Mở đầuNgày nay, để cạnh tranh thành công trong bất kỳ môi trường kinh doanh nào, các doanhnghiệp không chỉ tập trung vào hoạt động của riêng mình mà phải tham gia vào công việckinh doanh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
VIỆN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
BÀI TẬP LỚN CÁC MÔ HÌNH VÀ KIẾN TRÚC HTTT QUẢN LÝ
ĐỀ TÀI 1: CÁC VẤN ĐỀ VÀ CÔNG CỤ XÂY DỰNG SCM
Giáo viên hướng dẫn: PGS Huỳnh Quyết Thắng
Trang 2MỤC LỤC
Mở đầu 3
I Các vấn đề của việc quản trị chuỗi cung ứng 5
1 Các yêu cầu của việc quản trị chuỗi cung ứng 5
2 Các lợi ích của quản trị chuỗi cung ứng 5
3 Các thách thức đặt ra trong việc quản lý chuỗi cung ứng 6
II Các kỹ thuật, công cụ điển hình trong quản lý chuỗi cung ứng 8
1 Electronic Data Interchange (EDI) 8
2 Bar coding và scanner 8
3 Warehouse Management Systems 8
4 Transportation Management Systems 8
5 Inventory Management Systems 9
6 Radio Frequency Identification (RFID) 9
7 SRM – Supplier Relationship Management 10
III Các ứng dụng tiêu biểu trong SCM 11
1 Enterprise resource planning ( ERP ) system 11
2 Material Requirement Planning (MRP) 13
3 MES ( Manufacturing Execution Systems ) 15
IV Ứng dụng tại doanh nghiệp làm việc 18
1 Môi trường làm việc, những đặt điểm riêng 18
2 Các hoạt động của công ty 19
3 Áp dụng các công cụ SCM vào việc quản lý chuỗi cung ứng tại doanh nghiệp 19
Kết luận 21
Trang 3Mở đầu
Ngày nay, để cạnh tranh thành công trong bất kỳ môi trường kinh doanh nào, các doanhnghiệp không chỉ tập trung vào hoạt động của riêng mình mà phải tham gia vào công việckinh doanh của nhà cung cấp cũng như khách hàng của nó Bởi lẽ, khi doanh nghiệpmuốn đáp ứng sản phẩm hoặc dịch vụ cho khách hàng họ buộc phải quan tâm sâu sắc hơnđến dòng dịch chuyển nguyên vật liệu; cách thức thiết kế, đóng gói sản phẩm và dịch vụcủa nhà cung cấp; cách thức vận chuyển, bảo quản sản phẩm hoàn thành và những mongđợi thực sự của người tiêu dung hoặc khách hàng cuối cùng vì thực tế là có nhiều doanhnghiệp có thể không biết sản phẩm của họ được sử dụng như thế nào trọng việc tạo ra sảnphẩm cuối cùng cho khách hàng Cạnh tranh có tính toàn cầu ngày càng khốc liệt, chu kỳsống của sản phẩm mới ngày càng ngắn hơn, mức độ kỳ vọng của khách hàng ngày càngcao hơn đã thúc ép các doanh nghiệp phải đầu tư và tập trung nhiều vào chuỗi cung ứngcủa nó Thêm vào đó, những tiến bộ liên tục và đổi mới trong công nghệ truyền thông vàvận tải (ví dụ, truyền thông di động, Internet và phân phối hàng qua đêm), đã thúc đẩy sựphát triển không ngừng của chuỗi cung ứng và những kỹ thuật để quản lý nó
