1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đề cương ôn tập môn địa phương học

18 405 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 68,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP ĐỊA PHƯƠNG HỌCCâu 1 : Văn hóa Đông Sơn và những dấu tích của văn hóa Đông Sơn trên địa bàn Thanh- Nghệ - Tĩnh?. - Khảo cổ học đã phát hiện được nhiều công cụ chặt thô sơ

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP ĐỊA PHƯƠNG HỌC

Câu 1 : Văn hóa Đông Sơn và những dấu tích của văn hóa Đông Sơn trên địa bàn Thanh- Nghệ - Tĩnh ?

**Thời tiền sử :

- Cùng với cả nước, Thanh- Nghệ - Tĩnh là một trong những cái nôi của người Việt

cổ Ngay từ rất sớm, người nguyên thủy đã xuất hiện và sinh sống ở địa bàn các tỉnh Thanh- Nghệ- Tĩnh

- Khảo cổ học đã phát hiện được nhiều công cụ chặt thô sơ của người vượn ở núi

Đọ, Quan Yên,Núi Nuông(Thanh Hóa).Trong đó, người vượn ở núi Đọ dần dần đạt tới chính thức xã hội tiền thị tộc

**Dấu tích của văn hóa Sơn Vi, Hòa Bình Bắc Sơn cũng được tìm thấy khá dày đặc ở đất Thanh Hóa, Nghệ An, điều này chứng tỏ quá trình định cư liên tục của người nguyên thủy ở Thanh Hóa, Nghệ An từ thời đại đá cũ sang thời đại đá mới

**Sơ kì thời đại đồ đồng:

- Sau quá trình lâu dài đấu tranh với thiên nhiên để sinh tồn và phát triển, cư dân trên lãnh thổ nước ta bước vào thời đại đồ đồng

=> Có thể nói , cùng với lưu vực sông Hồng thì lưu vực sông Mã, sông Lam là một trong những dòng chảy văn hóa dẫn đến văn hóa Đông Sơn, góp phần tạo nên văn hóa Đông Sơn sau này

Niên đại: Từ thế kỷ VII TCN đến thế kỷ II TCN Thời Hùng Vương, Thanh Hoá thuộc bộ Cửu Chân, Nghệ An thuộc bộ Hoài Hoan và phần bắc bộ Cửu Đức,

Hà Tĩnh thuộc bộ Cửu Đức của nước Văn Lang

Di chỉ khảo cổ Đông Sơn (nay thuộc phường Hàm Rồng, thành phố Thanh Hóa) Lần đầu tiên ở Việt Nam, có một nền văn hóa bao trùm trên một địa bàn rộng lớn từ Hoàng Liên Sơn đến miền Nam Việt Nam

Di tích văn hoá Đông Sơn tập trung đậm đặc ở lưu vực các con sông: sông Hồng, sông Mã, sông Cả Có 379 di tích, trong đó Thanh Hoá có 104 di tích, Nghệ

An có 25 di tích

Các di tích văn hóa Đông Sơn ở Thanh Hóa phân bố rộng từ vùng núi đến vùng đồng bằng thuộc các huyện: Đông Sơn, Hoằng Hóa, Hậu Lộc, Quảng Xương, Nông Cống, Thọ Xuân, Thiệu Hóa, Yên Định, Vĩnh Lộc, Hà Trung…

Trên đất Nghệ An và Hà Tĩnh cũng đã phát hiện được rất nhiều di tích văn hóa Đông Sơn mà tiêu biểu nhất là Làng Vạc (Nghĩa Đàn – Nghệ An), Đồng Mỏm (Diễn Châu – Nghệ An), Xuân An (Nghi Xuân – Hà Tĩnh)…

Vào giai đoạn Đông Sơn, nghề đúc đồng đạt đến mức cực thịnh Ở Làng Vạc tìm thấy khuôn đúc rìu và đúc dao găm bằng sa thạch Ở Đồng Mỏm người ta tìm

