng đất ĐT
đã ghi lại những dấu ấn riêng
cho mỗi chăn đường phát triển
Tỉnh ĐT ngày nay có 2
khu vực với đặc điểm tự nhiên,
XH và quá trình hình thành
khác nhau rõ rệt, đó là vùng
phía Bắc và Nam sông Tiền
Tuy khác nhau về địa hình, sinh
thái và quá trình hình thành
nhưng người dân ĐT đều có
chung quá trình đấu tranh cải
tạo thiên nhiên và cùng có kẻ
thù chung Vì thế, dù trong bất
kỳ hòan cảnh nào, người ĐT
luôn “chung sức, đồng lòng”
vượt qua khó khăn, thử thách
để phát triển Và qua đó, họ đã
tạo dựng được những truyền
thống riêng nhưng mang đậm
nét người Việt Nam bộ
1 Truyền thống lao động cần cù, sáng tạo.
Đầu Thế kỷ thứ XVIII,
do cuộc chiến tranh Nam - Bắc triều, Đàng Trong – Đàng Ngoài, dân nghèo Bắc bộ và Trung bộ phải rời bỏ quê hương tiến về phương Nam tìm đường sinh sống ĐT trở thành 1 trong những dừng chân do có ruộng mênh mong, cá tôm đầy ắp
Ban đầu, họ quần tụ bên nhau, dựng vợ gả chồng rồi sinh con
đẻ cái; người càng đông thì đất càng mở rộng Từ đời cha rồi đến đời con, mồ hôi con người
đổ xuống đến đâu, đất đai ở đó xanh tươi hơn, có giá trị hơn đến đó (cho rừng hoang thành đồng ruộng và vườn tược sum suê, cho bãi lầy thành làng mạc, )
Trong những năm kháng chiến, với óc thông minh sáng tạo, nhân dân ta đã đánh thắng
kẻ thù vốn có nhiều thứ hơn ta gấp bội Các thế lực hiếu chiến Pháp, Mỹ đã đánh giá ta thấp khi nhìn tương quan lực lượng
2 bên đơn thuần về số lượng, về sức mạnh quân sự có sự chênh lệch quá lớn giữa “châu chấu với voi” Nhưng với sức mạnh tấn công của các loại vũ khí, phương tiện hiện đại; các chiến lược, chiến thực tân kỳ; đội quân đượ đào tạo huấn luyện;…
nhân dân ta vẫn giành được thắng lợi Vì như ông bà ta tổng kết: “trong cái khó lo cái khôn”
Trong quá trình cọ xác với thực
tế, chiến tranh, cách đánh của địch mà suy nghĩ tìm ra cách phòng, cách chống lại chúng, biết né chỗ mạnh và đánh vào chổ yếu của địch mà suy nghĩ tìm cách phòng, cách chống lại chúng biết né chỗ mạnh và đánh chỗ yếu của địch để bảo tồn lực lượng của mình và gây thiệt hại cho chúng
Phát huy truyền thống anh hùng, cần cù, sáng tạo, nhân dân ĐT đã lập nên nhiều chiến công trong thời bình Thành công lớn nhất sau giải phóng là
đã đánh thức vùng Đồng Tháp Mười, chế ngự và chinh phục được nó, khơi bật dậy tiềm năng của vùng đất nghiệt ngã thành vùng đất tràn trề sức sống Từ công cuộc chinh phục Đồng Tháp Mười cách đây hơn
20 năm, xây dựng “cụm tuyến dân cư” để “sống chung với lũ”, đột phá phát triển công nghiệp, đến nay, ĐT đang tạo nên nhiều dấu ấn đậm nét trong thời kỳ đổi mới
2.Truyền thống yêu nước, yêu quê hương.
Vừa khai khẩn, vừa giữ đất, người dân ĐT trải qua bao thử thách để giành lấy "miếng cơm manh áo” Mồ hôi, nước mắt của họ đã thấm đẫm mảnh đất này Chính những con người ấy đã không quan ngại hi sinh xương máu để “bám đất, giữ làng”, bảo vệ đất đai mà tổ tiên để lại Lòng yêu nước, yêu quê hương của các chí sỹ, của dân ta luôn sôi sục Họ chấp nhận sự gian lao, bị bắt, tra tấn,
tù đày, hy sinh hạnh phúc và cuộc sống riêng có của mỗi gia đình, hy sinh cả tài sản và thậm chí cả sinh mạng để đánh đuổi giặc ngoại xâm dành độc lập, tự
do cho đất nước
Dân ta yêu Tổ quốc, yêu quê hương, yêu độc lập, tự do
Nghìn đời qua là vậy, bây giờ cũng vậy và mai sau vẫn vậy
Vì yêu nước, có người ở hàng chục năm trong tù hoặc gửi xương ngoài Côn Đảo Vì yêu nước, nhân dân ta trẻ già, gái trai đều tham gia đánh giặc, trai
ra tuyền tuyến, gái tải đạn, tiếp lương, già vót chông, chăm sóc thương binh, trẻ em làm liên lạc,… góp phần đánh thắng giặc Pháp, Mỹ, làm rạng danh đất ĐT và để hôm nay ĐT vinh
dự được mang danh hiệu Anh hùng
Sau khi thống nhất đất nước, chưa tận hưởng được trọn vẹn của hòa bình, nhân dân ĐT lại cử những con em mình tham gia đoàn quân bảo vệ biên giới
phía Bắc và trực tiếp bảo vệ biên giới Tây Nam, thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả, giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng
Với tinh thần “Chừng nào hết cỏ Tháp Mười Thì dân ĐT mới hết người đánh Tây”, lịch
sử ĐT đã chứng kiến biết bao thảm hại của quân thù: “Tháp Mười đồng ruộng bao la Giặc
vô ĐT làm ma không đầu” Với lịch sử oai hung, đất Tháp, Đồng Tháp Mười là tên gọi thân thương triều mến đầy kiêu hãnh của nhân dân ĐBSCL
Những giọt mồ hôi, giọt máu hồng rơi xuống, những chiến công rực rỡ,… đã tô thắm cho vùng đất này: Tháp Mười đẹp nhất bông sen, Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ
3 Truyền thống đoàn kết.
Nhìn lại toàn bộ lịch sử
ĐT từ xa xưa đến ngày nay, sợi chỉ đỏ xuyên suốt qua trình lâu dài ấy là sức sống mảnh liệt của người ĐT, một sức sống kỳ diệu bởi sức mạnh, sức chịu đựng và khả năng ứng xử với mọi tình huống nhằm giữ vững bản sắc và không ngừng phát triển, lớn lên về mọi mặt Cội nguồn của sức sống đó, cốt lõi của sức sống đó là tính cộng đồng, ý thức và ý chí đoàn kết, làm nên sự gắn bó của cộng đồng người ĐT thành một khối bởi nhiều mối quan hệ: đó là sức mạnh, sức đề kháng, sức đấu tranh chống mọi thiên tai
và địch họa vì sự sống còn và
sự phát triển của cộng đồng và của dân tộc
ĐT là tỉnh anh hùng trong kháng chiến cứu nước, cũng là anh hùng trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đánh thắng kẻ thù xâm lược và cả kẻ thù nghèo nàn, lạc hậu Trong hoàn cảnh đó, với nhiều gian khổ, thiếu thốn, nhiều mất mác, hy sinh khiến mọi người đồng cảm, đoàn kết, xích lại gần nhau, đùm bọc, san sẻ cho nhau, sống chết có nhau,
thương yêu nhau như ruột thịt, thậm chí còn hơn ruột thịt
4 Các truyền thống khác:
Khai thác, khai phá và cũng quá trình ấy, họ đã “Khai sinh” ra một vùng đất trù phú Mãnh đất của ĐT chứa đựng cả
ưu thế và bất lợi Một phần của vùng đất này nằm bên cạnh dòng sông đầy ấp phù sa và phần lớn còn lại hoang vu, bưng biền Đặc điểm này có sức hấp dẫn những cư dân tìm kế sinh nhai, là nơi ẩn náo của các anh hung hào kiệt, chiến sĩ yêu nước, chống bất công Điều này cũng lý giải vì sao ĐT là căn cứ địa cách mạng cho các cuộc kháng chiến Nơi đây là điểm hội tụ của các cư dân, sự giao thoa của các nền văn hoá và chính điều ấy đã tạo cho người Đồng Tháp có những nét tính cách riêng trên nền văn hoá Việt Họ trung thực, trực tính, tình nghĩa, thuỷ chung, lạc quan, yêu đời, không câu nệ lễ nghĩa, không màng danh lợi, sống phóng khoáng; luôn thích nghi, tiếp nhận, dung hoà, rộng lượng,…
Tóm lại, với đặc thù về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của vùng đất mới được khai phá, ĐT đã ghi vào lịch sử bằng những thành công trong công cuộc khai phá, đấu tranh với kẻ thù xâm lược và trong sự nghiệp đổi mới Với những thành quả đạt được, ĐT đã tạo dựng được vóc dáng mới Từ vùng đất sình lầy, hoang vu, từ những cuộc chiến tranh đổ nát,
ĐT đã không ngừng vươn lên
để hình thành lên những cánh đồng lúa bát ngát, những khu công nghiệp rộn rang và những
đô thị tấp nập Với những nổ lực không ngừng, các thế hệ cư dân ĐT hôm nay đang tiếp tục xây dựng vùng đất này đề hoàn thành tâm nguyện cua cha ông vượt nghìn non dặm biển hơn
300 năm vào đây mở đất
* Liên hệ thực tiễn:
Câu 2: Trình bày những
bài học kinh nghiệm lãnh đạo
sự nghiệp xây dựng Đảng và
bảo vệ Tổ Quốc của Đảng bộ
Đồng Tháp Liên hệ thực tiễn
địa phương (Trang 16)
Trải qua hai cuộc chiến
tranh cứu nước vĩ đại, đảng bộ
đã tổng kết được những bài học
kinh nghiệm:
Thứ nhất, tuyệt đối trung
thành với lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp; chiến đấu hy sinh
vì độc lập, tự do, giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc
để cùng cả nước quá độ lên CNXH
Thứ hai, chấp hành nghiêm
chỉnh và vận dụng sáng tạo
đường lối, chủ trương của Đảng
Thứ ba, phát huy sức mạnh
tổng hợp của chiến tranh nhân dân; tự lực tự cường, kiên trì bám trụ, đánh thắng địch trên chiến trường đồng nước Đồng Tháp Mười
Thứ tư, phát huy truyền
thống yêu nước, chủ nghĩa anh
hùng cách mạng và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân
Thứ năm, đoàn kết hữu nghị
với nhân dân Campuchia, khai thông và giữ vững hành lang biên giới, góp phần củng cố liên minh chiến đấu 3 nước Đông Dương