Trong một chuỗi cung ứng điển hình, doanh nghiệp mua nguyên vật liệu từ một hoặcnhiều nhà cung cấp; các bộ phận, chi tiết hoặc thậm chí sản phẩm sau đó được sản xuất ởmột hay một số nhà máy, và được vận chuyển đến nhà kho để lưu trữ ở giai đoạn trunggian, cuối cùng đến nhà bán lẻ và khách hàng Vì vậy, để giảm thiểu chi phí và cải thiệnmức phục vụ, các chiến lược chuỗi cung ứng hiệu quả phải xem xét đến sự tương tác ởcác cấp độ khác nhau trong chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng, cũng được xem như mạnglưới hậu cần, bao gồm các nhà cung cấp, các trung tâm sản xuất, nhà kho, các trung tâmphân phối, và các cửa hàng bán lẻ, cũng như nguyên vật liệu, tồn kho trong quá trình sảnxuất và sản phẩm hoàn thành dịch chuyển giữa các cơ sở
Chuỗi cung ứng là gì? Có rất nhiều định nghĩa về quản trị chuỗi cung ứng, nhưng chúng
ta bắt đầu sự thảo luận với khái niệm Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các doanh nghiệptham gia, một cách trực tiếp hay gián tiếp, trong việc đáp ứng nhu cầu khách hàng, thểhiện sự dịch chuyển nguyên vật liệu xuyên suốt quá trình từ nhà cung cấp ban đầu đếnkhách hàng cuối cùng
Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn công ty vậntải, nhà kho, nhà bán lẻ và khách hàng của nó Ví dụ một chuỗi cung ứng bắt đầu với cácdoanh nghiệp khai thác nguyên liệu từ đất - chẳng hạn như quặng sắt, dầu mỏ, gỗ vàlương thực – và bán chúng cho các doanh nghiệp sản xuất vật liệu Các doanh nghiệpnày, đóng vai trò như người đặt hàng và sau khi nhận các yêu cầu về chi tiết kỹ thuật từcác nhà sản xuất linh kiện, họ sẽ tiếp tục chế biến vật liệu này thành các vật liệu thích hợp(như tấm thép, nhôm, đồng đỏ, gỗ xẻ và thực phẩm đã kiểm tra) Đến lượt mình, các nhà
Trang 4sản xuất linh kiện phải đáp ứng đơn hàng và yêu cầu từ khách hàng của họ - nhà sản xuấtsản phẩm cuối cùng Đầu ra của quá trình này là các linh kiện hay các chi tiết trung gian(như dây điện, vải, mạch in, những chi tiết cần thiết ) Nhà sản xuất sản phẩm cuối cùng(các công ty như IBM, General Motors, Coca-Cola) lắp ráp sản phẩm hoàn thành, bánchúng cho người bán sỉ hoặc nhà phân phối, để rồi những thành viên này sẽ bán chúng lạicho nhà bán lẻ, những người thực hiện sứ mệnh đưa sản phẩm đến người tiêu dùng cuốicùng Chúng ta mua sản phẩm trên cơ sở giá, chất lượng, tính sẵn sàng, sự bảo trì và danhtiếng với hy vọng rằng chúng thỏa mãn yêu cầu mà chúng ta mong đợi Đôi khi vì những
lý do nào đó chúng ta cần trả sản phẩm hoặc các chi tiết do không đáp ứng yêu cầu hoặcđôi khi cần sửa chữa hoặc tái chế chúng, một qui trình ngược cũng rất cần thiết Các hoạtđộng hậu cần ngược này cũng bao gồm trong chuỗi cung ứng
Bên trong mỗi tổ chức, chẳng hạn nhà sản xuất, chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các chứcnăng liên quan đến việc nhận và đáp ứng nhu cầu khách hàng Những chức năng này baohàm và không bị hạn chế trong việc phát triển sản phẩm mới, marketing, sản xuất, phânphối, tài chính và dịch vụ khách hàng
Các phần sau đây xin được trình bày các vấn đề về quản trị chuỗi cung ứng
Trang 5I Các vấn đề của việc quản trị chuỗi cung ứng
1 Các yêu cầu của việc quản trị chuỗi cung ứng