Trang 2

thấy môi đúc đồng bằng đất nung còn dính xỉ đồng Đồ đồng Đông Sơn gồm đủ bộ

từ công cụ, nhạc cụ đến chiến cụ Trên các đồ đồng này đều có khắc chạm đúc nổi các hoa văn trang trí, đặc biệt là các hình vẽ mô tả sinh hoạt, đời sống văn hóa tĩn ngưỡng của người Việt thời bấy giờ Người thợ đúc đồng thời kỳ này đã chế tạo được nhiều loại công cụ sản xuất bằng đồng như lưỡi cày, lưỡi cuốc, xẻng, thuổng, rìu, đục, mũi nhon…; nhiều loại đồ đựng bằng đồng như thạp, thố, âu, chậu, sành; những đồ dùng đẹp như khóa thắt lưng, môi bằng đồng; nhiều thứ vũ khí bằng đồng như dao găm, giáo, mũi lao, mũi tên…

Vào thời kỳ này, người Đông Sơn trên địa bàn Thanh - Nghệ - Tĩnh không những phải đấu tranh với thiên nhiên để sinh tồn mà còn thường xuyên đối phó với nạn ngoại xâm Do vậy, trong một số di chỉ có niên đại Đông Sơn, tỉ lệ vũ khí trong tổng số hiện vật khá cao: Đông Sơn có 519 vũ khí trong số 1026 hiện vật; Làng Vạc có 120 vũ khí trong số 475 hiện vật Nhìn chung, tỉ lệ vũ khí lên tới trên 50% tổng số hiện vật

Nghề luyện sắt cũng đã xuất hiện và có những bước phát triển đáng kể trong giai đoạn văn hóa Đông Sơn Sự phát triển của nghề luyện kim đã thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế và dẫn đến những chuyển biến sâu xa trong đời sống

xã hội

Trong các nghề thủ công, nghề làm đồ đá dần dần mất đi vai trò của nó Nghề làm đồ gốm, nghề kéo sợi dệt vải tiếp tục phát triển, cung cấp các loại đồ đựng, đồ dùng trong sinh hoạt và đồ may mặc cho con người Cơ sở kinh tế chủ yếu là nông nghiệp trồng lúa nước có nhiều tiến bộ quan trọng Những lưỡi cày đồng đã thay thế dần những chiếc cuốc đá và nền nông nghiệp dùng cuốc đã chuyển dần sang nông nghiệp dùng cày Cây lúa trồng lúc bấy giờ gồm cả lúa tẻ, lúa nếp Cùng kết hợp với nông nghiệp trồng lúa, có các nghề hái lượm, săn bắn, đánh cá, chăn nuôi Trâu, bò, lợn, gà đã trở thành gia súc quen thuộc của con người

Những tiến bộ về kỹ thuật, những thành tựu về kinh tế đã làm cho đời sống vật chất và tinh thần của con người ngày càng phong phú hơn Tượng phụ nữ trên cán dao găm, hình người chạm khắc trên trống đồng, những đồ án trang trí trên đồ đồng, đồ gốm, hình dáng của các công cụ, vũ khí chứng tỏ một bước phát triển cao của tư duy, thẩm mĩ và nghệ thuật tạo hình Công xã thị tộc tan rã nhường chỗ cho công xã nông thôn mà trong tiếng Việt cổ gọi là kẻ, chạ, chiềng Con người sống gắn bó trong những quan hệ cộng đồng của xóm làng, họ hàng với những hội mùa hàng năm rộn ràng tiếng trống đồng, tiếng chiêng, tiếng lục lạc, say sưa trong điệu múa và những sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp lúa nước

=> Kết luận :

- Người Đông Sơn đã chiếm lĩnh các đồng bằng, dọc lưu vực các con sông lớn, ngã

ba sông, vùng trung du, miền núi và hải đảo.Cư dân sống tập trung thành từng làng lớn, trù mật

Trang 3

- Công nghệ luyện kim đạt đến đỉnh cao, đúc nhiều đồ đồng(trống, thạp, thố) thành thục kỹ thuật làm khuôn tạo vật pha chế hợp kim và phát triển nghề luyện sắt

- Nghề nông nghiệp lúa nước phát triển rộng rãi, nghề làm vườn và chăn nuôi gia súc => nông nghiệp dùng cày kim loại và dùng sức kéo của động vật

- Nhà nước Âu Lạc của An Dương Vương là nhà nước đầu tiên của Việt Nam và Đông Nam Á , có tổ chức quân đội, trang bị nhiều loại vũ khí(cung, nỏ)

=> Có thể nói lưu vực sông Mã, sông Cả là một trong những trung tâm của văn hóa Đông Sơn, đã góp phần xứng đáng và là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời

Câu 2: Những đóng góp của nhân dân Thanh- Nghệ - Tĩnh trong tiến trình lịch

sử dân tộc ( từ 1858- 1945) ?

a Thanh - Ngh ệ - T ĩ nh trong Phong tr à o C ầ n V ng: ươ

Ngày 1 - 9 - 1858, thực dân Pháp chính thức nổ súng xâm lược Việt Nam, trong khi đó, triều Nguyễn lại đang chìm vào khủng hoảng, suy vong Với ưu

thế hơn hẳn của một nước tư bản đang trên đà phát triển, thực dân Pháp đã

lấn át, gặm dần, nuốt trỏng Việt Nam, biến Việt Nam từ một nước độc lập, tự

chủ thành một nước thuộc địa vẫn còn tàn dư phong kiến

Hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, văn thân, sĩ phu và

nhân dân Nghệ Tĩnh đã đứng dậy phò vua , cứu nước Chính nơi đây là địa

bàn quan trọng nhất, diễn ra các cuộc khởi nghĩa quyết liệt nhất trong phong

trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ XIX

* Kh ởi nghĩa Hương Khê:

- Là cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn nhất và kéo dài nhất trong phong trào Cần Vương cuối thế kỉ XIX

- Địa bàn hoạt động của nghĩa quân bao gồm 4 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình trong đó địa bàn chính là Nghệ An, Hà Tĩnh

- Lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Hương Khê là Phan Đình Phùng và Cao Thắng

- Kết quả:

+, Nghĩa quân đã lập được nhiều chiến công gây cho địch những tổn thất nặng nề

về người và vũ khí

+, Cuộc khởi nghĩa đã phát huy đến mức cao nhất sự ủng hộ và những tiềm năng to lớn của nhân dân

+, Nghĩa quân đã tranh thủ được sự giúp đỡ về nhiều mặt của người Kinh và người Thượng, của cả đồng bằng và miền núi

+,Về quân sự : đã biết sử dụng các phương thức tác chiến linh hoạt, phong phú, biết phát huy tính chủ động, tinh thần sáng tạo trong quá trình chuẩn bị lực lượng, cũng như trong chiến đấu

- Gía trị lịch sử:

Trang 4

+, Khởi nghĩa Hương Khê là đỉnh cao nhất của phong trào Cần Vương cuối thế kỉ XIX Sự thất bại của khởi nghĩa Hương Khê cũng đồng nghĩa với sự thất bại của phong trào Cần Vương, phong trào yêu nước giải phóng dân tộc theo lập trường Phong Kiến

* Kh ởi nghĩa Ba Đình:

Khởi nghĩa Ba Đình dưới sự chỉ huy của Đinh Công Tráng, Phạm

Bành, Hoàng Bật Đạt và một số tướng lĩnh khác

Căn cứ Ba Đình cách huyện lị Nga Sơn 4 km, phía tây bắc giáp huyện Hà Trung, được xây dựng trên địa bàn ba làng Thượng Thọ, Mậu Thịnh và Mỹ

Khê Vào mùa mưa, căn cứ này trông như một hòn đảo nổi giữa cánh đồng

nước mênh mông, tách biệt với các làng khác

Căn cứ này gọi là Ba Đình vì mỗi làng có một cái đình, từ làng này có

thể nhìn thấy đình của hai làng kia Để chuẩn bị chiến đấu lâu dài, Đinh Công

Tráng đã cho bao bọc xung quanh căn cứ lũy tre dày đặc và một hệ thống

hào rộng, cắm đầy chông tre Ở trong là một lớp thành đất cao 3 m, chân

rộng từ 8 đến 10 m Trên mặt thành, nghĩa quân đặt các rọ tre chứa đất nhào

rơm xếp vững chắc có những khe hở làm lỗ châu mai sẵn sàng chiến đấu

Thành rộng 400 m, dài 1.200 m Phía trong thành có hệ thống giao thông

hào dùng để vận chuyển lương thực và vận động khi chiến đấu Tại các nơi xung yếu đều có công sự vững chắc Các hầm chiến đấu được xây dựng theo hình chữ “chi”, nhằm hạn chế thương vong Ở mỗi làng, tại vị trí ngôi đình được xây dựng một đồn đóng quân: Thượng Thọ có đồn Thượng; Mậu