Thứ sáu, thường xuyên
chăm lo xây dựng Đảng vững
mạnh đủ sức lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ của cách mạng Đây là những bài học chẳng những có giá trị cho công cuộc kháng chiến, mà còn có ích cho quá trình lãnh đạo sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc
* Liên hệ thực tiễn:
Trang 2Câu 3: Nêu những ưu
điểm, hạn chế trong việc thực
hiện Chương trình mục tiêu
quốc gia xây dựng nông thôn
mới tỉnh ĐT giai đoạn 2011 –
2015 Liên hệ thực tiễn ở địa
phương (Trang 108, 109)
* Những ưu điểm:
Chương trình xây dựng
NTM đã khẳng định được hợp
lòng dân nên sớm đi vào cuộc
sống, được nhân dân đồng tình
ủng hộ, hệ thống chính trị vào
cuộc một cách đồng bộ và
quyết liệt đẩy mạnh triển khai
Chương trình, nhận thức về xây
dựng NTM của cán bộ và người
dân đã có chuyển biến tích cực
Bộ mặt nông thôn trên địa
bàn tỉnh đã có nhiều thay đổi
tích cực đáng khích lệ Sự thay
đổi đầu tiên là hạ tầng giao
thông nông thôn phát triển
mạnh mẽ, hệ thống thủy lợi
được nâng cấp tạo điều kiện
thuận lợi để đẩy mạnh phát
triển sản xuất Đời sống vật
chất, tinh thần của người dân
cũng được nâng cao thông qua các chương trình, dự án giảm nghèo, phát triển sản xuất
Có sự quyết tâm của hệ thống chính trị trong chỉ đạo xây dựng NTM Cấp ủy, chính quyền, MTTQ và các tổ chức đoàn thể các cấp đã chủ động hơn trong xây dựng, triển khai
kế hoạch thực hiện Chương trình xây dựng NTM
Công tác rà soát, bổ sung văn bản chỉ đạo, triển khai chương trình của Trung ương, của Tỉnh kịp thời Công tác kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện Chương trình xây dựng NTM các cấp được tăng cường thực hiện
Nhờ vậy, kế hoạch thực hiện thời gian qua được đánh giá khả quan, tương đối cao; xét
bộ tiêu chí nông thôn mới có đến 15/19 tiêu chí đạt và vượt
so với chỉ tiêu kế hoạch giai đoạn 2011 – 2015, 02 tiêu chí cơp bản đạt kế hoạch (tiêu chí Trường học đạt 97,86%, tiêu
chí Cơ sở vật chất văn hóa ước đạt 95,21% kế hoạch) 2 tiêu chí chưa đạt kế hoạch (tiêu chí Y tế 66,3% kế hoạch, tiêu chí Hệ thống chính trị xã hội vững mạnh 61,22% kế hoạch)
* Những hạn chế chủ yếu:
Công tác chỉ đạo, quản lý chương trình lúc ban đầu còn nhiều lúng túng, việc quản lý và điều hành không đồng bộ và thiếu chặt chẽ
Công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia Chương trình ở một số nơi chưa được quan tâm, nội dung thực hiện chưa đạt yêu cầu dẫn đến hiệu quả thấp, mức độ đồng thuận và đóng góp xây dựng NTM chưa cao
Việc hoàn thiện, bổ sung và ban hành cơ chế, chính sách chậm so với yêu cầu, phải bổ sung nhiều lần cũng như việc điều chỉnh một số tiêu chí trong thời gian vừa qua đã gây nhiều khó khăn cho quá trình triển khai thực hiện
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới phương thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm, các hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển mạnh sản xuất hàng hóa Việc mở rộng, gắn :”liên kết” giữa đầu vào và đầu ra trong dây chuyền sản xuất hàng hóa nông sản vẫn còn nhiều hạn chế, chịu ảnh hưởng tác động của tình hình thị trường chung
Khối lượng công trình hạ tầng nông thôn được đầu tư trong xây dựng NTM có phát triển nhưng số lượng công trình đáp ứng được các chuẩn, quy chuẩn của nông thôn mới thấp, chưa tương ứng với nhu cầu phát triển KT – XH chung, đặc biệt tại các xã, vùng sâu, vùng
xa và biên giới Nguồn vốn thực hiện Chương trình xây dựng NTM chưa đáp ứng dược nhu cầu phát triển hạ tầng KT –
XH nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa và biên giới; do