Ngày nay để cạnh tranh thành công trong bất kỳ môi trường kinh doanh nào, các doanhnghiệp không chỉ tập trung vào hoạt động của riêng mình mà phải tích hợp vào công việccủa nhà cung cấp cũng như khách hàng của nó Bởi lẽ khi doanh nghiệp muốn đáp ứngsản phẩm hay dịch vụ cho khách hàng họ buộc phải quan tâm sâu sắc hơn đến dòng dịchchuyển nguyên vật liệu, cách thức thiết kế, đóng gói và dịch vụ của nhà cung cấp haycách vận chuyển, bảo quản hàng hóa, phục vụ khách hàng của nhà bán lẻ…….Hơn nữacạnh tranh mang tính toàn cầu ngày càng khốc liệt , chu kỳ sống của sản phẩm mới ngàycàng ngắn hơn, mức đọ kỳ vọng của khách hàng ngày càng cao hơn buộc các doanhnghiệp phải đầu tư và tập trung nhiều hơn vào chuỗi cung ứng của nó Thêm vào đó,những tiến bộ liên tục và đổi mới trong công nghệ truyền thông và vận tải điển hình nhưtruyền thông di động, internet và phân phối hàng qua đêm đã thúc đẩy sự phát triểnkhông ngừng của chuỗi cung ứng và kỹ thuật quản lý nó
Hệ thống cung ứng phải nhất quán, có thể chia sẻ thông tin giũa các thành viêntrong chuỗi về những điều liên quan chẳng hạn như dự báo nhu cầu các kế hoạchsản xuất những thay đổi về công suất, các chiến lược Marketing mới …
Hệ thống đảm bảo các doanh nghiệp có thể tự do quyết định tham gia hay rởi bỏchuỗi, nếu không đem lại lợi ích cho họ
Hệ thống giúp doanh nghiệp giảm được chi phí ,nâng cao năng lực cạnh tranh, dápứng các yêu cầu kỹ thuật, thông tin phải trung thực và chính xác giữa các thànhviên
Các thành viên trong chuỗi cung ứng, đặc biệt là các đơn vị phụ trách thu mua, sảnxuất hậu cần ,vân tải không chỉ được trang bị những kiến thức quan trọng cần thiết
về các chức năng của chuỗi cung ứng mà phải biết đánh giá am hiểu về múc độtương tác cũng như ảnh hưởng của chức năng này đến toàn chuỗi cung ứng
Dòng dịch chuyển của nguyên liệu vật liệu hay sản phẩm giữa các thành viên phảisuôn sẻ và không gặp trở ngại
2 Các lợi ích của quản trị chuỗi cung ứng
Chuỗi cung ứng tồn tại nhằm vượt qua những khoảng trống phát sinh khi nhà cung cấpcách xa khách hàng Chúng cho phép thực hiện hoạt động sản xuất ở mức hiệu quả nhất -hoặc chỉ thực hiện chức năng sản xuất - ở những địa điểm cách xa khách hàng hoặcnguồn cung ứng nguyên liệu Ví dụ cà phê được trồng ở Nam Mỹ, nhưng khách hàngchính lại ở Châu Âu và Bắc Mỹ Địa điểm tốt nhất cho các trạm xăng lại cách xa cả
Trang 6khách hàng chính ở thành phố và nhà cung cấp nhiên liệu Tương tự, khi vật liệu phảidịch chuyển giữa các cơ sở sản xuất trải rộng trên các khu vực đia lý khác nhau, chuỗicung ứng chú ý đến giải quyết sự mất cân đối giữa cung và cầu Nhu cầu đối với đường
có thể thấp hoặc cao hơn con số bình quân xác định trong suốt năm, nhưng cung vềđường thì lại thay đổi do việc thu hoạch mía đường và củ cải đường
Khi có sự vượt quá cung, tồn kho được tích lũy trong chuỗi cung ứng và số lượng nàyđược sử dụng sau khi kết thúc thu hoạch Chuỗi cung ứng cũng có thể giúp cho việc vậnchuyển số lượng nhiều trở nên đơn giản hơn Tóm lại, lợi ích của chuỗi cung ứng đượcthiết kế tốt bao gồm:
Khỏa lấp một cách hữu hiệu khoảng trống giữa nguồn cung với nhu cầu cuối cùng
Nhà sản xuất bố trí cơ sở sản xuất tại vị trí tốt nhất, bất kể đến vị trí của kháchhàng
Thông qua việc tập trung hoạt động sản xuất ở một cơ sở lớn, nhà sản xuất hưởnglợi từ tính kinh tế nhờ quy mô
Nhà sản xuất không cần lưu trữ số lượng lớn sản phẩm hoàn thành, các thành tố ởgần khách hàng sẽ thực hiện việc lưu trữ này
Nhà bán sỉ đặt các đơn hàng lớn, và nhà sản xuất chiết khấu giá cho nhà bán sỉ làmcho chi phi đơn vị giảm
Nhà bán sỉ giữ nhiều loại sản phẩm tồn kho từ nhiều nhà sản xuất, cung cấp đadạng sự lựa chọn cho khách hàng bán lẻ
Nhà bán sỉ ở gần nhà bán lẻ vì thế thời gian giao hàng ngắn
Nhà bán lẻ lưu trữ tồn kho thấp khi nhà bán sỉ cung cấp hàng một cách tin cậy
Nhà bán lẻ kinh doanh ít hàng hóa với quy mô hoạt động nhỏ nên phục vụ kháchhàng một cách nhanh chóng hơn
Tổ chức có thể phát triển chuyên môn trong một loại hoạt động hoặc chức năngkinh doanh cụ thể
3 Các thách thức đặt ra trong việc quản lý chuỗi cung ứng
Tối ưu hóa toàn bộ là rất khó thực hiện bởi vì chuỗi cung ứng cần đuợc thiết kế, và vậnhành trong môi trường không chắc chắn Có rất nhiều nhân tố tác động đến điều này
a Thách thức của cân bằng cung và cầu
Thách thức này xuất phát từ thực tế là người ta thường sử dụng dữ liệu nhu cầu các thángtrước đã biết để xác định mức độ sản xuất cụ thể Điều này hàm chứa những rủi ro cao vềcung ứng và tài chính Hơn nữa, dự báo luôn chứa đựng các yếu tố không chắc chắn vìvậy sẽ rất khó khăn cho việc cân đối giữa nhu cầu thực tế và nguồn cung của doanh
Trang 7nghiệp Doanh nghiệp cố gắng thỏa mãn nhu cầu tối đa của khách hàng, tuy nhiên nếusản xuất quá lượng nhu cầu cần thiết sẽ làm tăng chi phí do phải bảo quản tồn kho và chiphí này càng cao đối với những sản phẩm mang tính thời vụ Mặt khác, nếu doanh nghiệpsản xuất thấp hơn so với nhu cầu có thể làm giảm đáng kể doanh thu do một lượng nhucầu không được đáp ứng và điều này có thể hạ thấp uy tín của doanh nghiệp trên thươngtrường
b Thách thức về sự thay đổi mức tồn kho và đặt hàng
Mức tồn kho và đặt hàng lại thay đổi xuyên suốt chuỗi cung ứng, thậm chí ngay khi nhucầu khách hàng về một sản phẩm cụ thể là không khác biệt đáng kể Bởi vì, mỗi thực thểtrong chuỗi cung ứng hoạt động theo định hướng mục tiêu của riêng mình nên có sựchênh lệch về nhu cầu của nó Hơn nữa, mỗi đối tượng sẽ tiếp cận nguồn thông tin theonhững cách khác nhau Những nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan làm cho nguồnthông tin này sai lệch và tạo ra hiệu ứng Bullwhip
c Thách thức về khả năng của dự báo chính xác