Thịnh có đồn Trung; Mỹ Khê có đồn Hạ Ba đồn này có thể hỗ trợ tác chiến cho nhau khi bị tấn công, đồng thời cũng có thể chiến đấu độc lập

Có thể nói rằng, căn cứ Ba Đình có vị trí tiêu biểu nhất, là một chiến tuyến

phòng ngự quy mô nhất thời kì Cần Vương cuối thế kỷ XIX Ngoài Ba Đình

còn có các căn cứ hỗ trợ: Căn cứ Phi Lai của Cao Điển, căn cứ Quảng Hóa

của Trần Xuân Soạn, căn cứ Mã Cao của Hà Văn Mao

Lực lượng nghĩa quân Ba Đình gồm khoảng 300 người, tuyển từ ba làng

và các vùng Thanh Hóa, bao gồm cả người Kinh, Thái, Mường Nghĩa quân

có 10 toán

Về vũ khí, nghĩa quân tự trang bị bằng súng hỏa mai, giáo, mác, cung, nỏ Nghĩa quân của Đinh Công Tráng đã đánh nhiều trận giành thắng lợi Năm

1886, nghĩa quân liên tiếp tấn công các phủ, thành, huyện lị, chặn đánh các đoàn xe, các toán quân lẻ, gây cho quân Pháp nhiều thiệt hại Ngày 12 – 3 –

1886, lợi dụng phiên chợ, nghĩa quân đã tấn công Tòa Công sứ Thanh Hóa

Từ ngày 18 – 12 – 1886 đến ngày 20 – 1 – 1887, quân Pháp đã điều 76 sĩ quan và 3.500 quân vây hãm và tiến đánh Ba Đình Quân Pháp đã nã tới

Trang 5

16.000 quả đại bác trong vòng một ngày trời, biến căn cứ Ba Đình thành biển

lửa

Nghĩa quân Ba Đình đã chiến đấu trong suốt 32 ngày đêm chống lại kẻ

thù đông gấp 12 lần, được trang bị vũ khí tối tân, hiện đại Trong những trận chiến đấu vô cùng ác liệt này, nghĩa quân đã mưu trí dũng cảm, bám trụ từng

tấc đất, đập tan nhiều cuộc tấn công, gây tổn thất nặng nề cho quân đội

Pháp, làm chấn động tinh thần binh lính Pháp ở Việt Nam và còn là nỗi lo sợ cho bọn Pháp ở chính quốc

Tuy nhiên, vì lực lượng quá nhỏ không thể đương đầu với quân đội Pháp

vừa đông vừa mạnh nên lực lượng của nghĩa quân Ba Đình bị thương vong

rất nhiều

Để tránh khỏi bị tiêu diệt hoàn toàn, nghĩa quân Ba Đình đã mở con đường máu vượt qua vòng vây dày đặc của quân Pháp, rút khỏi lên căn cứ

Mã Cao nhằm củng cố lực lượng và chuẩn bị cuộc chiến đấu mới

Đến sáng ngày 21 – 1 – 1887, quân Pháp mới chiếm được Ba Đình Sau

đó, quân Pháp đã triệt hạ hoàn toàn cả ba làng của căn cứ Ba Đình, tiếp tục cho quân truy kích nghĩa quân ở Mã Cao, rồi tiếp tục đến Thung Voi, Thung Khoai và cuối cùng là tận miền tây Thanh Hóa – nơi đóng quân của Cầm Bá

Thước

Các thủ lĩnh như Nguyễn Khế, Hoàng Bật Đạt hi sinh; Phạm Bành, Hà Văn Mao, Lê Toại tự sát; Đinh Công Tráng chạy về Nghệ An, quân Pháp treo giải

cái đầu ông với trị giá tiền thởng rất cao Mùa hè năm 1887, vì tham tiền nên

viên Lí trưởng làng Chính An đã mật báo cho quân Pháp đến bắt và sát hại Đinh Công Tráng

Cuộc khởi nghĩa Ba Đình nói chung và lãnh tụ Đinh Công Tráng được lịch

sử đánh giá rất cao, nó thể hiện lòng yêu nước, tinh thần bất khuất của nhân

dân Thanh Hóa trong Phong trào Cần Vương

Chính người Pháp đã phải thừa nhận: “1886 – 1887, cuộc công hãm Ba Đình là quan trọng nhất, cuộc chiến đấu này thu hút nhiều quân lực nhất và

làm cho các cấp chỉ huy lo ngại nhiều nhất”

b Cao tr ào Xô Viết Nghệ Tĩnh:

- Ho àn cảnh lịch sử: Là một nước tư bản phát triển, thực dân Pháp cũng

chịu ảnh hưởng r ất lớn của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 – 1933) Thực dân Pháp đã trút gánh nặng cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 – 1933) lên vai các nước thuộc địa trong đó có Việt Nam làm cho đời

sống nhân dân vô cùng cơ cực, nhất là nhân dân hai tỉnh Nghệ An và Hà

Tĩnh Chính sách khủng bố nặng nề của thực dân Pháp, nhất là sau khởi

Trang 6

nghĩa Yên Bái thất bại đã làm cho nhân dân ta càng căm thù và quyết tâm đấu tranh giành độc lập, giành quyền sống Trong lúc đó, Đảng Cộng sản

Việt Nam ra đời đã kịp thời lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân đứng

lên đấu tranh chống đế quốc, phong kiến Trong những nguyên nhân chung

kể trên, ở Nghệ Tĩnh còn có những nguyên nhân riêng của nó Chính những nguyên nhân riêng đó đã khiến cho phong trào cách mạng 1931 – 1931 ở Nghệ – Tĩnh phát triển đến đỉnh cao và là nơi diễn ra nhiều cuộc đấu tranh

của công nông quyết liệt nhất

- C ác cuộc đấu tranh tiêu biểu của nhân dân Nghệ Tĩnh:

+ Ngày 1 - 5 - 1930, diễn ra cuộc đấu tranh của hơn 1000 nông dân hai huyện Hưng Nguyên, Nghi Lộc do công nhân Vinh - Bến Thủy làm nòng cốt

với yêu sách đòi tăng lương, giảm giờ làm, giảm sưu thuế

+ Ngày 30 - 8 - 1930, 3000 nông dân huyện Nam Đàn biểu tình, vũ trang

kéo đến huyện lị, phá huyện đường, mở cửa nhà giam, giải phóng tù chính

trị

+ Ngày 1 - 9 - 1930, trên 2 vạn nông dân huyện Thanh Chương rầm rộ

tổng biểu tình vào huyện đường Với khí thế cách mạng ngút trời, quần

chúng đã tràn vào phá nhà giam, thiêu hủy huyện đường

+ Ngày 12 - 9 - 1930, hơn 8000 nông dân các xã trong huyện Hưng Nguyên có vũ trang kéo lên huyện lị Máy bay của Pháp đã ném bom khi đoàn biểu tình vừa tới làng Thái Lão (cách huyện lị 2 km) làm nhiều người

chết và bị thương Đến chiều, khi đồng bào ra tìm nhặt xác các người chết thì

máy bay địch lại tới ném bom lần thứ hai Cả hai lần làm 217 người chết và

125 người bị thương

Như vậy, từ cuộc tổng đình công của công nhân Vinh - Bên Thủy đến

cuộc tổng biểu tình của nông dân hai huyện Nam Đàn và Thanh Chương, cao trào cách mạng ở Nghệ Tĩnh đã đạt tới cao điểm Bằng bạo lực cách

mạng với hình thức đấu tranh chính trị là chủ yếu, kết hợp chặt chẽ giữa

thành thị với nông thôn, quần chúng cách mạng Nghệ Tĩnh đã tấn công dồn

dập vào thực dân phong kiến, làm rung chuyển bộ máy chính quyền của

chúng từ tỉnh, huyện xuống đến xã Trước khí thế xung thiên của quân chúng

cách mạng, bọn phủ, huyện nhiều nơi trong tỉnh đều bỏ trốn Tổng lý các xã

như rắn mất đầu, hoang mang khiếp sợ, nhiều tên đã mang sổ sách, triện bạ

nộp cho cách mạng Ban chấp hành nông hội đỏ (xã bộ nông) đứng ra quản

lí mọi mặt đời sống chính trị, kinh tế, xã hội ở nông thôn, làm nhiệm vụ của

chính quyền nhân dân theo kiểu chính quyền Xô Viết

Trang 7

Từ tháng 9 - 1930 đến đầu năm 1931, chính quyền Xô Viết đã ra đời ở nhiều địa phương thuộc hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, nó đã làm đúng chức