nhu cầu vốn đầu tư lớn (đặc biệt tiêu chí về Giao thông, tiêu chí Trường học và Cơ sở vật chất văn hóa cần đến nguồn vốn
từ ngân sách Nhà nước) Ngoài ra, cơ chế lồng ghép,
cơ chế huy động nguồn lực, cơ chế đầu tư cho từng hạn mục chưa rõ ràng, cụ thể nên một số địa phương có điều kiện về nguồn lực nhưng còn có tư tưởng trông chờ, ỉ lại vào sự hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước nên kết quả triển khai chương trình còn hạn chế
Trong kế hoạch thực hiện hàng năm của từng địa phương còn tập trung, quan tâm qua nhiều đến việc đầu tư phát triển
cơ sở vật chất mà thiếu sự quan tâm đến các vấn đề đào tạo nguồn nhân lực, phát triền văn hóa - xã hội văn minh và bảo vệ môi trường sinh thái; nhất là việc gìn giữ, bảo tồn bản sắc văn hóa, phát triển các làng nghề truyền thống
* Liên hệ thực tiễn: Câu 4: Trình bày những
cơ hội và thách thức đối với
sự phát triển KT-XH ở tỉnh
Đồng Tháp Liên hệ thực tiễn
ở địa phương (Trang 76, 77)
* Những cơ hội
- Với vị trí địa lý của tỉnh
tương đối chia cắt, nếu biết khai
thác có thể giúp tỉnh điều kiện
cách ly, phòng chống dịch
bệnh, tạo nên môi trường sinh
thái cảnh quan đặc sắc và có lợi
thế là cửa ngõ vùng tứ giác
Long Xuyên sẽ tạo điều kiện
thuận lợi cho phát triển hoạt
động thương mại, xã hội và bảo
vệ an ninh biên giới
- Tỉnh nằm ở đầu nguồn
song Cửu Long với 2 nhánh
chính chảy qua sông Tiền và
sông Hậu Vì thế, bên cạnh việc
tưới tiêu phục vụ sản xuất, sông
rạch nhiều còn là hệ thống giao thông thủy rất quan trọng gắn việc sản xuất, sông rạch nhiều hoạt động trong tỉnh với các địa phương ĐBSCL, đây là 1 trong những thế mạnh của tỉnh Bên cạnh đó, giao thông bộ lại có mật độ thấp và phân bố lệch về khu vực ven sông Tiền, sông Hậu và phía Nam tỉnh nên là điểm nghẽn quan trọng phát triển KT – XH của tỉnh
- Chế độ lũ vừa là thế mạnh cho tỉnh trong bố trí sản xuất, phát triển cảnh quan môi trường, vừa là thách thức cho tỉnh trong việc bố trí sản xuất, xây dựng dân cư và đô thị
* Những thách thức:
- Cơ cấu kinh tế tỉnh đã chuyển hướng tích cực, giảm tỷ trọng nông nghiệp tăng nhanh ở
khu vực công nghiệp – xây dựng với tốc độ 19,4%/năm nhưng so với khu vực ĐBSCL, tỉnh vẫn là 1 tỉnh thuần nông;
đồng thời, sản xuất lúa và thủy sản của tỉnh đứng đầu ĐBSCL nhưng xuất khẩu 2 ngành hàng này thấp hơn nhiều so với các tỉnh trong khu vực
- Khả năng cạnh tranh trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh cũng có xu thế giảm dần và kém hơn các tỉnh ĐBSCL Giá trị sản phẩm trồng trọt thu được trên 1 ha đất tròng trọt tăng chậm so với các tỉnh BSCL, đến năm 2011, giá trị 88,82 triệu đồng/ha, thấp hơn mức bình quân chung của khu vực là 91,1 triệu đồng/ha Năm 2012 chỉ số này của tỉnh 91 triệu đồng/ha
- Tốc độ dân số tự nhiên thấp và có xu hướng giảm;
đồng thời, việc phân bố dân cư lệch xuống phía Tây Nam cùng với nếp sống truyền thống và văn hóa cổ truyền là thế mạnh trọng việc mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp và phát triển
KT – XH trong tương lai
Nhưng hạn chế trong giáo dục
và chất lượng y tế cơ sở lại là điểm nghẽn quan trọng trong phát triền tài nguyên con người
- Là vùng cảnh quan sinh thái ngập úng, là căn cứ địa chống Pháp, chống Mỹ trong các thời kỳ giải phóng dân tộc, tỉnh có 1 số danh thắng, di tích lịch sử và văn hóa có tiềm năng
để phát triển du lịch như du khảo, du lịch sinh thái, sông nước, miệt vườn Tuy nhiên,
điểm nghẽn của hoạt động này
là giao thông bộ chưa tốt, hệ thống khách sạn kém phát triển, thiếu các di tích có quy mô, liên kết thành tổ hợp, kết cấu hạ tầng ở các vườn quốc gia yếu kém, không có sản phẩm du lịch hấp dẫn