Thực ra, “dự báo thì luôn luôn sai” Chúng ta không thể dự báo chính xác nhu cầu về mộtchi tiết cụ thể, ngay cả với những kỹ thuật dự báo tân tiến nhất Hơn nữa, bất kỳ một kỹthuật dự báo nào cũng dựa trên những số liệu quá khứ và giả định rằng những sự kiệntương lai sẽ tuân theo một quy luật nào đó Tuy nhiên điều này không phải bao giờ cũngđúng đặc biệt trong môi trường luôn thay đổi như hiện nay Vì thế, chúng ta dễ dàng nhậnthấy rằng đi kèm với bất kỳ công cụ hoặc kỹ thuật dự báo nào cũng với độ tin cậy Khảnăng dự báo càng làm tăng them thách thức cho công tác quản trị chuỗi cung ứng
d Thách thức của sự không chắc chắn
Sự không chắc chắn không chỉ xuất phát từ nhu cầu tương lai mà còn do nhiều yếu tốkhác như thời gian giao hàng, sản lượng sản xuất, thời gian vận chuyển và sự sẵn sàngcủa các bộ phận… Khi chuỗi cung ứng càng lớn và phân bố trên phạm vi rộng lớn nócàng chịu ảnh hưởng nhiều của những bất trắc từ thiên nhiên và chính con người có tácđộng to lớn
Không thể bị loại bỏ sự không chắc chắn, điều quan trọng là chúng ta phải tìm nhiều cáchtiếp cận hợp lý để tối thiểu hóa tác động của tính không chắc chắn trong chuỗi cung ứng.Chúng ta sẽ xác định các chiến lược mà những đối tác trong chuỗi cung ứng có thể ápdụng để duy trì, hoặc gia tăng mức độ phục vụ ngay trong điều kiện không chắc chắn
Trang 8II Các kỹ thuật, công cụ điển hình trong quản lý chuỗi cung ứng
1 Electronic Data Interchange (EDI)
Được giới thiệu những năm 70 và trở nên phổ biến vào thập niên 80 EDI là công nghệđược phát triển để truyền những loại dữ liệu chung giữa các công ty để có thể làm việcchung với nhau Những năm 1980s, nhiều công ty lớn trong lĩnh vực sản xuất tự động,ngành công nghiệp vận tải đã lập ra EDI đầu tiên Nó được xây dựng cho các nghiệp vụvăn phòng làm việc tự động như lưu trữ và nhận đơn đặt hàng, hóa đơn, thông báo trước
kế hoạch vận tải, trạng thái đơn hàng chưa thực hiện Về nguồn gốc, EDI được xâydựng để làm việc với một khối lượng lớn dữ liệu thông qua những máy tính khổng lồ và
sử dụng mạng VAN (Value Added Network) để kết nối các đối tượng tham gia trongchuỗi Công nghệ này tốn chi phí khá đắt
Nhiều công ty đầu tư vào hệ thống EDI rất lớn và nhận thấy EDI có hiệu quả rất lớn vềchi phí do hệ thống duy trì sự liên tục trong giao tiếp với đối tác kinh doanh Tập dữ liệuEDI chuẩn xác định một lượng lớn các giao dịch kinh doanh Các công ty có thể quyếtđịnh tập dữ liệu nào mà họ sẽ sử dụng Hiện nay hệ thống EDI có thể họat động trong bất
cứ loại máy tính nào và có thể sử dụng Internet đính kèm
2 Bar coding và scanner
Mã vạch (bar code) là điển hình cho một số các loại mã được hình thành phù hợp choviệc đọc bằng máy Mã vạch được sử dụng rộng rãi trong chuỗi cung ứng để xác định vàtheo dõi hàng hóa tại tất cả các giai đoạn trong quá trình Mã vạch là một chuỗi cácđường kể chiều rộng khác nhau được sắp xếp theo hàng ngang hay chiều dọc Hiện nay
mã vạch được sử dụng rất rộng rãi để quản lý hàng hóa và ta có thể nhìn thấy các loạimáy đọc mã vạch tại các siêu thị, các cửa hàng,