năng của một chính quyền cách mạng, chính quyền của dân, do dân và vì

dân

Tuy nhiên, trong cuộc đọ sức hết sức chênh lệch này, các chính quyền Xô

Viết đã nhanh chóng bị thực dân Pháp đàn áp và gìm trong biển máu Nhiều

cán bộ, đảng viên bị bắt, bị tù đày, các cơ sở Đảng bị tan rã, phong trào cách

mạng tạm thời lắng xuống

Cao trào cách mạng 1930 - 1931 mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh có

một vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân

dân ta nói chung, của nhân dân Nghệ Tĩnh nói riêng

Câu 3 : ý nghĩa của việc nghiên cứu , học tập địa phương học ?

Địa phương học là khoa học nghiên cứu về một địa phương nhất định trên nhiều phương diện khác nhau

Nghiên cứu một địa phương là nghiên cứu tất cả các thành phần của:

- Điều kiện tự nhiên : vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, các đặc điểm nhân văn

- Lịch sử hình thành và phát triển của địa phương

- Các vấn đề về văn hóa

- Các hoạt động kinh tế của con người trên lãnh thổ nghiên cứu vai trò của con người với tự nhiên, những tác động tích cực, tiêu cực đối với môi trường xung quanh

- Nghiên cứu 1 địa phương là nghiên cứu các đặc tính, sự phân bố và mối quan hệ giữa các thành phần riêng biệt của các địa phương với nhau và giữa các thành phần với môi trường

=> Nghiên cứu qua đó cho chúng ta thấy được tiềm năng, thế mạnh, hạn chế của khu vực mà chúng ta đang nghiên cứu, tìm hiểu trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập của đât nước hiện nay

=>Nghiên cứu lịch sử địa phương để thấy được những đóng góp cụ thể của nhân dân các địa phương trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc

=> Góp phần giáo dục các thế hệ sau tình yêu đối với quê hương , đất nước với dân tộc , lòng kính trọng đối với tổ tiên và các thế hệ đi trước, người học tự hào với lịch sử , quê hương Qua đó cũng thấy được trách nhiệm của mình với địa phương với dân tộc, với tổ tiên, và các thế hệ mai sau

Câu 4: Những nét đặc trưng về lịch sử, văn hóa quê hương(tỉnh) em?

Thanh Chương là một huyện nằm trong tỉnh Nghệ An, với diện tích rộng nhất tỉnh, dân số đông tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế cũng như văn hóa của vùng Ngoài ra, nhắc đến Thanh Chương chúng ta không thể không nhắc đến những di tích lịch sử nổi tiếng xếp hạng quốc gia như: đền Bạch Mã( xã Võ Liệt), đền Bà Chúa( xã Thanh Đồng), đền Hai Hầu( xã Thanh Lương)

Trang 8

Những khu di tích trên có giá trị về mặt tâm linh, đồng thời còn có giá trị du lịch Hằng năm, cứ đến ngày lễ, Tết thì có rất đông du khách ở những nơi khác đến thắp hương, tham gia các lễ hội truyền thống nới đây

Thanh Chương một mảnh đất địa linh nhân kiệt với các vị anh hùng như: Nguyễn

Sỹ Sách, Nguyễn Cảnh Chân, Đặng Thai Mai

Song trên đây là những đặc trưng về lịch sử, còn đặc trưng về văn hóa nơi đây thì rất đa dạng và phong phú:

Con người nơi đây mộc mạc, chân tình, đằm thắm, trước sau như một, sống có tình

có nghiã Chính những đặc điểm đó đã tạo nên một nét đặc trưng riêng mà không nơi nào có

Hẳn là chúng ta đã nghe rất nhiều về câu " Nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn" : nhắc đến " nhút " là đồng nghĩa với việc nhớ đến một món ăn dân dã nhưng đã là một món đặc sản nổi tiếng của quê hương Thanh Chương Từ những trái mít non với những gia vị : muối, gừng, ớt, sả băm nhỏ , sau công đoạn nhồi mít thì chúng

ta đã có thể làm ra nhút Cách làm thì đơn giản nhưng không phải ai cũng khéo tay mới làm được

Thanh Chương nhút mặn, chua cà nếu có dịp mời các bạn ghé thăm !