- Vấn đề môi trường ngày được quan tâm hơn, ý thức của nhân dân được nâng cao nhưng nguồn nước mặt thời gian qua
đã bị ô nhiễm nghiêm trọng do
tổ chức sản xuất nuôi trồng thủy sản và sản xuất nông nghiệp chưa họp lý, nước thải công nghiệp, chế độ ngập lũ, chăn thả vịt đàn, cầu tiêu trên sông rạch, rác thải, chất thải chăn nuôi
* Liên hệ thực tiễn:
Câu 5: Nêu những kết quả
đạt được, tồn tại, hạn chế và
nguyên nhân về Đổi mới và
nâng cao hiệu lực, hiệu quả
quản lý Nhà nước? Liên hệ
thực tiễn ở địa phương
(Trang 43)
* Kết quả đạt được:
Công tác tổ chức, kiện toàn
cơ quan hành chính Nhà nước
được quan tâm thực hiện Tập
trung nâng cao chất lượng
nghiệp vụ, đạo đức, tác phong,
lề lối làm việc của cán bộ, công
chức, viên chức, nhất là cấp xã,
thị trấn Thực hiện kết quả bước
đầu Đề án thi tuyển công chức
lãnh đạo; Đề án nâng cao năng
lực cán bộ, công chức xã, thị
trấn giai đoạn 2013 – 2015,
định hướng đến năm 2020; đề
án xác định vị trí việc làm trong các đơn vị sự nghiệp công lập;
sử dụng phần mềm đánh giá cán bộ, công chức; triển khai phương pháp khảo sát sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp đối với cơ quan hành chính Nhà nước
Cải cách hành chính được chú trọng theo hướng lấy sự hài lòng của người dân, tổ chức và doanh nghiệp là mục tiêu vươn tới, là thước đo kết quả hoàn thanh nhiệm vụ của ngành, địa phương Mô hình một cửa và một cửa liên thông, ứng dụng phần mềm quản lý văn bản eOffice được nâng cao hiệu quả; ứng dụng văn bản điện tử
và chữ ký số ở các cơ quan Nhà nước, nhằm rút ngắn thời gian
xử lý công việc; triển khai thực hiện bước đầu phần mềm một cửa điện tử tại 06 huyện vá 18
sở ngành tỉnh; mở rộng dịch vụ hành chính công mức độ 3.Tiếp tục phát huy, nhân rộng các mô hình cải cách hành chính gắn với xây dựng chính quyền thân thiện trên địa bàn
Công tác phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được các cấp, các ngành chỉ đạo thực hiện chỉ đạo với quyết tâm cao, có kế hoạch thực hiện cụ thể, gắn kết chặt chẽ với nội dung “Học tập
và làm theo tấm gương đạo đức HCM” Thường xuyên theo dõi, kiểm tra, cùng với sự tham gia giám sát của nhân dân, MTTQ, các đoàn thể, đã nâng cao nhận
thức và nêu cao vai trò người đúng đầu cơ quan, đơn vị, đưa công tác này đi vào chiều sâu, hiệu quả
* Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân:
Tồn tại, hạn chế:
- Trình độ cán bộ, công chức, viên chức chưa đồng đều;
việc phát hiện và xử lý tình trạng thờ ơ, nhũng nhiễu của 1
bộ phận cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước chưa nghiêm và kịp thời
- Cơ chế phối hợp giải quyết công việc giữa các ngành, địa phương có những nơi, có những lúc chưa thông suốt, bỏ qua cơ hội của nhà đầu tư Chỉ
số hiệu quả quản trị và hành
chính công tác tỉnh (PAPI) chưa vững chắc
Nguyên nhân chủ yếu:
- Ý thức vươn lên trong công tác, học tập của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức còn hạn chế; công tác quản lý chưa kích thích và phát huy hết ngă lực của lực lượng này; sự tham gia giám sát của người dân, MTTQ có lĩnh vực hiệu quả chưa cao
- Sự chỉ đạo, điều hành ở một số ngành, địa phương thiếu kiên quyết và kịp thời, nhất là trên lĩnh vực bồi thường giải phóng mặt bằng, xử lý ô nhiễm môi trường và khai thác tài nguyên khoáng sản
* Liên hệ thực tiễn:
Trang 3MỘT SỐ LIÊN HỆ
Đó là tấm gương sáng của
bà Nguyễn Thị Lựu, người phụ
nữ Đồng Tháp đầu tiên tham
gia vào tổ chức "Thanh niên
cách mạng Đồng chí hội"; cô
Trần Thị Nhượng (tức cô Sáu
Ngài), người phụ nữ nhân hậu,
người cộng sản kiên trung,
người Bí thư Tỉnh ủy đầu tiên