3 Warehouse Management Systems
Là hệ thống kiểm soát tất cả các hoạt động của kho hàng Hệ thống này hỗ trợ các hoạtđộng nhà kho hàng ngày Hệ thống này cung cấp khả năng làm việc hàng ngày trong nhàkho một cách hiệu quả Hệ thống này lưu trữ mức tồn kho và địa điểm tồn trữ trong nhàkho hỗ trợ cho các hoạt động khác như bốc hàng, nhận hàng và vận tải để thực hiệnnhững đơn hàng cho khách hàng
4 Transportation Management Systems
Hệ thống quản lý vận tải cung cấp nhiều hơn các góc nhìn vào hàng hóa và đơn đặt hàng.Vấn đề lập kế hoạch cũng được giải quyết đúng thời gian Nhiều sự lựa chọn vận chuyển
có thể được đưa ra từ trước vào dây truyền cung ứng Bởi vì kiểm soát được chuỗi cungứng của mình các doanh nghiệp có thể đưa ra các quyết định một cách hiệu quả
Trang 95 Inventory Management Systems
Trong giữa những năm 90 các nhà bán lẻ bắt đầu xây dựng hệ thống quản lý hàng tồn khohiện đại nhờ các tiến bộ trong kỹ thuật máy tính và phần mềm Trong chuỗi cung ứng ởnhững công ty khác nhau, quản lý tồn kho là sử dụng tập hợp các kỹ thuật để quản lýmức tồn kho Mục tiêu là giảm chi phí tồn kho càng nhiều càng tốt nhưng vẫn đáp ứngđược mức phục vụ theo yêu cầu của khách hàng Quản lý tồn kho dựa vào 2 yếu tố đầuvào chính là dự báo nhu cầu và định giá sản phẩm Với 2 yếu tố đầu vào chính này, quản
lý tồn kho là quá trình cân bằng mức tồn kho sản phẩm và nhu cầu thị trường, đồng thờikhai thác lợi thế tính kinh tế nhờ qui mô để có được mức giá tốt nhất cho sản phẩm
Có 3 danh mục tồn kho là tồn kho theo chu kỳ, tồn kho theo mùa và tồn kho an toàn.Trong đó tồn kho chu kỳ và tồn kho theo mùa bị ảnh hưởng nhiều từ nền kinh tế Trongbất kỳ chuỗi cung ứng nào, cấu trúc chi phí của công ty đều liên quan đến mức tồn khothông qua chi phí sản xuất và chi phí tồn kho Tồn kho an toàn bị ảnh hưởng từ khả năng
dự báo nhu cầu sản phẩm Khả năng dự báo nhu cầu càng kém thì khả năng kiểm soát tồnkho an toàn không kỳ vọng càng cao Hoạt động quản lý tồn kho của công ty hay chuỗicung ứng là sự kết hợp những hoạt động có liên quan đến việc quản lý 3 danh mục tồnkho này Mỗi một danh mục tồn kho có những vấn đề riêng và vấn đề này sẽ rất khác biệtnhau ở từng công ty và từng chuỗi cung ứng
6 Radio Frequency Identification (RFID)
Một trong những công nghệ được các nhà quản lý đánh giá cao là RFID, nhiều công tytrên thế giới đã sử dụng trong việc quản lý chuỗi cung ứng, điển hình là tập đoàn bán lẻWal-mart (Mỹ)
RFID hoạt động trên nền tảng sóng vô tuyến kết hợp với máy tính quản lý bao gồm thẻ,đầu đọc thẻ và máy tính chủ Thẻ RFID gắn vào sản phẩm được tích hợp chip bán dẫn vàăng-ten thu sóng Đầu đọc thẻ nhận tín hiệu từ thẻ RFID từ xa, có thể lên đến 50 m tùyvào nguồn năng lượng được cung cấp cho thẻ RFID, chuyển dữ liệu đến máy tính đểphân tích và xử lý các thông tin sản phẩm
Ưu điểm dễ nhận thấy nhất của hệ thống RFID so với hệ thống mã vạch là khả năng đọc