Câu 5 : Các nhân tố hình thành văn hóa vùng Bắc Trung Bộ, xứ Thanh Nghệ ?

** Cơ sở hình thành văn hóa khu vực Bắc Trung Bộ:

Vùng văn hoá Bắc Trung Bộ được hình thành bởi rất nhiều nhân tố Chúng

ta có thể dựa vào những yếu tố quy định sắc thái văn hoá của các địa phương trong

cả nước để xác định không gian văn hoá của các vùng văn hoá và các tiểu vùng

- Vị trí địa lý và môi trường sinh thái

- Phương thức sản xuất

- Nguồn gốc lịch sử

- Nguồn gốc tộc người

- Ngôn ngữ

- Trình độ phát triển kinh tế - xã hội

- Quan hệ, giao lưu, ảnh hưởng văn hoá

- Vai trò của vùng trung tâm

Có 8 nhân tố cơ bản tạo nên vùng văn hoá:

- Môi trường tự nhiên: Môi trường đồng bằng, miền núi, cao nguyên, duyên hải… là một trong những nhân tố quy định tạo nên vùng văn hoá

- Hoạt động sản xuất: Là hình thức con người khai thác, thích ứng với điều kiện tự nhiên để tạo ra của cải vật chất Ở nơi nào có sự tương đồng về điều kiện tự nhiên, trình độ phát triển và hoạt động sản xuất thì ở đó có sự tương đồng về văn hoá

Trang 9

- Truyền thống lịch sử: Cư dân sinh sống trong một vùng vì có cùng nguồn gốc lịch sử nên giữa họ vẫn giữ lại những tương đồng văn hoá bền vững

- Nguồn gốc tộc người: Trong một vùng văn hoá chỉ có một tộc người sinh sống thì tính thống nhất văn hoá của nó đã có ngay từ cội nguồn Và trong một vùng có nhiều dân tộc, để tạo thành những đặc trưng văn hoá chung của vùng thì trong quá trình lịch sử giữa các tộc người đã có mối quan hệ giao lưu, ảnh hưởng sống động

- Ngôn ngữ: Đây là một nhân tố quan trọng vì nó là phương tiện để sáng tạo

và chuyển tải văn hoá, nhất là văn hoá dân gian Ở các dân tộc khác nhau, nói ngôn ngữ khác nhau cũng có thể có cùng mô típ văn hoá chung, thể hiện trong các huyền thoại, cổ tích, lễ nghi, tín ngưỡng… Và ở những vùng có nhiều dân tộc cùng xen

kẽ sinh sống, thường có khuynh hướng lấy một ngôn ngữ dân tộc có số đông nhất, trình độ phát triển cao nhất là ngôn ngữ (phương tiện) giao tiếp

- Trình độ phát triển kinh tế xã hội: Nhân tố này ảnh hưởng tới trình độ tư duy văn hoá nghệ thuật, hình thành các hình tượng và biểu tượng văn hoá

- Quan hệ giao lưu, ảnh hưởng văn hoá: Đây là nhân tố chủ đạo, giữ vai trò quan trọng hàng đầu để hình thành nên vùng văn hoá Trong một vùng văn hoá, không chỉ có ngôn ngữ, tín ngưỡng có sự giao thoa văn hoá mà trong cả kiến trúc, điêu khắc… cũng còn lưu giữ nhiều yếu tố đan chen giữa các tộc người, các nền văn hoá khác nhau

- Vai trò của vùng trung tâm: Quy luật phát triển kinh tế - xã hội cũng như văn hoá không bao giờ là dàn đều, mà thường từ các trung tâm rồi lan toả, phổ biến rộng ra các nơi xung quanh Vùng trung tâm là nơi phát sinh, nâng cao, tiếp nhận rồi lan toả theo quy luật lan truyền văn hoá

Như vậy, không gian lãnh thổ là một tiêu chí xác định các vùng văn hoá Tuy nhiên không phải vì thế mà coi không gian lãnh thổ là cái khung “trói chặt” động thái văn hoá vùng và “cô đặc” các biểu trưng, giá trị văn hoá địa phương Bản chất văn hoá vùng là liên văn hoá, hình thành trên cơ sở giao lưu, ảnh hưởng giữa văn hoá các tộc người và nhóm cư dân khác nhau Vùng văn hoá là một không gian liền khoảnh, nhưng ranh giới không cụ thể, rõ ràng Nếu có những loại biên giới nào đó thì chúng chỉ là ranh giới mềm và mở cửa, được ngăn cách bởi các vùng