của quê hương Đồng Tháp; bà
Võ Thị Việt, nguyên Phó Bí thư
tỉnh ủy Sa Đéc, nguyên Bí thư
Quận ủy Quận 3, TPHCM,
nguyên Hội trưởng Hội LHPN
tỉnh Vĩnh Long; người mẹ kiên
trung Lê Thị Huệ (tức bà Năm
Vạn) nguyên ủy viên Đoàn thư
ký TW Hội LHPNVN, nguyên
Chủ tịch Hội LHPN Đồng
Tháp
Nguyễn Văn Đừng đã
tham dự hơn 30 trận chiến đấu,
ông luôn luôn nêu cao tinh thần
kiên quyết, dũng cảm, có tác
phong chiến đấu rất mưu trí,
linh hoạt, khi tiến công thì
mãnh liệt chớp nhoáng, khi
bám trụ thì gan góc kiên cường
Nguyễn Văn Đừng luôn chấp hành chỉ thị, mệnh lệnh một cách kiên quyết, triệt để, được cấp trên tin cậy Ông thường được giao những nhiệm vụ quan trọng đột xuất trong những tình huống đặc biệt
Nguyễn Văn Đừng đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhất và là Chiến sĩ thi đua của quân khu
Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Nguyễn Văn Đừng được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng nhì
và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng
ANH HUNG NGUYEN MINH TRI
Ngày 4 tháng 12 năm 1967, trời rực sáng đơn vị vừa ra công sự thì pháo địch từ các chiến hạm đậu trên sông Cửu
Long bắn tấp nập vào Máy bay L.19, "lồng kẽm" quần đảo chỉ điểm cho pháo và máy bay phản lực tới dội bom.
Trực thăng chiến đấu rà sát đọt cây bắn như vãi đạn Từ vàm Rạch Ruộng, tàu Mỹ nối đuôi nhau chạy vào kinh Nguyễn Văn Tiếp B Con nước đang lớn, sóng tàu ầm
ập tràn vào bờ, ùa vào cả các công sự gần bờ.
Khẩu B.41 đã lắp đạn đặt trên vai Thượng sĩ Nguyễn Minh trí, sẳn sàng Một chiếc, hai chiếc rồi năm, bảy chiếc, tàu địch vượt qua khoá đầu ngoài, vượt qua mũi súng của Trí mà vẫn chưa có lệnh nổ súng Bất thần tiếng nổ của khẩu ĐKZ ở khoá đầu trong gầm lên Đó cũng là súng lệnh Chiếc tàu đi đầu bốc cháy Trí siết cò phóng viên đạn B.41 vào chiếc tàu vừa đến ngay công sự mình Chiếc tàu chòng chành rực lửa, tỏa khói đen cuồn cuộn và nhủi đầu chìm xuống nước Toàn
trận địa súng nổ giòn giã Tàu địch vào đông quá Chiếc này vừa chìm, chiếc khác lại vượt lên Trí vội vàng lắp quả đạn thứ hai Một chiếc nữa chìm.
Đạn cối, đại liên từ các tàu địch xối xả lên hai bờ Máy bay trực thăng phóng róc két
ấm đùng Trận địa mù mịt khói đạn Trí đã bắn hết 4 viên đạn B.41 trong 5 phút, vượt quá quy định thời gian cho phép Tiếng nổ làm lổ tai Trí ù lên Sức ép và phản lực của đạn B.41 làm trí mệt nhoài Tàu địch vẫn cứ vào.
Không thể dừng lại được Bất chấp quy định mỗi xạ thủ chỉ được phép bắn tối đa 4 phát đạn với một khoản thời gian cách xa nhau, Trí vọt lên khỏi công sự lao sang đồng chí tiếp tục giật phắt túi đạn, lăn về công sự Phát đạn thứ năm rồi thứ bảy tới tấp vút vào tàu địch Sức dội và hơi nóng của đạn làm người Trí nóng ran lên, mồ hôi tuôn ra như tắm, đầu choáng váng Trí há hốc
miệng khô khát, thở hổn hển, mắt căng lên nhìn tàu địch như bầy thiêu thân cứ lao vào ngọn lửa Một đồng chí bắn
AK gần công sự Trí thét to lên: "Trí, không được phép bắn nữa !" Sức khỏe của người cường tráng cũng không được phép bắn một lúc đến 5 phát đạn B.41 Đằng này, Trí lại lắp thêm viên thứ
9 Mắt Trí dán vào tàu giặc, Tai Trí không còn nghe gì nữa Trí run rẩy, vụng về lắp quả đạn, gương người đứng lên dốc cả sức lực còn lại cho phát đạn cuối cùng Một chiềc tàu mặt bằng quay mũi ghim vào bờ trước mặt Trí Mặt sập hạ xuống Bọn Mỹ, ngụy
lố nhố tràn lên Trí ngắm đúng vào cái mồm há hốc của chiếc tàu địch, siết cò Chiếc tàu rực lửa và cùng lúc toàn thân Trí nóng lên như lửa cháy Trí hy sinh khi bắn một loạt liền 9 phát đạn B.41, hạ 7 tàu địch, làm một công việc quá sức của một con người.