dữ liệu từ xa, bộ nhớ chứa nhiều thông tin hơn, thông tin sản phẩm có thể sửa đổi và cậpnhật một cách nhanh chóng, được lưu lại đảm bảo tính chính xác
Nhờ dung lượng bộ nhớ cao, thẻ RFID cung cấp đầy đủ thông tin về sản phẩm như chủngloại, tên sản phẩm, ngày nhập kho, giá, vị trí trong kho, thời hạn sử dụng…, hoặc nhữngthông tin cần thiết khác mà nhà quản trị có thể lập trình Với những thông tin sản phẩmđược mã hóa và chuyển về máy chủ xử lý, nhà quản trị có thể dễ dàng lập kế hoạch tiếptheo cho sản phẩm trong dây chuyền cung ứng của mình
Trang 107 SRM – Supplier Relationship Management
Đây là một kỹ thuật nâng cao của quản lý chuỗi cung ứng Nó là một cách tiếp cận tổngquan dùng để quản lý công việc và sự tương tác giữa các tổ chức mà cung cấp hàng hóa
và dịch vụ cho công ty Điều này bao gồm các thông tin liên lạc, thực tiễn kinh doanh,đàm phán, các phương pháp và phần mềm dùng để thiết lập và dung trì liên lạc với nhàcung cấp
Các thành phần của SRM
SRM đòi hỏi sự nhất quán trong phương pháp tiếp cận và định nghĩa một tập các hành vi
mà có độ tin cậy vượt thời gian SRM hiệu quả đòi hỏi không chỉ cơ chế hay các cáchthức mới để hợp tác với các nhà cung cấp chủ chốt mà còn tích cực tháo dỡ các chínhsách hiện có và các quy chính có thể cản trở sự hợp tác và hạn chế tiềm năng có thể từcác nhà cung cấp chính Các thành phần của SRM bao gồm:
- Một nhóm SRM chính thức ở cấp công ty Mục đích là để tạo điều kiện thuận lợi
và phối hợp các hoạt động SRM qua các công đoạn và phòng ban SRM vốn đachức năng và đòi hỏi một sự kết hợp tốt các kỹ năng thương mại, công nghệ và kỹnăng cá nhân Những kỹ năng mềm hơn xung quanh thông tin liên lạc, lắng nghe,gây ảnh hưởng và quản lý sự thay đổi quan trọng để phát triển tốt hơn các mốiquan hệ hợp tác
- Một tập các luật về quản lý mối quan hệ hay quản lý tài khoản nhà cung cập chínhthức Các cá nhân này thường ngồi bên trong các đơn vị kinh doanh hợp tácthường xuyên nhất với nhà cung cấp, hoặc có thể được đưa ra bởi một người quản
lý chủng loại trong bộ phận mua bán Các nhà quản lý SRM hiểu được mục tiêuchiến lược kinh doanh của các nhà cung cấp của mình và có thể xem xét các vấn
đề từ quan điểm của nhà cung cấp trong khi cân đối các yêu cầu và mức độ ưu tiêncủa công ty mình
- Một nhà tài trợ điều hành và phức tạp hơn, đối với các mối quan hệ với nhà cungcấp chiến lược, là một ban chỉ đạo liên chức năng Những cá nhân này tạo thànhmột liên kết rõ ràng giữa các chiến lược SRM và chiến lược kinh doanh tổng thể,
để xác định mức độ ưu tiên tương đối giữa các mục tiêu của các công ty khác nhau
và hoạt động như một cơ quan giải quyết tranh chấp
Các lợi ích của SRM
- Tối ưu hóa các mối quan hệ với nhà cung cấp: đưa ra các nhà cung cấp khác nhautrong nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào bản chất của các mối quan hệ và chiếnlược kinh doanh của họ