“đệm” - vùng trung gian chuyển tiếp Bản sắc của văn hoá vùng được đo trước hết

và chủ yếu bới các biểu trưng và giá trị văn hoá

** Cơ sở hình thành văn hóa xứ Thanh :

-Xứ Thanh với khí hậu nhiệt đới nhưng lại có cái rét ngọt, rét đậm của

mùa đông Bắc Bộ, có những ngày mưa xuân ẩm ướt, mưa phùn kéo dài, có

mùa thu lá rụng và có cả hơi nóng oi ả của gió Lào miền Trung

Trang 10

-Thanh Hoá có nhiều danh thắng đẹp như bãi biển Sầm Sơn, sông Mã, động Bích Đào (còn gọi là động Từ Thức), vườn quốc gia Bến En, suối cá

Cẩm Lương, hang Kho Mường

-Xứ Thanh nằm trong vùng ảnh hưởng của những tác động từ vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, các tỉnh phía Bắc Lào và vùng trọng điểm kinh tế Trung Bộ, ở vị trí cửa ngõ nối liền Bắc Bộ với Trung Bộ; có hệ thống giao

thông thuận lợi như: đường sắt xuyên Việt, đường Hồ Chí Minh, các quốc lộ 1A, 10, 45, 47, 217 , cảng biển nước sâu Nghi Sơn và hệ thống sông ngòi thuận tiện cho lưu thông Bắc - Nam, phục vụ cho phát triển kinh tế, du lịch

và giao lưu văn hoá với các vùng trong nước và quốc tế

-Xứ Thanh là địa phương gắn rất chặt với lịch sử dân tộc, như: văn hoá Đông Sơn, các triều đại vua chúa xuất hiện ở Thanh Hoá (vua Lê, chúa Nguyễn, vua Nguyễn )

-Văn hoá Đông Sơn là nền văn hoá tiêu biểu của dân tộc Việt Nam,

phản ánh một thời kỳ phát triển văn hoá rực rỡ mà chủ nhân của nó là những

người Việt cổ Văn hoá Đông Sơn thời các vua Hùng được khởi dựng ở vùng

châu thổ, trung du nhiều sông ngòi, có nghề trồng lúa nước sớm phát triển,

một ngành luyện kim đạt tới đỉnh cao Vì vậy, khi nói đến văn hoá Đông Sơn

là nói đến trống đồng với kỹ thuật đúc đồng đạt tới đỉnh cao Nền văn hoá Đông Sơn là niềm tự hào của xứ Thanh, và là dấu ấn cội nguồn của dân tộc

Việt trên mảnh đất này

-Xứ Thanh cũng là quê hương của nhiều anh hùng dân tộc, là đất anh

hùng và đế vương với nhiều danh nhân tiêu biểu như: Bà Triệu, Lê Hoàn, Lê

Lợi, Hồ Quý Ly, các chúa Trịnh, chúa Nguyễn, vua Nguyễn

**Cơ sở hình thành văn hóa xứ Nghệ :

Xứ Nghệ trong tổng thể không gian văn hoá Bắc Trung Bộ là sự hợp

phân, đan xen và thâm nhập giữa “núi rừng - đồng bằng - biển”, dẫn tới sự

đa dạng trong các hoạt động sản xuất và đa dạng về văn hoá

Nói đến xứ Nghệ, GS Trần Quốc Vượng đã dựa trên câu thơ nổi tiếng

của Hồ Xuân Hương: “Một đèo, một đèo, lại một đèo” để mô hình hoá địa

hình xứ Nghệ nói riêng và toàn bộ miền Trung nói chung như một hình hộp

chữ nhật đứng, được các đèo và các sông chảy dưới đèo theo chiều từ Tây sang Đông, nét sơn văn quy định nét thuỷ văn theo địa lý học: núi biển

-sông - đèo

Địa hình nơi đây còn được mở rộng ra bởi quá trình “biển lùi”, bãi Sò ở

Diễn Châu, những ngấn nước trên vách đá vôi ở Quỳnh Lưu chẳng hạn là

Ngày đăng: 27/09/2016, 16:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w