Trang 4BÁO CÁO
xây dựng nông thôn mới
7 Kết quả thực hiện
theo bộ tiêu chí quốc gia năm
2015:
Qua 05 năm xã thực
hiện đến nay xã đã đạt được 11
tiêu chí như sau: Quy hoạch,
thủy lợi, bưu điện, thu nhập, hộ
nghèo, tỷ lệ lao động có việc
làm thường xuyên, hình thức tổ
chức sản xuất, giáo dục, văn
hóa, hệ thống tổ chức Chính trị
xã hội vững mạnh, và an ninh
trật tự xã hội
- Còn lại 8 tiêu chí
chưa đạt như sau:
+ Tiêu chí 2: Giao
thông
+ Tiêu chí 4: Điện
+ Tiêu chí 5: Trường
học
+ Tiêu chí 6: Cơ sở
vật chất văn hóa
+ Tiêu chí 7: Chợ
nông thôn
+ Tiêu chí 9: Nhà ở
dân cư
+ Tiêu chí 15: Y tế
+ Tiêu chí 17: Môi
trường
8 Đánh giá chung
về triển khai thực hiện
Chương trình:
8.1 Những mặt
được.
Nâng cao một bước nhận thức
trong toàn Đảng bộ, chính
quyền, các đoàn thể chính trị và
nhân dân về Chương trình xây
dựng nông thôn mới
Hệ thống bộ máy chỉ đạo, quản
lý điều hành Chương trình được
củng cố và nâng cao hiệu quả
hoạt động Có sự vào cuộc và
chỉ đạo chặt chẽ của Đảng uỷ
xã trong việc triển khai thực
hiện Chương trình xây dựng
nông thôn mới ở địa phương
- Công tác lãnh chỉ đạo điều
hành thực hiện thường xuyên,
đặc biệt là sự sáng tạo trong chỉ
đạo điều hành đã phát huy tối
đa vai trò của các đoàn thể
trong vận động tuyên truyền
xây dựng nông thôn mới bằng
những kế hoạch phù hợp thiết
thực với địa phương Trong đó
nổi bật là chương trình xây
dựng cầu lộ nông thôn đã tạo thuận lợi cho việc đi lại, học tập
và lưu thông hàng hoá, góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương
- Công tác tuyên truyền với nhiều hình thức phong phú, thường xuyên và kịp thời nên sự chuyển biến về tư tưởng của đại bộ phận người dân đồng tình và nhất trí cao; cán bộ, đảng viên cũng tích cực phối hợp thực hiện
- Thực hiện tốt chương trình lồng ghép, nhất là vận động các nhà mạnh thường quân, nhà đầu
tư góp phần hoàn thành các tiêu chí về xây dựng nông thôn mới
- Sự đồng thuận của nhân dân ngày càng cao trong quá trình triển khai là yếu tố quan trọng nhất, góp phần hoàn thành các tiêu chí trong bộ tiêu chí nông thôn mới
8.2 Những hạn chế, tồn tại:
- Ban chỉ đạo xã, Ban quản lý xây dựng nông thôn mới xã và Ban Phát triển ấp thiếu sự phân công giao việc cụ thể, công tác tổng họp báo cáo chưa kịp thời, đầy đủ, tổ chức họp hàng tháng chưa đều
- Cán bộ phụ trách xây dựng nông thôn mới cấp xã kiêm nhiệm nên công tác tổng hợp báo cáo hàng tháng, quí, năm gặp khó khăn trong việc tổng hợp và chậm thời gian theo quy định
- Một số bộ phận cán bộ đảng viên và nhân dân nhận thức về xây dựng nông thôn mới còn hạn chế nên huy động nội lực cho đầu tư phát triển đôi lúc gặp khó khăn
Phần thứ hai PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ GIAI ĐOẠN 2016-2020
1 Mục tiêu cơ bản đến năm 2020:
Phấn đấu đến cuối năm 2015 xã đạt thêm 2 tiêu chí, gồm các tiêu chí: tiêu chí Y
tế, tiêu chí môi trường và Phấn đấu đến cuối năm 2020 xã đạt 19/19 tiêu chí nông thôn mới
2 Công tác quản
lý, chỉ đạo chương trình.
- Thường xuyên củng cố, kiện toàn Ban chỉ đạo
và Ban quản lý cấp xã, Ban phát triển ấp
- Triển khai kế hoạch thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới năm 2016-2020
- Nhân rộng kế hoạch tuyên truyền vận động xây dựng nông thôn mới
3 Công tác đào tạo, tập huấn.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã được đào tạo
cơ bản, có đủ kiến thức, kỹ năng quản lý, điều hành
- Phối hợp triển khai và thực hiện các chương trình dạy nghề nông thôn cho nông dân
4 Công tác tuyên truyền, vận động và thi đua xây dựng nông thôn mới.
Đa dạng các hình thức tuyên truyền vận động;
chú trọng xây dựng đội ngũ tuyên truyền ở các ấp làm nòng cốt; tăng cường công tác vận động mạnh thường quân, tích cực vận động nhân dân đóng góp ý kiến, đóng góp tiền, đất, công sức, công trình,…
- Tiếp tục đẩy mạnh
và nâng cao chất lượng cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” gắn với xây dựng NTM Mỗi đoàn thể đảm nhận một số tiêu chí mục đích để vận động hội viên thực hiện có kết quả
Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu và thi đua trong quá trình xây dựng nông thôn mới
5 Phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân.
Lãnh chỉ đạo tiếp tục thực hiện 02 cánh đồng mẫu lớn với diện tích 780,1 ha, đồng thời nhân rộng mô hình liên kết tiêu thụ sản phẩm với doanh nghiệp làm khâu đột phá để phát triển sản xuất; tăng cường ứng dụng những tiến khoa học
kỹ thuật vào sản xuất; thực hiện chính sách hỗ trợ cơ giới hóa vào khâu chăm sóc; nhân rộng các mô hình khuyến nông có hiệu quả
Đầu tư phát triển hạ tầng kinh
tế - xã hội nông thôn, gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung
Kết hợp với các ngành cấp trên đào tạo lao động nông thôn với chuyển đổi cơ cấu lao động;
thúc đẩy phát triển sản xuất và các hình thức sản xuất có hiệu quả nhằm tăng thu nhập cho người dân nông thôn
6 Xây dựng cơ sở
hạ tầng thiết yếu
- Tranh thủ các nguồn vốn hỗ trợ của Trung ương, Tỉnh, Huyện và huy động nhân dân để đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng thiết yếu như: đường giao thông, cầu, trường học và nhà văn hóa; sắp xếp, chỉnh trang chợ
- Tập trung xây dựng hệ thống
đê bao, cống đập từ nguồn vốn cấp bù do miễn thu thủy lợi phí theo các tiêu chí xây dựng xã nông thôn mới, tạo điều kiện xây dựng trạm bơm điện từng bước hoàn thiện hệ thống tưới tiêu theo hướng tập trung, hiện đại
7 Về giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội, hệ thống chính trị, an ninh trật tự:
- Phát triển giáo dục toàn diện vững chắc, theo chủ
đề “tiếp tục thực hiện đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục” Tham mưu cùng UBND huyện và Phòng Giáo dục huyện đầu tư cơ sở vật chất
và trang thiết bị đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng chuyên môn để giảm học sinh yếu kém, tăng học sinh khá, giỏi; nâng cao hiệu quả công tác huy động học sinh trong độ tuổi đến trường ở các cấp học bậc học, phân luồng học sinh
- Nâng cao chất lượng, kịp thời và hiệu quả của công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân Không để dịch bệnh xảy ra, lây lan trên diện rộng Thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, công tác khám chữa bệnh
- Đẩy mạnh phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hóa ở khu dân cư, nâng cao chất lượng cuộc vận động toàn dân xây dựng đời sống văn hóa
- Đẩy mạnh công tác phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội, giữ vững trật tự an toàn xã hội trên địa bàn Thường xuyên mở các đợt cao điểm tấn công trấn
áp tội phạm, phát động phong trào toàn dân tham gia phòng chống các tệ nạn xã hội
8 Huy động và bố trí nguồn lực
Thực hiện đa dạng các nguồn vốn huy động để triển khai thực hiện chương trình, trong đó:
- Nguồn vốn Trung ương: gồm vốn các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình, dự
án hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn và vốn ngân sách hỗ trợ trực tiếp từ chương trình xây dựng nông thôn mới
- Nguồn vốn ngân sách địa phương (Tỉnh, Huyện): huy động tối đa các nguồn lực địa phương để tổ chức triển khai chương trình
- Nguồn vốn tín dụng: hướng dẫn và tham mưu cùng cấp trên tạo điều kiện thành lập các doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn được vay các nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước và các ngân hàng thương mại trên địa bàn huyện
- Nguồn vốn doanh nghiệp, hợp tác xã: các doanh nghiệp, hợp tác xã tạo điều kiện tham gia đầu tư vào sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh doanh, dịch vụ khu vực nông nghiệp; doanh nghiệp được vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, được ngân sách nhà nước
hỗ trợ sau đầu tư và được hưởng ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật
- Nguồn vốn dân: người dân đầu tư phát triển sản xuất, xây dựng nhà ở, tham gia đầu tư các công trình công ích (thuỷ lợi, giao thông, …), tham gia hoạt động y tế, giáo dục, môi trường Các khoản đóng góp theo nguyên tắc tự nguyện của nhân dân trong xã cho từng dự án cụ thể